Các loại rủi ro kiểm toán Rủi ro tiềm tàng: “là rủi ro tiềm ẩn, vốn có do khả năng từng nghiệp vụ, từng khoản mục trong Báo cáo tài chính chứa đựng sai sót trọng yếu khitính riêng rẽ hoặ
Trang 1LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứa của tôi Các số liệu, kết
quả nêu trên trong luận văn là trung thực xuất phát từ tình hình thực tế của đơn vị thực tập
Hà Nội, ngày tháng năm
Sinh viên
NINH ĐỨC CƯỜNG
Trang 2MỤC LỤC
Trang 3DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
5 COM.PT Công ty trách nhiệm hữu hạn
Kiểm toán COM.PT
6 ISA Chuẩn mực kiểm toán quốc tế
7 VAS Chuẩn mực Kiểm toán Việt Nam
Trang 4DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 1.1: Các mối quan hệ giữa của rủi ro kiểm toán với bằng chứng phải thuthập
Bảng 1.2: Bảng tính mức ước lượng ban đầu về tính trọng yếu
Bảng 1.3: Bảng phân bổ mức trọng yếu ban đầu cho các khoản mục
Bảng 1.4: Bảng đánh giá rủi ro phát hiện
Bảng 2.2 Đáng giá tổng quát rủi ro khách hàng ABC
Trang 5DANH MỤC SƠ ĐỒ HÌNH VẼ
Sơ đồ 3.1 Cơ cấu bộ máy quản lý của Công ty
Hình 4.1 Mô hình tổ chức bộ máy dịch vụ kiểm toán.
Trang 6MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Kiểm toán là lĩnh vực đang dần được khẳng định và chiếm vị trí quantrọng trong nền kinh tế Việt Nam Mặc dù mới ra đời và phát triển trong hơn
15 năm nhưng số lượng các công ty kiểm toán đã ngày càng gia tăng, chứng
tỏ nhu cầu đối với lĩnh vực này ngày càng cao Trong đó, sự ra đời của Công
ty Kiểm toán COM.PT (COM.PT) được đánh dấu là một mốc quan trọng chongành kiểm toán tại Việt Nam
Kiểm toán Báo cáo tài chính luôn là dịch vụ truyền thống và chiếm tỷtrọng lớn trong doanh thu của các công ty kiểm toán hiện nay Trước xu thếhội nhập như ngày nay các công ty kiểm toán độc lập ở Việt Nam luôn phảiđặt ra yêu cầu không ngừng nâng cao chất lượng dịch vụ của mình để có thểđáp ứng được nhu cầu của khách hàng và cạnh tranh với các công ty kiểmtoán nước ngoài
Trong đó đánh giá trọng yếu và rủi ro kiểm toán là một bước vô cùngquan trọng để giúp cho các công ty kiểm toán xây dựng một kế hoạch kiểmtoán hợp lý góp phần nâng cao chất lượng cũng như hiệu quả của cuộc kiểmtoán Tuy nhiên, thực tế hiện nay việc đánh giá trọng yếu ở các công ty vẫncòn nhiều điểm chưa hoàn thiện do đây là một công việc khó và đòi hỏi trình
độ phán xét của kiểm toán viên Được đánh giá là một trong những công ty cóquy trình đánh giá trọng yếu và rủi ro kiểm toán khá hoàn chỉnh và tiêuchuẩn, trong thời gian thực tập tại COM.PT em đã có cơ hội tiếp xúc và sosánh giữa lý thuyết và thực tế và nhận ra được rất nhiều kiến thức cũng như
kinh nghiệm quý báu Chính vì vậy, em đã chọn đề tài: “Hoàn thiện quy trình đánh giá trọng yếu và rủi ro kiểm toán trong kiểm toán Báo cáo tài chính tại Công ty Kiểm toán COM.PT” để nghiên cứu, phát triển cho Luận
Trang 72. Mục đích nghiên cứu của đề tài
Từ ý nghĩa quan trọng của đánh giá trọng yếu và rủi ro trong kiểm toán Báocáo tài chính và thực tế công tác đánh giá trọng yếu và rủi ro kiểm toán tạiCông ty Kiểm toán COM.PT, Luận văn muốn làm rõ được lý luận về trọngyếu, rủi ro kiểm toán nói chung và đánh giá trọng yếu và rủi ro kiểm toántrong kiểm toán Báo cáo tài chính nói riêng Hơn nữa, Luận văn cũng muốntìm hiểu quy trình đánh giá trọng yếu và rủi ro kiểm toán tại Công ty Kiểmtoán COM.PT Từ đó, em đã có cơ sở để so sánh giữa thực tế và lý thuyết và
có cơ sở để đưa ra những kiến nghị, giải pháp nhằm hoàn thiện quy trình đánhgiá trọng yếu và rủi ro kiểm toán tại Công ty Kiểm toán COM.PT
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
Đối tượng nghiên cứu đề tài là các quy định chung của công tyCOM.PT về quy trình đánh giá trọng yếu và rủi ro kiểm toán trong kiểm toánBCTC; thực trạng quy trình đánh giá trọng yếu và rủi ro kiểm toán trong kiểmtoán BCTC tại công ty COM.PT; đồng thời tìm hiểu và đánh giá thực trạngquy trình đánh giá trọng yếu và rủi ro kiểm toán trong kiểm toán BCTC tạiViệt Nam
Phạm vi nghiên cứu của đề tài : Đề tài giới hạn việc nghiên cứu vàocác quy định và thực tiễn quy trình đánh giá trọng yếu và rủi ro kiểm toántrong kiểm toán BCTC tại công ty COM.PT
4. Phương pháp nghiên cứu của đề tài
4.1. Phương pháp chung
Đề tài được nghiên cứu trên cơ sở phương pháp luận của Chủ nghĩa duy vậtbiện chứng, duy vật lịch sử kết hợp với tư duy và khoa học logic
4.2. Phương pháp cụ thể
Trang 8Sử dụng các phương pháp kỹ thuật như phương pháp toán học, phương pháp
tư duy lôgic, phương pháp diễn giải, quy nạp, phương pháp so sánh và phântích để tổng hợp về lý luận và thực tiễn đánh giá trọng yếu và rủi ro kiểm toántrong kiểm toán Báo cáo tài chính Ngoài ra, đề tài cũng sử dụng phương pháp
sơ đồ, bảng biểu để làm rõ và bổ sung thêm cho lý luận cũng như thực tiễnđánh giá trọng yếu và rủi ro kiểm toán trong kiểm toán Báo cáo tài chính
5. Nội dung của đề tài
Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, Luận văn gồm ba chương sau:
Chương 1: Lý luận cơ bản về quy trình đánh giá trọng yếu và rủi ro kiểm toán trong kiểm toán báo cáo tài chính
Chương 2: Thực trạng quy trình đánh giá trọng yếu và rủi ro kiểm toán trong kiểm toán báo cáo tài chính tại Công ty Kểm toán COM.PT
Chương 3: Nhận xét, giải pháp và kiền nghị nhằm hoàn thiện quy trình đánh giá trọng yếu và rủi ro kiểm toán trong kiểm toán báo cáo tài chính tại Công ty Kiểm toán COM.PT
Em xin chân thành cảm ơn thầy giáo PGS.TS Thịnh Văn Vinh cùng các anhchị tại Công ty Kiểm toán COM.PT đã có những hướng dẫn chỉ bảo tận tìnhcho em để em có thể hoàn thành tốt Luận văn của mình
Sinh viên
Ninh Đức Cường
Trang 9CHƯƠNG 1
LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ QUY TRÍNH ĐÁNH GIÁ TRỌNG YẾU VÀ RỦI RO KIỂM TOÁN TRONG KIỂM TOÁN BÁO CÁO TÀI CHÍNH 1.1.KHÁI NIỆM TRỌNG YẾU VÀ RỦI RO KIỂM TOÁN
1.1.1 Khái niệm trọng yếu và xét đoán trọng yếu
Theo từ điển Tiếng Việt, “Trọng yếu là một tính từ để chỉ sự quantrọng thiết yếu Một sự vật hay một địa danh đi kèm với trọng yếu đều mang ýnghĩa quan trọng”
Trọng yếu là một thuật ngữ quan trọng trong kế toán, kiểm toán.Nguyên tắc trọng yếu cần chú trọng đến những vấn đề mang tính cốt yếu,quyết định bản chất và nội dung của sự vật, sự kiện kinh tế phát sinh Chính vìvậy khái niệm trọng yếu được đề cập ở rất nhiều tài liệu trong nước cũng nhưquốc tế Có thể trích dẫn một số tài liệu sau:
Theo Bản công bố về chuẩn mực kiểm toán số 47 (SAS 47): “kiểm toánviên nên xem xét rủi ro kiểm toán và vấn đề trọng yếu trong khi lập kế hoạchkiểm toán và thiết kế các thủ tục kiểm toán cũng như khi đưa ra kết luận kiểm
toán” (Lý thuyết kiểm toán-NXB Tài chính 2005).
Theo sách Lý thuyết kiểm toán (NXB Tài chính 2005): “Trọng yếu, xét
trong mối quan hệ với nội dung kiểm toán, là khái niệm chung chỉ rõ tầm cỡ
và tính hệ trọng của phần nội dung cơ bản của kiểm toán có ảnh hưởng tớitính đúng đắn của việc nhận thức, đánh giá đối tượng kiểm toán và việc sửdụng thông tin đã đánh giá đó để ra quyết định quản lý Trên góc độ củangười sử dụng thông tin, nói một cách đơn giản, một thông tin quan trọng vàcần phải được trình bày nếu nó có khả năng ảnh hưởng tới các quyết định củangười sử dụng”
Trang 10Theo Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 200 (VSA 200) - Mục tiêu và
nguyên tắc cơ bản chi phối kiểm toán báo cáo tài chính: “Trọng yếu: là thuật
ngữ dùng để thể hiện tầm quan trọng của một thông tin (một số liệu kế toán)trong Báo cáo tài chính
Thông tin được coi là trọng yếu có nghĩa là nếu thiếu thông tin đó haythiếu chính xác của thông tin đó sẽ ảnh hưởng tới các quyết định của người sửdụng Báo cáo tài chính Mức độ trọng yếu tuỳ thuộc vào tầm quan trọng củathông tin hay của sai sót được đánh giá trong hoàn cảnh cụ thể Tính trọngyếu của thông tin phải được xem xét trên cả tiêu chuẩn định lượng và địnhtính.”
Theo Chuẩn mực kiểm toán quốc tế (ISA 320) - Tính trọng yếu trong
kiểm toán: “Thông tin là trọng yếu nếu việc bỏ sót hoặc sai sót của thông tin
đó có thể ảnh hưởng đến quyết định kinh tế của người sử dụng Báo cáo tàichính Tính trọng yếu phụ thuộc vào mức độ quan trọng của các khoản mụchay sai sót được đánh giá theo bối cảnh cụ thể tạo ra việc bỏ sót hoặc sai sót
đó Vì thế, tính trọng yếu là một ngưỡng hoặc một điểm định tính cơ bản màmột thông tin hữu ích cần phải có”
Theo Các văn bản chỉ đạo kiểm toán quốc tế số 25 (IAG 25) - Trọng
yếu và rủi ro trong kiểm toán: “Trọng yếu là khái niệm về tầm cỡ, bản chất
của sai phạm (kể cả bỏ sót) thông tin tài chính hoặc đơn lẻ hoặc từng nhóm,
mà trong bối cảnh cụ thể nếu dựa vào các thông tin này để xét đoán thì sẽkhông chính xác hoặc rút ra kết luận sai lầm”
Từ rất nhiều các định nghĩa ở trên ta thấy rằng dù ở trên thế giới hayViệt Nam “trọng yếu” đều được quan niệm như một thuật ngữ dùng để thểhiện tầm quan trọng của một thông tin hay một số liệu kế toán trong Báo cáo
Trang 11đến nhận thức của người sử dụng Báo cáo tài chính, từ đó dẫn đến sai lầmtrong việc đánh giá thông tin và ra các quyết định quản lý Sự tương đồnggiữa kiểm toán và quản lý này đã dẫn đến tính tất yếu phải lựa chọn nội dungkiểm toán tối ưu, vừa đánh giá đúng bản chất của đối tượng kiểm toán, vừađáp ứng kịp thời nhu cầu của người quan tâm với giá phí kiểm toán thấp trên
cơ sở thực hiện tốt chức năng kiểm toán
Bởi vậy, để giải quyết yêu cầu trên trong khái niệm “trọng yếu” đã baohàm hai mặt liên quan tới nhận thức đối tượng: Quy mô hay tầm cỡ (mặtlượng) và vị trí hay tính hệ trọng (mặt chất) của phần nội dung cơ bản
Quy mô tương đối là mối quan hệ tương quan giữa đối tượng cần đánhgiá với một số gốc Số gốc thường khác nhau trong những tình huống cụ thể.Chẳng hạn, với báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh, số gốc có thể là doanhthu thuần; với bảng cân đối kế toán, số gốc có thể là tổng tài sản hoặc tài sảnlưu động… Phần đông các kiểm toán viên đều cho rằng “tổng hợp các saiphạm mà có tỷ lệ nhỏ hơn 5% so với giá trị thu nhập ròng thì được xem làkhông trọng yếu nhưng nếu lớn hơn 10% thì chắc chắn trọng yếu” Nhưng cókhi kiểm toán viên sử dụng con số tuyệt đối để đánh giá tính trọng yếu Mộtcon số tuyệt đối là số thể hiện mức quan trọng mà không cần nhắc thêm một
Trang 12yếu tố nào khác Ví dụ như, một vài kiểm toán viên cho rằng “một triệu USDhoặc một con số lớn hơn thì luôn là con số trọng yếu, không cần quan tâm đếnvấn đề nào khác”.
Ngoài ra, khi xem xét quy mô trọng yếu, kiểm toán viên nên cân nhắc
cả sự ảnh hưởng luỹ kế của đối tượng xem xét Trên thực tế thì có rất nhiềusai phạm khi xem xét chúng một cách cô lập thì không phát hiện ra trọng yếu,nhưng nếu cộng dồn tất cả các sai phạm sẽ phát hiện thấy sự liên quan và tính
hệ thống của sai phạm và khi đó phát hiện tính trọng yếu của chúng Theo
Chuẩn mực Kiểm toán Việt Nam số 320 - Tính trọng yếu trong kiểm toán:
“Kiểm toán viên cần xem xét tới khả năng có nhiều sai sót là tương đối nhỏnhưng khi tổng hợp lại có ảnh hưởng trọng yếu tới Báo cáo tài chính, như:một sai sót trong thủ tục hạch toán cuối tháng có thể trở thành một sai sóttrọng yếu, tiềm tàng nếu như sai sót đó cứ tiếp tục tái diễn vào mỗi tháng”
Việc xác định tính trọng yếu qua quy mô không phải là dễ dàng chính
vì vậy để xác định đúng nội dung kiểm toán trên phương diện này chúng tacần quán triệt các nguyên tắc cơ bản sau:
Thứ nhất, quy mô trọng yếu phải được xác định Đó là việc xác định
trọng yếu dựa trên các đối tượng nào (Báo cáo tài chính, toàn bộ tài liệu kếtoán hay thực trạng tài chính nói chung) và cũng tùy thuộc vào cả khách thểkiểm toán thuộc loại hình doanh nghiệp nào (sản xuất, công nghiệp, nôngnghiệp, dịch vụ, ngân hàng, bảo hiểm, xây lắp hay vận tải…) Vì mỗi ngành,mỗi lĩnh vực lại có những đặc điểm riêng nên việc tìm hiểu khách hàng là mộtcông việc hết sức quan trọng trong giai đoạn chuẩn bị kiểm toán
Thứ hai, quy mô của các khoản mục, nghiệp vụ không chỉ xét về quy
mô bằng con số tuyệt đối mà còn phải trong tương quan với các đối tượng
Trang 13vụ so với một cơ sở tính toán như tổng tài sản, tổng doanh thu, lợi nhuậntrước thuế…Và cũng tùy vào bản chất mà khi tính toán ta nên cộng dồn haytách riêng các khoản mục, nghiệp vụ, sai sót có liên quan.
Thứ ba, quy mô trọng yếu còn phụ thuộc vào đối tượng và mục tiêu
của cuộc kiểm toán là kiểm toán tài chính, kiểm toán nghiệp vụ với các chứcnăng xác minh hay xác minh, tư vấn…
Các khoản mục, nghiệp vụ có gian lận hoặc có chứa khả năng gian lận: Gian lận và sai sót đều dùng để chỉ các sai phạm nói chung, tuy nhiên giữa
chúng lại có sự khác nhau cơ bản Với cùng một quy mô tiền tệ, gian lận thườngđược chú trọng hơn sai sót vì nó làm người ta nghĩ đến tính trung thực và độ tincậy của các nhà quản lý và các thành viên có liên quan Do đó, một hành vi gianlận luôn được coi trọng bất kể quy mô của nó là bao nhiêu Các khoản mục,nghiệp vụ có gian lận hoặc có chứa khả năng gian lận thường bao gồm:
- Các nghiệp vụ đấu thầu, giao thầu và giao dịch không hợp pháp vì có thể có
sự móc nối giữa các bên nhằm thu lợi cho cá nhân;
- Các nghiệp vụ thanh lý tài sản: có khả năng có sự liên kết giữa người tiếnhành thanh lý và người mua tài sản trong khi tài sản đó vẫn đang trong quátrình sử dụng;
Trang 14- Các nghiệp vụ về tiền mặt: các nghiệp vụ này xảy ra thường xuyên, tiền mặtlại có đặc điểm là gọn nhẹ, dễ biển thủ nên dễ xảy ra gian lận;
- Các nghiệp vụ về mua bán và thanh toán: doanh nghiệp và khách hàng hoặcnhà cung cấp có thể móc ngoặc với nhau để báo cáo sai về thực trạng hoạtđộng của mình;
- Các nghịêp vụ bất thường: các nghiệp vụ này ít xảy ra nhưng nó lại ảnhhưởng trực tiếp tới kết quả kinh doanh của doanh nghiệp;
- Các nghiệp vụ phân chia quyền lợi: các nghiệp vụ liên quan đến quyền lợi baogiờ cũng chứa đựng khả năng gian lận cao vì hầu như bất cứ ai cũng muốn thulợi cho bản thân mình;
- Các nghiệp vụ cố ý bỏ ngoài sổ sách: các nghiệp vụ phát sinh đều phải đượcghi sổ, nếu đơn vị cố ý bỏ ngoài sổ sách thì đây là biểu hiện của hành vi gianlận;
- Các nghiệp vụ xảy ra vào cuối kỳ quyết toán hoặc thuộc loại nghiệp vụ mớiphát sinh Thông thường, vào cuối kỳ quyết toán, để kết quả hoạt động kinhdoanh được như kế hoạch đã định hoặc để điều chỉnh một số chênh lệch thừa,thiếu, kế toán thường đưa thêm một số bút toán hạch toán Do đó các nghiệp
vụ xảy ra vào cuối kỳ thường trọng yếu Đối với các nghiệp vụ mới phát sinhthì kiểm toán viên cần tự đặt ra câu hỏi tại sao những nghiệp vụ đó từ trướctới giờ mới phát sinh, liệu kế toán đã xử lý chưa và từ đó tìm bằng chứng đểchứng minh;
- Các khoản mục, chứng từ có sửa chữa vì có thể thông tin tài chính đã bị làmcho sai lệch dẫn đến ảnh hưởng tới Báo cáo tài chính;
- Các nghiệp vụ vi phạm nguyên tắc kế toán và pháp lý nói chung: có ảnhhưởng đến sự trung thực và độ tin cậy của các nhà lãnh đạo doanh nghiệp và
Trang 15Các khoản mục, nghiệp vụ có sai sót (không cố ý) hệ trọng:
- Các nghiệp vụ này thường do trình độ, năng lực yếu kém và tính thiếu cẩntrọng của kế toán viên;
- Các khoản mục, nghiệp vụ có sai sót ở quy mô lớn hoặc có chênh lệch lớn vớicác kỳ trước hoặc giữa các nguồn thông tin có liên quan;
- Các nghiệp vụ vi phạm nguyên tắc kế toán và pháp lý nói chung có thể dẫnđến sai lầm nghiêm trọng, ảnh hưởng đến người sử dụng thông tin vì nó khiến
ta nghĩ đến tính trung thực và độ tin cậy của Ban quản trị hoặc của những cánhân có liên quan khác;
- Các khoản mục, nghiệp vụ có sai sót lặp lại nhiều lần: việc các sai sót lặp lạinhiều lần cho dù quy mô của sai sót là không lớn thì vẫn gây một sự nghi ngờ
về năng lực của kế toán viên và vấn đề xem xét quản lý sổ sách không đượcchặt chẽ Hơn nữa, tổng hộ các sai sót nhỏ có thể là một sai sót lớn ảnh hưởngđến Báo cáo tài chính;
- Các khoản mục, nghiệp vụ có ảnh hưởng nghiêm trọng đến kỳ sau;
- Các sai sót có ảnh hưởng tới lợi nhuận;
- Các khoản mục, nghiệp vụ là đầu mối hoặc gây hậu quả liên quan đến nhiềukhoản mục, nghiệp vụ khác
Việc nhận định và đưa ra ý kiến kiểm toán phụ thuộc rất nhiều vào cáckhoản mục, nghiệp vụ liên quan đến bản chất đối tượng kiểm toán Vì vậy,khái niệm trọng yếu đã đặt ra yêu cầu xác định nội dung kiểm toán vớinguyên tắc không bỏ qua các khoản mục, nghiệp vụ có quy mô lớn và có tính
hệ trọng, phản ánh bản chất đối tượng Vi phạm nguyên tắc này có nghĩa làkhông nắm vững nội dung của trọng yếu thì kiểm toán viên đã tạo ra rủi rocho cuộc kiểm toán Do đó, khi đánh giá tính trọng yếu của một nội dung haymột phát hiện kiểm toán cụ thể, kiểm toán viên phải xem xét trên cả hai mặt là
Trang 16quy mô và bản chất của vấn đề, từ đó mới đưa ra quyết định hợp lý về tínhtrọng yếu, đảm bảo mục tiêu và chất lượng cuộc kiểm toán.
1.1.2.Khái niệm rủi ro kiểm toán và các loại rủi ro trong kiểm toán
1.1.2.1 Khái niệm
Cùng với việc đánh giá trọng yếu thì đánh giá rủi ro cũng là một trongnhững bước quan trọng nhất trong kiểm toán Báo cáo tài chính Do nhữngnguyên nhân như trong quá trình kiểm toán, kiểm toán viên thường chỉ lấymẫu kiểm toán chứ không kiểm tra toàn bộ, hay việc thu thập các bằng chứngkiểm toán thường mang tính thuyết phục hơn là chứng minh sự chính xáctuyệt đối của các số liệu trên Báo cáo tài chính, hay là còn tùy thuộc nhiềuvào óc xét đoán nghề nghiệp của từng kiểm toán viên… nên trong bất kỳ cuộckiểm toán nào cũng tồn tại những hạn chế tiềm tàng Chính vì vậy khả năngkiểm toán viên đưa ra nhận xét không chính xác về Báo cáo tài chính là điềuluôn có thể xảy ra Vấn đề là làm thế nào để có thể giảm rủi ro này xuống ởmức chấp nhận được Muốn như vậy, ngay từ giai đoạn chuẩn bị kiểm toán,kiểm toán viên phải đánh giá rủi ro để điều chỉnh các thủ tục kiểm toán mộtcách thích hợp nhằm có được một mức rủi ro có thể chấp nhận được
Vậy rủi ro kiểm toán là gì? TheoTừ điển Tiếng Việt: “rủi ro là tính từdùng để chỉ việc không may xảy ra” hoặc “rủi ro là điều không lành, khôngtốt bất ngờ xảy đến” Nói chung rủi ro là những điều không mong muốn tuynhiên trong các lĩnh vực khác nhau thì đặc trưng của rủi ro lại khác nhau Sauđây là những khái niệm khác nhau về rủi ro trong kiểm toán mà đã được đềcập ở rất nhiều tài liệu
Rủi ro kiểm toán: “là khả năng mà kiểm toán viên và công ty kiểm
toán đưa ra ý kiến nhận xét không thích hợp khi Báo cáo tài chính đã được
Trang 17Nam số 400 - Đánh giá rủi ro và kiểm soát nội bộ) Do đối tượng kiểm toán là
những thông tin được kiểm toán qua nhiều giai đoạn bằng những bộ máy quản
lý và các phương thức, thủ tục kiểm soát khác nhau nên rủi ro kiểm toán cũngđược xác định tương ứng đối với từng loại đối tượng kiểm toán Rủi ro baogồm ba bộ phận: Rủi ro tiềm tàng, rủi ro kiểm soát và rủi ro phát hiện
Theo Các văn bản chỉ đạo kiểm toán quốc tế số 25 (IAG 25) - Trọng
yếu và rủi ro trong kiểm toán: “Rủi ro kiểm toán là những rủi ro mà kiểm toán
viên có thể mắc phải khi đưa ra những nhận xét không xác đáng về các thôngtin tài chính và đó là các sai sót nghiêm trọng Ví dụ, kiểm toán viên có thểđưa ra ý kiến chấp nhận toàn bộ về một Báo cáo tài chính mà không biết rằngbáo cáo này có những sai sót nghiêm trọng”
1.1.2.2 Các loại rủi ro kiểm toán
Rủi ro tiềm tàng: “là rủi ro tiềm ẩn, vốn có do khả năng từng nghiệp
vụ, từng khoản mục trong Báo cáo tài chính chứa đựng sai sót trọng yếu khitính riêng rẽ hoặc tính gộp, mặc dù có hay không hệ thống kiểm soát nội bộ”
(Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 400: Đánh giá rủi ro và kiểm soát nội bộ) Chẳng hạn như doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực có sự thay đổi
nhanh về kỹ thuật rất có thể dẫn đến khả năng có sai sót cao ở khoản mụchàng tồn kho trên Báo cáo tài chính do không lập dự phòng giảm giá đầy đủđối với những hàng hóa bị lỗi thời; hay khoản mục tiền trên Báo cáo tài chínhthường có khả năng sai sót cao do tiền là loại tài sản nhạy cảm với gian lận
Mức độ rủi ro tiềm tàng phụ thuộc vào đặc điểm tình hình kinh doanhcủa khách thể kiểm toán, loại hình kinh doanh và cả năng lực nhân viên củakhách thể kiểm toán Kiểm toán viên không tạo ra và cũng không kiểm soátrủi ro tiềm tàng mà họ chỉ đánh giá chúng Việc đánh giá rủi ro tiềm tàng cóthể được thực hiện từ nhiều nguồn khác nhau như từ cuộc kiểm toán năm
Trang 18trước hay từ những tìm hiểu về ngành nghề kinh doanh, chính sách kế toán,tài chính của khách thể kiểm toán.
Đánh giá rủi ro tiềm tàng có ý nghĩa vô cùng quan trọng vì trên cơ sở
đó kiểm toán viên dự kiến những công việc, thủ tục kiểm toán sẽ được thựchiện đối với các khoản mục, nghiệp vụ trọng yếu trên Báo cáo tài chính
Rủi ro kiểm soát: “là rủi ro xảy ra sai sót trọng yếu trong từng khoản
mục, nghiệp vụ trong Báo cáo tài chính khi tính riêng rẽ hoặc tính gộp mà
hệ thống kế toán và hệ thống kiểm soát nội bộ không ngăn ngừa hết hoặc
không phát hiện và sửa chữa kịp thời” (Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số
400: Đánh giá rủi ro và kiểm soát nội bộ) Ví dụ như: một hệ thống kiểm
soát nội bộ tốt vẫn có thể gặp sai sót khi hệ thống xây dựng quá phức tạp,luân chuyển nhân sự nhiều hoặc thiếu đào tạo nhân viên… Môi trườngkiểm soát thường thể hiện ý chí, quan điểm, nhận thức, hành động của nhàquản lý đơn vị vì vậy cần được xem xét kỹ lưỡng Đối với các doanhnghiệp xử lý số liệu bằng phương pháp điện tử, rủi ro kiểm toán là cao nếudoanh nghiệp không kiểm soat tốt được quy trình xử lý số liệu từ khâunhập số liệu, thiết kế chương trình phần mềm, bảo mật thông tin…
Như vậy, cũng như rủi ro tiềm tàng, đối với rủi ro kiểm soát, kiểmtoán viên cũng không tạo ra và kiểm soát chúng mà chỉ đánh giá chúng đểđưa ra mức rủi ro kiểm soát dự kiến
Rủi ro phát hiện: “là rủi ro xảy ra sai sót trọng yếu trong từng khoản
mục, nghiệp vụ trong Báo cáo tài chính khi tính riêng rẽ hoặc tính gộp màtrong quá trình kiểm toán, kiểm toán viên và công ty kiểm toán không phát
hiện ra được”.(Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 400: Đánh giá rủi ro và
kiểm soát nội bộ) Rủi ro phát hiện có nguyên nhân bắt nguồn trực tiếp từ
Trang 19thực hiện Ví dụ như: rủi ro phát hiện sẽ giảm xuống nếu kiểm toán viên mởrộng phạm vi kiểm tra, tăng cường kích cỡ của các thử nghiệm hay tăng cácthủ tục kiểm tra chi tiết với các số dư hoặc nghiệp vụ.
Khác với rủi ro tiềm tàng và rủi ro kiểm soát, kiểm toán viên phải cótrách nhiệm phát hiện các thủ tục thu thập các bằng chứng kiểm toán nhằmquản lý và kiểm soát đối với rủi ro phát hiện
1.1.3 Mối quan hệ giữa trọng yếu và rủi ro kiểm toán
Trọng yếu và rủi ro kiểm toán có mối quan hệ rất chặt chẽ với nhau Đó
là mối quan hệ tỷ lệ nghịch Mức trọng yếu càng cao thì rủi ro kiểm toán càngthấp và ngược lại nếu mức trọng yếu có thể chấp nhận được giảm xuống thìrủi ro kiểm toán sẽ tăng lên vì khi đó giá trị sai sót có thể bỏ qua giảm xuống.Mối quan hệ này có ý nghĩa rất quan trọng trong việc xác định nội dung, lịchtrình và phạm vi của các thủ tục kiểm toán sẽ áp dụng
Không những thế cả trọng yếu và rủi ro kiểm toán đều ảnh hưởng đếntính đầy đủ của bằng chứng kiểm toán cần thu thập Đó là mối quan hệ tỷ lệthuận: nếu mức độ trọng yếu và mức độ rủi ro kiểm toán càng cao thì sốlượng bằng chứng kiểm toán cần thu thập càng nhiều
Số lượng bằng chứng kiểm toán sẽ phải nhiều lên khi kiểm toán cáckhoản mục có tính trọng yếu cao Chẳng hạn, khi kiểm toán một đơn vị sảnxuất thì số lượng bằng chứng kiểm toán cần thu thập để đạt được mục tiêukiểm toán đối với hàng tồn kho bao giờ cũng phải lớn hơn so với số lượngbằng chứng cần thu thập cho khoản trả trước Và cũng tương tự như với tínhtrọng yếu, thông thường số lượng bằng chứng kiểm toán cần thu thập sẽ tănglên trong những trường hợp có nhiều khả năng sai phạm
Trang 20Bảng 1.1: Các mối quan hệ giữa của rủi ro kiểm toán với bằng chứng
phải thu thập
Trường
hợp
Rủi ro kiểm toán
Rủi ro tiềm tàng
Rủi ro kiểm soát
Rủi ro phát hiện
Số lượng bằng chứng cần thu thập
4 Trung bình Trung bình Trung bình Trung bình Trung bình
5 Cao Thấp Trung bình Trung bình Trung bình
Nguồn: “Kiểm toán” - AlvinArren, sách dịch, tr194.
1.2.QUY TRÌNH ĐÁNH GIÁ TRỌNG YẾU VÀ RỦI RO KIỂM TOÁN TRONG KIỂM TOÁN BÁO CÁO TÀI CHÍNH
1.2.1. Cơ sở đánh giá
1.2.1.1. Đối với tính trọng yếu
Như ta đã biết việc đánh giá tính trọng yếu có ý nghĩa như thế nào đốivới một cuộc kiểm toán Muốn đánh giá được tính trọng yếu ta thường phảidựa vào trước hết chính là nội dung hàm chứa bên trong khái niệm trọng yếu,
đó là quy mô và bản chất của đối tượng Đây cũng là hai cơ sở quan trọngnhất khi đánh giá trọng yếu
Khi đánh giá tính trọng yếu ngoài việc phải xem xét quy mô tuyệt đốicủa sai phạm mà còn phải chú ý đến quy mô tương đối của nó, tức là mốiquan hệ của nó với các đối tượng khác Trong toàn bộ đối tượng kiểm toánbao giờ cũng có những nội dung, nghiệp vụ, khoản mục quan trọng hơn, đòihỏi tập trung nhiều hơn Đây chính là mặt bản chất của vấn đề cần xem xét
Ngoài ra, khi đánh giá tính trọng yếu ta cũng cần chú ý đến những tiêuchí khác nữa như mục tiêu kiểm toán cụ thể, tính không chắc chắn của vấn đềxem xét, tính chất thường xuyên hay không thường xuyên của nghiệp vụ,…
Trang 21Đối với rủi ro kiểm toán: cơ sở để đánh giá rủi ro chính là các yếu tốbao hàm trong mỗi loại rủi ro
Rủi ro tiềm tàng là rủi ro tồn tại sai sót trọng yếu không kể đến hoạtđộng kiểm soát nội bộ và kiểm toán, vì vậy, cơ sở đánh giá là những tồn tạitiềm tàng thuộc về bản chất của đối tượng như: đặc điểm kinh doanh củakhách hàng, công việc ngành nghề kinh doanh, bản chất hệ thống kế toán…
Rủi ro kiểm soát là khả năng tồn tại sai sót trọng yếu khi đã kể đến hiệulực của hệ thống kiểm soát nội bộ, vì vậy, cơ sở để tiến hành đánh giá chính là
bộ máy kế toán, hệ thống Kiểm soát nội bộ Đánh giá rủi ro kiểm soát chính làquá trình đánh giá cách thiết kế, tính liên tục và hiệu quả hoạt động của hệ thốngKiểm soát nội bộ trong việc ngăn ngừa và phát hiện các sai sót nghiêm trọng
Rủi ro phát hiện là rủi ro mà các kiểm toán viên không phát hiện ra cácsai sót nghiêm trọng trong quá trình kiểm toán, vì vậy, cơ sở đánh giá nóchính là việc thực hiện các bước kiểm toán, phạm vi tiến hành kiểm toán và
sự tuân thủ các Chuẩn mực kiểm toán của kiểm toán viên
Đối với rủi ro tài khoản: để lựa chọn cơ sở cho việc đánh giá rủi ro tàikhoản, cần quan tâm đến mối quan hệ chặt chẽ giữa trọng yếu và rủi ro Mốiquan hệ đó thể hiện ngay trong khái niệm rủi ro kiểm toán: “rủi ro kiểm toán
là rủi ro mà kiểm toán viên mắc phải khi đưa ra ý kiến chấp nhận không thíchhợp về Báo cáo tài chính khi vẫn tồn tại những sai sót trọng yếu” Trong mọicuộc kiểm toán thì trọng yếu và rủi ro có quan hệ tỷ lệ nghịch với nhau Khikiểm toán viên đánh giá là có nhiều khoản mục trọng yếu trên Báo cáo tàichính và cần tiến hành kiểm tra, xem xét nhiều khoản mục, nghiệp vụ để rủi
ro kiểm toán thấp, nghĩa là khả năng còn tồn tại những sai sót trọng yếu làthấp Ngược lại, khi kiểm toán viên đánh giá là có ít hơn các khoản mục trọngyếu thì sẽ có ít hơn các khoản mục, nghiệp vụ phải kiểm tra, xem xét thì rủi rocòn tồn tại những sai sót trọng yếu là lớn hơn
Trang 22Khi lập kế hoạch kiểm toán, kiểm toán viên phải xem những nhân tố cóthể làm phát sinh những sai sót trọng yếu trong Báo cáo tài chính Đánh giácủa kiểm toán viên về mức trọng yếu liên quan đến số dư các tài khoản cụ thể
và các loại nghiệp vụ, giúp họ xác định được các khoản mục nào cần kiểm tra
và nên áp dụng phương pháp chọn mẫu hay áp dụng các thủ tục phân tích.Điều này giúp kiểm toán viên lựa chọn được những thủ tục kiểm toán, kết hợpcác thủ tục kiểm toán đó với nhau có thể sẽ giảm được rủi ro kiểm toán đếnmột mức có thể chấp nhận được
1.2.2. Đánh giá trọng yếu và rủi ro kiểm toán trong giai đoạn lập kế hoạch kiểm
toán
1.2.2.1. Đánh giá trọng yếu trong giai đoạn lập kế hoạch kiểm toán
Việc đánh giá thế nào là trọng yếu là một công việc mang tính xét đoánnghề nghiệp của kiểm toán viên, được tiến hành trong suốt cuộc kiểm toán, từkhâu lập kế hoạch cho đến khâu kết thúc Nói chung, quy mô sai sót là mộtnhân tố quan trọng để kiểm toán viên xem xét các sai sót có trọng yếu haykhông Tuy nhiên, khái niệm trọng yếu bao gồm hai yếu tố của sai phạm vềquy mô và bản chất nên mặc dù thông thường, kiểm toán viên lập kế hoạchkiểm toán để tìm ra các sai sót nghiêm trọng về mặt định lượng, nhưng trênthực tế, kiểm toán viên phải đánh giá, xét đoán cả về định lượng và định tínhcủa bất cứ sai phạm nào phát hiện ra Trong khi đề cập đến những sai sót cóthể có, kiểm toán viên cần xét vấn đề trọng yếu ở mức độ tổng thể cũng nhưtrong mối quan hệ với các số dư tài khoản cá biệt khác và sự thể hiện trên Báocáo tài chính Tính trọng yếu cần phải được đặc biệt xem xét ở hai giai đoạntrong cuộc kiểm toán: lập kế hoạch kiểm toán khi kiểm toán viên quyết địnhcần tiến hành những thủ tục kiểm toán nào, xác định thời gian và phạm vi của
Trang 23thủ tục kiểm toán đó, sau đó là khâu rà soát lại, khi kiểm toán viên đánh giáảnh hưởng của tất cả các sai sót.
Lập kế hoạch kiểm toán bao gồm việc xác định mục tiêu, phạm vi, thờihạn và tính chất của các thủ tục kiểm toán,…, trong đó có việc thiết lập mộtmức trọng yếu có thể chấp nhận được, cho phép kiểm toán viên phát hiện racác sai sót trọng yếu ở giai đoạn thực hiện kiểm toán, việc đánh giá trọng yếu
có thể khác so với giai đoạn chuẩn bị, có thể do sự thay đổi hoàn cảnh vàcũng có thể do kiểm toán viên thu thập thêm những hiểu biết về khách hàngcủa mình Cụ thể, sau khi thiết lập được mức trọng yếu có thể chấp nhậnđược, kiểm toán viên tiến hành các thủ tục kiểm toán theo kế hoạch để pháthiện các sai phạm, sau đó áp dụng mức trọng yếu đã xây dựng để đánh giáảnh hưởng của các sai phạm đó, từ đó đề xuất các biện pháp xử lý Để đánhgiá mức độ trọng yếu, quy mô của các khoản mục, nghiệp vụ không chỉ xét vềcon số tuyệt đối mà phải xét trong tương quan với toàn bộ đối tượng kiểmtoán Về định lượng, đó là những tỷ lệ của các khoản mục, nghiệp vụ so vớimột cơ sở để tính toán như: tổng tài sản, lợi nhuận trước thuế,…Tuỳ quan hệ
cụ thể với đối tượng cụ thể của kiểm toán, có thể tính riêng biệt hay cộng dồncác khoản mục, nghiệp vụ cụ thể hay các sai sót có liên quan Tính trọng yếu,nếu đánh giá về quy mô tương đối, có ba mức độ khác nhau để so sánh:
Quy mô nhỏ: không trọng yếu
Thông thường, một khoản mục, một loại nghiệp vụ luôn có quy mô nhỏtrên Bảng Cân đối kế toán hay Báo cáo Kết quả hoạt động kinh doanh thì việcphản ánh đúng hay sai nghiệp vụ này không ảnh hưởng đến quy mô chungtrên đối tượng kiểm toán và từ đó không ảnh hưởng đến nhận thức về đốitượng này cùng những quyết định đưa ra trên cơ sở đã được kiểm toán Cáckhoản mục, nghiệp vụ này cũng không thể hiểu một cách bất biến, chẳng hạn,một khoản mục vật liệu phụ có thể không trọng yếu trong sản xuất mặt hàng
Trang 24này nhưng lại trọng yếu trong việc sản xuất mặt hàng khác, có thể trọng yếutrong thời kỳ này nhưng không trọng yếu trong thời kỳ trước,…
Quy mô lớn nhưng chưa đủ mức quyết định nhận thức về đối tượng: có thể không trọng yếu
Thông thường, một khoản mục có quy mô lớn sẽ ảnh hưởng đến nhậnthức về tình hình tài chính của đơn vị, và từ đó ảnh hưởng đến các quyết địnhđược đưa ra Tuy nhiên, không phải lúc nào hậu quả này cũng như nhau.Chẳng hạn, khoản mục hàng hoá thường có quy mô khá lớn nhưng sai lệchcủa nó (nếu có) là nhỏ không ảnh hưởng đến số tổng cộng của Bảng Cân đối
kế toán Bởi vậy nếu đối tượng trực tiếp của cuộc kiểm toán là bảng này haytoàn bộ hệ thống bảng tổng hợp tài chính thì kiểm toán viên vẫn có thể thựchiện chức năng xác minh của mình Một ví dụ khác, người sử dụng có thểquyết định sai về cung ứng hay vay tiền, thế chấp,…, nhưng việc đó lại khôngđặt ra trong mục tiêu kiểm toán Báo cáo tài chính nhưng nghiệp vụ loại này sẽ
là trọng yếu trong kiểm toán nghiệp vụ vật tư hay mua hàng,… Vì vậy, trong
tổ chức kiểm toán phải giải quyết nhiều vấn đề liên quan và mối quan hệ vớinhững người quan tâm
Quy mô lớn, đủ quyết định bản chất đối tượng kiểm toán: trọng yếu
Các khoản mục, nghiệp vụ có quy mô lớn được xác định trong tươngquan với đối tượng kiểm toán, song trong thực tế cũng có thể làm rõ hơntrong tương quan với các khoản mục, nghiệp vụ quy mô nhỏ và cả với việcthực hiện nguyên tắc trọng yếu trong kế toán
Nếu đánh giá trọng yếu trên phương diện tính hệ trọng của các nghiệp
vụ hay khoản mục thì các khoản mục được coi là trọng yếu thường bao gồm:
Trang 25• Các khoản mục, nghiệp vụ có gian lận hoặc chứa đựng khả nănggian lận như: các nghiệp vụ đấu thầu và giao thầu, nghiệp vụ thanh lý tài sản,nghiệp vụ cố ý bỏ ngoài sổ sách, nghiệp vụ sửa chữa sổ sách, nghiệp vụ xảy
ra vào ngày cuối kỳ kế toán,…
• Các khoản mục, nghiệp vụ có sai sót hệ trọng: các khoản mục,nghiệp vụ có quy mô sai sót lớn hoặc có chênh lệch nhiều với các kỳ trước,các sai sót lặp đi lặp lại nhiều lần, các khoản mục, nghiệp vụ có ảnh hưởngnghiêm trọng đến kỳ sau,…
Theo phương pháp vận dụng đánh giá trọng yếu được đề cập trong
“Auditing” của tác giả W.Morley Lemon, Alvin A.Arens, Jame K.Loebbeckemột phương pháp được công nhận phổ biến thì vận dụng đánh giá trọng yếutrong một cuộc kiểm toán bao gồm 5 bước cơ bản: (1) Ước lượng sơ bộ banđầu, (2) Phân bổ ước lượng ban đầu cho các bộ phận, (3) Ước tính tổng số saisót trong từng bộ phận, (4) Ước tính sai sót kết hợp, (5) So sánh sai số kết hợpvới ước lượng ban đầu Trong đó, hai bước đầu tiên được thực hiện trong giaiđoạn lập kế hoạch kiểm toán, ba bước sau được thực hiện trong giai đoạn thựchiện kiểm toán
Trang 26Các bước trong quá trình vận dụng tính trọng yếu được thể hiện ở sơ đồ sau:
Nguồn: “Kiểm toán” - Alvin Arren, sách dịch, tr176.
Bước 1: Ước lượng ban đầu về tính trọng yếu
Nguồn: “Kiểm toán”, Alvin Arren, sách dịch
Bước 1: Ước lượng sơ bộ về tính trọng yếu
Mức ước lượng ban đầu về tính trọng yếu là lượng tối đa mà kiểm toánviên tin rằng ở mức đó các Báo cáo tài chính có thể bị sai lệch nhưng vẫnchưa ảnh hưởng đến các quyết định của người sử dụng thông tin tài chính.Nói cách khác đó chính là những sai sót có thể chấp nhận được đối với toàn
bộ Báo cáo tài chính
Ở mức độ tổng thể của Báo cáo tài chính, kiểm toán viên phải ước tínhtoàn bộ sai sót có thể chấp nhận được để đảm bảo rằng Báo cáo tài chínhkhông có các sai lệch trọng yếu Mức trọng yếu tổng thể này thường đượctính bằng một tỷ lệ phần trăm trên tài sản, doanh thu hoặc lợi nhuận Thôngthường các cuộc kiểm toán diễn ra trước ngày kết thúc niên độ kế toán nêncác chỉ tiêu chủ yếu trên Báo cáo tài chính như doanh thu, lợi nhuận… chưaxác định được Vì thế các kiểm toán viên thường phải ước lượng các chỉ tiêu
Bước 1 Ước lượng sơ bộ về tính trọng yếu
Bước 2 Phân bổ ước lượng ban đầu về tính trọng yếu cho các bộ phận
Bước 3 Ước tính tổng số sai trong bộ phận
Bước 4 Ước tính sai số kết hợp
Bước 5
So sánh sai số tổng hợp ước tính với ước lượng ba đầu hoặc xem xét lại ước lượng ban đầu về tính trọng yếu
Lập kế hoạchphạm vi củacác khảo sát
Đánh giácác kết quả
Trang 27này một cách hợp lý để làm cơ sở xác lập mức trọng yếu Người ta thường sửdụng bảng tính sau để tính ước lượng trọng yếu ban đầu:
Bảng 1.2: Bảng tính mức ước lượng ban đầu về tính trọng yếu
Cơ sở tính
Ước lượng ban đầu về tính trọng yếu
Nguồn: “Kiểm toán” - Alvin Arren, sách dịch, tr179.
Đối với từng khoản mục, mức trọng yếu chính là sai lệch tối đa đượcphép của khoản mục Số tiền này được tính dựa trên mức trọng yếu tổng thểcủa Báo cáo tài chính Việc phân bổ cụ thể cho từng khoản mục còn tùy thuộcvào chính sách của từng công ty Tuy nhiên dù áp dụng phương pháp nào thìkiểm toán viên vẫn thường dựa trên kinh nghiệm của mình về đơn vị cũngnhư đánh giá khả năng sai sót và chi phí thực hiện kiểm tra đối với khoản mục
để xác lập mức trọng yếu cho khoản mục đó
Nhìn chung, dù ở mức độ nào thì việc xác lập mức trọng yếu cũng làmột công việc mang tính xét đoán nghề nghiệp của kiểm toán viên và mứcước lượng này có thể thay đổi bất cứ lúc nào trong suốt cuộc kiểm toán nếukiểm toán viên nhận thấy sự thay đổi ở một trong các yếu tố được dùng để xácđịnh mức ước lượng ban đầu hoặc đơn thuần chỉ do một quyết định của kiểmtoán viên cho rằng mức ước lượng ban đầu là quá lớn hoặc quá nhỏ
Kiểm toán viên cần chú ý những yếu tố ảnh hưởng sau khi xây dựngmức ước lượng ban đầu về tính trọng yếu vì nó có thể có tác động lớn đến sựphán xét của kiểm toán viên:
- Vì tính trọng yếu là một khái niệm tương đối hơn là tuyệt đối và gắn liền với
quy mô của khách hàng nên việc xác nhận một mức ước lượng ban đầu về
Trang 28tính trọng yếu cho tất cả các khách hàng là điều không thể thực hiện được.Với cùng một mức quy mô, ở công ty này có thể là trọng yếu nhưng ở công tykhác lại chỉ là một con số nhỏ.
- Yếu tố định lượng của tính trọng yếu: Quy mô sai phạm thường được xem là
một yếu tố quan trọng để xác định sai phạm đó có trọng yếu hay không.Chính ví vậy, việc có được một cơ sở để đánh giá một sai phạm có trọng yếuhay không là một điều hết sức cần thiết Trên thực tế người ta thường dùngcác chỉ tiêu như: thu nhập trước thuế, tài sản lưu động, tổng vốn dài hạn, nợngắn hạn… để làm cơ sở đánh giá tính trọng yếu trong đó thu nhập trước thuế
là chỉ tiêu quan trọng nhất do đây được xem là khoản mục mang tính thôngtin then chốt đối với người sử dụng
- Yếu tố định tính của tính trọng yếu: Bên cạnh việc xem xét yếu tố định lượng
của tính trọng yếu, kiểm toán viên nên xem xét cả yếu tố định tính Vì có một
số loại sai phạm đối với người sử dụng này lại quan trọng hơn so với nhữngngười sử dụng khác mặc dù có cùng quy mô sai phạm
Những yếu tố liên quan đến bản chất của sai phạm cần phải được xemxét khi tiến hành ước lượng ban đầu về tính trọng yếu:
- Các gian lận thường được xem là nghiêm trọng hơn các sai sót khi có cùng
quy mô tiền tệ vì nó thường làm ta nghĩ đến tính trung thực và độ tin cậy củaBan giám đốc hay những người có liên quan
- Các sai phạm có quy mô nhỏ nhưng lặp đi lặp lại hoặc gây ra tác động dây
chuyền ảnh hưởng nghiêm trọng đến thông tin trên Báo cáo tài chính thì luônđược xem là sai phạm trọng yếu vì đây là sai phạm mang tính hệ thống
- Các sai phạm làm ảnh hưởng đến thu nhập luôn là sai phạm trọng yếu bất kể
quy mô của sai phạm này
Trang 29 Bước 2: Phân bổ ước lượng ban đầu về tính trọng yếu cho các bộ phận.
Sau khi kiểm toán viên đã có được mức ước lượng ban đầu về tínhtrọng yếu cho toàn bộ Báo cáo tài chính, kiểm toán viên cần phân bổ mức ướclượng này cho từng khoản mục trên Báo cáo tài chính Đó cũng chính là sai số
có thể chấp nhận được đối với từng khoản mục Việc phân bổ này là hoàntoàn cần thiết do bằng chứng thường được thu thập theo các bộ phận hơn làtheo toàn bộ các Báo cáo tài chính nói chung Nó sẽ cho ta những bằng chứngthích hợp ở mức chi phí thấp nhất mà vẫn có thể đảm bảo tổng hợp sai sóttrên Báo cáo tài chính không vượt quá mức ước lượng ban đầu về trọng yếu.Thông thường kiểm toán viên tiến hành phân bổ mức ước lượng cho các tàikhoản trên Bảng cân đối kế toán thay vì cho các khoản mục trên Báo cáo Kếtquả kinh doanh Nguyên nhân là do nguyên tắc ghi sổ kép khiến những sai sóttrên Báo cáo Kết quả kinh doanh đều ảnh hưởng tương tự như trên Bảng cânđối kế toán và do hầu hết các thủ tục kiểm toán tập trung vào các tài khoảntrên Bảng cân đối kế toán
Việc phân bổ ước lượng này được tiến hành cho cả hai hướng sai sót:sai sót thừa (số tiền trên báo cáo vượt quá số tiền thực tế) và sai sót thiếu (sốtiền trên báo cáo nhỏ hơn số tiền thực tế) Trên thực tế việc dự đoán nhữngkhoản mục nào có chứa sai sót là điều rất khó nên nó thường do những kiểmtoán viên có nhiều kinh nghiệm thực hiện Qua kinh nghiệm chuyên môn củamình, kiểm toán viên có thể phát hiện khả năng sai sót của một khoản mụckhông vượt quá một số tiền cụ thể nào đó, đó chính là mức ước lượng ban đầuđược phân bổ cho khoản mục đó Tương tự, kiểm toán viên xem xét khả năng
và chi phí thu thập bằng chứng kiểm toán đối với mỗi khoản mục Các khoảnmục mà việc thu thập bằng chứng đòi hỏi chi phí lớn về mặt thời gian và tiềnbạc, đặc biệt là các khoản mục không có cơ sở để dự đoán và khó có khả năng
Trang 30thu thập đầy đủ bằng chứng, thì mức phân bổ là cao hơn so với các khoảnmục khác Có thể minh hoạ cách trình bày bước phân bổ này như sau (cho cáctài khoản trong mục tài sản lưu động).
Bảng 1.3: Bảng phân bổ mức trọng yếu ban đầu cho các khoản mục
Tài khoản Sai số có thể chấp nhận
Sai số thừa Sai số thiếuTiền
Các khoản phải thuHàng tồn khoChi phí trả trướcTài sản cố định
…
Ước lượng ban đầu về tính trọngyếu
Nguồn: “Kiểm toán” - Alvin Arren, sách dịch, tr180.
1.2.2.2. Đánh giá rủi ro kiểm toán trong giai đoạn lập kế hoạch kiểm toán
Cũng như đánh giá trọng yếu, đánh giá rủi ro trong giai đoạn lập kếhoạch là một bước công việc hết sức quan trọng Một trong những cáchthường được sử dụng để đánh giá rủi ro trong giai đoạn lập kế hoạch là dùng
mô hình rủi ro kiểm toán
Như đã trình bày ở phần trên, rủi ro kiểm toán là rủi ro mà kiểm toánviên kết luận Báo cáo tài chính được trình bày trung thực và hợp lý và do đócông bố một ý kiến chấp nhận toàn phần, trong khi, thực tế thì chúng vẫn cònchứa sai sót trọng yếu Rủi ro kiểm toán bao gồm ba loại rủi ro: rủi ro tiềmtàng, rủi ro kiểm soát và rủi ro phát hiện Mối quan hệ giữa ba loại rủi ro trênđược thể hiện qua mô hình rủi ro kiểm toán sau:
Trang 31
Trong đó: AR (Audit Risk): Rủi ro kiểm toán
IR (Inherent Risk): Rủi ro tiềm tàng
CR (Control Risk): Rủi ro kiểm soát
DR (Detected Risk): Rủi ro phát hiện
Theo chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 400 (VSA 400): mối quan hệgiữa các loại rủi ro được khái quát theo mô hình ma trận sau:
Bảng 1.4: Bảng đánh giá rủi ro phát hiện
Đánh giá của kiểm toán viên về
rủi ro kiểm soát
Nguồn: Kiểm toán căn bản HVTC.
Mô hình rủi ro kiểm toán được dùng khi lập kế hoạch kiểm toán theomột trong hai cách sau hoặc cả hai cách
Cách thứ nhất (1): Mô hình rủi ro kiểm toán được dùng để đánh giá sự
hợp lý của kế hoạch kiểm toán
Cách thứ hai (2): Mô hình này được dùng để xác định rủi ro phát hiện
và số lượng bằng chứng cần thu thập
Cách thứ ba (3): Một số kiểm toán viên sử dụng mô hình rủi ro kiểm
toán là chỉ để tự nhắc nhở mối quan hệ giữa các loại rủi ro với nhau và mốiquan hệ của chúng tới bằng chứng kiểm toán
DR =
AR
(2)
IR x CR
Trang 32Mức độ rủi ro kiểm toán mong muốn (AR) là rủi ro được xác định theochủ quan của kiểm toán viên khi kiểm toán viên cho rằng Báo cáo tài chínhkhông được trình bày trung thực sau khi cuộc kiểm toán đã kết thúc và đi đếnmột nhận xét chấp nhận hoàn toàn Khi kiểm toán viên chấp nhận một tỷ lệrủi ro kiểm toán mong muốn thấp hơn tức là kiểm toán viên mong muốn đượcchắc chắn hơn rằng Báo cáo tài chính không có chứa các sai phạm trọng yếu.Mức rủi ro này được xác định dựa vào các yếu tố sau:
• Mức độ mà theo đó những người sử dụng bên ngoài tin vào các Báo cáo tàichính Khi những người sử dụng bên ngoài đặt nặng tin tưởng vào Báo cáo tàichính thì tỷ lệ rủi ro kiểm toán phải giảm xuống mới thích hợp Khi các Báocáo tài chính được tin tưởng nhiều, sự tác hại trên quy mô xã hội có thể xảy ranếu có một sai số đáng kể trên Báo cáo tài chính không bị phát hiện Chi phícủa bằng chứng tăng thêm có thể được biện minh dễ dàng hơn nhiều khi sựthiệt hại về phía người sử dụng do các sai sót trọng yếu là rất lớn Một số yếu
tố chỉ ra mức độ mà theo đó các Báo cáo tài chính được người sử dụng bênngoài tin tưởng là:
- Quy mô của công ty khách hàng: Khách hàng có quy mô càng lớn thì các Báo
cáo tài chính càng được sử dụng rộng rãi Quy mô của khách hàng được đolường bằng tổng thu nhập hoặc tổng tài sản sẽ có ảnh hưởng tới rủi ro kiểmtoán
- Sự phân phối quyền sở hữu: Báo cáo tài chính của các công ty sở hữu công
cộng thường được nhiều người sử dụng rộng rãi hơn của các công ty có quyền
sở hữu hẹp hơn
- Bản chất và quy mô của công nợ: Khi các báo cáo có nhiều công nợ thì được
quan tâm nhiều hơn bởi các chủ nợ thực tế và tiềm năng
• Khả năng khách hàng sẽ gặp khó khăn tài chính sau khi báo cáo kiểm toán
Trang 33khi cuộc kiểm toán kết thúc thì khách hàng đó có một cơ hội lớn hơn là đượcyêu cầu kiểm toán viên bảo vệ chất lượng của cuộc kiểm toán so với khi công
ty không gặp khó khăn gì về tài chính Đối với kiểm toán viên việc dự đoánthất bại về mặt tài chính trước khi nó xảy ra là điều khó khăn, nhưng nhữngyếu tố sau đây sẽ là dấu hiệu cho kiểm toán viên dự đoán trước được những
sự kiện này:
- Khả năng hoán chuyển thành tiền mặt
- Các khoản lãi lỗ trong các năm trước
- Các phương pháp làm gia tăng quá trình tài trợ
- Bản chất hoạt động của công ty khách hàng
- Năng lực của ban quản trị
Ngoài việc đánh giá rủi ro kiểm toán mong muốn, kiểm toán viên cầntiến hành đánh giá từng loại rủi ro
Rủi ro tiềm tàng: là khả năng từng nghiệp vụ, từng khoản mục
trong Báo cáo tài chính chứa đựng sai sót trọng yếu khi tính riêng rẽ hoặc tínhgộp, mặc dù có hay không hệ thống kiểm soát nội bộ
Dựa trên mô hình kiểm toán, rủi ro tiềm tàng có mối quan hệ chặt chẽvới rủi ro kiểm soát và rủi ro phát hiện Việc đưa rủi ro tiềm tàng vào mô hìnhkiểm toán là một việc làm hết sức quan trọng của kiểm toán Nó thể hiện khảnăng dự đoán của kiểm toán viên về nơi nào có nhiều khả năng sai sót nhất và
ít sai sót nhất trên Báo cáo tài chính
Để đánh giá rủi ro tiềm tàng, người ta dựa vào các yếu tố sau:
• Bản chất công việc kinh doanh của khách hàng
• Tính liêm chính của Ban quản trị
• Động cơ của khách hàng
• Kết quả của các lần kiểm toán trước
Trang 34• Hợp đồng ban đầu với hợp đồng dài hạn
• Các bên đối tác có liên quan
• Các nghiệp vụ kinh tế không thường xuyên
• Phán xét cần thiết để ghi sổ chính xác các số dư tài khoản và các nghiệp vụkinh tế
• Tính nhạy cảm với sự tham ô
• Số lượng tiền của các số dư tài khoản
• Quy mô tổng thể
• Cấu tạo của tổng thể
• Quá trình đánh giá rủi ro tiềm tàng
Rủi ro kiểm soát: là loại rủi ro liên quan đến sự yếu kém của hệ
thống kiểm soát nội bộ Rủi ro kiểm soát là khả năng xảy ra các sai phạmtrọng yếu do hệ thống kiểm soát nội bộ của đơn vị khách hàng không hoạtđộng hoặc hoạt động không có hiệu quả do đó đã không phát hiện ra và ngănchặn các sai phạm này
Rủi ro kiểm soát được kiểm toán viên đánh giá đối với từng khoản mụctrên Báo cáo tài chính thông qua việc tìm hiểu hệ thống kiểm soát nội bộ củakhách hàng Muốn đánh giá được rủi ro kiểm soát, kiểm toán viên cần có một
sự hiểu biết nhất định về hệ thống kiểm soát nội bộ của công ty khách hàng,rồi sau đó mới đi vào xem xét việc nó hoạt động như thế nào
Rủi ro phát hiện: là khả năng xảy ra các sai sót hay gian lận trên Báo cáo tài
chính mà không được ngăn chặn hay phát hiện bởi hệ thống kiểm soát nội bộ
và cũng không được kiểm toán viên phát hiện trong suốt quá trình kiểm toán
Rủi ro phát hiện thường được xác định từ ba loại rủi ro: rủi ro kiểmtoán, rủi ro tiềm tàng và rủi ro kiểm soát căn cứ vào mô hình rủi ro kiểm toán
Trang 35nên rủi ro phát hiện và số lượng bằng chứng cần thu thập cũng thay đổi theođối với từng khoản mục.
Trong quá trình kiểm toán rủi ro phát hiện phát sinh do ảnh hưởng củacác nhân tố sau:
- Các bước kiểm toán không thích hợp, điều này thường xảy ra đối với những
kiểm toán viên mới, thực hiện không hợp lý quy trình kiểm toán cho mỗi phầnhành
- Phát hiện ra bằng chứng nhưng không nhận thức được sai sót nên thường đưa
ra kết luận sai về phần hành đó cũng như về Báo cáo tài chính
- Kiểm toán viên hoàn toàn không phát hiện ra sai sót do có sự thông đồng,
nhất trí bên trong doanh nghiệp làm sai các chính sách và chế độ do Ban giámđốc đề ra
1.2.3. Đánh giá trọng yếu và rủi ro kiểm toán trong giai đoạn thực hành kiểm
toán
Việc đánh giá trọng yếu và rủi ro kiểm toán không chỉ được thực hiệntrong giai đoạn lập kế hoạch kiểm toán mà còn cả trong giai đoạn thực hiệnkiểm toán
1.2.3.1. Đánh giá trọng yếu trong giai đoạn thực hành kiểm toán
Đối với tính trọng yếu, nó chính là ba bước sau cùng của mô hình đánhgiá trọng yếu đã trình bày ở trên:
Bước 3: Ước tính tổng sai sót trong từng bộ phận
Khi tiến hành kiểm toán từng khoản mục, bộ phận của Báo cáo tàichính, kiểm toán viên dựa trên những sai sót phát hiện được trong mẫu để ướctính sai sót của toàn bộ khoản mục, bộ phận Sai sót này được gọi là sai sótước tính, được so sánh với các sai sót có thể chấp nhận nhằm quyết định có bỏ
Trang 36qua hay không bỏ qua sai sót đó, hoặc phải tiến hành thêm các thủ tục kiểmtoán thích hợp.
Bước 4: Ước tính sai số kết hợp của Báo cáo tài chính
Trên cơ sở sai sót ước tính, kiểm toán viên tổng hợp sai sót ước tínhcủa tất cả các khoản mục trên Báo cáo tài chính
Bước 5: So sánh sai số ước tính tổng hợp với sai số ước lượng ban đầu
Sai số ước tính tổng hợp của toàn bộ Báo cáo tài chính sẽ được so sánhvới sai số ước lượng ban đầu về tính trọng yếu của toàn bộ Báo cáo tài chính.Việc so sánh này cho phép đánh giá toàn bộ các sai sót trong các khoản mục
có vượt quá giới hạn về mức trọng yếu chung của toàn bộ Báo cáo tài chínhkhông Kết hợp với việc so sánh sai số ước tính và sai sót có thể chấp nhận ởtừng khoản mục, kiểm toán viên sẽ quyết định lập báo cáo kiểm toán chấpnhận toàn phần, báo cáo loại trừ…
Khi đánh giá việc trình bày hợp lý Báo cáo tài chính, kiểm toán viênphải đánh giá xem liệu tổng tất cả các sai sót được phát hiện trong quá trìnhkiểm toán, nhưng chưa được sửa chữa có hợp thành một sai sót trọng yếu haykhông Tổng cộng những sai sót chưa được sửa chữa bao gồm những sai sót
cụ thể mà kiểm toán viên đã xác định, bao gồm cả ảnh hưởng của những saisót đã được phát hiện trong quá trình kiểm toán kỳ trước nhưng chưa đượcsửa chữa; những ước tính tối ưu của kiểm toán viên về những sai sót khác cóthể đã không được xác định cụ thể (những sai sót dự kiến)
Nếu kiểm toán viên kết luận rằng những sai sót có thể là trọng yếu thìcần có biện pháp giảm bớt rủi ro kiểm toán bằng cách tăng cường các thủ tụckiểm tra chi tiết hoặc yêu cầu khách hàng điều chỉnh lại Báo cáo tài chính
Trang 37theo các sai sót đã được xác định Nếu Ban Giám đốc quyết định không chấpnhận điều chỉnh Báo cáo tài chính và các thủ tục kiểm toán thực hiện thêmkhông cho phép kiểm toán viên kết luận rằng tổng sai sót chưa được sửa chữakhông hợp thành sai sót trọng yếu thì kiểm toán viên cần xem xét sửa đổi lại ýkiến nhận xét cho phù hợp Nếu, theo kiểm toán viên, tổng sai sót chưa đượcsửa chữa đang tiến đến gần mức trọng yếu thì kiểm toán viên phải xét xemliệu những sai sót chưa được phát hiện khi kết hợp với tổng sai sót chưa đượcsửa chữa có vượt quá mức trọng yếu hay không và cũng có thể thực hiện thêmcác thủ tục kiểm toán hoặc đề nghị các bút toán điều chỉnh Sau đó, như đãtrình bày ở mục trước, tuỳ thuộc vào thái độ Ban quản lý của khách hàng,kiểm toán viên quyết định loại ý kiến kiểm toán phù hợp.
1.2.3.2. Đánh giá rủi ro kiểm toán trong giai đoạn thực hành kiểm toán
Đối với rủi ro kiểm toán, trong giai đoạn thực hiện kiểm toán, kiểmtoán viên kiểm tra lại các đánh giá ban đầu về rủi ro kiểm toán thông qua việcđánh giá rủi ro phát hiện bằng cách xem xét kỹ các nội dung sau:
Tính chất của các thủ tục kiểm tra chi tiết: Chẳng hạn như cách kiểm
tra bằng thu thập những xác nhận trực tiếp từ bên thứ ba, độc lập với đơn vịthay vì kiểm tra nhằm thu thập các tài liệu nội bộ của đơn vị, hoặc kiểm trachi tiết cho phép trả lời cho một mục tiêu kiểm toán nào đó, cộng thêm vớinhững thủ tục phân tích
Thời hạn của các kiểm tra chi tiết: Ví dụ như thực hiện vào cuối kỳ kế
toán thay vì thực hiện vào thời điểm giữa kỳ
Phạm vi của các thủ tục kiểm toán chi tiết: Ví dụ như xác định một
mẫu kiểm tra chi tiết rộng hơn hoặc hẹp hơn
Việc đánh giá của kiểm toán viên về các thành phần của rủi ro kiểmtoán có thể thay đổi trong suốt quá trình thực hiện kiểm toán Chẳng hạn,trong quá trình kiểm tra chi tiết, kiểm toán viên có thể phát hiện ra những
Trang 38thông tin khác rất nhiều so với thông tin làm cơ sở ban đầu cho đánh giá rủi rokiểm toán Trong trường hợp này, kiểm toán viên sẽ thay đổi mức độ, tínhchất hoặc phạm vi các thủ tục kiểm tra chi tiết so với kế hoạch đã xây dựngban đầu cho phù hợp với đánh giá mới về rủi ro kiểm toán.
1.2.4 Đánh giá trọng yếu và rủi ro kiểm toán trong giai đoạn kết thúc kiểm
toán
Soát xét các sự kiện sau ngày khóa sổ để đánh giá những ảnh hưởng
của các sự kiện này tới kết quả kiểm toán
Đánh giá hiệu quả của hoạt động của hợp đồng;
Xem xét, đánh giá của khách hàng về nhân viên, chất lượng kiểm toán…
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG QUY TRÌNH ĐÁNH GIÁ TRỌNG YẾU VÀ RỦI RO KIỂM TOÁN TRONG KIỂM TOÁN BCTC TẠI CÔNG TY KIỂM
TOÁN COM.PT 2.1 KHÁI QUÁT VỀ CÔNG TY TNHH KIỂM TOÁN COM.PT
2.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển của công ty
Công ty TNHH Kiểm toán COM.PT được thành lập theo Giấy Chứngnhận Đăng ký kinh doanh Số 0101011751 lần đầu vào ngày 16/04/2001.Trụ sở chính của công ty đặt tại : Số 20, Ngõ 203 , Chùa Bộc , Đống Đa ,thành phố Hà Nội Tại thời điểm thành lập, COM.PT có 10 nhân viên Sauhơn mười năm hoạt động số lượng nhân viên của công ty đã tăng lên 40người; trong đó với 7 người có chứng chỉ CPA
Được sáng lập và điều hành bởi đội ngũ lãnh đạo và kiểm toán viên
Trang 39trong lĩnh vực kiểm toán và tư vấn cho các doanh nghiệp thuộc nhiều thànhphần kinh tế, các dự án quốc tế…hoạt động trong nhiều lĩnh vực khác nhautrong nền kinh tế, đội ngũ nhân viên của COM.PT được tham gia đào tạochuyên môn liên tục do Công ty cũng như Bộ Tài chính và Hội Kiểm toánviên hành nghề tổ chức Đây là những chương trình đào tạo mang tính hệthống cả về nghiệp vụ chuyên môn lẫn năng lực quản lý Do đó, COM.PTluôn cập nhật được những thay đổi của Chuẩn mực Kế toán, Chuẩn mựcKiểm toán cũng như những thay đổi về thuế, chính sách tài chính, các điềukhoản liên quan đến môi trường kinh doanh nói chung.
“Vì sự thành công của khách hàng và nhân viên trong công ty” là
quan điểm cung cấp dịch vụ của COM.PT cùng với mục tiêu phát triển là
“trở thành công ty dịch vụ chuyên ngành hàng đầu tại Việt Nam và khu vực”, Công ty Kiểm toán COM.PT cam kết cung cấp tới khách hàng các
dịch vụ chuyên ngành với chất lượng cao nhất và tham gia vào sự phát triểnbền vững của nền kinh tế Việt Nam
Bằng kinh nghiệm hoạt động trong thời gian làm việc tại một trongbốn hãng kiểm toán hàng đầu trên thế giới, với những dịch vụ cung cấp cho
khách hàng, COM.PT luôn đảm bảo nguyên tắc độc lập – khách quan –
trung thực – bí mật số liệu Là một công ty TNHH kinh doanh và cung cấp
dịch vụ thương mại, COM.PT đưa ra tiêu chí hoạt động dựa trên nhữngchuẩn mực đạo đức kiểm toán đồng thời tạo ra cho mình lợi thế so sánh,thu lợi nhuận
Hệ thống khách hàng của COM.PT được chia làm bốn nhóm chính:
Nhóm thứ nhất là các Tập đoàn kinh tế, Tổng công ty lớn của Việt Nam
Với những dịch vụ cung cấp, COM.PT tiến hành tìm hiểu và cập nhập đẩy
đủ những thông tin về khách hàng cũng như cân nhắc những rủi ro của hợpđồng kiểm toán Khách hàng lớn có thể đem tới cho COM.PT uy tín và
Trang 40doanh số nhưng cũng có thể lại trở thành hạn chế khi không kiểm soát đượcnhững rủi ro có thể xảy ra Vì vậy, với nhóm khách hàng này COM.PT đặcbiệt chú trọng việc đánh giá trọng yếu và rủi ro kiểm toán Khi đánh giákhách hàng, Công ty chỉ định những kiểm toán viên có năng lực và kinhnghiệm để có thể xem xét được bản chất của vấn đề hoặc vấn đề đang đượcđánh giá Liên quan đến các dịch vụ được cung cấp này, các nghiệp vụ,khoản mục được xem là trọng yếu (theo các kiểm toán viên có kinh nghiệmtại COM.PT) bao gồm: các nghiệp vụ thầu và giao thầu; các nghiệp vụ vềtiền mặt, các nghiệp vụ bất thường, các nghiệp vụ cố ý bỏ ngoài sổ sách…cũng như sự xem xét hoạt động của hệ thống kiểm soát nội bộ.
Nhóm khách hàng thứ hai là các công ty cổ phần (bao gồm công ty
cổ phần niêm yết và công ty đại chúng), công ty TNHH Tương tự với
nhóm khách hàng trên, COM.PT tiến hành đánh giá trọng yếu và rủi rokiểm toán Với những khách hàng mới, công việc đánh giá được tiến hànhmột cách thận trọng; với những khách hàng cũ đánh giá thông qua hồ sơcủa khách hàng được lưu tại Công ty và những thay đổi của khách hàng màcác kiểm toán viên đã thu thập được Tuy nhiên, những đánh giá chủ yếudựa trên kinh nghiệm của các kiểm toán viên chính, và tập trung nhiều ởbước chuẩn bị kiểm toán Ở bước thực hiện kiểm toán, các kiểm toán viênxem xét những chênh lệch so với kế hoạch kiểm toán chi tiết được lập ởbước chuẩn bị kiểm toán Kết thúc kiểm toán, các trưởng nhóm kiểm toán
có sự soát xét chéo trước khi phát hành báo cáo kiểm toán và thư quản lý.Theo đánh giá của các kiểm toán viên hàng đầu của COM.PT thì với nhómkhách hàng này trọng yếu kiểm toán thường dễ ước lượng theo quy mô,bản chất của sai phạm không nghiêm trọng, rủi ro kiểm toán không nhiều
Nhóm khách hàng thứ ba là các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước