Báo cáo tài chính là phương pháp tổng hợp số liệu từ các sổ kế toán theocác chỉ tiêu kinh tế tài chính tổng hợp, phản ánh có hệ thống tình hình tài sản,nguồn hình thành tài sản của doa
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU
Trong nền kinh tế thị trường ngày càng phát triển, hoạt động sản xuất kinhdoanh được mở rộng không ngừng, nhu cầu vốn trở thành vấn đề nóng của sảnxuất, bởi có vốn ta có thể đáp ứng được mọi nhu cầu của sản xuất, và là điềukiện để sản xuất được duy trì Nhưng nhà sản xuất không phải lúc nào cũng sẵn
có đủ vốn phục vụ cho nhu cầu của mình, đòi hỏi khách quan là nhà sản xuấtphải đi vay Trên thị trường cũng có rất nhiều người thừa vốn, muốn đầu tư và
họ trở thành người cho vay để kiếm lời đó là các tổ chức trung gian tài chính ,
và hiện nay trong nền kinh tế thị trường biểu hiện rõ nét nhất của các tổ chức này
là các ngân hàng thương mại Ngân hàng thương mại khi đứng ra làm đầu mốitập hợp và phân phối vốn, ngân hàng sẽ thu được lợi ích nhất định, đổi lại ngânhàng có thể gặp rủi ro tín ndụng đặc biệt là khi cho khách hàng vay vốn Vớimục tiêu tối đa hóa lợi nhuận, các ngân hàng sẽ phải tìm cách giảm thiểu rủi rovới nhiều cách khác nhau, và việc đưa ra một quy trình Phân tích báo cáo tàichính của khách hàng vay vốn có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc đánh giátình hình tài chính, khả năng thanh khoản, khả năng trả nợ của khách hàng giúpcán bộ tín dụng ngân hàng đi đến quyết định có cho vay hay không Nhận thứcđược tầm quan trọng của phân tích báo cáo tài chính doanh nghiệp trong việchạn chế rủi ro của hoạt động ngân hàng, trong quá trình thực tập ở Ngân hàng
Quân đội – Chi nhánh Tây Hà Nội em đã lựa chọn đề tài “ Đọc, hiểu và Phân tích báo cáo tài chính của doanh nghiệp phục vụ phê duyệt cho vay tại Ngân hàng TMCP Quân đội – Chi nhánh Tây Hà Nội ” làm đề tài luận văn của mình.
Ngoài phần mở đầu, kết luận và phụ lục, luận văn gồm các chương sau:
Trang 2Chương 1: Lý luận chung về báo cáo tài chính và phân tích báo cáo tài chính của doanh nghiệp phục vụ phê duyệt cho vay tại các ngân hàng thương mại.
Chương 2: Thực trạng về đọc, hiểu và phân tích báo cáo tài chính của doanh nghiệp phục vụ phê duyệt cho vay tại ngân hàng Thương Mại Cổ phần Quân đội – Chi nhánh Tây Hà Nội.
Chương 3: Giải pháp hoàn thiện công tác phân tích báo cáo tài chính doanh nghiệp phục vụ phê duyệt cho vay tại ngân hàng Thương Mại cổ phần Quân đội – Chi nhánh Tây Hà Nội.
Do kiến thức còn hạn chế, thời gian tìm hiểu chưa được nhiều, hơn nữa đây làmột đề tài cũng khá mới nên bài luận văn không thể tránh khỏi những thiều sót
Em rất mong được sự đóng góp ý kiến của các thầy cô, các cô chú trong phòngQuan hệ khách hàng và các bạn để bài viết hoàn thiện hơn
Em xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ, hướng dẫn nhiệt tình của Cô giáoTrần Thị Ngọc Hân, Ban lãnh đạo ngân hàng và các cô chú trong phòng Quan hệkhách hàng để em hoàn thành bài luận văn này
Trang 3CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ BÁO CÁO TÀI CHÍNH VÀ PHÂN TÍCH BÁO CÁO TÀI CHÍNH CỦA DOANH NGHIỆP PHỤC VỤ PHÊ DUYỆT CHO VAY TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1 Tổng quan về báo cáo tài chính doanh nghiệp.
1.1.1 Bản chất, tác dụng của báo cáo tài chính doanh nghiệp.
Báo cáo tài chính là phương pháp tổng hợp số liệu từ các sổ kế toán theocác chỉ tiêu kinh tế tài chính tổng hợp, phản ánh có hệ thống tình hình tài sản,nguồn hình thành tài sản của doanh nghiệp, tình hình và hiệu quả sản xuất kinhdoanh, tình hình lưu chuyển tiền tệ và tình hình quản lý, sử dụng vốn…củadoanh nghiệp trong một thời kỳ nhất định vào một hệ thống mẫu biểu quy địnhthống nhất
Báo cáo tài chính bao gồm một hệ thống số liệu kinh tế tài chính đượctổng hợp, được rút ra từ các sổ kế toán tổng hợp, các sổ kế toán chi tiết và nhữngthuyết minh cần thiết bằng văn bản về những số liệu đó Báo cáo tài chính làphương pháp quan trọng để chuyển tải thông tin kế toán tài chính đến người raquyết định, đó là những thông tin công khai về sản nghiệp, kết quả hoạt độngkinh doanh của doanh nghiệp… phục vụ cho các đối tượng bên trong và bênngoài doanh nghiệp
Tác dụng của báo cáo tài chính
Cung cấp thông tin về tình hình tài chính của doanh nghiệp :
Tình hình tài chính của doanh nghiệp chịu ảnh hưởng của các nguồn lực kinh tế
do doanh nghiệp kiểm soát, của cơ cấu tài chính, khả năng thanh toán và khảnăng tương thích với môi trường kinh doanh Nhờ có thông tin về các nguồn lựckinh tế do doanh nghiệp kiểm soát và năng lực của doanh nghiệp trong quá khứ
Trang 4đã tác động đến nguồn lực kinh tế này mà có thể dự toán năng lực của doanhnghiệp có thể tạo ra các khoản tiền và tương đương tiền trong tương lai.
Thông tin về cơ cấu tài chính có tác dụng lớn để dự đoán nhu cầu đi vay, phươngthức phân phối lợi nhuận, tiền luân chuyển…và cũng là những thông tin cần thiết
để dự đoán khả năng huy động các nguồn lực tài chính của doanh nghiệp
Cung cấp thông tin về tình hình và kết quả kinh doanh của doanh nghiệp
Trên các báo cáo tài chính trình bày những thông tin về tình hình kinhdoanh của doanh nghiệp, đặc biệt là thông tin về tính sinh lợi, thông tin về tìnhhình biến động trong sản xuất kinh doanh sẽ giúp cho đối tượng sử dụng đánhgiá những thay đổi tiềm tàng của các nguồn lực tài chính mà doanh nghiệp có thểkiểm soát trong tương lai, để dự đoán khả năng tạo ra các nguồn tiền cho doanhnghiệp trên cơ sở hiện có và việc đánh giá hiệu quả các nguồn lực bổ sung màdoanh nghiệp có thể sử dụng
Cung cấp thông tin về sự biến động tình hình tài chính của doanh nghiệp.Trong các báo cáo tài chính, các chỉ tiêu báo cáo là tình hình tài sản, nguồn vốn,tình hình kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh, tình hình lưu chuyển tiền tệ củadoanh nghiệp tại một thời điểm hoặc của một thời kỳ, tuy nhiên các chỉ tiêu vẫncho phép người sử dụng thông tin đánh giá được tình hình biến động tài chínhcủa doanh nghiệp qua một thời kỳ
1.1.2 Hệ thống báo cáo tài chính.
(1) Báo cáo tài chính năm, gồm :
- Bảng cân đối kế toán;
- Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh;
- Báo cáo lưu chuyển tiền tệ;
- Bản thuyết minh báo cáo tài chính
Trang 5(2) Báo cáo tài chính giữa niên độ:
Báo cáo tài chính giữa niên độ bao gồm báo cáo tài chính giữa niên độ dạng đầy
đủ và báo cáo tài chính giữa niên độ dạng tóm lược
a/ Báo cáo tài chính giữa niên độ dạng đầy đủ, gồm:
- Bảng cân đối kế toán giữa niên độ (dạng đầy đủ);
- Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh giữa niên độ ( dạng đầy đủ);
- Báo cáo lưu chuyển tiền tệ giữa niên độ ( dạng đầy đủ);
- Bản thuyết minh báo cáo tài chính chọn lọc
b/ Báo cáo tài chính giữa niên độ dạng tóm lược gồm:
- Bảng cân đối kế toán giữa niên độ ( dạng tóm lựơc);
- Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh giữa niên độ ( dạng tóm lược);
- Báo cáo lưu chuyển tiền tệ giữa niên độ ( dạng tóm lược);
- Bản thuyết minh báo cáo tài chính chọn lọc
1.1.3 Những nguyên tắc cơ bản lập Báo cáo tài chính.
- Kinh doanh liên tục;
1.1.4 Bảng cân đối kế toán.
1.1.4.1 Khái niệm và đặc điểm.
Trang 6 Khái niệm : Bảng cân đối kế toán (BCĐKT) là báo cáo tài chính tổng hợp,phản ánh tổng quát toàn bộ giá trị tài sản hiện có và nguồn hình thành tài sản đócủa doanh nghiệp tại một thời điểm nhất định.
Tài sản = Nợ phải trả + Nguồn vốn chủ sở hữu
- Bảng cân đối kế toán phản ánh các loại vốn (theo kết cấu) và nguồnvốn ( theo nguồn hình thành tài sản) tại một thời điểm; thời điểm đó thích hợpcho kỳ báo cáo là ngày cuối cùng của kỳ hạch toán cuối quý Tuy vậy thông tintrên báo cáo bảng cân đối kế toán vẫn cho phép so sánh số liệu giữa hai thờiđiểm( số đầu năm và số cuối năm) để đánh giá được một cách tổng quát sự biếnđộng của vốn, của nguồn vốn doanh nghiệp trong kỳ kinh doanh
Như vậy, Bảng cân đối kế toán là tài liệu quan trọng để các đối tượng sử dụngthông tin phân tích đánh giá tổng quát tình hình quản lý, sử dụng vốn, tình hìnhhuy động và sử dụng các nguồn vốn, tình hình tài chính của doanh nghiệp từ đócho phép đánh giá được triển vọng kinh tế tài chính của doanh nghiệp trongtương lai
Trang 71.1.4.2 Nội dung và kết cấu của bảng cân đối kế toán.
Nội dung : gồm hai phần:
- Phần tài sản : Bao gồm các chỉ tiêu phản ánh toàn bộ giá trị tài sản hiện cócủa doanh nghiệp tại thời điểm lập báo cáo và được chia thành 02 loại:
+ Loại A : Tài sản ngắn hạn ( bao gồm các chỉ tiêu phản ánh tài sản của doanhnghiệp là tiền và các khoản tương đương tiền, các khoản đầu tư tài chính ngắnhạn, các khoản phải thu, hàng tồn kho, tài sản ngắn hạn khác)
+ Loại B : Tài sản dài hạn ( bao gồm các khoản phải thu dài hạn, tài sản cốđịnh, bất động sản đầu tư, các khoản đầu tư tài chính dài hạn, tài sản dài hạnkhác)
- Phần nguồn vốn : Bao gồm các chỉ tiêu phản ánh các nguồn vốn hìnhthành nên các loại tài sản của doanh nghiệp tại thời điểm lập báo cáo và đượcchia thành 2 loại :
+ Loại A : Nợ phải trả ( nợ ngắn hạn, nợ dài hạn và một số khoản nợ khác màdoanh nghiệp có trách nhiệm thanh toán)
+ Loại B : Vốn chủ sở hữu phản ánh các nguồn vốn chủ sở hữu, các quỹ củadoanh nghiệp và nguồn kinh phí (nếu có), thể hiện mức độ độc lập tự chủ về việc
sử dụng các loại nguồn vốn của doanh nghiệp
Ngoài ra còn có các chỉ tiêu ngoài bảng như: tài sản thuê ngoài, nợ khó đòi đã xửlý
Kết cấu :
Trang 8Xuất phát từ bản chất và nội dung của BCĐKT là phản ánh toàn bộ tài sảncủa doanh nghiệp theo hai cách phân loại kết cấu vốn và nguồn hình thành vốncho nên kết cấu của BCĐKT được chia thành hai phần chính : Phần tài sản vàphần nguồn vốn (có thể sắp xếp hai phần này thành kiểu sắp xếp dọc hoặcngang) Các loại mục, khoản trên báo cáo được sắp xếp một cách khoa học TheoQuyết định số 15/2006/QĐ-BTC ngày 20/03/2006 của Bộ trưởng Bộ Tài Chínhkết cấu BCĐKT được trình bày như sau:
- BCĐKT được chia thành hai phần theo kết cấu dọc: Phần trên là phần “Tài sản”, phần dưới là phần “ Nguồn vốn”
- Căn cứ vào mức độ linh hoạt của tài sản hoặc tính thanh khoản củanguồn vốn để sắp xếp thứ tự các chỉ tiêu trong từng phần theo tính giảm dần (Tàisản ngắn hạn, tài sản dài hạn; nợ phải trả ngắn hạn, dài hạn; vốn chủ sở hữu,nguồn kinh phí và các quỹ)
- Kết cấu phần chính của BCĐKT đuợc chia thành 05 cột: Cột chỉ tiêu(Tài sản, nguồn vốn); cột mã số; thuyết minh; cột “số cuối năm” đối với bảngcân đối kế toán năm ( hoặc cột “Số cuối quý” đối với bảng cân đối kế toán giữaniên độ); “số đầu năm” đối với cả báo cân đối kế toán năm và bảng cân đối kếtoán giữa niên độ
- Trong từng phần( tài sản hoặc nguồn vốn) được chia thành 02 loại, trongcác loại được chia thành các mục, trong các mục được chia chi tiết thành cáckhoản
- Ngoài phẩn kết cấu chính, BCĐKT có phần phụ: các chỉ tiêu chi tiếtngoài BCĐKT
1.1.5 Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh.
Trang 91.1.5.1 Khái niệm và đặc điểm.
Khái niệm : Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh là báo cáo tài chính tổnghợp, phản ánh tổng quát tình hình và kết quả hoạt động kinh doanh trongmột kỳ kế toán của doanh nghiệp chi tiết theo từng hoạt động sản xuất kinhdoanh (bán hàng, cung cấp dịch vụ, hoạt động tài chính, hoạt động khác).Qua số liệu báo cáo ta có thể kiểm tra, phân tích tình hình chi phí, doanhthu, kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp đồng thời có thể đánhgiá được xu hướng phát triển của doanh nghiệp qua các thời kỳ hoạt động
1.1.5.2 Nội dung và kết cấu của Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh.
Nội dung :
Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp trình bày được nội dung
cơ bản về chi phí, doanh thu và kết quả từng loại giao dịch và sự kiện:
số liệu là số liệu lũy kế từ đầu năm đến ngày kết thúc kỳ kế toán giữa niên độhiện tại, số liệu phát sinh của kỳ kế toán giữa niên độ hiện tại, số liệu mang tính
so sánh lũy kế từ đầu năm đến ngày kết thúc kỳ kế toán giữa niên độ tương ứngnăm trước và số liệu mang tính so sánh phát sinh của kỳ kế toán giữa niên độ
Trang 10tương ứng năm trước Do đó báo cáo kết quả kinh doanh giữa niên độ sẻ gồm tất
cả các khoản mục sắp xếp theo kết cấu quy định của báo cáo kết quả kinh doanhnăm (mẫu số BO2-DN) theo chế độ kế toán hiện hành, nhưng cột 4” Năm nay”của mẫu này được chia làm thành 2 cột nhỏ là cột 4 “Quý này năm nay” và cột5“ Quý này năm trước” và cột 5 “Năm trước” của mẫu này được chia thành 2 cộtnhỏ là cột 6 “Lũy kế từ đầu năm đến cuối quý này năm nay” và cột 7 “Lũy kế từđầu năm đến cuối quý này năm trước” và có ký hiệu là mẫu BO2a-DN
1.1.6 Báo cáo lưu chuyển tiền tệ.
1.1.6.1 Khái niệm và đặc điểm.
Báo cáo lưu chuyển tiền tệ là báo cáo tài chính tổng hợp phản ánh việc hoànthành và sử dụng lượng tiền phát sinh trong kỳ báo cáo của doanh nghiệp
Thông tin trên báo cáo lưu chuyển tiền tệ cung cấp cho những đối tượng sử dụngthông tin trên báo cáo tài chính có thể đánh giá khả năng tạo tiền, và việc sửdụng những khoản tiền đã tạo ra trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanhnghiệp, đặc biệt là đối với các nhà đầu tư, chủ nợ
1.1.6.2 Nội dung và kết cấu của Báo cáo lưu chuyển tiền tệ.
Nội dung của Báo cáo lưu chuyển tiền tệ gồm 3 phần sau:
- Lưu chuyển tiền từ hoạt động kinh doanh
- Lưu chuyển tiền từ hoạt động đầu tư
- Lưu chuyển tiền từ hoạt động tài chính
Lưu chuyển tiền từ hoạt động kinh doanh:
Nội dung của phần này gồm các chỉ tiêu phản ánh việc hoàn thành luồngtiền có liên quan đến các hoạt động tạo ra doanh thu chủ yếu của doanh nghiệp,
nó cung cấp thông tin cơ bản để đánh giá khả năng tạo tiền của doanh nghiệp từ
Trang 11các hoạt động kinh doanh để trang trải các khoản nợ, duy trì các hoạt động, vàtiến hành các hoạt động đầu tư mới mà không cần đến các nguồn tài chính từ bênngoài; nội dung cụ thể gồm:
- Tiền thu từ bán hàng, cung cấp dịch vụ và doanh thu khác
- Tiền chi trả cho người cung cấp hàng hoá và dịch vụ
- Tiền chi trả cho người lao động( Lương, thưởng, bảo hiểm, trợ cấp )
- Tiền chi trả lãi vay
- Tiền chi nộp thuế thu nhập doanh nghiệp
- Tiền thu khác từ hoạt động kinh doanh (được phạt, được hoàn thuế, bánchứng khoán vì mục đích thương mại, nhận ký quỹ, thu hồi ký quỹ, kinh phí sựnghiệp, cấp trên cấp quỹ hoặc cấp dưới nộp, đơn vị khác thưởng )
- Tiền chi khác cho hoạt động kinh doanh ( ngược với khoản thu khác ).Lưu chuyển tiền từ hoạt động đầu tư:
Các hoạt động đầu tư được quan niệm khi lập Báo cáo lưu chuyển tiền tệ
đó là luồng tiền có liên quan đến việc mua sắm, xây dựng các, nhượng bán,thanh lý tài sản dài hạn và các khoản đầu tư khác không thuộc các khoản tươngđương tiền , nội dung cụ thể bao gồm:
- Tiền chi để mua sắm, xây dựng tài sản cố định và các tài sản dài hạnkhác
- Tiền thu từ thanh lý, nhượng bán tài sản cố định và các tài sản dài hạnkhác
- Tiền chi cho vay, mua các công cụ nợ của đơn vị khác
-Tiền chi đầu tư góp vốn vào đơn vị khác (chi mua cổ phiếu vì mục đíchthương mại đã được tính vào nội dung lưu chuyển tiền tệ hoạt động kinh doanh)
- Tiền thu hồi đầu tư góp vốn vào đơn vị khác
Trang 12- Tiền thu lãi cho vay, cổ tức và lợi nhuận được chia.
Lưu chuyển tiền từ hoạt động tài chính:
Luồng tiền phát sinh từ hoạt động tài chính là luồng tiền có liên quan đếnthay đổi về quy mô cà kết cấu của vón chủ sở hữu và vốn vay của doanh nghiệp,bao gồm các nội dung cụ thể:
- Tiền thu từ phát hành cổ phiếu, nhận vốn góp của chủ sở hữu
- Tiền chi trả vốn góp cho các chủ sở hữu, mua lại cổ phiếu của doanhnghiệp đã phát hành
- Tiền vay ngắn hạn, dài hạn nhận được
- Tiền chi trả nợ gốc vay
- Tiền chi trả nợ thuê tài chính
- Cổ tức, lợi nhuận đã trả cho chủ sở hữu
Kết cấu báo cáo lưu chuyển tiền tệ:
Với nội dung như trên, Báo cáo lưu chuyển tiền tệ được kết cấu tương ứngthành 3 phần theo từng hoạt động, trong từng phần được chi tiết thành cácdòng để phản ánh các chỉ tiêu liên quan đến việc hoàn thành và sử dụngcác khoản tiền theo từng hoạt động và các chỉ tiêu được chi tiết thành từngcột theo số kỳ này và kỳ trước để có thể đánh giá, so sánh giữa các kỳkhác nhau Tuy nhiên, xuất phát từ phương pháp lập báo cáo mà kết cấuphần “ Lưu chuyển tiền từ hoạt động kinh doanh” được kết cấu các chỉtiêu khác nhau (theo phương pháp trực tiếp hay gián tiếp)
Đối với Báo cáo lưu chuyển tiền tệ thì cách trình bày các chỉ tiêu trongbảng báo cáo theo phương pháp trực tiếp và phương pháp gián tiếp có sự khácnhau
1.1.7 Bản thuyết minh báo cáo tài chính.
Trang 131.1.7.1 Khái niệm và đặc điểm.
Bản thuyết minh báo cáo tài chính là một bộ phận hợp thành không thể tách rờicủa báo cáo tài chính doanh nghiệp, dùng để mô tả mang tính tường thuật hoặcphân tích chi tiết các thông tin số liệu đã được trình bày trong các báo cáo tàichính cũng như các thông tin cần thiết khác theo yêu cầu của các chuẩn mực kếtoán cụ thể Bản thuyết minh cũng có thể trình bày những thông tin khác nếudoanh nghiệp xét thấy cần thiết cho việc trình bày trung thực, hợp lý báo cáo tàichính
1.1.7.2 Nội dung và kết cấu.
- Đặc điểm hoạt động của doanh nghiệp
- Kỳ kế toán, đơn vị tiền tệ sử dụng trong kế toán
1.2 Phân tích báo cáo tài chính doanh nghiệp phục vụ việc phê duyệt
cho vay tại các ngân hàng thương mại.
Trang 141.2.1 Phân tích tài chính doanh nghiệp.
Sự cần thiết của việc phân tích tài chính doanh nghiệp.
Sự cần thiết thể hiện ở vai trò của phân tích tài chính doanh nghiệp Trướcthực trạng là tại các ngân hàng thì nghiệp vụ cho vay là nghiệp vụ chủ yếumang lại lợi nhuận cao nhất cho ngân hàng mà rủi ro tín dụng thì luôn thườngtrực hơn nữa lại diễn ra hết sức phức tạp khó phòng tránh nên việc cho vaycủa các Ngân hàng thương mại luôn phải được thực hiện theo một quy trìnhchặt chẽ với những bước phân tích tỉ mỉ về các mặt tài chính, phi tài chínhcủa doanh nghiệp Kết quả của những phân tích này cho thấy khả năng sinhlời, mức độ rủi ro của phương án hay dự án sử dụng vốn vay, có ảnh hưởngtrực tiếp tới quyết định có cho vay hay không của ngân hàng Do đó việcphân tích tài chính doanh nghiệp có vai trò rất quan trọng
Mặt khác trên thực tế việc xác định các nhân tố như: năng lực pháp lí củadoanh nghiệp, uy tín của doanh nghiệp vay vốn, đánh giá năng lực điều hànhsản xuất kinh doanh của ban lãnh đạo doanh nghiệp, triển vọng của doanhnghiệp là rất phức tạp, nó mang tính chất định tính Vì vậy những thông tintài chính định lượng là rất quan trọng đối với ngân hàng trong đánh giá, lựachọn doanh nghiệp Phân tích tình hình tài chính của doanh nghiệp giúp chongân hàng quyết định có cho vay vốn hay không, nếu có thì xác định các yếu
tố về lượng của nhu cầu vay vốn tín dụng, xác định thời hạn hợp lí của khoảnvay, xác định các kì hạn trả nợ đối với từng doanh nghiệp Như vậy phântích tài chính doanh nghiệp không chỉ là nhu cầu mà còn là đòi hỏi bắt buộcđối với mỗi Ngân hàng thương mại
Khái niệm:
Trang 15Có thể hiểu phân tích tài chính khách hàng đối với ngân hàng thương mại làmột tập hợp các khái niệm, phương pháp và công cụ cho phép thu thập xử lýcác thông tin kế toán và các thông tin khác nhằm đánh giá tình hình tài chínhkhả năng và tiềm lực của khách hàng cũng như rủi ro trong hoạt động kinhdoanh của doanh nghiệp, từ đó giúp ngân hàng ra quyết định tài trợ.
Khi phân tích tài chính doanh nghiệp, mối quan tâm của các ngân hàngthương mại chủ yếu thường hướng vào khả năng trả nợ của doanh nghiệp Vìvậy một mặt họ chú ý đến số lượng tiền và các tài sản có thể chuyển đổinhanh thành tiền để so sánh với số nợ ngắn hạn để biết khả năng thanh toáncủa doanh nghiệp Mặt khác, các ngân hàng còn chú ý khả năng sinh lời từhoạt động kinh doanh của doanh nghiệp đảm bảo hoàn trả các khoản cho vaydài hạn, chú ý đến việc đảm bảo cơ cấu tài chính an toàn trong doanh nghiệp
để đề phòng rủi ro Cụ thể các mục tiêu của việc phân tích tình hình tài chínhkhách hàng như sau:
Mục tiêu:
- Xác định rõ hiện trạng tài chính của khách hàng: giá trị tài sản, tình hình nợ,nhu cầu tài trợ, khả năng thanh toán để biết được nhu cầu về vốn mà doanhnghiệp xin vay tại ngân hàng có thật sự cần thiết cho hoạt động kinh doanh củadoanh nghiệp hay không, trên nhu cầu vay đó thì doanh nghiệp có những tài sảnnào để có thể đảm bảo khả năng trả nợ cho ngân hàng Bên cạnh đó ngân hàngcũng cần phải xem xét xem việc doanh nghiệp vay vốn của các ngân hàng khác
và của các bạn hàng có hợp lí hay không, nguy cơ về khả năng không trả được
nợ của doanh nghiệp có cao hay không từ đó giúp cho ngân hàng hiểu rõ hơn
về doanh nghiệp xin vay vốn để có được quyết định đúng đắn
Trang 16- Dự báo về tài chính trong tương lai của khách hàng: khả năng hoạt động kinhdoanh, khả năng sinh lời, khả năng hoàn trả nợ vay để xác định được hoạt độngkinh doanh của doanh nghiệp trong tương lai có diễn ra theo chiều hướng tốt,những sản phẩm dịch vụ mà doanh nghiệp dự tính đưa ra có được thị trường dễdàng chấp nhận hay không, có đảm bảo khả năng sinh lời theo dự tính của kếhoạch kinh doanh để có thể hoàn trả nợ vay cho ngân hàng là một vấn đề màngân hàng cần hết sức lưu tâm.
- Dự đoán được những trường hợp xấu có thể xảy ra làm giảm khả năng trả nợcủa khách hàng: việc dự đoán này cũng rất quan trọng, nếu khả năng xảy ra cáctrường hợp này là lớn thì ngân hàng sẽ không quyết định cho vay vì khả năng trả
nợ của khách hàng là thấp, rủi ro của ngân hàng sẽ rất cao khi cho vay đối vớikhách hàng này Bởi mục tiêu hoạt động của ngân hàng cũng là tối đa hóa lợinhuận của mình
Nguồn thông tin cần có để tiến hành phân tích tài chính doanh nghiệp:
- Thông tin từ bên trong doanh nghiệp:
Chủ yếu là thông qua các báo cáo tài chính mà doanh nghiệp gửi lên cho ngânhàng vào cuối mỗi kì kinh doanh, hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp được
cụ thể hoá qua các chỉ tiêu tài chính Các báo cáo tài chính thường bao gồm:
Bảng cân đối kế toán
Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh
Báo cáo lưu chuyển tiền tệ
Thuyết minh báo cáo tài chính
- Nguồn thông tin bên ngoài:
Trang 17Ngoài các báo cáo tài chính từ doanh nghiệp gửi lên cho ngân hàng, ngân hàngcần thu thập thông tin từ các nguồn sau:
Trung tâm thông tin tín dụng (CIC)
Thông tin từ các báo cáo thuế, cơ quan kiểm toán độc lập
Thông tin từ các đối tác kinh doanh với doanh nghiệp
Thông tin từ các tổ chức tín dụng mà doanh nghiệp đã có quan hệ trước đây,v.v…
Như vậy, một trong các nguồn thông tin quan trọng để tiến hành phân tích tàichính doanh nghiệp phục vụ phê chuẩn cho vay tại các Ngân hàng là Báo cáo tàichính của doanh nghiệp Điều đó cho thấy phần nào tầm quan trọng của việcphân tích báo cáo tài chính doanh nghiệp trong phân tích tài chính doanh nghiệp
1.2.2 Phân tích Báo cáo tài chính doanh nghiệp.
Là một khâu trong phân tích tài chính doanh nghiệp, đóng vai trò rất quantrọng, đó là quá trình sử dụng các phương pháp kỹ thuật phân tích nhất định đểtính toán các chỉ tiêu như: tình hình nguồn vốn, tình hình sử dụng nguồn vốn,các chỉ tiêu về khả năng độc lập tài chính… dựa trên các thông tin trên Báo cáotài chính Từ đó có một cái nhìn rõ nét về tình hình tài chính của đơn vị, cùng vớicác tài liệu khác để xét đoán khả năng trả nợ của khách hàng Thực hiện phântích báo cáo tài chính là thực hiện một trong ba mục tiêu của phân tích tài chínhdoanh nghiệp đó là xác định rõ hiện trạng tài chính của khách hàng
1.2.3 Các phương pháp kỹ thuật sử dụng trong phân tích Báo cáo tài chính doanh nghiệp.
1.2.3.1 Phương pháp phân tích Báo cáo tài chính doanh nghiệp.
Có nhiều phương pháp được sử dụng để phân tích, người ta có thể sử dụngmột hay tổng hợp các phương pháp khác nhau trong hệ thống các phương pháp
Trang 18phân tích báo cáo tài chính doanh nghiệp Trong giới hạn của bài viết, tôi chỉ xintrình bày một số phương pháp cơ bản sau:
1 Phương pháp đánh giá
Đây là phương pháp luôn được sử dụng trong phân tích báo cáo tài chínhdoanh nghiệp, đồng thời được sử dụng trong nhiều giai đoạn của quá trình phântích Thông thường để đánh giá, người ta sử dụng các phương pháp sau:
a Phương pháp so sánh
Đây là phương pháp được sử dụng rộng rãi phổ biến trong phân tích kinh
tế nói chung, phân tích tài chính nói riêng Khi sử dụng phương pháp này cầnchú ý những vấn đề sau đây:
– Điều kiện so sánh:
+ Phải tồn tại ít nhất 2 đại lượng (2 chỉ tiêu)
+ Các đại lượng phải đảm bảo tính chất so sánh được Đó là sự thống nhất vềnội dung kinh tế, thống nhất về phương pháp tính toán, thống nhất về thời gian
và đơn vị đo lường
– Xác định gốc để so sánh: gốc so sánh tùy thuộc vào mục đích của phântích Cụ thể:
+ Khi xác định xu hướng và tốc độ phát triển của chỉ tiêu phân tích thì gốc sosánh được xác định là trị số của chỉ tiêu phân tích ở mội thời điểm trước, một kỳtrước, hoặc hàng loạt kỳ trước Lúc này sẽ so sánh chỉ tiêu ở thời điểm này vớithời điểm trước, giữa kỳ này với kỳ trước, năm nay vói năm trước hoặc hàng loạt
kỳ trước
Trang 19+ Khi đánh giá tình hình thực hiện mục tiêu, nhiệm vụ đặt ra thì gốc so sánh
là trị số kế hoạch của chỉ tiêu phân tích Khi đó tiến hành so sánh giữa thực tếvới kế hoạch của chỉ tiêu
+ Khi xác định vị trí của doanh nghiệp thì gốc so sánh được xác định là giá trịtrung bình của ngành hay chỉ tiêu phân tích của đối thủ cạnh tranh
– Kỹ thuật so sánh: Thường được sử dụng là so sánh bằng số tuyệt đối vàtương đối
– Phương pháp phân chia (chi tiết): Đây là phương pháp được sử dụng để chianhỏ quá trình và kết quả thành những bộ phận khác nhau phục vụ cho mục tiêunhận thức quá trình và kết quả đó dưới những khía cạnh khác nhau phù hợp vớimục tiêu quan tâm của từng đối tượng trong từng thời kỳ
b Phương pháp liên hệ đối chiếu: Là phương pháp phân tích sử dụng để nghiêncứu xem xét mối liên hệ kinh tế giữa các sự kiện và hiện tượng kinh tế, đồng thờixem xét tính cân đối của các chỉ tiêu kinh tế trong quá trình thực hiện các hoạtđộng Sử dụng phương pháp này cần chú ý đến các mối liên hệ mang tính nội tại,
ổn định, chung nhất và được lặp đi lặp lại, các liên hệ ngược, liên hệ xuôi, tínhcân đối tổng thể, cân đối từng phần Vì vậy, cần thu thập được thông tin đầy đủ
và thích hợp về các khía cạnh liên quan đến các luồng chuyển dịch giá trị và sựvận động của các nguồn lực trong doanh nghiệp
2 Phương pháp phân tích tỷ số tài chính :
Tỷ số tài chính là mối quan hệ tỷ lệ giữa các đại lượng tài chính trong cácquan hệ tài chính Phương pháp này dựa trên các chuẩn mực về các tỷ lệ tàichính Về nguyên tắc, phương pháp này yêu cầu phải xác định được các ngưỡng,các định mức để nhận xét, đánh giá tình hình tài chính doanh nghiệp trên cơ sở
so sánh các tỷ lệ của khách hàng với tỷ lệ tham chiếu Như vậy phương pháp tỷ
Trang 20lệ luôn được phối hợp với phương pháp so sánh Các tỷ lệ tài chính được phânthành những nhóm đặc trưng, phản ánh những nội dung cơ bản theo các mục tiêuhoạt động của doanh nghiệp, đó là:
Nhóm tỷ lệ về khả năng thanh toán nhanh: gồm các chỉ tiêu như: tỷ lệthanh toán ngắn hạn, tỷ lệ thanh toán nhanh, tỷ lệ thanh toán hiện hành
Nhóm tỷ lệ về cơ cấu tài chính: hệ số nợ trên tổng tài sản, hệ số cơ cấunguồn vốn, hệ số cơ cấu nợ…
Nhóm tỷ lệ về năng lực hoạt động của tài sản: Vòng quay hàng tồn kho,vòng quay các khoản phải thu, kì thu tiền trung bình, vòng quay vốn lưu động,hiệu suất sử dụng tài sản cố định
Nhóm tỷ lệ khả năng sinh lời: hệ số doanh lợi doanh thu, hệ số doanh lợitài sản, hệ số doanh lợi vốn chủ sở hữu
3 Phương pháp phân tích tài chính Dupont
Những thông tin quan trọng về điều kiện tài chính của một doanh nghiệpthể hiện ở một số hệ số tài chính chứ không riêng gì ở một hệ số Bản chất củaphương pháp Dupont là tách một tỷ số tổng hợp phản ánh sức sinh lời của doanhnghiệp như thu nhập / tài sản( ROA), thu nhập sau thuế/ vốn chủ sở hữu ( ROE),thành tích số của chuỗi các tỷ số có mối quan hệ nhân quả với nhau, cho phépphân tích các ảnh hưởng của các tỷ số đó với tỷ số tổng hợp Cụ thể có thể táchROE như sau:
ROE = ROA x Đòn bẩy tài chính
Trong đó:
Đòn bẩy tài chính = Vốn chủ sở hữu bình quânTổng tài sản bình quân
Trang 21ROA = Lợi nhuận sau thuế x Doanh thu
Doanh thu Tổng tài sản bình quânVậy phương trình Dupont được viết lại là:
quân
Vốn chủ sở hữubình quânTrong đó:
Doanh thu ở đây là doanh thu thuần về bán hàng và cung cấp dịch vụ + doanhthu hoạt động tài chính + thu nhập khác trong kỳ, và được xác định bằng chỉ tiêuDoanh thu thuần về bán hàng và cung cấp dịch vụ + chỉ tiêu Doanh thu hoạtđộng tài chính + chỉ tiêu Thu nhập khác trên Báo cáo kết quả hoạt động kinhdoanh
đầu năm )2
Vốn chủ sở
hữu bình quân =
Vốn chủ sở hữu cuối năm (mã
số 400 trên Bảng cân đối kếtoán số cuối năm)
+
Vốn chủ sở hữu đầunăm(mã số 400 trênBảng cân đối kế toán số
đầu năm)2
Lợi nhuận sau thuế được lấy từ chỉ tiêu lợi nhuận sau thuế thu nhập doanhnghiệp trên Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh
Tác dụng của phương trình:
- Cho thấy mối quan hệ và tác động của các nhân tố là các chỉ tiêu hiệu quả sửdụng tài sản (vốn)
Trang 22- Cho phép phân tích lượng hoá những nhân tố ảnh hưởng đến hiệu suất sinhlời của vốn chủ sở hữu bằng phương pháp loại trừ.
- Đề xuât các quyết sách phù hợp và hiệu quả căn cứ trên mức độ tác độngkhác nhau của từng nhân tố khác nhau để làm tăng tỷ suất sinh lời
1.2.3.2 Kỹ thuật phân tích Báo cáo tài chính doanh nghiệp.
Trong quá trình phân tích, chúng ta có thể sử dụng một số kỹ thuật cơ bảnsau:
Kỹ thuật phân tích dọc: là kỹ thuật phân tích sử dụng để xem xét tỷ trọngcủa từng bộ phận trong tổng thể quy mô chung
Điều quan trọng là phải xác định chính xác tổng giá trị quy mô chung của từng
bộ phận
Kỹ thuật phân tích ngang: là sự so sánh về lượng trên cùng một chỉ tiêu.Thực chất là áp dụng phương pháp so sánh cả về số tuyệt đối và số tương đối vớinhững thông tin thu thập được sau khi xử lý và thiết kế dưới dạng bảng như cácthông tin trong Báo cáo tài chính
Kỹ thuật phân tích qua hệ số: là nghiên cứu mối quan hệ giữa các đạilượng tài chính thể hiện dưới dạng phân số Tùy theo cách thiết lập chỉ tiêu mà
có thể gọi là hệ số hay tỉ suất
Các kỹ thuật nêu trên có thể được sử dụng riêng hoặc kết hợp với nhau đểphân tích đầy đủ nhất Báo cáo tài chính doanh nghiệp
Tỷ trọng từng bộ phận =
Giá trị của từng bộ phận * 100Tổng giá trị quy mô chung của
bộ phận đó
Trang 231.2.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến phân tích Báo cáo tài chính.
Có rất nhiều nhân tố ảnh hưởng đến công tác phân tích tài chính doanhnghiệp cũng như phân tích Báo cáo tài chính nhưng có thể chia làm ba nhómnhân tố sau:
1.2.4.1 Nhân tố thuộc về Ngân hàng.
Nhân tố con người : Đây là nhân tố quan trọng, con người luôn là trung tâm
mọi hoạt động, đặc biệt trong công tác phân tích đánh giá khách hàng Mặc dùhiện nay nhiều ngân hàng đã áp dụng công nghệ hiện đại vào trong quá trìnhphân tích đánh giá khách hàng, nhưng không thể thay thế hoàn toàn con người
mà ngược lại vai trò con người lại được nâng cao, nhiều yếu tố định tính phảidựa vào trình độ, kinh nghiệm của cán bộ tín dụng Hoạt động tín dụng ngàycàng đa dạng, phức tạp đòi hỏi không ngừng nâng cao năng lực và trình độnghiệp vụ, nhận thức, đạo đức, kinh nghiệm của cán bộ tín dụng trong quá trìnhđánh giá tài chính của doanh nghiệp Kết quả của việc đánh giá doanh nghiệpphụ thuộc rất lớn vào yếu tố này Trong những tình huống cụ thể nó đòi hỏi cán
bộ tín dụng phải có độ nhanh nhạy, kinh nghiệm thực tế cùng những hiểu biếtsâu rộng mới giải quyết thấu đáo được vấn đề Ngoài ra nó đòi hỏi người phântích phải có một mức độ độc lập nhất định mới cho ra được những đánh giákhách quan về doanh nghiệp Cán bộ tín dụng phải có đạo đức nghề nghiệp tốt,không vì mục đích cá nhân mà làm phương hại đến ngân hàng Vì vậy để nângcao chất lượng của việc phân tích thẩm định doanh nghiệp, ngân hàng phảithường xuyên đào tạo và đào tạo lại cán bộ ngân hàng cả về năng lực, trình độ vàđạo đức nghề nghiệp
Chính sách tín dụng của Ngân hàng : Đây được coi là nhân tố mang tính
chiến lược, ngân hàng luôn phải xác định được một chính sách tín dụng hợp lý
Trang 24trong từng thời kỳ khác nhau vừa để đảm bảo việc phân tích, đánh giá doanhnghiệp vừa đem lại hiệu quả kinh doanh tốt nhất cho ngân hàng Thực hiện đúngquy trình về phân tích, đánh giá, tránh trường hợp vì mục tiêu lợi nhuận của ngânhàng mà nới lỏng việc phân tích đánh giá doanh nghiệp.
Những văn bản hướng dẫn thực hiện công tác thẩm định khách hàng
Để hỗ trợ cho cán bộ tín dụng đánh giá khách hàng mỗi ngân hàng đều đưa ranhững văn bản riêng dựa trên các văn bản do Ngân hàng Nhà nước ban hành.Đây được xem như là quy phạm nghiệp vụ đảm bảo thực hiện một cách thốngnhất trong hệ thống ngân hàng Tính đầy đủ, chính xác của hệ thống văn bản này
sẽ tạo điều kiện cho quá trình phân tích, đánh giá khách hàng nói chung vàdoanh nghiệp nói riêng
Cơ chế giám sát : Việc giám sát hoạt động tín dụng nói chung và công tác
phân tích đánh giá khách hàng doanh nghiệp nói riêng được thực hiện thườngxuyên và đầy đủ thì sẽ ảnh hưởng tốt đến chất lượng công tác phân tích tài chínhdoanh nghiệp trong đó bao gồm cả chất lượng công tác phân tích Báo cáo tàichính Quá trình giám sát giúp cho cán bộ lãnh đạo phát hiện kịp thời nhữngthiếu xót, vi phạm để đưa ra giải pháp kịp thời, xử lý những cán bộ tín dụng cốtình vi phạm qua đó nâng cao trách nhiệm của mỗi cán bộ Sự phối hợp giữa các
bộ phận trong ngân hàng tốt sẽ đưa lại kết quả cao Khi có cơ chế phân côngtrách nhiệm và nghĩa vụ các phòng ban trong ngân hàng sẽ tạo cho quá trình hoạtđộng được tiến hành nhanh chóng Các bộ phận vừa hộ trợ lẫn nhau, và kiểm tralẫn nhau
Ngoài ra việc áp dụng công nghệ thông tin vào hoạt động của ngân hàngcũng ảnh hưởng không nhỏ tới chất lượng phân tích tài chính của doanh nghiệp.Việc áp dụng công nghệ tin học sẽ giúp cho việc tính toán được chính xác hơn,
Trang 25không phức tạp, tiết kiệm được thời gian và sức lực Thông qua hệ thống máytính ngân hàng có thể lưu giữ, cập nhật những thông tin mới nhất, cần thiết mộtcách nhanh chóng
1.2.4.2 Nhân tố thuộc về doanh nghiệp.
Bản thân doanh nghiệp vay vốn thì rất đa dạng và thuộc nhiều lĩnh vực,ngành nghề khác nhau, quy mô hoạt động khác nhau nên ảnh hưởng lớn đếnchất lượng phân tích doanh nghiệp của ngân hàng
Lĩnh vực kinh doanh : Với những ngành nghề khác nhau thì đặc trưng của
từng ngành đó là khác nhau, cho nên đối với các chỉ tiêu tài chính của mỗingành, mỗi nhóm doanh nghiệp là khác nhau và cũng có những mức chuẩn khácnhau do đó không thể áp dụng chuẩn của ngành này cho ngành khác để phân tíchhoạt động sản xuất kinh doanh Chẳng hạn ở doanh nghiệp sản xuất thường sẽ có
cơ cấu về tài sản cố định lớn hơn tài sản lưu động, và ở doanh nghiệp thươngmại thì ngược lại
Nhóm doanh nghiệp khác nhau : Nhân tố này cũng gây khó khăn cho ngân
hàng vì những nhóm khách hàng khác nhau thì mức độ phức tạp của các báo cáotài chính là khác nhau Ví dụ như doanh nghiệp nhà nước so với công ty tư nhânthì góc độ phân tích là khác nhau, các chỉ tiêu quan tâm được chú trọng cũngkhác nhau Với những nhóm doanh nghiệp có số liệu phức tạp, cán bộ tín dụngcàng cần thiết phải sử dụng hết số liệu, tìm mối liên quan và lời giải thích giữacác chỉ tiêu Với những nhóm khách hàng có báo cáo tài chính nhiều thông sốphức tạp thì điều quan trọng hơn là bóc tách những chỉ tiêu quan trọng, tìm đượcmối liên quan giữa chúng và từ đó nêu bật được tình hình tài chính hiện tại củadoanh nghiệp Với những doanh nghiệp quy mô lớn thì mức độ quan tâm củacán bộ tín dụng cũng khác với những doanh nghiệp có quy mô nhỏ
Trang 26 Tuỳ theo thời hạn của khoản vay mà ngân hàng sẽ chú trọng đến các khíacạnh khác nhau về tình hình tài chính của doanh nghiệp Chẳng hạn với cáckhoản vay ngắn hạn, Ngân hàng đặc biệt quan tâm đến khả năng thanh toán ngaycủa doanh nghiệp, các chỉ tiêu về khả năng thanh toán, cơ cấu vốn cũng như cácnguồn có thể đáp ứng cho việc trả nợ trong ngắn hạn sẽ được ngân hàng quantâm hơn vì nó ảnh hưởng tới khả năng trả nợ của doanh nghiệp Trong khi đó vớicác khoản cho vay trung và dài hạn thì ngân hàng lại đề cao các chỉ tiêu về khảnăng sinh lời và hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp vì trong dài hạn chính lợinhuận và sự vững mạnh về tài chính mới là yếu tố đảm bảo cho việc thực hiệnnghĩa vụ trả nợ của doanh nghiệp.
Độ chính xác của các báo cáo tài chính : Đây là một nhân tố đóng vai tròquyết định độ chính xác của nội dung phân tích báo cáo tài chính vì việc phântích báo cáo tài chính được thực hiện căn cứ chủ yếu vào số liệu trong báo cáonày Các báo cáo mà không sát thực thì có thể dẫn đến những quyết định sai lầm
Vì thế việc kiểm tra lại độ chính xác, phù hợp của báo cáo tài chính là hết sứccần thiết Thông thường, báo cáo tài chính mà doanh nghiệp cung cấp là báo cáo
đã được kiểm toán, bởi vậy sự chính xác của các báo cáo tài chính được đảmbảo
1.2.4.3 Nhân tố khác.
Chính sách công khai thông tin: Đây là nhân tố ảnh hưởng đến thông tin
mà cán bộ tín dụng thu thập Nếu như có quy định rõ ràng về chế độ công khaithông tin về hoạt động doanh nghiệp sẽ tạo điều kiện cho cán bộ tín dụng thuthập thông tin tốt hơn, nâng cao được hiệu quả công tác thẩm định
Chính sách kiểm toán: Hiện nay các báo cáo trong hồ sơ mà khách hàng
nộp cho ngân hàng chưa qua kiểm toán, tức là thông tin mà khách hàng cung cấp
Trang 27chưa đủ độ tin cậy buộc cán bộ tín dụng phải kiểm chứng lại, trong khi cán bộ tíndụng phải phụ trách nhiều khoản vay, điều này sẽ gây khó khăn cho cán bộ tíndụng.
Thời gian thẩm định: Đây cũng là nhân tố ảnh hưởng tới công tác thẩm
định Nếu thời gian ngắn sẽ làm cho công việc thẩm định quá cấp bách dẫn đếnthiếu xót Theo quy định hiện nay thời gian thẩm định và quyết định tín dụng đốivới cho vay ngắn hạn là khoảng 15 ngày, trung và dài hạn là khoảng 30 ngày
Các văn bản pháp luật, các quy định cũng buộc công tác phân tích, đánh
giá phải tuân thủ các bước, các chuẩn mực của từng ngành và của ngân hàng
Chủ trương chính sách phát triển kinh tế xã hội của nhà nước: có tác động
rất lớn đến hoạt động tín dụng của ngân hàng thương mại nói chung và công tácphân tích tài chính doanh nghiệp nói riêng Nếu nhà nước dùng chính sách tiền tệ
mở rộng thì các ngân hàng thương mại được cấp thêm vốn dự trữ, khả năng chovay của các ngân hàng sẽ gia tăng lúc đó các chỉ tiêu, điều kiện trong công tácphân tích tài chính doanh nghiệp sẽ được nới lỏng tạo điều kiện thuận lợi cho các
DN vay vốn Ngược lại, khi ngân hàng trung ương muốn hạn chế lượng tiềncung ứng, thông qua biện pháp tái chiết khấu cao hay có thể tăng dự trữ bắtbuộc, như vậy khả năng cho vay của các ngân hàng bị hạn chế, buộc các ngânhàng phải thắt chặt các điều kiện tín dụng, phân tích tài chính doanh nghiệp kĩlưỡng hơn nhằm lựa chọn được những khách hàng có khả năng trả nợ cao
Môi trường kinh tế chính trị xã hội trong và ngoài nước: Đất nước, khu
vực mà có nền kinh tế đang có dấu hiệu phục hồi sau khủng hoảng tế nên còn cónhiều biến động mạnh về kinh tế chính trị dễ dẫn đến hoạt động tín dụng củangân hàng cũng có sự thay đổi Lúc đó các ngân hàng phải thay đổi các tiêuchuẩn, điều kiện của doanh nghiệp trong công tác phân tích tài chính nhằm lựa
Trang 28chọn những khách hàng tốt nhất Chính sách hỗ trợ lãi suất là một ví dụ về thayđổi chính của Ngân hàng trong điều kiện kinh tế khủng hoảng.
1.2.5 Nội dung phân tích Báo cáo tài chính doanh nghiệp.
Khi phân tích đánh giá doanh nghiệp để ra quyết định cho vay hay khôngthì ngân hàng phải tiến hành phân tích nhiều yếu tố, song điều mà các ngân hàngquan tâm nhất là khả năng thanh toán và trả nợ của doanh nghiệp vay vốn Do đókhi phân tích tài chính doanh nghiệp và đặc biệt là phân tích báo cáo tài chính thìngân hàng quan tâm nhiều hơn tới việc đánh giá rủi ro thanh khoản của doanhnghiệp tức là phân tích các chỉ tiêu về khả năng thanh toán, cơ cấu tài chính,năng lực hoạt động, khả năng sinh lời và báo cáo lưu chuyển tiền tệ nhằm đánhgiá rủi ro của doanh nghiệp trong tương lai Do vậy ngân hàng đặc biệt quan tâmtới các chỉ tiêu tài chính từ báo cáo kết quả kinh doanh, bảng cân đối kế toán vàbáo cáo lưu chuyển tiền tệ (nếu có) kết hợp với các thông tin từ thuyết minh báocáo tài chính
1.2.5.1 Phân tích dựa vào thông tin trên Bảng cân đối kế toán.
1 Phân tích tình hình nguồn vốn của doanh nghiệp.
Mục đích: Nhằm đánh giá khái quát tình hình nguồn vốn, tìm ra cácđiểm bất hợp lý để hạn chế rủi ro
Phương pháp phân tích: Vận dụng phương pháp so sánh và kỹ thuật phântích ngang và kỹ thuật phân tích dọc để tiến hành so sánh tổng số và từng nguồnvốn giữa cuối kì với đầu năm (đầu kì) để xác định chênh lệch tuyệt đối và tươngđối Căn cứ vào kết quả so sánh để đánh giá sự biến động của tổng số nói chung,của từng nguồn vốn nói riêng, từ đó xác định trọng điểm phân tích Đồng thờixác định tỷ trọng của từng nguồn vốn trong tổng số của nó xem đã hợp lý chưa,
so sánh tỷ trọng giữa cuối kì với đầu kì (đầu năm)
Trang 292 Phân tích sự biến động và cơ cấu phân bổ vốn.
Tổng số vốn kinh doanh của doanh nghiệp bao gồm 02 loại: vốn cố định
và vốn lưu động sự thay đổi của vốn và tình hình phân bổ vốn ảnh hưởng rất lớnđến kết quả kinh doanh và tình hình tài chính của doanh nghiệp Mục đích củaviệc phân tích này là đánh giá sự hợp lý, hiệu quả trong sử dụng vốn của doanhnghiệp Để phân tích sự biến động và cơ cấu phân bổ vốn ta tiến hành trên nhữngnội dung sau:
– Phân tích sự biến động của vốn: Tiến hành so sánh tổng số vốn (tài sản) vàtừng loại vốn (tài sản) giữa cuối kì với đầu kì (đầu năm) để xác định chênh lệchtuyệt đối và tương đối Từ đó thấy được quy mô kinh doanh, năng lực kinhdoanh, khả năng ứng phó với các khoản nợ của doanh nghiệp và xác định nhữngbất hợp lý cần chú ý
Trang 30– Xác định cơ cấu của từng tài sản: cũng tiến hành như đối với nguồn vốn,
đó là xác định tỷ trọng của từng tài sản trong tổng số, so sánh tỷ trọng giữa cuối
kì và đầu kì hay đầu năm Việc phân tích này muốn có hiệu quả nên kết hợp vớitính chất và ngành nghề kinh doanh của doanh nghiệp
Phương pháp được sử dụng để phân tích là so sánh, kỹ thuật được sử dụng
là kỹ thuật phân tích ngang và phân tích dọc
3 Đánh giá chính sách tài trợ của doanh nghiệp
Nguyên tắc cân bằng tài chính: “ Tài sản được tài trợ trong một thời giankhông thấp hơn thời gian chuyển hóa tài sản ấy”
Nguyên tắc này đảm bảo cho tình hình tài chính của đơn vị cân bằng về mặt thờigian, đồng thời tình hình tài chính cũng đòi hỏi cân bằng cả về mặt giá trị: Tổngtài sản = Tổng nguồn vốn
Nguồn vốn của doanh nghiệp dựa vào thời gian huy động và sử dụngvốn được chia thành
– Nguồn vốn thường xuyên (nguồn vốn dài hạn) là tổng thể các nguồn vốn
có tính chất ổn định mà doanh nghiệp có thể sử dụng vào hoạt động kinh doanh.Nguồn vốn này thường được sử dụng để mua sắm hình thành tài sản cố định vàmột bộ phận tài sản lưu động thường xuyên cần thiết cho hoạt động kinh doanhcủa doanh nghiệp Nguồn vốn thường xuyên có thể được xác định bằng côngthức sau:
Nguồn vốn thường xuyên của doanh
Vốn chủ sởhữu + Nợ dài hạnVốn chủ sở hữu trong công thức này lấy từ chỉ tiêu Vốn chủ sở hữu (mã số 400),
nợ dài hạn được lấy từ chỉ tiêu Nợ dài hạn (mã số 330) trên BCĐKT
Trang 31Trong nguồn vốn thường xuyên có nguồn vốn lưu động thường xuyên, đây
là nguồn vốn ổn định có tính chất dài hạn để tài trợ cho tài sản lưu động thườngxuyên Nguồn vốn này tạo ra một mức độ an toàn cho doanh nghiệp trong kinhdoanh Tuy nhiên việc sử dụng nó đánh đổi bằng chi phí cao hơn cho việc sửdụng vốn
– Nguồn vốn tạm thời là các nguồn vốn có tính chất ngắn hạn nên còn đượcgọi là nguồn vốn ngắn hạn (dưới một năm) mà doanh nghiệp có thể sử dụng đểđáp ứng các yêu cầu có tính chất tạm thời phát sinh trong hoạt động kinh doanhcủa doanh nghiệp
Vốn lưu động thường xuyên (vốn lưu chuyển) là phần chênh lệch giữanguồn vốn dài hạn hay nguồn vốn thường xuyên với tài sản dài hạn, nói cáchkhác nó là một phần nguồn vốn dài hạn dùng vào việc tài trợ cho tài sản ngắnhạn
Vốn lưu động thường xuyên (vốn LĐTX) có thể được xác định theo hai cách:Cách 1: Vốn LĐTX = Nguồn vốn dài hạn – Tài sản dài hạn = (Nợ dài hạn + Vốnchủ sở hữu) – Tài sản dài hạn
Ý nghĩa:
Trang 32– Nếu Vốn lưu động thường xuyên > 0 chứng tỏ doanh nghiệp có một phầnNguồn vốn dài hạn đầu tư cho Tài sản ngắn hạn Chứng tỏ tình hình tài trợ củadoanh nghiệp thực hiện được yêu cầu của nguyên tắc cân bằng Tài chính Điềunày mang lại cho doanh nghiệp một nguồn vốn tài trợ ổn định, một dấu hiệu antoàn, một quyền độc lập nhất định.
– Nếu Vốn lưu động thường xuyên < 0 chứng tỏ Nguồn vốn dài hạn nhỏ hơnTài sản dài hạn, chứng tỏ Tài sản dài hạn được tài trợ một phần bằng Nguồn vốnngắn hạn, doanh nghiệp kinh doanh vốn với cơ cấu vốn rất mạo hiểm
– Nếu Vốn LĐTX = 0 chứng tỏ tình hình tài trợ của doanh nghiệp đảm bảo
sự cân bằng về giá trị và thời gian, nhưng chưa đảm bảo sự ổn định về tài chínhcho doanh nghiệp, tính linh hoạt trong cơ cấu tài trợ của doanh nghiệp là thấp,rủi ro sẽ tăng lên
Nhu cầu vốn lưu động của doanh nghiệp là thể hiện số vốn tiền tệ cầnthiết doanh nghiệp phải trực tiếp ứng ra để hình thành một lượng dự trữ hàng tồnkho và khoản cho khách hàng nợ sau khi đã sử dụng khoản tín dụng của nhàcung cấp Trong nhu cầu vốn lưu động có một bộ phận là nhu cầu vốn lưu độngthường xuyên (nhu cầu vốn lưu chuyển) là số nguồn vốn dài hạn cần thiết để tàitrợ cho tài sản ngắn hạn, đây chính là nhu cầu tài trợ của chu kì sản xuất kinhdoanh
Nhu cầu vốn lưu chuyển ( NCVLC) được xác định bằng công thức sau:
NCVLC = Hàng tồn kho + Các khoản phải thu ngắn hạn – Các khoản phải trảngắn hạn = mã số 140 + mã số 130 – (mã số 310 – mã số 311) trên Bảng cân đối
kế toán
Ta tiến hành so sánh giữa vốn lưu chuyển và nhu cầu vốn lưu chuyển để xem sự
ổn định về mặt tài chính trong chính sách tài trợ có được đảm bảo hay không
Trang 33Giả sử cả vốn LĐTX và NCVLC của doanh nghiệp đều lớn hơn không, khi đó tacó:
Vốn LĐTX – NCVLC
Nếu > 0 sự ổn định về tài chính được thể hiện nhưng đánh đổi là chi phí sửdụng cao
4 Đánh giá khả năng độc lập tài chính của doanh nghiệp.
Khả năng độc lập tài chính của doanh nghiệp được thể hiện qua một số chỉ tiêu
cơ bản sau:
Ý
nghĩa: Hệ số nợ nói lên trong tổng nguồn vốn của doanh nghiệp, nguồn vốn từbên ngoài ( từ các chủ nợ) là bao nhiêu phần hay trong tổng số tài sản hiện cócủa doanh nghiệp có bao nhiêu phần do vay nợ mà có Hệ số này nói lên sự phụthuộc tài chính của doanh nghiệp đối với bên ngoài
Tỷ suất tự tài trợ = Tổng nguồn vốn củaVốn chủ sở hữu = 1- Hệ số nợ
doanh nghiệp
Ý nghĩa: Chỉ tiêu này để đo lường sự góp vốn của chủ sở hữu trong tổng nguồnvốn của doanh nghiệp Nếu hệ số nợ càng thấp (hay tỷ suất tự tài trợ càng cao)thì sự phụ thuộc của doanh nghiệp vào nguồn cho vay càng ít, rủi ro về tài chính
là càng thấp Ngược lại, hệ số nợ càng cao thì rủi ro về tài chính của doanhnghiệp sẽ có nguy cơ gia tăng
Trang 34nợ Chỉ tiêu này càng cao thì rủi ro của doanh nghiệp càng tăng chỉ tiêu này caohay thấp tuỳ theo từng ngành hoạt động Chẳng hạn: ngành có tài sản cố địnhchiếm tỷ trọng lớn hơn thường có hệ số này cao hơn Tuy nhiên theo kinhnghiệm ở một số nước để hạn chế một số rủi ro tài chính người cho vay chỉ chấpnhận chỉ tiêu này ở mức nhỏ hơn 1 hay nợ dài hạn không vượt quá nguồn vốnchủ sở hữu Khi chỉ tiêu này càng gần 1, doanh nghiệp càng ít có khả năng đượcvay thêm các khoản vay dài hạn.
Ý
nghĩa: Chỉ tiêu này cho biết mức độ tài trợ tài sản dài hạn bằng nguồn vốn chủ
sở hữu Tỷ suất này lớn hơn 1 thể hiện khả năng tài chính vững vàng Ngược lại,nếu nhỏ hơn 1 có ý nghĩa là có một phần tài sản dài hạn được tài trợ bằng nguồnvốn vay, nếu nguồn vốn đó là nguồn vốn ngắn hạn thể hiện doanh nghiệp đangkinh doanh trong cơ cấu vốn mạo hiểm
Trong đó: Tổng số nợ phải trả lấy từ chỉ tiêu nợ phải trả (mã số 300), tổng nguồnvốn của doanh nghiệp lấy từ chỉ tiêu tổng cộng nguồn vốn (mã số 440), nguồnvốn chủ sở hữu lấy từ chỉ tiêu vốn chủ sở hữu (mã số 400), nợ dài hạn lấy từ chỉtiêu nợ dài hạn (mã số 330) và tài sản dài hạn lấy từ chỉ tiêu tài sản dài hạn (mã
số 200) trên Bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp
5 Đánh giá khả năng thanh toán của doanh nghiệp.
Thông thường các ngân hàng thường sử dụng một số hệ số sau để đánh giá khảnăng thanh toán của doanh nghiệp:
- Hệ số khả năng thanh toán hiện hành:
Tỷ suất tự tài trợ tài sản
Nguồn vốn chủ sở hữuTài sản dài hạn
Hệ số khả năng thanh toánhiện hành (tổng quát) =
Tổng tài sản
Nợ phải trả
Trang 35Hệ số này cho biết doanh nghiệp có thể thanh toán bao nhiêu lần Nợ phảitrả bằng toàn bộ tài sản Chỉ tiêu này lớn hơn 1 chứng tỏ tổng giá trị tài sản củadoanh nghiệp thừa để thanh toán hết các khoản nợ hiện tại của doanh nghiệp.
- Hệ số khả năng thanh toán nợ ngắn hạn:
Hệ số khả năng thanhtoán nợ ngắn hạn =
có nghĩa doanh nghiệp không đảm bảo nguyên tắc cân bằng tài chính
- Hệ số khả năng thanh toán nhanh:
- Hệ số khả năng thanh toán tức thời:
Hệ số khả năng thanh
toán tức thời
= Tiền và các khoản tương
đương tiền
Trang 36Nợ ngắn hạn quá hạn, đến hạn
Hệ số này cho biết doanh nghiệp có khả năng thanh toán bao nhiêu lần nợngắn hạn quá hạn, đến hạn bằng tiền và các khoản tương đương tiền Chỉ tiêunày lớn hơn 1 thì rủi ro tài chính thấp, ngược lại chỉ tiêu này nhỏ hơn 1 chứng tỏtiền và các khoản tương đương tiền không đủ chi trả cho nợ quá hạn, đến hạn, rủi
ro tài chính của doanh nghiệp cao
1.2.5.2 Phân tích dựa vào thông tin trên Báo cáo kết quả hoạt động
kinh doanh.
1 Đánh giá chung kết quả kinh doanh của doanh nghiệp.
Dựa vào Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh để tiến hành so sánh các chỉ tiêutrên báo cáo giữa kỳ này với kỳ trước, giữa thực tế với kế hoạch để xác địnhchênh lệch tuyệt đối và chênh lệch tương đối Căn cứ vào kết quả so sánh đểđánh giá tình hình và kết quả kinh doanh của doanh nghiệp Đặc biệt chú ý đến
sự biến động của doanh thu thuần, tổng lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh, lợinhuận trước thuế và lợi nhuận sau thuế đồng thời giải trình tổng lợi nhuận từhoạt động kinh doanh tăng hay giảm là do những nhân tố nào ảnh hưởng đến
2 Đánh giá năng lực hoạt động của tài sản trong doanh nghiệp
– Vòng quay các khoản phải thu và kì thu tiền trung bình:
Vòng quay các khoản phải
Doanh thu thuần về bán hàng và cung
cấp dịch vụCác khoản phải thu ngắn hạn bình quân
Kỳ thu tiền trung bình = Vòng quay các khoản phải thuSố ngày trong kỳ báo cáo
Trang 37Nếu so sánh kì này với kì trước hệ số vòng quay các khoản phải thu giảmhoặc thời gian bán chịu cho khách hàng dài hơn chứng tỏ tốc độ thu hồi cáckhoản nợ của doanh nghiệp chậm hơn từ đó làm tăng vốn ứ đọng trong khâuthanh toán, giảm hiệu quả sử dụng vốn Điều này sẽ gây ra sự thiếu hụt vốn trongdoanh nghiệp làm cho nhu cầu vốn lưu chuyển tăng lên, tuy nhiên cũng cần xemxét kết hợp với chính sách bán hàng của doanh nghiệp để có đánh giá đúng đắnhơn.
– Vòng quay hàng tồn kho và thời hạn quay vòng hàng tồn kho bình quân:
Vòng quay hàng tồn kho = Giá vốn hàng bán
Trị giá hàng tồn kho bình quân
Thời hạn quay vòng hàng tồn
kho bình quân =
Số ngày trong kỳ báo cáoVòng quay hàng tồn khoNếu so sánh kỳ này với kỳ trước hệ số quay vòng hàng tồn kho giảm thìthời gian của một vòng quay sẽ tăng lên chứng tỏ hàng tồn kho luân chuyểnchậm, khả năng sinh lời giảm sút, do vậy rủi ro về tài chính tăng lên Mặt khácthời gian hàng tồn kho bình quân tăng lên sẽ làm tăng chi phí bảo quản, tăng chiphí tài chính nếu như hàng tồn kho được tài trợ bằng vốn vay, từ đó làm giảmkhả năng sinh lời, tăng tổn thất tài chính cho doanh nghiệp Vốn ứ đọng nhiềuhơn kéo theo nhu cầu vốn của doanh nghiệp tăng trong điều kiện qui mô sản xuấtkhông đổi, cần đi sâu tìm hiểu lí do cụ thể để có biện pháp tác động
– Tốc độ luân chuyển vốn lưu động: được thể hiện qua 2 chỉ tiêu sau:
Trang 38Số dư vốn lưu động tại một thời điểm được xác định bằng Tài sản ngắn hạn trênBCĐKT trừ (-) Các khoản đầu tư tài chính ngắn hạn trên BCĐKT.
Số ngày luân chuyển
vốn lưu động ( N) =
Số ngày trong kỳ
Số vòng luân chuyển vốn lưu động Hai hệ số này cần được áp dụng với từng ngành nghề sản xuất kinh doanh,phụ thuộc vào đặc điểm của từng ngành Hai hệ số này được tính để biết được sốlần tất cả số vốn đầu tư được chuyển thành thanh toán thương mại Số vòng luânchuyển vốn lưu động thấp (số ngày luân chuyển vốn lưu động lớn), tốc độ độluân chuyển vốn lưu động chậm thì vốn đầu tư không được sử dụng có hiệu quả,
và có khả năng khách hàng dự trữ hàng hóa quá nhiều hay tài sản không được sửdụng hoặc đang vay mượn quá mức Số vòng luân chuyển vốn lưu động càng lớncàng tốt
– Ngoài ra cũng có thể xem xét một số chỉ tiêu sau:
Hiệu suất sử dụng tài
Trang 39– Trong đó:
Doanh thu thuần về bán hàng và cung cấp dịch vụ lấy từ chỉ tiêu doanh thu thuần
về bán hàng và cung cấp dịch vụ mã số 10 trên Báo cáo kết quả hoạt động kinhdoanh (BCKQHĐKD)
Các khoản phải thu
ngắn hạn bình quân =
Chỉ tiêu các khoảnphải thu ngắn hạn sốđầu năm (MS 130)trên BCĐKT
+
Chỉ tiêu các khoảnphải thu ngắn hạn sốcuối năm (MS 130)trên BCĐKT2
Giá vốn hàng bán lấy từ chỉ tiêu giá vốn hàng bán mã số 11 trên BCKQHĐKD
Trị giá hàng tồn kho
Chỉ tiêu hàng tồn kho
số đầu năm (MS 140)trên BCĐKT
+
Chỉ tiêu hàng tồn kho
số cuối năm (MS 140)trên BCĐKT2
Chỉ tiêu tài sản ngắnhạn (MS 100) số đầunăm trừ( – )chỉ tiêuđầu tư tài chính ngắn
+ Chỉ tiêu tài sản ngắnhạn (MS 100) số cuốinăm trừ( – )chỉ tiêuđầu tư tài chính ngắn
Trang 40Số dư vốn lưu động
hạn (MS 120) số đầunăm trên BCĐKT
hạn (MS 120) số cuốinăm trên BCĐKT2
Tổng doanh thu và thu nhập khác = chỉ tiêu doanh thu bán hàng và cung cấp dịch
vụ (MS 01) + chỉ tiêu thu nhập khác(MS 31) trên BCKQHĐKD
Giá trị còn lại
của TSCĐ
bình quân =
Chỉ tiêu nguyên giá (MS 222)
số cuối năm trừ (-) chỉ tiêu giátrị hao mòn lũy kế số cuối năm(MS223) trên BCĐKT
+
Chỉ tiêu nguyên giá (MS222) số đầu năm trừ (-)chỉ tiêu giá trị hao mòn lũy
kế số đầu năm (MS223)trên BCĐKT2
Tổng tài sản bình
Chỉ tiêu tổng cộng tàisản số đầu năm (mã
số 270) trên BCĐKT
+
Chỉ tiêu tổng cộng tàisản số cuối năm (mã
số 270) trên BCĐKT2
3. Đánh giá khả năng sinh lời của doanh nghiệp
Tỷ suất lợi nhuận trên
Lợi nhuận x 100Doanh thu
Ý nghĩa: Tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu thể hiện trong 100 đồng doanh thu màdoanh nghiệp thực hiện được trong kì có bao nhiêu đồng lợi nhuận Chỉ số nàytính để biết được năng lực kinh doanh, cạnh tranh của khách hàng trong việc tạo
ra lợi nhuận Tỷ suất này càng cao càng tốt
Lợi nhuận được xác định trong công thức trên có thể là lợi nhuận thuần từ hoạtđộng kinh doanh, lợi nhuận gộp, lợi nhuận trước thuế, lợi nhuận trước thuế và lãi