BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP & PTNTHỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM LÊ VIỆT DŨNG NGHIÊN CỨU XÁC ĐỊNH CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN VIỆC ÁP DỤNG CÁC BIỆN PHÁP KỸ THUẬT CANH TÁC NGÔ BỀN VỮ
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP & PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
LÊ VIỆT DŨNG
NGHIÊN CỨU XÁC ĐỊNH CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN VIỆC ÁP DỤNG CÁC BIỆN PHÁP KỸ THUẬT CANH TÁC NGÔ BỀN VỮNG TRÊN ĐẤT DỐC HUYỆN VĂN CHẤN –
YÊN BÁI
CHUYÊN NGÀNH: KHOA HỌC CÂY TRỒNG
MÃ SỐ: 60 62 01.10
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS PHẠM TIẾN DŨNG
TS NGUYỄN QUANG TIN
Hà Nội, 2015
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan, các số liệu và kết quả nghiên cứu trình bày trong luận vănnày là hoàn toàn trung thực và chưa được sử dụng để bảo vệ một học vị nào
Tôi xin cam đoan, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã đượccảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đã được chỉ rõ nguồn gốc
Tác giả
Lê Việt Dũng
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS.TS Phạm Tiến Dũng, TS.NguyễnQuang Tin người đã tận tình giúp đỡ, hướng dẫn tôi trong suốt thời gian thực hiện
đề tài cũng như trong quá trình hoàn chỉnh luận văn tốt nghiệp
Xin chân thành cảm ơn các thầy, cô Bộ môn phương pháp thí nghiệm vàthống kê sinh học - Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội đã giúp đỡ tôi trong quátrình học tập, nghiên cứu và hoàn thiện luận văn tốt nghiệp
Xin chân thành cảm ơn TS Phạm Thị Sến, Viện khoa học kỹ thuật Nông lâmnghiệp miền núi phía Bắc đã giúp tôi trong quá trình nghiên cứu và hoàn thiện luậnvăn tốt nghiệp
Xin chân thành cảm ơn Phòng NN&PTNT huyện Văn Chấn, UBND xã SơnThịnh, Cát Thịnh, Suối Giàng và bạn bè, đồng nghiệp đã nhiệt tình ủng hộ, giúp đỡtôi trong cả quá trình học tập cũng như thực hiện đề tài, hoàn thành luận văn tốtnghiệp
Tác giả
Lê Việt Dũng
Trang 4MỤC LỤC
i Lờicảm
tắt viii MỞĐẦU 1
Trang 51.2 Mốt số đặc điểm kinh tế kỹ thuật của sản xuất ngô trên đấtdốc 14
1.4.2 Những nghiên cứu về canh tác đất dốc 27
CHƯƠNG II NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 32
Trang 62.3 Nội dung nghiên cứu
2.4.2 Sử dụng bảng hỏi để tính toán hiệu quả kinh tế của một số loại hình canh tác
ngô tại địa phương
Trang 73.1.8 Đặc điểm sản xuất ngô trên đất dốc huyện Văn Chấn
trường tại Văn Chấn – Yên
Bái 55
3.3 Đánh giá các yếu tố tác động đến khả năng áp dụng của các biện pháp kỹ
thuật canh tác bền vững vào sản xuất ngô tại Văn Chấn – Yên Bái
67
3.3.1 Đặc điểm các nông hộ áp dụng kỹ thuật canh tác bền vững
67
Trang 83.3.2 Vai trò của các tổ chức tham gia đến việc áp dụng các kỹ thuật canh tác bền
vững 72
3.3.3 Xác định các khó khăn của nông dân khi áp dụng các kỹ thuật canh tác trên
đất
dốc 76
3.4 Kết quả tổng hợp các yếu tố tác động đến việc áp dụng kỹ thuật canh tác
ngô bền vững tại Văn Chấn – Yên
Bái 82
3.5 Đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao khả năng áp dụng của các biện pháp
kỹ thuật đến canh tác ngô bền vững trên đất dốc tại Văn Chấn –Yên
89TÀI LIỆU THAM KHẢO
90
Phụ lục
94
Trang 10DANH MỤC CÁC HÌNH, SƠ ĐỒ
STT Tên hình Trang3.1 D
Trang 11DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
BĐKH : Biến đổi khí hậu
CA : Conservation Agriculture (Nông nghiệp bảo tồn)
CIRAD : Agricutural Reseach for Development
( Trung tâm nghiên cứu nông nghiệp vì sự phát triển )FAO : Food and Agriculture Organization of the United Nations
(tổ chức nông lương thế giới)HTNN : Hệ thống nông nghiệp
IBSRAM : International Board for Soil Research and Management
ICRAF : World Agro-forestry Centrer
(trung tâm nghiên cứu nông lâm nghiệp thế giới)NLKH : Nông lâm kết hợp
NN&PTNT : Nông nghiệp và phát triển nông thôn
NOMAFSI : Viện Khoa học kỹ thuật Nông Lâm nghiệp miền núi phía Bắc PRA : Participatory rural appraisal (Đánh giá nhanh nông thôn có sự tham gia) TBT : Tiểu bậc thang
UBND : Uỷ ban nhân dân
TBKT : Tiến bộ kỹ thuật
BVTV : Bảo vệ thực vật
KHKT–NLN : Khoa học kỹ thuật nông lâm nghiệp
TOT : Training of trainer (đào tạo người đào tạo)
Trang 12MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Vùng miền núi phía Bắc, trên 80% diện tích đất canh tác là đất dốc Đất có
độ dốc dưới 15o chiếm khoảng 22% tổng diện tích đất dốc; đa số diện tích này đãđược sử dụng cho sản xuất nông nghiệp hoặc nông lâm nghiệp Diện tích đất có độdốc từ 15o đến 25o chiếm khoảng 16%, còn lại là đất có độ dốc trên 25o, khoảng62% Do thiếu đất sản xuất nên nông dân miền núi vẫn phải canh tác cây lương thựcngắn ngày trên đất trên dốc hơn 25o. Với độ dốc như vậy, hiện tượng xói mòn rửarôi đất rất mạnh, đất nhanh chóng mất khả năng canh tác sau thời gian ngắn
Miền núi phía Bắc là vùng tập trung sinh sống của nhiều dân tộc thiểu số ítngười Thái, Tày, Dao, H’Mong… Sinh kế của người dân phụ thuộc hoàn toàn vàosản xuất nông nghiệp, chủ yếu là sản xuất các cây lương thực (ngô, lúa nương,sắn…) Đặc biệt, cây ngô trong những năm gần đây đã trở thành cây xoá đói giảmnghèo, nhờ những thành tựu về công tác chọn tạo giống và sử dụng phân bón hoáhọc Theo Lê Quốc Doanh (2004), ở miền núi phía Bắc có tới 62% hộ nông dân cóthu nhập từ sản xuất ngô và bình quân cây ngô chiếm tới 15% thu nhập của cácnông hộ Trong những năm gần đây, do những thành tựu trong sản xuất ngô lai mànăng suất ngô đã tăng vọt (từ 22,7 tạ/ha năm 2000 lên 33,3 tạ/ha năm 2010) Cùngvới sự ổn định về thị trường, vai trò kinh tế của cây ngô ngày càng trở nên quantrọng hơn Đây là một điều đáng mừng vì thực sự cây ngô đã đóng góp nhiều trongviệc cải thiện đời sống nông dân miền núi
Tuy nhiên sản xuất ngô trên đất dốc hiện nay nảy sinh nhiều vấn đề, nguyênnhân chính là do nông dân chỉ quan tâm sử dụng giống mới và tăng hàm lượng phânhoá học nhằm tăng năng suất ngô Các khía cạnh của canh tác bền vững chưa đượcquan tâm Việc sử dụng phân xanh, phân hữu cơ hoặc tàn dư cây trồng để bảo vệ vàcải thiện dinh dưỡng và độ mùn cho đất, các biện pháp hạn chế xói mòn đất chưađược áp dụng Kết quả là đất dốc đã và đang bị xói mòn Ở nhiều nơi đất trồng ngô
Trang 13đã bị thoái hoá đến mức giống và phân hoá học không còn phát huy tác dụng, năngsuất và hiệu quả kinh tế thấp Nguy cơ này ngày càng cao, diện tích đất canh tác vốn
đã rất hạn chế sẽ càng thiếu, nếu không có các biện pháp kịp thời hỗ trợ nôngdân ápdụng các kỹ thuật canh tác bền vững, hạn chế xói mòn đất
Yên Bái là tỉnh có nhiều diện tích canh tác ngô trên đất dốc ở miền núi phíaBắc Phần lớn diện tích đất ở đây là đất dốc Cây trồng trong hệ thống trồng trọt chủyếu là ngô và lúa nương Kiểu canh tác hiện vẫn được nông dân thực hành phổ biển
ở đây là phát dọn tàn dư thực vật và đốt sạch trước khi gieo trồng, mặt đất khôngđược che phủ Vì thế vào đầu mùa mưa đất bề mặt bị xói mòn và rửa trôi nhiều
Nhằm đáp ứng yêu cầu sản xuất nông nghiệp bền vững, nhiều nghiên cứu đãđược thực hiện và đã xây dựng được các kỹ thuật canh tác ngô bền vững, như chephủ mặt đất bằng lớp phủ thực vật, làm tiểu bậc thang, gieo thẳng (không làm đấthoặc chỉ làm đất tối thiểu để gieo hạt), trồng xen, trồng gối Các kỹ thuật này đãđược chứng minh có hiệu quả cao trong bảo vệ đất, chống xói mòn và dần làm chođất màu mỡ hơn, giúp kiểm soát cỏ dại, giữ độ ẩm trong đất, tăng năng suất câytrồng, tăng hiệu quả kinh tế và thu nhập cho người dân
Tuy nhiên, việc áp dụng các kỹ thuật này trong sản xuất còn rất hạn chế.Hiện mới chỉ rất ít diện tích đất dốc ở Yên Bái được canh tác ngô áp dụng các kỹthuật bền vững Vậy những nguyên nhân cản trở các nông hộ tiếp nhận các kỹ thuật
đó là gì, và việc giải quyết các vấn đề khó khăn đó như thế nào đang và đang làhướng nghiên cứu cho sự sự phát triển hiện nay Nhằm góp phần cải thiện tình hình,thúc đẩy phát triển bền vững sản xuất nông nghiệp trên đất dốc miền núi phía Bắc
nói chung, tỉnh Yên Bái nói riêng, chúng tôi đề xuất thực hiện đề tài " Nghiên cứu xác định các yếu tố tác động đến việc áp dụng các biện pháp kỹ thuật canh tác ngô bền vững trên đất dốc tại Văn Chấn - Yên Bái " nhằm góp phần xây dựng các
hệ thống canh tác ngô hiệu quả, ổn định và lâu bền hơn
2 Mục tiêu và yêu cầu của đề tài
2.1 Mục tiêu
Trang 14Xác định được các yếu tố ảnh hưởng đến việc áp dụng kỹ thuật canh tácngô bền vững (che phủ đất, trồng xen cây họ đậu, tiểu bậc thang) vào sản xuất củacác hộ nông dân Từ đó, làm cơ sở đề xuất giải pháp để hộ nông dân áp dụng kỹthuật canh tác mới vào sản xuất ở huyện Văn Chấn – Yên Bái
2.2 Yêu cầu của đề tài
- Đánh giá được thực trạng áp dụng kỹ thuật canh tác tác ngô bền vững tạihuyện Văn Chấn – Yên Bái
- Xác định được các yếu tố hạn chế, các yếu tố thúc đẩy áp dụng biện pháp
kỹ thuật vào sản xuất
- Đề xuất được các giải pháp thúc đẩy ứng dụng các kỹ thuật
3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
3.1 Ý nghĩa khoa học
Đề tài chỉ ra được các yếu tố thức đẩy và các yếu tố hạn chế việc áp dụng các
kỹ thuật canh tác ngô bền vững vào sản xuất, làm cơ sở để nghiên cứu phát triển các
kỹ thuật canh tác bền vững trong điều kiện miền núi
3.2 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài
- Nghiên cứu sẽ góp phần làm rõ vai trò của những kỹ thuật canh tác phù hợp
(cho năng suất cây trồng cao, ổn định và duy trì, bảo vệ được nguồn tài nguyên
thiên nhiên đất, nước, giảm phát thải) với điều kiện canh tác của huyện Văn Chấn
và xác định được các giải pháp thúc đấy ứng dụng các kỹ thuật này, góp phần nângcao hiệu quả sản xuất, và nâng cao tính bền vững của các hệ thống canh tác ngô đấtdốc tại Yên Bái nói riêng, miền núi phía Bắc nói chung
Trang 15CHƯƠNG I TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Cơ sở khoa học của đề tài
1.1.1 Một số khái niệm về hệ thống nông nghiệp và phát triển bền vững
* Hệ thống nông nghiệp (Agricultural systems)
Hệ thống nông nghiệp (Phạm Chí Thành và cs, 1993) là: Một phức hợp củađất đai, nguồn nước, cây trồng, vật nuôi, lao động, các nguồn lợi, các đặc trưngkhác trong một ngoại cảnh mà nông hộ quản lý tuỳ theo sở thích, khả năng, kỹ thuật
có thể có Hệ thống nông nghiệp thực chất là một hệ sinh thái nông nghiệp được đặttrong một điều kiện kinh tế - xã hội nhất định, tức là hệ sinh thái nông nghiệp đượccon người tác động bằng lao động, các tập quán canh tác, hệ thống các chínhsách… Nhìn chung hệ thống nông nghiệp là một hệ thống hữu hạn trong đó conngười đóng vai trò trung tâm, con người quản lý điều khiển các hệ thống nhỏ trong
đó theo những quy luật nhất định, nhằm mang lại hiệu quả cao nhất cho hệ thốngnông nghiệp
Hệ thống nông nghiệp = Hệ sinh thái nông nghiệp + Các yếu tố kinh tế, xã hội Theo Đào Thế Tuấn, 1989, HTNN thực chất là sự thống nhất của 2 hệ thống:
(1) Hệ sinh thái nông nghiệp là một bộ phận của hệ sinh thái tự nhiên, baogồm các cơ thể sống (cây trồng, vật nuôi) trao đổi năng lượng, vật chất và thông tinvới ngoại cảnh, tạo nên năng suất sơ cấp (trồng trọt) và thứ cấp (chăn nuôi) của hệsinh thái
(2) Hệ kinh tế - xã hội, chủ yếu là sự hoạt động của con người trong sản xuấttạo ra của cải vật chất cho toàn xã hội Trong lịch sử phát triển nông nghiệp trên thếgiới cho thấy quá trình thay đổi cơ bản nhất của HTNN là sự tiến hoá của hộ nôngdân từ tình trạng sản xuất tự cung tự cấp sang sản xuất hàng hoá Sự thay đổi theohướng phát triển đó diễn ra không đồng thời giữa các vùng, các làng, các hộ Dovậy, mỗi nơi phải xây dựng những giải pháp riêng cho phù hợp với đặc điểm thựctrạng của hệ thống
Trang 16* Hệ thống canh tác (Farming systems)
Hệ thống canh tác là sự bố trí một cách thống nhất, ổn định các ngành nghềtrong nông trại được quản lý bởi hộ gia đình trong môi trường tự nhiên, sinh học,kinh tế xã hội, phù hợp với mục tiêu, sự mong muốn, nguồn lực của nông hộ(Shaner, 1982)
Hệ thống canh tác là sản phẩm của bốn nhóm biến số: Môi trường vật lý, kỹthuật sản xuất, chi phối của nguồn tài nguyên và điều kiện kinh tế xã hội Trong hệthống canh tác vai trò của con người đặt ở vị trí trung tâm của hệ thống và quantrọng hơn bất cứ nguồn tài nguyên nào kể cả đất canh tác
Nhà thổ nhưỡng học người Mỹ đã chứng minh cho quan điểm này, ông chorằng đất không phải là quan trọng nhất mà chính con người sống trên mảnh đất đó.Muốn phát triển một vùng nông nghiệp, kỹ năng của nông dân có tác dụng hơn độphì của đất (Cao Liêm và cs, 1996)
Theo Lê Trọng Cúc, 1996 Hệ sinh thái nông nghiệp (Agro-ecosystems) và hệ kinh tế xã hội (Socio - economic Systems) Trong đó hệ kinh tế- xã hội là hệ tích
cực, sự biến đổi chung của hệ thống nông nghiệp phụ thuộc phần lớn hệ này
Phát triển bền vững là sự phát triển có khả năng đáp ứng nhu cầu của thế hệ
hiện nay mà không phương hại đến khả năng của các thế hệ mai sau đáp ứng đượcnhững nhu cầu của con người Đối với vùng cao, phát triển bền vững liên quan chặtchẽ đến các biện pháp quản lý đất đất dốc bền vững mà chủ yếu là không gây thoáihoá đất, không gây ô nhiễm môi trường mà vẫn đảm bảo được cuộc sống con người.Điều này có nghĩa là phát triển phải đi đôi với quản lý tài nguyên hợp lý
Nông nghiệp bền vững nói về thiết kế những hệ thống định canh lâu bền Đó
là một triết lý và một cách tiếp cận về sử dụng đất đai, liên kết tiểu khí hậu, câytrồng hàng năm và lưu niên, vật nuôi, đất nước và những nhu cầu của con người,xây dựng những cộng đồng chặt chẽ và có hiệu quả
Một nền nông nghiệp phát triển nhanh và vững chắc phải sử dụng hợp lý cácnguồn lợi tự nhiên như khí hậu, đất đai vv và các nguồn lợi kinh tế, xã hội như: lao
Trang 17động, vật tư, kỹ thuật vv Một trong những biện pháp kinh tế và kỹ thuật nhằm tậndụng các nguồn lợi tự nhiên và kinh tế xã hội là bố trí hệ thống cây trồng hợp lýtrong một vùng hay một đơn vị sản xuất nông nghiệp (Nguyễn Thị Nương, 1998).Một hoạt động sản xuất (nông nghiệp, công nghiệp, khai thác hải sản ) là bềnvững khi đạt tất cả các mục đích của nó và có thể tiếp tục mãi mãi Nội dung củaphát triển bền vững bao gồm:
- Đáp ứng được những nhu cầu cơ bản của con người
- San bằng được khoảng cách giữa giàu – nghèo và hoàn cảnh xã hội
- Bảo tồn được các tài nguyên thiên nhiên
- Tạo ra những điều kiện tốt giúp con người nhận thức rõ giá trị làm người,hiểu rõ được những vấn đề chung của nhân loại và những gì ưu tiên phải thực hiệntrước và giúp con người đạt được quyền tự do trong cộng đồng
1.1.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến việc áp dụng tiến bộ kỹ thuật trong nông nghiệp
* Tiến bộ kỹ thuật trong nông nghiệp
Tiến bộ kỹ thuật trong nông nghiệp là những kỹ thuật được khẳng định làphù hợp và khả thi về sinh thái, kinh tế - xã hội trên đồng ruộng của nông dân, gópphần nâng cao hơn hiệu quả sử dụng nguồn lực trong nông nghiệp, tạo điều kiệnphát triển bền vững về kinh tế, xã hội và môi trường cho nông nghiệp và nông thôn
“tiến bộ” ở đây thể hiện sự “tốt hơn” và “mới hơn” so với kỹ thuật hiện có (Đỗ KimChung, 2005)
TBKT là những kỹ thuật mới hiện chưa có ở địa phương và là một yếu tốđộng theo thời gian và không gian Yếu tố động theo không gian được hiểu là mộtTBKT chỉ phù hợp với một không gian nhất định, khái niệm không gian ở đây cóthể thu hẹp trong phạm vi một hệ sinh thái nông nghiệp và cũng có thể rộng trongphạm vi một vùng Còn khái niệm về yếu tố động theo thời gian thì một TBKT cóthể phù hợp với nền nông nghiệp tự cung tự cấp và không phù hợp nền nông nghiệphàng hóa (Đào Thế Tuấn, 2000)
Việc áp dụng TBKT là quá trình đưa các TBKT đã được khẳng định là đúngđắn trong thực tiễn vào áp dụng trên diện rộng để đáp ứng nhu cầu của sản xuất và
Trang 18đời sống của con người Theo Phạm Chí Thành và cs (1993), hệ thống canh tác tiến
bộ và bền vững được hình thành trên cơ sở kết hợp giữa các yếu tố bên ngoài (điềukiện tự nhiên, điều kiện kinh tế - xã hội) và nhóm các yếu tố bên trong của nông hộ(đất đai, lao động, vốn, và kỹ năng nghề nghiệp) Hệ thống canh tác tiến bộ là sự kếthợp giữa kiến thức bản địa và tiến bộ kỹ thuật
Phương pháp tiếp cận nghiên cứu phát triển tiến bộ kỹ thuật là lý thuyết
hệ thống, trong đó có sự phối hợp giữa nông dân (kiến thức bản địa) với các nhà khoahọc (công nghệ mới) cùng nhau phát hiện vấn đề giải quyết và đưa ra kết quả nghiêncứu vào sản xuất Sự kết hợp này tạo ra cái mới (hệ canh tác tiến bộ và bền vững)
* Các nhân tố ảnh hưởng đến áp dụng tiến bộ kỹ thuật trong nông nghiệp
Theo kinh nghiệm áp dụng TBKT của các nước Châu Á, Châu Phi và quathực tiễn của nước ta đã chỉ ra những nhân tố cơ bản sau ảnh hưởng đến sự pháttriển của ngành nông nghiệp ( Nguyễn Thu Hồng, 2008):
Nhóm yếu tố bên trong
Trang 19giới tính, lứa tuổi, trình độ chuyên môn kỹ thuật, kinh nghiệm và tay nghề của nôngdân); ii) Tài nguyên đất đai (Đất thổ cư, vị trí,…) Đây là các yếu tố quan trọng để
b) Quỹ đất
Đất đai luôn là vấn đề sống còn của bất kỳ một nông hộ nào dù là lớn haynhỏ Đất đai là tư liệu sản xuất đặc biệt trong sản xuất nông nghiệp, là nguồn lợi tựnhiên cung cấp năng lượng và vật chất cho cây trồng Đất đai và khí hậu hợp thànhphức hệ tác động vào cây trồng do vậy cần phải nắm được đặc điểm mối quan hệgiữa cây trồng với đất thì mới xác định được cây trồng hợp lý
c) Thị trường
Thị trường là động lực thúc đẩy cải tiến TBKT Theo cơ chế thị trường thìngười nông dân cần điều chỉnh quy mô sản xuất, cải tiến kỹ thuật, thay đổi giốngcây trồng, vật nuôi để đạt hiệu quả cao đáp ứng được nhu cầu của thị trường
d) Thu nhập
Thu nhập của hộ nông dân được hình thành từ các nguồn chính là từ hoạtđộng sản xuất nông nghiệp và từ các hoạt động phi nông nghiệp Chuyển dịch hệthống canh tác có ảnh hưởng trực tiếp tới thu nhập của hộ nông dân do kết quả củachuyển dịch hệ thống canh tác không chỉ làm thay đổi về khối lượng hàng nông sảnlàm ra mà còn làm thay đổi cả cơ cấu sản phẩm Việc thay đổi về số lượng và cơcấu nông sản phẩm làm ra dẫn đến thay đổi giá trị tổng sản phẩm sản xuất nôngnghiệp Hơn nữa, việc thay đổi trong bố trí nguồn lực đầu vào của sản xuất cũng
Trang 20làm thay đổi chi phí sản xuất so với các hệ thống canh tác khác nhau không chỉ đốivới sản xuất nông nghiệp mà còn đối với cả các hoạt động phi nông nghiệp khác.Kết quả tất yếu của quá trình này dẫn đến thay đổi thu nhập của hộ Ảnh hưởng của
áp dụng TBKT trong sản xuất nông nghiệp tới thu nhập của hộ nông dân được thểhiện trên hai khía cạnh: ảnh hưởng tích cực và ảnh hưởng tiêu cực
- Ảnh hưởng tích cực: Kết quả tổng hợp của quá trình chuyển dịch hệ thống
canh tác làm tăng thu nhập cho hộ nông dân so với thu nhập có được ở hệ thốngcanh tác khác Hay nói cách khác, hệ thống canh tác này đã tạo ra 12 giá trị gia tănglớn hơn so với hệ thống canh tác khác Đích đến của chuyển dịch hệ thống canh táckhông phải là sản phẩm mà là hiệu quả kinh tế, là ổn định và nâng cao thu nhập chongười lao động, nâng cao sản lượng nông sản hàng hóa, giá trị thu nhập trên mộtđơn vị diện tích canh tác, phát triển nông nghiệp theo hướng chất lượng, hiệu quả vàbền vững Để đạt được mục tiêu này, chuyển dịch hệ thống canh tác cần tạo ra ảnhhưởng tích cực đối với việc ổn định và nâng cao thu nhập cho hộ nông dân, cónghĩa là tạo điều kiện cho phát triển nông nghiệp bền vững, thể hiện ở cả 3 khíacạnh: Kinh tế, xã hội và môi trường
- Ảnh hưởng tiêu cực: Điều này có nghĩa chuyển dịch hệ thống canh tác làm
giảm thu nhập của hộ nông dân hay giá trị gia tăng do cơ cấu sản xuất mới mang lạithấp hơn giá trị gia tăng được tạo ra bởi cơ cấu sản xuất nông nghiệp trước đó
* Nhóm yếu tố bên ngoài
Nhóm yếu tố bên ngoài nhằm hỗ trợ phát triển và nâng cao tính bền vững của
hệ thống canh tác tiến bộ bao gồm: Điều kiện cơ sở hạ tầng (giao thông, thông tin,
hạ tầng kỹ thuật, v.v ); Điều kiện tự nhiên; Môi trường, (pháp lý, kinh tế và vănhóa - xã hội); Chính sách tài chính thương mại
a) Nhóm nhân tố tự nhiên
Điều kiện môi trường tự nhiên là yếu tố quyết định đến sự hình thành và pháttriển hệ thống canh tác Môi trường tự nhiên gồm nhiều yếu tố như: khí hậu, thờitiết, đất đai, thuỷ văn, địa hình, vv Đó cũng chính là yếu tố cơ bản làm căn cứ để
bố trí sản xuất cây trồng gì?, Con nuôi nào? Mô hình sản xuất ra sao? để cây trồng,
Trang 21vật nuôi sinh trưởng và phát triển tốt tạo ra năng suất và hiệu quả kinh tế cao.
b) Nhân tố kinh tế - kỹ thuật
Nhân tố kinh tế - kỹ thuật có nhiều như: Cơ sở hạ tầng, sự phát triển lựclượng sản xuất, chất lượng lao động, thị trường và chính sách kinh tế vĩ mô của nhànước, vv Tất cả những nhân tố đó tác động đến sự lựa chọn và phát triển hệ thốngcanh tác Trong tất cả các nhân tố kinh tế - kỹ thuật, nhân tố thị trường là nhân tốbao trùm nhất Bởi vì, theo kinh tế học hiện đại chỉ có thị trường mới cho người sảnxuất biết được nên sản xuất cái gì, cây gì, con gì, cho đối tượng nào để có được thunhập cao
Như vậy, nhóm những yếu tố bên trong, trong đó nguồn nhân lực - yếu tốđặc biệt quan trọng đối với sự phát triển của hộ và là điều kiện tiền đề tạo ra nhữngbước phát triển mang tính đột phá nhằm phát triển kinh tế của hộ Còn nhóm cácyếu tố bên ngoài chủ yếu là vai trò của Chính phủ, trong việc thiết lập môi trường(pháp lý, kinh tế, văn hóa - xã hội) công bằng, dân chủ, hiệu quả và minh bạch đểphát huy khả năng sáng tạo của các chủ thể, các hộ Đồng thời tạo dựng hạ tầngkinh tế - kỹ thuật, nhất là hệ thống giao thông, hệ thống điện và thông tin liên lạc.Đây là các yếu tố không thể thiếu để mở rộng và áp dụng TBKT trong sản xuấtnông nghiệp của hộ nông dân
1.1.3 Các giải pháp canh tác bền vững trên đất dốc
Kiến thiết ruộng bậc thang với bờ đất hoặc bờ đá (nếu có đủ nước thì trồnglúa có tưới, thiếu nước thì trồng lúa cạn và hoa màu) Đây là một cách làm rất hiệuquả và bền vững cần được khuyến khích Tuy nhiên sẽ cần nhiều thời gian để làm
đủ diện tích bậc thang cần để sản xuất đủ lương thực, hơn nữa những nơi chỉ toànđất dốc cao thì sẽ rât khó làm và bảo vệ bậc thang, vì vậy cần áp dụng các biện phápmới trong canh tác
Canh tác theo đường đồng mức: Đây cũng là cách làm hay song chưa đủ hiệuquả trong ngăn chặn xói mòn và thoái hoá đất
Xếp tường đá, làm hàng rào bảo vệ đồng ruộng, đào hào dẫn nước tránh khỏi
Trang 22khu vực canh tác để chống xói mòn Đây là một biện pháp cổ truyền nên học tập,tuy nhiên không phải nơi nào cũng có đá để xếp tường Còn việc đào hào, hố giữnước trên đỉnh hoặc sườn dốc, có nhiều hộ nông dân còn xây bể dung tích lớn đểchứa nước chống hạn Cách làm này rất tốn kém nên không phải ai cũng làm được.
• Làm bậc thang vẩy ốc, xếp đá để bảo vệ cây ăn quả, cây lâu năm Cách làmnày cũng tốt và cần được phát huy
• Trồng cây che phủ, sử dụng phân xanh, xen canh, gối vụ, luân canh đây
là phương hướng tiếp cận rất hiệu quả, nhưng mới được áp dụng lẻ tẻ, đơn điệu vàchưa phong phú về phương pháp, kỹ thuật và thiếu các giống cũng như loài câythích hợp dẫn nước thì tốn thời gian, tốn đất canh tác và đôi khi không phát huyđược tác dụng nếu không kết hợp với các biện pháp bảo vệ rừng
Có 5 hướng đi cơ bản để canh tác bền vững ở vùng cao nhiệt đới:
+ Tăng tối đa lượng chất hữu cơ trong đất Bằng cách này chúng ta dễ dàngđạt năng suất mong muốn với giá thành sản xuất hạ Điều này có thể đạt được qua
áp dụng các kỹ thuật nông lâm kết hợp, xen canh, luân canh, gối vụ và trồng câyche phủ đất để đạt sinh khối tối đa Khi có nhiều chất xanh làm thức ăn gia súc thìchăn nuôi cũng được phát triển và sẽ thúc đẩy trồng trọt cũng như nghề rừng cùngphát triển theo hướng bền vững Việc này cũng tạo điều kiện phát triển nông nghiệphữu cơ (cũng có thể gọi là nông nghiệp sinh thái, nông nghiệp bảo tồn)
+ Liên tục che phủ đất bằng lớp phủ thực vật sống hay đã khô Đây là biệnpháp quan trọng nhất, đa dụng và là nền tảng cho mọi nỗ lực quản lý và sử dụng đấtdốc bền vững Có thể sử dụng nylon để che phủ cho đất dốc nhưng phải che theoluống ngang sườn dốc và các rãnh giữa các luống phải được phủ bằng xác thực vật.Phải tái sử dụng tốt nhất lượng chất hữu cơ sẵn có tức là không được đốt tàn dưthực vật như nông dân thường làm, trái lại phải giữ chúng lại làm vật liệu che phủ
để bảo vệ và cải tạo đất
Lợi ích của che phủ đất:
Lợi ích tại chỗ: Giảm xói mòn do mưa và gió; Làm cho đất tơi xốp, tăng độhấp thu nước của đất, giảm dòng chảy bề mặt Giảm bốc hơi, tăng ẩm độ đất; Dung
Trang 23hoà nhiệt độ bề mặt đất; Tăng độ ổn định các cấu trúc bền mặt đất, chống kết vónđất và đóng váng bề mặt đất; Giảm cỏ dại, tăng hiệu quả phân bón Giảm đầu tư:giảm công làm đất, làm cỏ, phân bón; Tăng hàm lượng chất hữu cơ và dinh dưỡngcho đất, giảm độc tố trong đất; Tạo điều kiện tốt cho hạt nảy mầm tốt, bộ rễ pháttriển khoẻ, cây sinh trưởng tốt Kết quả là làm tăng và ổn định năng suất, chất lượngcây trồng một cách bền vững
Lợi ích về bảo vệ môi trường và quản lý tài nguyên: Hạn chế du canh, cải
thiện nguồn tài nguyên đất, nước và rừng; Chống lắng đọng các lòng sông hồ, đặcbiệt là hồ thuỷ điện; Giảm lũ lụt ở miền xuôi; Giảm ô nhiễm hoá học ở các vùng lâncận Giảm hiệu ứng nhà kính thông qua việc giảm lượng khí CO2 thải vào không khí
do đốt phá rừng, tàn dư thực vật và khói từ các nhà máy sản xuất phân bón và thuốchoá học Tiết kiệm nguồn năng lượng sử dụng cho các nhà máy sản xuất phân bón
và thuốc hoá học và vận hành các loại máy làm đất
Lợi ích về xã hội: Phụ nữ được giải phóng khỏi những công việc nặng nhọc
và tốn nhiều thời gian như làm cỏ và làm đất Họ sẽ có nhiều thời gian chăm sócsức khoẻ gia đình, nuôi dạy con cái và phát triển nghề phụ; Trẻ em sẽ có nhiều thờigian học hành, nâng cao kiến thức; Do đất và nước ít bị hoặc không bị ô nhiễm, vấn
đề bệnh tật sẽ giảm, sức khoẻ cộng đồng sẽ được cải thiện; Do hiệu quả kinh tế caonên xã hội sẽ phát triển nhanh và bền vững hơn
Như vậy, khi áp dụng tốt biện pháp che phủ đất, chúng ta có thể đáp ứngđược hầu hết các nhu cầu canh tác đất dốc bền vững góp phần xoá đói giảm nghèocho nông dân miền núi và bảo vệ tài nguyên môi trường
+ Không làm đất hoặc làm đất tối thiểu: Đối với đất dốc, nếu làm đất càng
kỹ mà không che phủ thì xói mòn sẽ xảy ra rất mạnh và nhanh Có thể làm cho đấttrở nên tơi xốp mà không cần phải cày bừa đất bằng các biện pháp cơ giới đó là ápdụng các biện pháp thay thế nhờ hoạt động của sinh vật đất và bộ rễ khoẻ của một
số loài cây và có thể gọi là qua cày bừa sinh học)
+ Luân canh, xen canh và đa dạng hoá cây trồng Luân canh, xen canh, gối
vụ không chỉ tăng thu nhập mà còn tăng sinh khối nhờ sử dụng các loài cây ngắn
Trang 24ngày, mọc nhanh, đa chức năng, có bộ rễ phát triển khoẻ, sâu để khai thác dinhduỡng trong lòng đất “Cây bơm dinh dưỡng”, hoặc tăng dinh dưỡng đất nhờ cây họđậu cố định đạm Ngoài ra cần xen canh các loài cây có bộ rễ phát triển nông và sâu
để điều hoà dinh dưỡng và giữ độ tơi xốp của đất Luân canh còn có tác dụng chốngtích tụ nguồn sâu bệnh gây hại cây trồng
+ Che phủ đất
Trên nhiều loại đất vùng nhiệt đới nóng ẩm do độ pH thấp dưới 5, độc nhômsắt, đất bị nén chặt nên rễ cây trồng không thể phát triển được Trong điều kiện ápdụng biện pháp che phủ đất, rễ cây có thể khai thác dinh dưỡng dưới và từ lớp chephủ thực vật Trên thực tế, rễ nhiều loại cây trồng có phần lớn miền hút nằm ngaysát lớp che phủ thậm chí trong lớp che phủ nếu ẩm độ được duy trì ở mức thích hợp.Trong nhiều trường hợp việc bón phân vào lớp che phủ còn hiệu quả hơn là bón vàođất
* Một số tác động khác.
Nếu thực hiện tốt các nguyên tắc nêu trên chúng ta có đủ khả năng sản xuất
đủ lương thực và hoa màu đáp ứng nhu cầu cuộc sống trên những diện tích đất cốđịnh và sẽ không phải chặt đốt rừng để sản xuất Như vậy độ che phủ rừng sẽ tănglên và rừng sẽ bảo vệ chúng ta khỏi thiên tai như lụt lội, hạn hán Rừng sẽ cung cấpcho ta nhiều sản phẩm có giá trị cao để cải thiện cuộc sống
Nghiên cứu về hệ thống cây trồng vùng Trung du, miền núi đã chỉ rõ: Cầnphải đa dạng hoá cây trồng, sẽ đáp ứng được hướng sản xuất tựcung tựcấp của đồngbào dân tộc, nhưng cần sử dụng các biện pháp đơn giản, dễ làm, phù hợp với điềukiện của vùng và điều kiện dân trí (Đậu Quốc Anh, Lê Quốc Doanh, Bùi Huy Hiền,1994)
Chăn nuôi cũng phát triển và giúp nông dân làm giàu mà không phương hạiđến sản xuất nông lâm nghiệp Chúng ta sẽ có những sản phẩm sạch để đảm bảo sứckhoẻ mà không cần đầu tư cao, không phụ thuộc vào nguồn phân vô cơ Gánh nặngcủa người lao động sẽ được tháo gỡ vì không phải đi cắt cỏ chăn nuôi, không mấtnhiều công làm cỏ và làm đất Sẽ có nhiều hơn các cơ hội để phát triển các ngành
Trang 25nghề truyền thống và khôi phục các giá trị văn hoá các dân tộc thiểu số Tài nguyênthiên nhiên sẽ được sử dụng hợp lý và môi trường được bảo vệ Với cảnh quan đẹp,
Trang 26chúng ta có thể mở mang du lịch sinh thái, tăng thu nhập góp phần xoá đói giảmnghèo và tiến tớí làm giàu một cách bền vững.
1.2 Mốt số đặc điểm kinh tế kỹ thuật của sản xuất ngô trên đất dốc
Cây ngô có nguồn gốc từ Mêxicô, trải qua 700 năm tiến hoá và phát triển quaquá trình chọn lọc tự nhiên và nhân tạo Cây ngô có sự đa dạng di truyền và khảnăng thích ứng ở nhiều vùng, nhiều khu vực khác nhau Ngô có tên khoa học là
Zeamays.L do nhà thực vật học Thụy Điển Linnaeus đặt theo tên kép Hy Lạp –
Latinh: Zea – từ Hy Lạp để chỉ cây ngũ cốc và Mays là từ ‘‘Maihs’’ tên gọi cây ngôcủa người bản địa da đỏ (Đinh Thế Lộc và cs, 1997) Hiện nay, trong nền sản xuấtnông nghiệp thì cây ngô được trồng ở hầu hết các nước trên thế giới
1.2.1 Đặc điểm kinh tế của cây ngô
Cây ngô là cây lương thực có giá trị Trong ngô có nhiều chất dinh dưỡngvới hàm lượng cao Những bộ phận chính của hạt ngô có thành phần hoá học khácnhau: vỏ hạt có có lượng chất xơ thô cao 87%, phôi nhũ chứa hàm lượng tinh bộtkhoảng 87.6%, prôtít 26% và phôi có hàm lượng dầu cao thô cao, trung bìnhkhoảng 33% Lượng tinh bột và prôtít của hạt ngô có chủ yếu trong phôi còn chất
xơ thô trong hạt phân bố chủ yếu ở vỏ hạt Sự phân bố trọng lượng trong các bộphận của hạt ngô, thành phần hoá học đặc biệt của chúng và giá trị dinh dưỡng là rấtquan trọng trongviệc chế biến ngô Do đó, ngô là nguồn lương thực quan trọng, đặcbiệt nó cung cấp bữa ăn hàng ngày cho những người dân nghèo ở nông thôn vàmiền núi Ngô là cây lương thực ngắn ngày, có tính thời vụ, hạt ngô có tỷ trọng hàmlượng nước cao Do vậy, cần bố trí mùa vụ thích hợp và phơi sấy chế biến hợp lý đểnâng cao hiệu quả kinh tế trong quá trình sản xuất kinh doanh
Khi xem xét đến giá trị kinh tế thì cây ngô là loại cây có giá trị kinh tế đứngthứ ba sau cây lúa nước và cây lúa mì Sở dĩ cây ngô có vị trí như vậy là do nó cónhững ưu điểm như năng suất cao, khả năng thích ứng rộng và có nhiều công dụng,
sử dụng làm thức ăn chăn nuôi, chế biến thực phẩm, nguyên liệu cho công nghiệp.Ngoài ra, cây ngô còn là loại hạt cốc dễ tiêu hoá, nhiều thành phần trong hạt vớihàm lượng chất dinh dưỡng cao Đặc biệt ngô là loại hạt cốc dễ bảo quản, dễ chế
Trang 27biến Từ ngô người ta đã sản xuất ra khoảng 670 mặt hàng khác nhau của các ngànhcông nghiệp, lươngthực thực phẩm Ngô là mặt hàng xuất khẩu có giá trị của nhiềuquốc gia Quốc gia có lượng ngô xuất khẩu lớn nhất trên thị trường thế giới là Mỹ,chiếm khoảng 60%, sau đó là Trung Quốc 10 % và tiếp theo là Achentina, Pháp,Nam Phi, Thái Lan (Đinh Thế Lộc và cs, 1997) Hiện nay ngô là nguồn tạo thu nhậphiệu quả Ngô đã và đang đóng góp nuôi sống gần 1/3 dân số thế giới và là phươngtiện hữu hiệu cho việc đa dạng hoá và nâng cao tính bền vững của mùa vụ gieotrồng Vì vậy, phát triển sản xuất kinh doanh cần chú ý đến giá trị kinh tế và tăngcường công nghiệp chế biến để nâng cao hiệu quả kinh tế của ngô.
Cây ngô ngoài ý nghĩa về mặt kinh tế còn có ý nghĩa về mặt xã hội Hiện naynhu cầu về cây lương thực của các nước đang phát triển tăng nhanh do sức ép tăngdân số đã làm cho diện tích trồng ngô tăng mạnh ở khu vực này trong mấy thập kỷqua Ở nhiều nước, cây ngô góp phần quan trọng vào an ninh lương thực, tạo thunhập cho cộng đồng dân cư nghèo Sản xuất ngô là một trong các loại hình canh tácchính ở khu vực phía Bắc Việt Nam Từ năm 1990 đến năm 2004, sản lượng ngôcủa Việt Nam sản xuất ra tăng đến 5 lần từ 671.000 tấn lên đến hơn 3,4 triệu tấn,diện tích tăng từ 432.000 ha lên 990.000 ha trong cùng thời kỳ, chủ yếu ở khu vựcvùng núi Sự tăng nhanh chóng này là nhờ việc tăng sử dụng các giống ngô lai, sửdụng phân hoá học và các chính sách hỗ trợ phát triển nông thôn miền núi của chínhphủ Việt Nam Năng suất trung bình tăng từ 1,5 lên 3,5 tấn/ha Chính sự thay đổinày đã làm tác động mạnh mẽ vào thu nhập và nguồn lao động của nhiều nông dân
ở khu vực nông thôn Việt Nam Hiện nay, sinh kế của nhiều nông dân miền núi khuvực Tây Bắc chủ yếu dựa vào sản xuất ngô phục vụ cho chăn nuôi và nghành côngnghiệp thức ăn chăn nuôi, chiếm đến 70 % tổng nguồn thu nhập của các nông hộ(Oleg Nicetic và cs, 2011)
Nhiệt độ là yếu tố khí tượng quan trọng ảnh hưởng trực tiếp đến sinh trưởng
và phát triển của cây ngô Cây ngô là cây trồng khí hậu ấm, nhiệt độ yêu cầu từ khitrồng đến khi phun râu, suốt thời kỳ nảy mầm thích hợp vào khoảng 18,30C Nếunhiệt độ quá thấp (dưới 120C) dẫn đến giảm năng suất
Trang 28Bên cạnh nhiệt độ thì chế độ ánh sáng cũng là yếu tố quan trọng quyết địnhđến năng suất và thời gian sinh trưởng của cây ngô Vào thời kỳ mọc đến khi hìnhthành bắp cây ngô cần ánh sáng dài ngày để tiến hành quang hợp và tích luỹ dinhdưỡng, đồng thời để trỗ cờ và đóng bắp Trong các giai đoạn sinh trưởng và pháttriển của cây ngô thì yêu cầu về nhiệt độ, ánh sáng, lượng nước, chế độ không khí,dinh dưỡng và quá trình chăm sóc cũng khác nhau.
Ngô là cây trồng cạn, bộ rễ phát triển rất mạnh nên có khả năng hút nướckhoẻ hơn nhiều cây khác Tuy nhiên, cây ngô sinh trưởng nhanh và tạo ra mộtlượng sinh khối lớn nên ngô cần một lượng nước lớn Một ha ngô cần khoảng3.000- 4.000 m3 nước (trong khi đó cây khoai tây chỉ cần 2.470 m3 nước 1 vụ/ha)(Đinh Thế Lộc và cs, 1997)
Do ngô là cây phàm ăn và có thể trồng trên các loại đất có các đặc tính lýhoá học khác nhưng muốn cho ngô đạt năng suất cao phải trồng ngô trên các loạiđất giàu dinh dưỡng Do vậy khi tiến hành trồng ngô chúng ta phải hiểu rõ nhu cầudinh dưỡng của cây ngô và đặc điểm của từng loại đất để xây dựng chế độ bón phânthích hợp Ngô có tiềm năng cho năng suất cao vì vậy cần bón nhiều phân để duy trìcác hoạt động sống và tạo năng suất Nếu ngô cho năng suất 10 tấn/ha thì 1 ha ngôphải lấy từ đất một lượng dinh dưỡng là 269 kg N, 111 kg P2O5, 229 kg K2O (ĐinhThế Lộc và cs, 1997) Do vậy, căn cứ vào lượng dinh dưỡng mà cây ngô lấy để bổsung lại cho đất một lượng phân tương ứng nhằm đảm bảo độ phì cho đất
1.2.2 Quy trình canh tác ngô trên đất dốc
- Chuẩn bị nương: Dọn sạch cỏ dại và tàn dư cây trồng vụ trước (làm đất, càosạch cỏ và giữ nguyên không đốt, sử dụng làm vật liệu phủ)
Chuẩn bị vật liệu phủ trước gieo 15 ngày
- Giống ngô: Giống ngô lai LVN 10 là giống ngô do Viện nghiên cứu Ngôchọn tạo ra Giống này được xếp vào nhóm trung bình Thời gian sinh trưởng từ 115– 120 ngày, tiềm năng năng suất từ 70– 80 tạ/ha
- Thời vụ trồng ở vùng núi Tây Bắc do điều kiện thời tiết khí hậu khắcnghiệt nên ngô thường được gieo trồng giữa tháng 3 đầu tháng 4 Mật độ khoảng
Trang 29cách: 70 cm x 30 cm, lượng giống: 20 kg/ ha, gieo 2 hạt/ hốc.
- Kỹ thuật bón phân: Cây ngô có thời gian sinh trưởng dài nên phải bónnhiều lần Lượng phân bón trên một ha là: 250 - 300 kg đạm Urê, 400 - 500 kg supeLân và 120 – 150 kg Kali
Cách bón:
- Bón lót toàn bộ phân lân + 1/3 Urê, bón ngay trước khi gieo
- Bón thúc làm 2 đợt
+ Đợt 1: Bón lần 1: 1/3 đạm Urê + 1/2 lượng Kali (khi ngô 3- 4 lá)
+ Đợt 2: Bón lần 2: 1/3 đạm Urê + 1/2 lượng Kali (khi ngô 7- 9 lá)
- Chăm sóc và làm cỏ: Cần tỉa dặm cây sớm để đảm bảo mật độ và độ đồngđều Chăm sóc, bón thúc vun cao gốc kết hợp với làm cỏ có tác dụng trống đổ, vùiphân và diệt cỏ dại
- Phòng trừ sâu bệnh: Một số loại sâu thường gặp như sâu sám, sâu đục thân,rệp cờ, sâu cắn lá, bệnh khô vằn…nên dùng cácloại thuốc bảo vệ thực vật nhưWofatox với nồng độ 5%, Puradan, Basa, Validacin
- Thu hoạch: Khi lá bi khô, hạt cứng tranh thủ nắng ráo thu hoạch ngay,tránh cho ngô bị ẩm ướt
1.3 Thực trạng sản xuất và nghiên cứu đất dốc trên thế giới
Tài nguyên đất trên thế giới có 13.530 triệu ha Đất dốc là một phần quantrọng trong sản xuất nông nghiệp, chiếm 973 triệu ha (66%) trong tổng số 1.500triệu ha diện tích đất nông nghiệp Thế giới Trong đó đất đồi núi có độ dốc từ100 trởlên vào khoảng 377 triệu ha Vùng châu Á Thái Bình Dương, đất nông nghiệp có
453 triệu ha đất nông nghiệp Trong đó đất dốc là có 351 triệu ha (Hudson, N.W,1999) Riêng vùng Đông Nam Á, đất nông nghiệp có khoảng 91 triệu ha, chiếm21% diện tích tự nhiên, trong đó đất dốc là có 58 triệu ha (Thomas Dierolf et al,2001) Diện tích đất đồi núi ở khu vực Đông Nam Á được phân bố ở tất cả các nướctrong khu vực, nhiều nhất là ở Việt Nam (chiếm 75% diện tích toàn quốc) Phần lớndiện tích đất đồi núi được sử dụng cho lâm nghiệp, cũng như được khai thác trồngcác loại cây trồng công nghiệp, cây ăn quả dài ngày
Trang 30Dân số châu Á chiếm 58% dân số trên thế giới nhưng đất nông nghiệp chỉchiếm khoảng 20% đất nông nghiệp toàn cầu Đất dốc ở châu Á chiếm khoảng 35%tổng diện tích của các nước Tiềm năng đất trồng trọt nhờ nước trời là khá lớnkhoảng 407 triệu ha, trong đó xấp xỉ 282 triệu ha hiện nay đang trồng trọt và cókhoảng 100 triệu ha nằm trong vùng nhiệt đới ẩm của Đông Nam Á Khoảng 40 –
60 triệu ha đất này trước đây được rừng che phủ nhưng do hoạt động của con ngườinên rừng đã bị phá và thay thế vào đấy là thảm thực vật cây bụi, cỏ
Trước khi con người khai phá đất để làm nương rẫy thì phần lớn đất dốc đềuđược rừng bao phủ bởi thảm thực vật Do ẩm và nóng, thảm thực vật phát triểnnhanh và tạo thành lớp đất mặt của thảm rừng có độ phì tự nhiên cao cho cả vùngđất bằng và cả vùng đất dốc Nhưng đất dốc là hệ sinh thái kém bền vững, dễ bị hủyhoại khi bị mất lớp rừng bao phủ (Robert M, 1992) Trong nhiều thập kỷ qua sự giatăng nhanh dân số của các nước đang phát triển đã tạo lên nhiều sức ép lớn trênnhiều phương diện đối với đất đai và tài nguyên môi trường ở cả vùng đồng bằng vàvùng núi (Garrity et al, 1993)
Diện tích rừng bị chặt phá vào năm 1978 là 7,6 triệu ha thì đến năm 1989 đãlên tới 13,9 triệu ha (Meyer, 1989) Thảm thực vật rừng bị mất đã dẫn đến đất dốc
bị suy thoái mạnh mẽ
* Xói mòn và rửa trôi
Tiềm năng sản xuất nông lâm nghiệp trên đất dốc ở thế giới là rất lớn, songhiệu quả sản xuất trên đất dốc thì còn rất thấp, một trong những khó khăn chính màcon người gặp phải khi canh tác trên đó là vấn đề xói mòn và rửa trôi
Xói mòn và rửa trôi là nguyên nhân chính thu hẹp diện tích đất canh tác ởmột số nơi trên thế giới, và gây ra hiện tượng thoái hoá đất làm giảm năng suất câytrồng, làm thiệt hại đến kinh tế nhiều nước trên thế giới
Theo đánh giá của tổ chức FAO (FAO, 1995) khu vực Đông Nam Á là khuvực bị xói mòn mạnh nhất trên thế giới Trong 17 nước ở Đông Nam Á thì Việt Nam
là một trong 5 nước có xói mòn do nước ở mức trung bình đến rất nghiêm trọng Xóimòn và rửa trôi là mối đe doạ thường xuyên đối với đất dốc vùng nhiệt đới ẩm làm
Trang 31mất đi tầng đất mặt, suy kiệt hay nghèo đi dinh dưỡng gây ra hiện tượng thoáihoá đất Hiện tượng này xảy ra mạnh mẽ nhất vào mùa mưa, ngoài ra nó còn phụthuộc vào hệ thống cây trồng trên đó Đất bị xói mòn thường kéo theo sự suygiảm chất lượng đất thông qua việc giảm pH, giảm hàm lượng chất hữu cơ, giảmdung tích hấp thu, giảm tính đệm, giảm kết cấu, tăng dung trọng, tăng khả năng cốđịnh lân là một trong các nguyên nhân làm giảm năng suất và sản lượng cây trồngtrên đất dốc.
Độ phì nhiêu kém, đất bị thoái hoá Do chế độ canh tác không hợp lý trên đấtdốc nhiều vùng bị thoái hoá nghiêm trọng Có nhiều nguyên nhân làm cho sản xuấttrên đất dốc bị hạn chế và kém ổn định nhưng nguyên nhân cơ bản nhất là sự thoáihoá nhanh của đất Sự thoái hoá nhanh Sự thoái hoá bao gồm nhiều mặt: lý tính,hoá tính, sinh học … (Garrity et al, 1993)
Ngoài ra do quá trình xói mòn trên đất dốc, đặc biệt là tầng mặt đã làmnghèo kiệt về dinh dưỡng và một số tính chất của nó bị biến đổi mạnh so với nguồngốc phát sinh Đất thường có phản ứng chua đến rất chua, thiếu Lân, thiếu Can xi,thiếu Magie, thiếu Kali, bị độc Nhôm, độc Sắt, độc Mangan Dinh dưỡng của đấtphụ thuộc vào độ phì của đất, đặc tính lý hóa của đất Mỗi loại đất có hàm lượngdinh dưỡng khác nhau, vì vậy phải dựa vào đặc điểm này để bố trí loại cây trồng vàcông thức luân canh thích hợp Nói chung đất nhẹ thoáng khí, dễ thoát nước, dữnước kém, chứa ít chất dinh dưỡng và dễ làm đất Đất nặng giữ nước và chất dinhdưỡng tốt hơn nhưng thoát nước chậm, hay bị úng, ít không khí và làm đất khó.Uexkull H R., 1982 đã tóm tắt chính hạn chế chính của thoái hoá như sau:
- pH thấp ( đất chua)
- Dung tích hấp thu (CEC) thấp
- Nghèo các chất dinh dưỡng, dạng tổng số cũng như dạng dễ tiêu
- Độ no bazơ thấp
- Độc tố nhôm nhiều
- Hoạt động vi sinh vật thấp, đặc biệt là tầng dưới
Trang 32- Thành phần sét chứa nhiều các khoáng kém hoạt động bề mặt (kaolin,quartz, oxid nhôm …).
Trang 33- Chai đất.
- Giữ nước kém
Dinh dưỡng của đất phụ thuộc vào độ phì của đất, đặc tính lý hóa của đất.Mỗi loại đất có hàm lượng dinh dưỡng khác nhau, vì vậy phải dựa vào đặc điểm này
để bốtrí loại cây trồng và công thức luân canh thích hợp
• Bị hạn trong mùa khô:
Trên đất dốc rất khó giữ nước, canh tác hoàn toàn nhờ nước trời rất ít chỗ cókhả năng chủ động được nước tưới, nếu có thì chủ yếu ở những nơi gần sông suối.Nhất là vào mùa khô thì tình trạng này diễn ra phổ biến và thường bị hạn rất nặng.Hạn hán trong mùa khô là hậu quả của mất rừng và quá trình canh tác đất dốc bừa bãi.Trên phạm vi thế giới vấn đề cấp thiết nhất là phải bảo vệ và sử dụng mộtcách khôn ngoan tài nguyên đất đai còn lại cho một nền sản xuất nông nghiệp bềnvững Nước không chỉ duy trì sự sống của cây mà còn là yếu tố gây xói mòn đất vì nólàm cho các hạt đất tách rời nhau rồi bị cuốn đi cùng với các sản phẩm của thảm thựcvật mà lẽ ra có thể được sử dụng vào việc chống xói mòn (Meane L M, 1996)
Qua nghiên các cứu về hệ thống nông nghiệp trên đất dốc, các nhà nghiêncứu cho biết: Du canh vẫn còn là hệ thống canh tác cạn chiếm ưu thế ở nhiều vùngchâu Á, châu Phi, châu Mỹ Đây là biện pháp sử dụng đất có thể chấp nhận đượckhi áp lực về dân số lên đất không lớn do thời gian bỏ hoá có thể kéo dài từ 10 đến
30 năm Biện pháp này có ưu điểm là tiết kiệm năng lượng để tạo ra một sản phẩmmới, ít đầu tư và kỹ thuật đơn giản Nhưng với sức ép về dân số ngày càng tăng dẫnđến nhu cầu lương thực tăng (RAPA, 1991)
Vì vậy, canh tác nương rẫy kiểu truyền thống đã phá vỡ những cân bằng của
hệ sinh thái đang tồn tại bền vững ở vùng nhiệt đới ẩm, dẫn tới nhiều tác động tiêucực và bất ngờ về mặt môi trường và xã hội Như lũ lụt, hạn hán, khí hậu khu vực bịthay đổi làm mất cân bằng môi trường sinh thái, gây nên xói mòn kéo theo lượngphù sa lớn bồi đắp các dòng sông hạ lưu, nước sông dâng cao, gây nên lũ lụt, Phù
sa bồi còn làm cho các công trình thuỷ lợi như hồ chứa nước, kênh, mương… bị thuhẹp dung tích, làm giảm hiệu suất sử dụng Làm giảm bớt khả năng giữ nước của
Trang 34các lưu vực sông ở trên vùng cao và làm tăng thêm sức mạnh của dòng lũ khi cómưa lớn Sự gia tăng mức độ xói mòn đã bồi lấp các công trình thuỷ lợi, các hồchứa nước và sông suối làm nguồn nước dự trữ trong mùa khô bị suy giảm nghiêmtrọng Nghiên cứu về năng suất cây trồng trên nương rẫy, nhiều tác giả đều thấyrằng năng suất cây trồng giảm dần và phụ thuộc vào tính chất đất, hệ thống canh tác
và phương pháp quản lý Kiểu canh tác nương rẫy truyền thống của nông dân mangtính chất bóc lột đất nhiều hơn là duy trì độ màu mỡ của đất
Kinh nghiệm của một sốvùng là luôn duy trì một lớp phủthực vật (che phủbằng tàn dư thực vật hoặc chủ sống như: Trồng xen, trồng gối, luân canh các loạicây trồng, có sự tham gia của các cây họ đậu …) phần nào duy trì năng suất câytrồng và cải thiện độ phì đất Tuy nhiên, kinh nghiệm này cũng chưa được thực hiệnđồng bộ và chưa được phổ biến rộng khắp Đất dốc Đông Nam Á khác nhau rấtnhiều về địa hình, độ phì tự nhiên,tính chất lý, hoá và sinh học Sự mất độ phìnhanh chóng là biểu hiện rõ nhất, thường đất khai hoang đưa vào sản xuất sau 2 - 3năm thì mất độ phì vốn có và khả năng sản xuất Nguyên nhân là sau khi thảm thựcvật bị phá bỏ, đất được cày bừa xới xáo, chất hữu cơ bị oxy hoá nhanh và quá trìnhrửa trôi xảy ra mạnh Trên đất dốc, đất có thành phần sét cao giữ được độ phì tốthơn đất cát Do đó trong quá trình canh tác, việc bảo vệ và cải thiện độ phì bằngcách dùng phân chuồng, phân xanh và đặc biệt là sử dụng cây họ đậu để cải thiệntính chất đất là yếu tố quan trọng quyết định đến năng suất cây trồng
“Sử dụng, quản lý đất dốc châu Á”là tên gọi của một mạng lưới Tổ chứcquốc tế về nghiên cứu và quản lý đất dốc (IBSRAM) (Sajjapongse A., 1993) Tổchức này đã thực hiện nghiên cứu, quản lý đất dốc để phát triển nông nghiệp ở 7nước châu Á: Indonesia, Malaisia, Nepan, Philippines, Thái Lan, Trung Quốc vàViệt Nam Thực trạng chung của các nước này là canh tác trên đất dốc không hợp lýlàm cho đất bị xói mòn rửa trôi dẫn đến thoái hoá Các nghiên cứu được tiến hànhvới một số biện pháp kỹ thuật như:
- Trồng cây theo đường đồng mức với các băng cây rộng 4 – 5 m và đượcphân cách bởi các cây chắn là những cây bụi hoặc cây phân xanh họ đậu
Trang 35- Băng cỏ rộng 1 m theo đường đồng mức với khoảng cách 4 – 6 m một băng.
- Đào mương để ngăn dòng chảy, giữ đất, nước theo đường đồng mức
- Đào các hố chứa nước nhỏ trên các sườn dốc để giữ nước cho thấm dầnxuống dưới nhằm giảm tốc độ dòng chảy và giữ ẩm đất
- Nông - lâm kết hợp, phối hợp giữa cây lâu năm, cây ăn quả và cây hoa màuhàng năm
Ở các vùng đồi núi, đất nông nghiệp có độ dốc trên 100 thường chiếm 60% diện tích đất nông nghiệp hiện đang được khai thác Do đó nghiên cứu khaithác đất nông nghiệp ở miền đồi núi thực chất là vấn đề nghiên cứu canh tác trên đấtdốc hay canh tác trên đất nương rẫy Nghiên cứu quan hệ giữa hệ thống cây trồngtrên đất dốc với vấn đề rửa trôi, xói mòn đất, nghiên cứu ứng dụng hệ thống canhtác nông lâm nghiệp kết hợp trên đất dốc Nghiên cứu về kỹ thuật canh tác trên đất
50-dốc (Sloping Agriculture Land Technology-SALT) lần đầu tiên áp dụng ở Philippine
có kết quả thực tế thu nhập bình quân hàng năm trên 1 ha áp dụng SALT cao gấp 4lần so với hệ thống độc canh cổ truyền Mô hình này cũng được B.T Kang áp dụng ởNigeria gọi là canh tác theo băng (Alley cropping)
Những năm gần đây một số công nghệ sử dụng đất dốc bền vững của nướcngoài theo hướng nông lâm và lâm – nông kết hợp đã bước đầu áp dụng thành công
ở nước ta Đó là kỹ thuật canh tác nông nghiệp đất dốc viết tắt là SALT (SlopingAgricultural Land Technology) Hệ thống kỹ thuật canh tác này đã được áp dụngthành công ở Philippin từ giữa những năm 1970 đến nay Trung tâm đời sống nôngthôn Baptist Mindanao Philippin đã tổng kết hoàn thiện hệ thống này gồm 4 môhình sau đây:
* Mô hình kỹ thuật canh tác nông nghiệp đất dốc (SALT1)
Trong mô hình này là trồng trọt bằng cây ngắn ngày (cây hàng năm) xen kẽvới những cây lâu năm sao cho phù hợp với đặc tính và yêu cầu đất đai của các loàicây đó và đảm bảo có thu hoạch đều đặn Các băng được trồng theo đường đồngmức ngang dốc và giữa những bảng cây trồng chính rộng từ 4 – 6m còn có bảng hẹptrồng cây cố định đạm, cây phân xanh để giữ đất, chống xói mòn hoặc lấy củi
Trang 36Cơ cấu cây trồng trong mô hình này, để đảm bảo ổn định và hiệu quả nhất
là 75% cây nông nghiệp, 25% cây lâm nghiệp Trong cây nông nghiệp thì 50% làcây hàng năm, 25% là cây lâu năm Với mô hình này trên 1 ha hàng năm người dânthu hoạch được lượng sản phẩm hàng hoá gấp rưỡi so với trồng sắn, khả năngchống xói mòn tăng gấp 4 lần
* Mô hình kỹ thuật nông lâm súc kết hợp đơn giản (SALT2)
Trong mô hình này, một phần đất được dành cho chăn nuôi và kết hợp vớitrồng trọt Tác dụng mô hình này rất rõ là nhờ sự kết hợp theo phương thức Nông –Lâm - Súc đã tận dụng được tiềm năng đất đai, năng lượng mặt trời, đồng cỏ, thức
ăn gia súc, tăng thêm nguồn phân chuồng, phân xanh trả lại cho đất Theo mô hìnhnày việc sử dụng đất đảm bảo có thu nhập đều đặn vừa cải thiện được độ phì nhiêu,chống được xói mòn đất
* Mô hình kỹ thuật canh tác nông lâm kết hợp bền vững (SALT3)
Mô hình này đã kết hợp một cách tổng hợp việc trồng rừng quy mô nhỏ vớisản xuất lương thực, cây ăn quả và cây thực phẩm Ở đây người nông dân dùngnhững phần đất có độ cao thấp ( dưới 200 – 250) sườn đồi và chân đồi để trồng cáccây lương thực, thực phẩm, xen với các hàng cây cố định còn phần đất cao ( sườntrên là đỉnh đồi) để trồng rừng Cây lâm nghiệp chọn để trồng theo thời gian thuhoạch được chia ra các loại từ 1 – 5 năm, 6 – 10 năm, 11 –15 năm và trên 15 năm
để có thể thu được sản phẩm cao nhất và đều đặn Cơ cấu đất được sử dụng thíchhợp ở đây là dành 40% cho cây nông nghiệp, 60% cho cây lâm nghiệp Trong môhình này các biện pháp nông – lâm - thuỷ lợi và công trình hạ tầng được áp dụngđồng bộ (thực hiện các biện pháp làm giảm lượng nước chảy tràn, thực hiện cácbiện pháp hạn chế tốc độ dòng chảy, ngăn cản sự cuốn trôi đất, làm đất theo đườngđồng mức v.v…) hiệu quả sử dụng đất được tăng cao hơn cả về mặt kinh tế - xã hội
và môi trường Tuy nhiên mô hình này đòi hỏi vốn đầu tư cao hơn cả về vật chất vàtrình độ hiểu biết nên điều kiện mở rộng khó khăn hơn, cần có thời gian
Kết quả nghiên cứu bước đầu của IBSRAM cho thấy canh tác trên đất dốcphải có mô hình cây trồng và kỹ thuật phù hợp để vừa thu được năng suất cao vừa
Trang 37bảo vệ được đất dốc, bảo vệ môi trường Một yếu tố quan trọng mà các nghiên cứutrong hệ thống này đề cập là các biện pháp kỹ thuật muốn được nông dân áp dụngphải là biện pháp có hiệu quả kinh tế cao Tuy nhiên, với các hộ dân nghèo thì cầnphải xem xét mức đầu tư tiền mặt cho phù hợp.
Nghiên cứu của Bell L.C và Edwards D.G, 1986: Sử dụng phân xanh, phânchuồng và các loại phân hữu cơ hoặc chế, phụ phẩm nông nghiệp đã làm tăng lân dễtiêu cho cây dễ hấp thụ, đồng thời làm giảm độ độc nhôm và sắt Trong dung dịchđất, các axít hữu cơ tạo phức với kim loại Al, Fe Chúng tồn tại ở dạng phức hữu cơ
- nhôm, hữu cơ - sắt trong dung dịch đất không độc đối với cây trồng
Những thử nghiệm về bón phân tổng hợp và các chất hữu cơ trên nhiều vùngđất nhiệt đới của Ấn Độ, năng suất cây trồng tăng tối đa và đạt độ ổn định cao(Meane L.M., 1996) Còn tại Philippines, ngô được trồng nhiều trên đất đồi chua ởBukidnon, năng suất đạt cao nhất khi bón phân compost với lượng 0,5 tấn/ha Bóncompost giảm Al di động, tăng P dễ tiêu, tăng K, Ca và Mg trao đổi trong đất(Garrity D.P et al, 1993)
Biện pháp nông nghiệp gồm các biện pháp canh tác theo đường đồng mức, càybừa ngang dốc, bố trí thời vụ cây trồng làm cỏ bón phân, luân canh, xen canh tạo
độ che phủ trên mặt đất, không cày bừa, xới xáo, thu hoạch trong vụ mưa… biện phápnày có tác dụng tổng hợp chống xói mòn, bảo vệ đất giữ độ ẩm, chóng cỏ dại và làmtăng năng suất cây trồng từ 30 - 40 %, rất dễ áp dụng vào sản xuất, (Lê viết Bảo,2012)
Đối với miền đồi núi, việc mất sức sản xuất của đất gò đồi do xói mòn vàthoái hóa đất là một trong những vấn đề nghiêm trọng nhất do con người gây ra(Dregne, 1992) Mất rừng, hiệu ứng nhà kính, lũ lụt gia tăng, thiếu nước tưới vànước sinh hoạt, hiệu quả sử dụng đất dốc giảm đang là tiêu điểm cho những nghiêncứu hiện nay về nông nghiệp bảo tồn và quản lý tài nguyên thiên nhiên Nôngnghiệp bảo tồn đòi hỏi phải bảo vệ và nuôi dưỡng đất thông qua một số biện phápnông nghiệp sinh thái, giảm dần liều lượng phân vô cơ và hóa chất bảo vệ thực vật.Kết quả nghiên cứu che phủ đất bằng vật liệu hữu cơ giảm xói mòn đất từ
Trang 38236,2 tấn/ha xuống còn 0,2 tấn/ha và giảm dòng chảy bề mặt từ 42,1% xuống còn
Trang 392,4% (Lal, 1977) Nhiều tác giả cho rằng việc khôi phục độ phì của đất nhờ áp dụngcác biện pháp tích luỹ các chất hữu cơ là rất quan trọng, trong đó đặc biệt chú ý sửdụng các loại cây họ đậu Anja và Alain, 2005, đã nghiên cứu vấn đề bảo vệ đất
nước thông qua luân canh với cây họ đậu (Cốt khí -Tephrosia candida và Súc sắc Graham – (Crotalaria grahamiana) ở Kenya Kết quả cho thấy lượng đất bị xói
mòn giảm từ 70 đến 90% trên đất thịt và 45 đến 65% trên đất cát pha
Trong 3 thập kỷ qua, nhiều nước tiên tiến trên thế giới đã tập trung nghiên cứuphương thức tiếp cận sinh thái (hay nông nghiệp bảo tồn – ConservationAgriculture) trong sử dụng đất dốc để phát triển bền vững sản xuất nông lâmnghiệp Những nội dung cơ bản của cách tiếp cận này là không làm đất hoặc làm đấttối thiểu, luôn duy trì lớp che phủ đất bằng vật liệu hữu cơ (che phủ bằng xác thựcvật khô, bằng lớp thực vật sống, luân canh và xen canh) và gieo thẳng trên nền đấtđược che phủ không thông qua làm đất Những kỹ thuật này đã giúp tăng năng suấtcây trồng, đa dạng hoá thu nhập, tăng độ phì đất và bảo vệ đất khỏi xói mòn
Những kết quả nghiên cứu của Trung tâm Hợp tác Quốc tế về Nghiên cứuNông nghiệp vì sự phát triển (CIRAD) của Pháp trong lĩnh vực này, đứng đầu làLucien Seguy, Francis Forest, v.v đã được triển khai áp dụng trên phạm vi toàncầu, đi đầu là các nước Mỹ Latinh và Bắc Mỹ, tiếp sau là các nước châu Phi và châu
Âu Ở châu Á, Ấn Độ là nước đi đầu với diện tích áp dụng 1,8 triệu ha Theo RolfDerpsch (2005), các kỹ thuật canh tác bảo tồn đã được áp dụng trên diện tích 95triệu ha trên toàn thế giới, đứng đầu là Mỹ (25 triệu ha), tiếp đến là Brasil (24 triệuha), Argentina (18 triệu ha), Canada (12 triệu ha), Úc (9 triệu ha) và Paraguay (1,9triệu ha) Theo các nhà nghiên cứu của Úc, trong ba năm khô hạn (năm 2000 –2002) nhờ áp dụng nông nghiệp bảo tồn mà sản lượng cây trồng đã tăng được 12triệu tấn (3 triệu tấn năm 2000, 5 triệu tấn năm 2001 và 4 triệu tấn năm 2002), tức
đã tăng sản lượng lên 20 - 30% Ngoài ra, các biện pháp này đã hạn chế tối đa lượngđất bị mất đi do xói mòn và tăng đáng kể hàm lượng hữu cơ trong đất, trong khigiảm công làm đất, giảm đầu tư phân bón và hóa chất bảo vệ thực vật
1.4 Tình hình nghiên cứu các kỹ thuật canh tác bền vững trong nước
1.4.1 Hiện trạng sử dụng đất dốc ở Việt Nam
Trang 40Đất dốc có rất nhiều tiềm năng phục vụ sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội củacộng đồng các dân tộc Vùng đất dốc ngày càng có vai trò quan trọng khi ảnh hưởngcủa hiệu ứng nhà kính rõ rệt, đặc biệt là khi mực nước biển dâng cao ảnh hưởng xấuđến nhiều vùng châu thổ rộng lớn.
Ở Việt Nam, đất dốc chiếm khoảng 74% đất tự nhiên Trong diện tích 9,4 triệu
ha đất nông nghiệp chỉ có 4,06 triệu ha là đất lúa, còn trên 5 triệu ha chủ yếu là đấtdốc, trong đó đất nương rẫy trồng lúa khoảng 640 ngàn ha, diện tích còn lại là đấtrừng và đất chưa sử dụng Do hầu hết đất bằng đã được sử dụng khá triệt để nênmiền núi là nơi duy nhất còn tiềm năng mở rộng đất canh tác (Lê Viết Bảo, 2012).Xét về tổng thể toàn miền núi, đại đa số đất với độ dốc <150 (chiếm 21,9%) đãđược sử dụng cho sản xuất nông nghiệp hoặc nông lâm nghiệp Diện tích đất có độdốc từ 150 đến 250chiếm khoảng 16,4%, còn lại là đất có độ dốc >250 (chiếm61,7%) (Hà Đình Tuấn, 2005)
Theo Trần Đức Viên, 2001, dưới sức ép của gia tăng dân số, cùng với việckhai thác rừng và đất đai một cách ồ ạt nhằm mục tiêu sản xuất lương thực đã làmthay đổi hình thức sản xuất nông nghiệp nương rẫy truyền thống Mất rừng, thờigian bỏ hoá bị rút ngắn, đất bị cạn kiệt và xói mòn làm cho năng suất cây trồnggiảm sút nhanh chóng Một số tác giả cho rằng mật độ dân số từ 5 đến 10 người/km2
là hợp lý để đảm bảo sản xuất đủ nhu cầu cuộc sống nông dân, đồng thời đảm bảocho rừng tái sinh bình thường (Lê Trọng Cúc, và cs 2002) Tuy nhiên nếu có sự canthiệp về kỹ thuật và dịch vụ xã hội thì con số này có thể tăng lên 40 hoặc 100người/km2 (Trần Đức Viên, 1996)
Hiện nay, việc canh tác đất dốc chưa bền vững, nông dân vẫn áp dụng phươngpháp du canh là chủ yếu, xói mòn và thoái hóa đất vẫn xảy ra rất mạnh trên diệnrộng, một số kỹ thuật đã được nghiên cứu đề xuất như che phủ đất chưa được ápdụng rộng rãi do kỹ thuật chưa hoàn chỉnh, có nhiều vấn đề cần cải tiến cho phùhợp với từng loại đất và độ dốc, từng địa phương, đặc biệt là việc sử dụng và khaithác cây trồng cho hiệu quả kinh tế cao như cây ngô trong nhiều năm có tác độngkhông tốt đến môi trường và phát triển bền vững