Bên cạnh đó, sự cạnh tranh giữa các CTCK ngàycàng gay gắt trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế, đòi hỏi công ty phải tìmcho mình một kế hoạch, chiến lược kinh doanh phù hợp để nâng c
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Thị trường chứng khoán ra đời đã tạo nên thêm một kênh huy động vốn và
luân chuyển vốn mới cho nền kinh tế, đánh dấu một bước phát triển của nền kinh
tế đất nước TTCK hoạt động theo nguyên tắc trung gian Đảm đương vai tròtrung gian trên TTCK là các công ty chứng khoán Nhờ có các CTCK, hoạt độngmua bán chứng khoán của nhà đầu tư mới được đảm bảo an toàn, các nhà pháthành tiết kiệm được chi phí trong việc phát hành chứng khoán cũng như các hoạtđộng liên quan tới chứng khoán đã phát hành sau này Thông qua CTCK, cơquan quản lý cũng có thể theo dõi, quản lý các hoạt động diễn ra trên thị trường Trải qua hơn 4 năm hoạt động, công ty cổ phần chứng khoán Quốc tế ViệtNam (VIS) luôn năng động tìm ra hướng đi phù hợp với điều kiện thị trường,hoạt động kinh doanh an toàn, hiệu quả, tạo uy tín và niềm tin đối với kháchhàng, ngày càng khẳng định vị thế của mình trên TTCK
Tuy nhiên, có thể nói công ty cổ phần chứng khoán Quốc tế Việt Nam thực
sự vẫn chưa phát huy hết tiềm lực sẵn có, trong hoạt động kinh doanh vẫn gặpnhiều khó khăn, vướng mắc Bên cạnh đó, sự cạnh tranh giữa các CTCK ngàycàng gay gắt trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế, đòi hỏi công ty phải tìmcho mình một kế hoạch, chiến lược kinh doanh phù hợp để nâng cao hơn nữahiệu quả hoạt động kinh doanh chứng khoán của công ty
Nhận thức được tầm quan trọng của việc nâng cao hiệu quả hoạt động kinh
doanh của VIS, em đã lựa chọn đề tài chuyên đề thực tâp là :” Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh chứng khoán của công ty cổ phần chứng khoán Quốc tế Việt Nam”
2 Mục đích nghiên cứu
- Hệ thống hóa những vấn đề cơ bản về hoạt động và hiệu quả hoạt động
kinh doanh của CTCK;
Trang 2- Đánh giá thực trạng hoạt động và hiệu quả hoạt động kinh doanh của VIS;
- Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh
của VIS
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu là họat động kinh doanh chứng khoán của VIS
- Phạm vi nghiên cứu : hoạt động kinh doanh chứng khoán tại VIS trong
giai đoạn từ năm 2008 đến nay
4 Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu chuyên đề, phương pháp nghiên cứu được sử
dụng là phương pháp luận duy vật biện chứng, phương pháp thống kê và miêu tả,phương pháp điều tra, tổng hợp, phân tích, so sánh và đánh giá
5 Bố cục chuyên đề
Chuyên đề bao gồm 3 chương như sau:
- Chương 1: Những vấn đề cơ bản về công ty chứng khoán và hiệu quả
hoạt động kinh doanh của công ty chứng khoán
- Chương 2: Thực trạng hoạt động và hiệu quả họat động của công ty cổ
phần chứng khoán Quốc tế Việt Nam
- Chương 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh của công
ty cổ phần chứng khoán Quốc tế Việt Nam
Trang 3CHƯƠNG I:
NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ CÔNG TY CHỨNG KHOÁN VÀ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA CÔNG TY CHỨNG KHOÁN 1.1.NHỮNG VẤN ĐÊ CƠ BẢN VỀ CÔNG TY CHỨNG KHOÁN
1.1.1 Khái niệm và phân loại công ty chứng khoán
Thị trường chứng khoán (TTCK) là thị trường nơi các chứng khoán đượcphát hành và giao dịch, thông qua đó, một bộ phận vốn được huy động và luânchuyển trong nền kinh tế Thị trường chứng khoán là một bộ phận của Thịtrường tài chính, ở các nước có nền kinh tế thị trường phát triển, tổng giá trị củaThị trường chứng khoán luôn chiếm một tỷ trọng rất lớn trong tổng sản phẩmquốc nội (GDP) Chính vì vậy, việc đảm bảo tính công bằng, liên tục, an toàn vàtrật tự của Thị trường chứng khoán là rất quan trọng và một trong những biệnpháp hữu hiệu là sự ra đời của các Công ty chứng khoán
CTCK là tổ chức hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực chứng khoán thôngqua việc thực hiện hoạt động kinh doanh và cung cấp một hoặc một vài dịch vụchứng khoán với mục đích tìm kiếm lợi nhuận
Với vai trò là một tổ chức trung gian trên TTCK, CTCK được xây dựng vàphát triển rất đa dạng về loại hình và quy mô
- Căn cứ vào hình thức sở hữu vốn, CTCK tồn tại dưới hai hình thức làcông ty trách nhiệm hữu hạn và công ty cổ phần
Công ty trách nhiệm hữu hạn : bao gồm công ty trách nhiệm hữu hạn một
thành viên và công ty trách nhiệm từ hai thành viên trở lên Hình thái này có ưuđiểm là tính ổn định về mặt tổ chức Tuy nhiên, hình thức này có nhiều hạn chếnhư: không được phép phát hành cổ phiếu để tăng thêm vốn; việc tăng hay giảm
số lượng thành viên bị hạn chế bởi các quy định pháp luật và sự chấp thuận củacác thành viên hiện hữu trong công ty; việc chuyển nhượng vốn góp khó khăn;chế độ công bố thông tin rất hạn chế
Trang 4Công ty cổ phần: là doanh nghiệp trong đó vốn điều lệ được chia thành
nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần Người sở hữu cổ phần gọi là cổ đông củacông ty Cổ đông có thể là cá nhân hoặc tổ chức, tối thiểu là ba người và khônghạn chế tối đa Đây là loại hình có ưu điểm hơn hẳn loại hình công ty tráchnhiệm hữu hạn, cụ thể là công ty được phép huy động vốn từ cổ phiếu, do đó khảnăng tăng thêm vốn cho quá trình kinh doanh thuận lợi hơn; hình thức tổ chứcquản lý, chế độ báo cáo và công bố thông tin tốt hơn Tuy nhiên, đối với hìnhthái doanh nghiệp này thì tính ổn định về mặt tổ chức của công ty không caobằng công ty trách nhiệm hữu hạn
- Căn cứ vào mô hình tổ chức kinh doanh chứng khoán, có thể phân CTCKthành hai loại là mô hình CTCK đa năng và CTCK chuyên doanh
Mô hình CTCK đa năng: Theo mô hình này CTCK là một bộ phận cấu
thành của NHTM Theo mô hình này, NHTM cung ứng các dịch vụ tài chính rất
đa dạng và phong phú liên quan đến kinh doanh tiền tệ, kinh doanh chứng khoán
và các hoạt động kinh doanh khác trong lĩnh vực tài chính CTCK được tổ chứctheo mô hình này có ưu điểm và hạn chế sau:
+ Ưu điểm
NHTM kinh doanh nhiều lĩnh vực nên có thể giảm bớt được rủi ro hoạt
động kinh doanh chung, có khả năng chịu được các biến động lớn trên TTCK NHTM là tổ chức kinh doanh trong lĩnh vực tài chính, tiền tệ có lịch sử lâuđời, có thế mạnh về tài chính và chuyên môn trong lĩnh vực tài chính Do đó chophép các NHTM tham gia kinh doanh chứng khoán sẽ tận dụng được thế mạnhcủa ngân hàng, tạo động lực cho sự phát triển của TTCK
+ Hạn chế
Do có thế mạnh về tái chính, chuyên môn nên NHTM tham gia kinh doanhchứng khoán có thể gây lũng đoạn thị trường , trong trường hợp quản lý nhànước về lĩnh vực chứng khoán và quản trị thị trường còn yếu
Trang 5Do ngân hàng tham gia nhiều lĩnh vực sẽ làm giảm tính chuyên môn hóa,khả năng thích ứng và linh hoạt kém.
Trong trường hợp thị trường có nhiều rủi ro, ngân hàng có xu hướng bảothủ rút khỏi TTCK để tập trung kinh doanh tiền tệ
Mô hình CTCK chuyên doanh: theo mô hình này, kinh doanh chứng khoán
do các CTCK độc lập, chuyên môn hóa trong lĩnh vực chứng khoán đảm nhận
Mô hình này có ưu điểm và hạn chế sau:
+ Uư điểm
Mô hình này khắc phục được hạn chế của mô hình đa năng là giảm rủi rocho hệ thống ngân hàng, tạo điều kiện cho các CTCK kinh doanh chuyên mônhóa, thúc đảy sự phát triển TTCK
+ Hạn chế
Mô hình CTCK chuyên doanh hoạt động độc lập với ngân hàng do đókhông tận dụng được hầu hết các thế mạnh của ngân hàng trong việc phát triểncác hoạt động trên TTCK
Ngày nay với sự phát triển của TTCK, để tận dụng thế mạnh của lĩnh vựctiền tệ và lĩnh vực chứng khoán, các quốc gia có xu hướng nới lỏng ngăn cáchgiữa hoạt động tiền tệ và chứng khoán, bằng cách cho phép hình thành mô hìnhCTCK đa năng một phần – các NHTM thành lập công ty con để kinh doanhchứng khoán
1.1.2 Nguyên tắc hoạt động của CTCK
1.1.2.1 Nhóm nguyên tắc tài chính
Các CTCK phải tuân thủ các nguyên tắc tài chính Bao gồm:
- Có năng lực tài chính Các CTCK phải đảm bảo có năng lực tài chính như
có đủ vốn pháp định theo quy định của pháp luật, cơ cấu vốn hợp lý, đảm bảo tàichính trong cam kết với khách hàng và có đủ năng lực tài chính để giải quyếtnhững rủi ro có thể phát sinh trong quá trình kinh doanh
Trang 6- Cơ cấu tài sản hợp lý, có khả năng thanh khoản cao và có những tài sản
có chất lượng tốt để thực hiện kinh doanh với hiệu quả cao
- Thực hiện chế độ tài chính theo quy định của nhà nước như thực hiệnnghĩa vụ tài chính đối với nhà nước, tuân thủ các quy định về tài chính, thực hiệnbáo cáo tài chính đầy đủ, trung thực…
- Phải tách bạch tài sản của công ty và tài sản của khác hàng, không dùngvốn, tài sản của khách hàng để làm nguồn tài chính phục vụ kinh doanh của côngty
1.1.2.2 Nhóm nguyên tắc đạo đức
Các CTCK phải tuân thủ các nguyên tắc đạo đức sau:
- CTCK phải hoạt động theo đúng quy luật, chấp hành nghiêm chỉnh cácquy chế, tiêu chuẩn hành nghề liên quan đến hoạt động kinh doanh chứng khoán
- Có năng lực chuyên môn, có tinh thần trách nhiệm và tận tụy với công
việc
- Giao dịch trung thực, công bằng, vì lợi ích của khách hàng, đặt lợi ích củakhách hàng lên trên lợi ích của công ty Trong trường hợp có xung đột giữa lợiích của công ty và lợi ích của khách hàng phải ưu tiên lợi ích của khách hàng
- Cung cấp đầy đủ, chính xác các thông tin cần thiết cho khách hàng, bảo
vệ tài sản của khách hàng, bí mật các thông tin về tài khoản của khách hàng trừtrường hợp khách hàng đồng ý bằng văn bản hoặc theo yêu cầu của cơ quan quản
lý nhà nước
- Không được sử dụng lợi thế của mình làm tổn hại đến khách hàng và ảnhhưởng xấu đến hoạt động chung của thị trường, không được thực hiện các hoạtđộng có thể làm khách hàng và công chúng hiểu nhầm về giá cả, giá trị và bảnchất của CK
- Không được làm các công việc có cam kết nhận hay trả những khoản thùlao ngoài khoản thu nhập thông thường
Trang 7- Vai trò hình thành giá cả chứng khoán
Thông qua thị trường SGDCK, TTGDCK, CTCK cung cấp một cơ chế giá
cả nhằm giúp nhà đầu tư có được sự đánh giá đúng thực tế và chính xác về giá trịkhoản đầu tư của mình
- Thực thi tính hoán tệ của chứng khoán
Các nhà đầu tư luôn muốn có được khả năng chuyển tiền mặt thành chứngkhoán có giá và ngược lại trong một môi trường đầu tư ổn định Các CTCK đãcung cấp cơ chế chuyển đổi rất quan trọng giúp các nhà đầu tư ít phải chịu thiệthại nhất khi tiến hành đầu tư
- Thúc đẩy vòng quay chứng khoán
Các CTCK cũng là những người góp phần làm tăng vòng quay của chứngkhoán, qua việc chú ý đến nhu cầu người đầu tư, các công ty này cung cấp chokhách hàng các cách đầu tư khác nhau Các CTCK luôn cải tiến các công cụ tàichính của mình, làm cho chúng phù hợp với nhu cầu của khách hàng, chẳng hạnnhư tăng trưởng vốn, lãi cổ phần
- Dịch vụ tư vấn
Các CTCK không chỉ thực hiện mệnh lệnh của khách hàng mà còn thamgia vào nhiều dịch vụ tư vấn khác nhau Các CTCK cung cấp các thông tin đadạng, nghiên cứu thị trường cho các công ty cổ phần và các cá nhân đầu tư.CTCK cung cấp dịch vụ tư vấn dưới dạng sau:
Trang 8+ Thu thập thông tin phục vụ cho mục đích khách hàng, chẳng hạn nhưhiệu quả vốn, vấn đề rủi ro của khách hàng.
+ Cung cấp thông tin về các khả năng đầu tư khác nhau cũng như triểnvọng ngắn hạn và dài hạn của các khoản đầu tư đó trong tương lai
+ Tư vấn về xu hướng phát triển của thị trường của TTCK hiện tại vàtương lai
+ Tư vấn về đầu tư phù hợp với môi trường đầu tư và nhu cầu khách hàng Một tư vấn viên đầu tư có kinh nghiệm và nhiệt tình sẽ có khả năng đưa racác chính sách đầu tư thích hợp qua các công cụ đầu tư khác nhau, trong đó cótính đến vấn đề hạn hẹp về tài chính của khách hàng
1.1.4.Các hoạt động của công ty chứng khoán
Các hoạt động của CTCK rất đa dạng và phong phú với nhiều sản phẩm
dịch vụ đáp ứng nhu cầu của khách hàng Hoạt động kinh doanh chính củaCTCK bao gồm: hoạt động môi giới, tự doanh, bảo lãnh phát hành, hoạt động tưvấn CTCK được thực hiện một, một số hoặc toàn bộ các hoạt động trên Ngoàicác hoạt động kinh doanh chính, CTCK được phép thực hiện một số hoạt độngphụ trợ khác như hoạt động lưu ký chứng khoán, cung cấp dịch vụ tín dụng…
1.1.4.1.Họat động môi giới
Môi giới chứng khoán là việc CTCK làm trung gian thực hiện mua, bán
chứng khoán cho khách hàng CTCK đại diện cho khách hàng tiến hành giaodich thông qua cơ chế giao dịch tại SGDCK, TTGDCK hoặc thị trường OTC màkhách hàng phải tự chịu trách nhiệm đối với kết quả giao dịch của mình
Sau mỗi giao dịch mua, bán thành công, cả bên mua và bên bán đều trả choCTCK một khoản tiền , khoản tiền này được gọi là phí môi giới giao dịch Cáchtính phí môi giới giao dịch tùy theo CTCK tiến hành mua bán hộ chứng khoáncho khách hàng trên thị trường nào Nếu mua bán trên thị trường chínhthức(SGDCK, TTGDCK), thông thường phí môi giới giao dịch sẽ được tính là
Trang 9một tỉ lệ phần trăm trên tổng giá trị giao dịch Nếu trên thị trường phi chínhthức(OTC), phí giao dịch được tính kèm vào giá.
Khi TTCK chưa phát triển, hoạt động môi giới chứng khoán của các CTCKchỉ đơn giản dừng lại ở việc thực hiện các công việc như: mở tài khoản chokhách hàng; nhận và chuyển lệnh giao dịch mua hoặc bán; xác nhận kết quả giaodịch và thanh toán giao dịch cho khách hàng; giải đáp mọi thắc mắc của kháchhàng
Tuy nhiên TTCK ngày càng phát triển, lượng thông tin trên thị trường càngngày càng nhiều, lượng hàng hóa ngày càng đa dạng, các nhà đầu tư không thểnắm bắt cũng như xử lý lượng thông tin khổng lồ của thị trường Do vậy, mộtnhu cầu mới của khách hàng phát sinh, đó là nhu cầu được cung cấp thông tin vàđược tư vấn Do đó, hoạt động môi giới lúc này không chỉ đơn thuần là thực hiệnviệc mua bán hộ cho khách hàng mà còn chứa đựng hàm lượng tư vấn khá cao.Khi đó nhân viên môi giới sẽ đóng luôn vai trò là nhà tư vấn để đưa ra lời tư vấnđối với khách hàng về những chứng khoán khách hàng muốn mua, bán cũng như
đề xuất những chiến lược đầu tư mới thích hợp để giảm thiểu rủi ro và tối đa hóalợi nhuận trên cơ sở tình trạng tài chính và thái độ chấp nhận rủi ro của kháchhàng Nhân viên môi giới sẽ cung cấp đầy đủ các thông tin về chứng khoán, về
tổ chức phát hành và về thị trường cho khách hàng
Yêu cầu đối với CTCK khi thực hiện nghiệp vụ môi giới chứng khoán:
Thứ nhất, CTCK phải thực hiện chính xác các lệnh của khách hàng, không
được làm trái lệnh mua, bán chứng khoán của khách hàng Mọi sai sót do công tygây ra dẫn tới thiệt hại cho khách hàng thì CTCK và nhân viên CTCK phải chịutrách nhiệm hoàn toàn về mặt tài chính và pháp luật
Thứ hai, CTCK phải gửi bản báo cáo chứng khoán đến khách hàng để đối
chiếu số tiền và chứng khoán trên tài khoản của khách hàng
Trang 10Thứ ba, CTCK có trách nhiệm tổ chức, sắp xếp, theo dõi và thực hiện các
lệnh của khách hàng một cách có hiệu quả nhất Trong trường hợp khách hàng
ủy quyền cho công ty thực hiện và chứng khoán mang tên công ty thì công typhải tổ chức theo dõi và cung cấp các thông tin khi khách hàng yêu cầu Việc ủyquyền này phải được làm bằng văn bản theo đúng pháp luật hiện hành
Thứ tư, trong trường hợp CTCK vay chứng khoán vay tiền của khách hàng
mở tài khoản tại công ty thì phải ghi rõ trong hợp đồng giao dịch chứng khoán.Nếu trong hợp đồng không ghi điều này thì CTCK không được sử dụng tiền haychứng khoán trên tài khoản của khách hàng
Thứ năm, CTCK phải thông báo kết quả thực hiện giao dịch cho khách
hàng chậm nhất là vào ngày làm việc kế tiếp ngày thực hiện giao dịch Nếuthông báo chậm trễ, CTCK phải chịu trách nhiệm về thanh toán và chuyển giaochậm trễ của khách hàng
Thứ sáu, CTCK phải đảm bảo giữ bí mật nghề nghiệp, không được tiết lộ
các loại chứng khoán giao dịch, những chi tiết liên quan đến nghiệp vụ và thôngtin về tài khoản của khách hàng trừ trường hợp khách hàng cho phép hoặc khiUBCK yêu cầu xuất trình chứng từ để kiểm tra
Quy trình nghiệp vụ môi giới:
- Bước 1: Tiếp cận và thu hút khách hàng
Tìm kiếm, tiếp cận và thuyết phục khách hàng tiềm năng trở thành kháchhàng của công ty
- Bước 2: Tìm kiếm và phân tích thông tin
Tìm kiếm và cập nhập các thông tin có khả năng tác động trực tiếp hoặcgián tiếp đến giá cả chứng khoán nói riêng và sự phát triển của TTCK nói chung
- Bước 3: Cung cấp thông tin cho khách hàng
Cung cấp thông tin cho khách hàng theo từng trường hợp và yêu cầu cụ thểcủa khách hàng
Trang 11- Bước 4: Tư vấn và hỗ trợ đầu tư chứng khoán
Tư vấn và khuyến nghị đầu tư cho khách hàng, hỗ trợ khách hàng đầu tưchứng khoán thông qua việc giúp khách hàng quản lý tài khoản, thực hiện cácquyền và lợi ích liên quan
- Bước 5: Thực hiện giao dịch cho khách hàng
Giúp khách hàng thực hiện các lệnh mua, bán chứng khoán Quá trình thựchiện giao dịch cho khách hàng bao gồm các công việc sau: mở tài khoản chokhách hàng; nhận và xử lý lệnh giao dịch; chuyển lệnh đến SGDCK, TTGDCK;xác nhận kết quả giao dịch và thông báo kết quả cho khách hàng
1.1.4.2 Hoạt động tự doanh
Tự doanh chứng khoán là việc CTCK mua hoặc bán chứng khoán cho chính
mình để hưởng lợi, đồng thời cũng chấp nhận rủi ro từ hoạt động đó Khi tiếnhành hoạt động tự doanh, lợi nhuận mà CTCK có được có thể từ việc hưởngchênh lệch giá giữa giá mua và giá bán hoặc từ cổ tức, trái tức mà nhà phát hànhtrả
Giao dịch tự doanh được thực hiện theo phương thức giao dịch trực tiếphay gián tiếp Giao dịch trực tiếp là các giao dịch “trao tay” giữa khách hàng vàCTCK theo giá thỏa thuận trực tiếp Đối tượng giao dịch thường là các loại tráiphiếu, cổ phiếu đăng kí giao dịch ở thị trường phi tập trung Giao dịch gián tiếp
là các giao dịch mà CTCK thực hiện trên SGDCK, TTGDCK, lệnh này cũngđược thực hiện tương tự nhu giao dịch với các nhà đầu tư
Tùy theo mục đích, tính chất đầu tư mà hoạt động tự doanh của công ty baogồm các hoạt động cụ thể như tự doanh với mục đích hưởng lợi, nắm quyềnkiểm soát, quản lý ngân quỹ hay tạo lập thị trường…
Hoạt động tự doanh của CTCK có những đặc điểm sau:
Trang 12- Quy mô đầu tư lớn CTCK phải có một lượng vốn lớn dưới dạng tiềnmặt và chứng khoán để có thể thực hiện được các mục tiêu trong hoạt động tựdoanh.
- Đội ngũ nhân viên có trình độ chuyên môn, tính nhạy cảm cao trongcông việc, khả năng phân tích và đưa ra các quyết định đàu tư hợp lý
Khi tiến hành hoạt động tự doanh, CTCK phải đáp ứng các yêu cầu do luậtpháp quy định, cụ thể:
- Phải có sự tách biệt giữa hoạt động tự doanh và hoạt động môi giới, giữahoạt động tự doanh với hoạt động tư vấn đầu tư chứng khoán
- Ưu tiên thực hiện lệnh của khách hàng trước lệnh của CTCK
- Bình ổn giá cả thị trường
- Tạo thị trường cho chứng khoán mới phát hành
Ngoài ra, CTCK cũng cần phải tuân thủ một số quy định khác đối với hoạtđộng tự doanh như:
- Không được thực hiện mua, bán cùng một loại chứng khoán trong ngàygiao dịch
- Không cho người khác sử dụng tài khoản tự doanh của công ty
- Không được thực hiện các giao dịch trá hình, tức là các giao dịch khônglàm chuyển dịch các quyền sở hữu làm ảnh hưởng đến giá chứng khoán
- Không được lợi dụng các thông tin quyết định của khách hàng tiến hànhmua bán trước khách hàng
- Bị hạn chế đầu tư theo một tỷ lệ nhất định tùy theo loại chứng khoánđang lưu hành Yêu cầu này nhằm đảm bảo an toàn cho hoạt động kinh doanhchứng khoán, hạn chế rủi ro khi giá chứng khoán biến động mạnh, đặc biệt đốivới những chứng khoán có độ rủi ro cao
Hoạt động tự doanh sẽ được tiến hành theo quy trình sau:
- Bước 1: Xây dựng chiến lược đầu tư
Trang 13Công ty phải xác định được chiến lược trong hoạt động đầu tư của mình;phải xây dựng được một danh mục đầu tư hợp lý tùy theo từng giai đoạn pháttriển của thị trường, của công ty, tùy theo quan điểm đầu tư của công ty (chấpnhận rủi ro cao hay an toàn…)
- Bước 2: Khai thác, tìm kiếm cơ hội đầu tư
Sau khi xác định được danh mục đầu tư và chiến lược đầu tư, CTCK sẽtriển khai tìm kiếm các nguồn hàng, các cơ hội đầu tư trên thị trường để đạt đượcmục tiêu đã đề ra
- Bước 3: Phân tich, đánh giá chất lượng cơ hội đầu tư
Trên cơ sở các nguồn hàng và cơ hội đầu tư đã có, bộ phận tự doanh sẽ kếthợp với bộ phận phân tích chứng khoán tiến hành đánh giá chất lượng cơ hội đầu
tư để từ đó lựa chọn các cơ hội đầu tư Từ đó sẽ quyết định chấp nhận số lượng,giá cả hợp lý cho mỗi cơ hội đầu tư Trong trường hợp sau khi phân tích khôngđem lại kết quả như mục tiêu đề ra thì sẽ quay lại bước hai tìm kiếm cơ hội đầu
tư khác
- Bước 4: Thực hiện đầu tư
Sau khi đã có kết quả của bước trên, bộ phận tự doanh sẽ tiến hành triểnkhai thực hiện các hoạt động giao dịch mua, bán chứng khoán theo các cơ chếgiao dịch đã được quy định
- Bước 5: Quản lý đầu tư và thu hồi vốn
Ở giai đoạn nay, bộ phận tự doanh phải thường xuyên theo dõi các khoảnđầu tư, đánh giá tình hình và có những quyết định hợp lý Sau khi thu hồi vốn, bộphận tự doanh sẽ tổng kết, đánh giá lại tình hình thực hiện Trên cơ sở đó, bộphận tự doanh sẽ giữ nguyên hoặc có sự thay đổi trong hướng đầu tư và lại tiếptục trong chu kỳ mới
Trang 141.1.4.3 Hoạt động bảo lãnh, đại lý phát hành
Hoạt động bảo lãnh phát hành là hoạt động trong đó CTCK giúp các nhàphát hành thực hiện các thủ tục trước khi chào bán chứng khoán, tổ chức phânphối chứng khoán và giúp bình ổn giá chứng khoán trong giai đoạn đầu sau khiphát hành
Tổ chức tài chính trung gian thực hiện BLPH cho tổ chức phát hành đượcgọi là nhà BLPH Thông thường, một nhà BLPH sẽ tiến hành BLPH cho một đợtphát hành của tổ chức phát hành Tuy nhiên, hoạt động này chứa đựng nhiều rủi
ro nên nhà bảo lãnh thường lập ra một tổ hợp BLPH để chia sẻ rủi ro nhằm tiếnhành phân phối thành công một đợt phát hành
Tư cách của CTCK trong tổ hợp bảo lãnh có thể là nhà bảo lãnh chính,thành viên bảo lãnh hay đại lý phân phối Với tư cách khác nhau thì trách nhiệm
và mức độ rủi ro mà CTCK phải chịu sẽ khác nhau, do đó phí hoa hồng bảo lãnhcũng khác nhau
Khi thực hiện BLPH cho một đợt phát hành, nhà BLPH sẽ nhận được tiềnhoa hồng bảo lãnh Số tiền này có thể được xác định là phần chênh lệch giữa giámua từ nhà phát hành và giá bán cho nhà đầu tư hoặc theo một tỷ lệ phần trămtổng giá trị đợt phát hành Tiền hoa hồng bảo lãnh cao hay thấp tùy thuộc vàohình thức bảo lãnh và tính chất của đợt phát hành (lớn hay nhỏ, thuận lợi hay khókhăn)
Họat động BLPH là hoạt động phức tạp, do đó để hoạt động BLPH đượcdiễn ra một cách tuần tự, logic và đảm bảo được tính chặt chẽ cũng như tínhkhoa học, các CTCK đều thiết lập các bước tiến hành cho mỗi giai đoạn cụ thểtheo sơ đồ sau:
- Giai đoạn 1: Trước khi chấp nhận bảo lãnh
Giai đoạn này có thể được xem là giai đoạn tìm kiếm khách hàng
Trang 15CTCK sẽ tìm hiểu các công ty có nhu cầu huy động vốn và tìm cách tiếp cận với
bộ phận trực tiếp thực hiện các công việc liên quan tới đợt phát hành Trongtrường hợp công ty có ý định phát hành, CTCK sẽ tiến hành thẩm định về đơn vịphát hành Nội dung CTCK cần thẩm định bao gồm: thẩm định chung và phântích tài chính của tổ chức phát hành
+ Thẩm định chung: CTCK sẽ tiến hành thẩm định những vấn đề chungnhất của tổ chức phát hành như bộ máy quản lý, mạng lưới hoạt động, phân phối,thị trường đầu vào, đầu ra, công nghệ…
+ Phân tích tài chính: phân tích các chỉ số tài chính chủ yếu của tổ chứcphát hành, gồm 4 nhóm chỉ tiêu: phân tích khả năng thanh toán, khả năng cân đốivốn, khả năng hoạt động và khả năng sinh lời Các nhóm số này có được từ cácbáo cáo tài chính, chúng nói lên hiệu quả hoạt động kinh doanh, tình hình tàichính của tổ chức phát hành tính đến thời điểm phát hành
Trong trường hợp vốn huy động được dùng để đầu tư vào một dự án kinhdoanh cụ thể, CTCK cần phân tích chi tiết về các vấn đề liên quan tới dự án nhưphân tích về mặt kĩ thuật (thông số kĩ thuật, công suất thiết bị, tính hiện đại củathiết bị…); phân tích về mặt tài chính của dự án
Trên cơ sở đánh giá sơ bộ về khả năng phát hành của tổ chức phát hành, sựhấp dẫn của tổ chức phát hành đối với công chúng đầu tư, CTCK sẽ quyết địnhchấp nhận hoặc không chấp nhận bảo lãnh đợt phát hành đó
- Giai đoạn 2: Chuẩn bị và nộp hồ sơ xin phép phát hành
+ Chuẩn bị hồ sơ xin phép phát hành: sau khi chấp nhận BLPH, nhà bảolãnh sẽ tiến hành chuẩn bị các tài liệu cần thiết cần có trong bộ hồ sơ cho đợtphát hành Một trong những công việc cần phải làm để hoàn tất hồ sơ phát hành
là xác định giá chứng khoán của đợt phát hành Đây là vấn đề khó khăn nhất củamỗi đợt phát hành
Trang 16Đối với đợt bảo lãnh phát hành cổ phiếu, việc xác định giá phát hành sẽ tùythuộc vào cổ phiếu đó đã được giao dịch trên thị trường hay chưa Nếu cổ phiếuphát hành lần đầu, giá cổ phiếu sẽ được CTCK tính toán bằng các phương pháp
cụ thể dựa vào số liệu trong các báo cáo tài chính Nếu cổ phiếu đã được giaodịch trên thị trường, giá phát hành sẽ được tính toán dựa trên giá cổ phiếu đangđược giao dịch trên thị trường thứ cấp
Đối với đợt bảo lãnh phát hành trái phiếu thì vấn đề quan tâm ở đây lại là lãisuất cho trái phiếu và loại trái phiếu nào sẽ được sử dụng để phát hành Cơ sở đểxác định lãi suất cho trái phiếu là lãi suất tín phiếu kho bạc, mức độ tín nhiệmcủa nhà phát hành , tình hình nền kinh tế, thời hạn của trái phiếu và loại tráiphiếu phát hành
Sau khi hoàn tất việc chuẩn bị hồ sơ, nhà BLPH chuyển hồ sơ xin phép pháthành cho công ty tư vấn luật để xem xét các khía cạnh pháp lý có liên quan tớiđợt phát hành Công ty tư vấn chịu trách nhiệm xem xét và đảm bảo hồ sơ đầy đủ
và hợp lệ theo đúng quy định của UBCK
+ Nộp hồ sơ xin phép phát hành lên UBCK: nhà bảo lãnh hoàn chỉnh hồ sơxin phép phát hành lần cuối cùng và đệ trình lên UBCK
- Giai đoạn 3: Sau khi hồ sơ xin phép phát hành có hiệu lực
+ Công bố phát hành: sau khi nhận được sự chấp nhận của UBCK về đợtphát hành, nhà bảo lãnh thực hiện việc công bố phát hành
+ Thực hiện phân phối chứng khoán: ở các nước, quá trình tiếp thị và lập sổđược thực hiện ngay trong quá trình chuẩn bị hồ sơ phát hành cho đến khi nộp hồ
sơ Do đó, việc phân phối chứng khoán thường được hoàn thành ngay sau khi hồ
sơ đăng kí phát hành có hiệu lực
+ Kết thúc đợt phát hành: nhà bảo lãnh phải chuyển giao chứng khoán chonhà đầu tư mua và tiền thu được từ việc phân phối chứng khoán cho nhà phát
Trang 17hành trong một khoảng thời gian kể từ ngày kết thúc đợt phát hành theo luậtđịnh.
1.1.4.4 Hoạt động tư vấn
Đây là dịch vụ CTCK cung cấp cho khách hàng trong lĩnh vực đầu tưchứng khoán, tái cơ cấu tài chính, chia tách, sát nhập, hợp nhất doanh nghiệp,phát hành và niêm yết chứng khoán
Xét theo đối tượng, có thể chia hoạt động tư vấn thanh tư vấn đầu tư chứngkhoán và tư vấn tài chính
- Tư vấn đầu tư chứng khoán là việc đội ngũ tư vấn của CTCK sử dụng cáccông cụ phân tích cơ bản, phân tích kĩ thuật và các thông tin thu nhập được đểđưa ra lời khuyên cho khách hàng về thời điểm mua, bán chứng khoán, loạichứng khoán mua bán, thời gian nắm giữ, tình hình và xu hướng biến động củathị trường…Tư vấn đầu tư là một hoạt động phổ biến, diễn ra thường xuyên trênthị trường thứ cấp Các chuyên viên tư vấn luôn phải thận trọng khi đưa ra nhữnglời bình luận, những báo cáo phân tích về giá trị chứng khoán, tình hình thịtrường vì nó có tác động rất lớn đến các nhà đầu tư
- Tư vấn tài chính là việc CTCK ký kết hợp đồng tư vấn với các doanhnghiệp để thực hiện các hoạt động như xác định giá trị doanh nghiệp, phát hànhchứng khoán, niêm yết chứng khoán, sát nhập và hợp nhất doanh nghiệp
Xác định giá trị doanh nghiệp là định giá các tài sản doanh nghiệp trướckhi chào bán chứng khoán ra công chúng
Tư vấn phát hành là tư vấn cho tổ chức phát hành cách thức, hình thức pháthành, xây dựng hồ sơ, bản cáo bạch… và giúp tổ chức phát hành trong việc lựachọn tổ chức bảo lãnh, phân phối chứng khoán
Tư vấn tái cơ cấu tài chính là giúp doanh nghiệp tái cơ cấu nguồn vốn chophù hợp với điều kiện kinh doanh hiện tại, phù hợp với ngành nghề kinh doanhnhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp
Trang 18Tư vấn chia tách, sát nhập, hợp nhất doanh nghiệp là hỗ trợ về phươngpháp, kĩ thuật khi các doanh nghiệp muốn chia tách, sát nhập hay hợp nhất.
Tư vấn niêm yết là giúp các doanh nghiệp thực hiện các thủ tục theo quyđịnh của pháp luật để đưa doanh nghiệp lên niêm yết tai SGDCK, TTGDCK
Do hoạt động tư vấn có thể đem lại lợi nhuận rất cao cho khách hàngnhưng cũng có thể làm khách hàng thua lỗ, thậm chí phá sản, nên các chuyênviên tư vấn khi thực hiện hoạt động kinh doanh này cần đảm bảo các nguyên tắc:
- Không đảm bảo chắc chắn về giá trị chứng khoán: vì giá trị chứng khoánkhông phải là một số cố định, nó phụ thuộc rất lớn vào diễn biến thực tế của thịtrường, tâm lý nhà đầu tư và các điều kiện kinh tế vĩ mô khác;
- Luôn nhắc nhở khách hàng rằng các ý kiến tư vấn của mình chỉ có giá trịtham khảo, mọi quyết định đầu tư là của khách hàng vì ý kiến tư vấn dựa trên cơ
sở phân tích từ những diễn biến trong quá khứ nên không hoàn toàn chính xác.CTCK không phải chịu trách nhiệm về thiệt hại của khách hàng do hoạt động tưvấn gây ra;
- Không được dụ dỗ hay chào mời khách hàng mua bán một loại cổ phiếunào đó vì một mục đích riêng;
- Bảo đảm tính trung thực và khách quan của hoạt động tư vấn, ý kiến tưvấn là kết quả phân tích, tổng hợp một cách khoa học, lôgic các vấn đề nghiêncứu;
- Không được tiến hành bất cứ hoạt động gì làm cho khách hàng hiểu lầm
về giá trị, giá cả của bất kì một loại chứng khoán nào
1.1.4.5 Các hoạt động phụ trợ khác
Các hoạt động hỗ trợ của CTCK góp phần tạo thuận lợi cho nhà đầu tưtrong việc đầu tư chứng khoán, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn Một số hoạtđộng hỗ trợ của các CTCK là:
Trang 19- Hoạt đông lưu ký chứng khoán: là việc lưu giữ, bao quản chứng khoáncủa khách hàng và giúp khách hàng thực hiện quyền đối với những chứng khoánlưu ký Đây là quy định bắt buộc trong giao dịch chứng khoán, bởi vì giao dịchtrên thị trường chứng khoán tập trung là hình thức giao dịch ghi sổ, khách hàngphải ký gửi chứng khoán tại thành viên lưu ký Khi thực hiện dịch vụ lưu kýchứng khoán, CTCK sẽ nhận được các khoản thu phí lưu ký chứng khoán như:phí gửi, rút và chuyển nhượng chứng khoán.
CTCK giúp khách hàng thực hiện các quyền lợi liên quan đến sở hữuchứng khoán như: quyền nhận cổ tức, trái tức, cổ phiếu thưởng, quyền mua cổphần mới phát hành, quyền chuyển đổi cổ phiếu…
- Hoạt động quản lý ủy thác đầu tư: là hoạt động mà khách hàng ủy thácCTCK thay mặt mình tiến hành kinh doanh chứng khoán Khách hàng phải kýhợp đồng ủy thác quản lý danh mục đầu tư với CTCK Tùy vào mức độ ủy quyềncủa khách hàng mà CTCK có toàn quyền quyết định hoặc có quyền hạn chếtrong các giao dịch mua bán chứng khoán trong hợp đồng
- Hoạt động tín dụng: là hoạt động mà CTCK giúp khách hàng của mìnhgia tăng khoản vốn đầu tư thông qua các hình thức như cho vay cầm cố chứngkhoán, cho vay bảo chứng, ứng trước tiền bán chứng khoán…
Cho vay cầm cố chứng khoán là hoạt động trong đó khách hàng sử dụngchứng khoán của mình làm vật đảm bảo cho khoản vay
Cho vay bảo chứng là hình thức CTCK cho khách hàng vay một khoản tiền
để mua chứng khoán và sử dụng các chứng khoán đó làm tài sản thế chấp
Ứng trước tiền bán chứng khoán là hình thức CTCK dùng tiền của mình đểứng trước cho khách hàng số tiền khách hàng sẽ nhận được khi đến hạn thanhtoán số chứng khoán vừa bán
Là một tổ chức chuyên nghiệp hoạt động trên TTCK, các hoạt động củaCTCK đều mang tính chuyên môn hóa cao Trong môi trường cạnh tranh lành
Trang 20mạnh, thông qua các hoạt động kinh doanh của mình, CTCK góp phần nâng caochất lượng giao dịch chứng khoán như tăng tính thanh khoản, giảm rủi ro…nhằmđạt được mục tiêu cuối cùng là tăng hiệu quả thị trường nói chung và hiệu quảđầu tư chứng khoán nói riêng.
1.2 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA CÔNG TY CHỨNG KHOÁN
1.2.1 Khái niệm về hiệu quả hoạt động của công ty chứng khoán
Hiệu quả hoạt động nói chung được hiểu là các lợi ích kinh tế xã hội đã đạt
được từ quá trình hoạt động kinh doanh Theo đó, hiệu quả kinh doanh bao gồmhiệu quả kinh tế và hiệu quả xã hội, trong đó hiệu quả kinh tế có ý nghĩa quyếtđịnh
Hiệu quả hoạt động kinh doanh của CTCK cũng gắn với mục tiêu kinh tế,
xã hội mà trước hết đó là hiệu quả kinh tế Hiệu quả kinh tế của một hoạt độngkinh doanh của CTCK là sự so sánh giữa doanh thu thu được và chi phí bỏ ra đểđạt được doanh thu đó Hiệu quả kinh tế của CTCK có thể được xem xét dướidạng số tuyệt đối hoặc số tương đối
Một CTCK có thể thực hiện một, một số hoặc tất cả các dịch vụ chứngkhoán Do vậy, hiệu quả kinh tế của hoạt động kinh doanh của CTCK phải là chỉtiêu tổng hợp của các hoạt động kinh doanh mà công ty thực hiện Các chỉ tiêuhiệu quả kinh tế tổng hợp thường là: mức chi phí cho hoạt động kinh doanhchứng khoán, doanh thu, lợi nhuận, doanh lợi vốn…
1.2.2 Các chỉ tiêu đánh giá hoạt động và hiệu quả hoạt động của công ty chứng khoán
Đánh giá hiệu quả hoạt động kinh doanh của một CTCK có thể đánh giá
qua các chỉ tiêu định tính và đinh lượng
Trang 21Các chỉ tiêu định tính được sử dụng thường là mức độ hài lòng của kháchhàng, chất lượng phục vụ và dịch vụ công ứng, sự gia tăng về thương hiệu, chấtlượng nhân lực, trình độ năng lực của ban Giám đốc…
Việc đánh giá hiệu quả hoạt động kinh doanh theo các chỉ tiêu định lượngcủa CTCK thường dùng các nhóm chỉ tiêu sau:
1.2.2.1 Các chỉ tiêu đánh giá về tính thanh khoản
Đây là các chỉ tiêu đánh giá khả năng thanh toán của CTCK tại các thời kì
nhất định
* Chỉ tiêu về mức vốn khả dụng
Vốn khả dụng là các tài sản có độ rủi ro thấp dễ dàng chuyển đổi thành
tiền mặt để đáp ứng nhu cầu thanh khoản trong cùng thời gian của CTCK
Vốn khả dụng = Tổng giá trị
tài sản
_ Các khoản tài sản giảm trừ
+ Các khoản gia tăng
Trong đó:
Tổng giá trị tài sản: là toàn bộ giá trị các tài sản hiện có thuộc sở hữu hoặc
tuộc trách nhiệm quản lí của CTCK tại thời điểm tính toán
Các khoản giảm trừ: là các khoản tài sản mà CTCK khó huy động để
chuyển thành tiền mặt trong một thời gian ngắn để đáp ứng các nhu cầu thanhkhoản
Các khoản gia tăng: là những khoản không nằm trong bảng cân đối kế
toán của CTCK nhưng có thể huy động được để chuyển ra tiền mặt đáp ứng nhucầu thanh khoản trong những trường hợp cần thiết
Chỉ tiêu về mức vốn khả dụng không chỉ phản ánh khả năng trả nợ củaCTCK mà còn phản ánh khả năng chống đỡ lại với các rủi ro mà công ty có thểgặp phải trong quá trình hoạt động kinh doanh
Trang 22Để đánh giá khả năng thanh toán tổng quát của CTCK, người ta thường sửdụng các chỉ tiêu liên quan đến vốn khả dụng như:
Tổng rủi ro
Chỉ tiêu này phản ánh CTCK phải duy trì lượng vốn hoạt động ròng ít nhất
bằng 100% so với tổng rủi ro của nó
Vốn hoạt động ròng = Vốn khả dụng – Tông nợ điều chỉnh
Tổng nợ điều chỉnh = Tổng nợ - Các khoản nợ giảm trừ
Tổng
rủi ro =
Rủi ro thị
trường
+ Rủi ro đối tác +
Rủi ro tập trung tín dụng
+ Rủi ro
cơ bản +
Rủi ro
bù trừ
Chỉ tiêu này cho thấy, lượng tài sản khả dụng của CTCK ngoài việc đáp ứng
các nghĩa vụ nợ còn phải có khả năng chống đỡ với các rủi ro khác phát sinhtrong hoạt động, khả năng đó thể hiện qua tỷ lệ vượt A% Tỷ lệ này cao thấp phụthuộc vào từng quốc gia cũng như rủi ro của từng lạo hình kinh doanh mà CTCKđang thực hiện
Trang 23* Chỉ tiêu nợ trên tài khoản có tính thanh khoản
= * 100
Chỉ tiêu này là thước đo khả năng đáp ứng các nhu cầu về tài chính của
CTCK ChỈ tiêu nợ trên tài khoản có tính thanh khoản cũng xác định khả
năng chi trả cho người đầu tư chứng khoán trong trường hợp cần thiết
Theo công thức trên, nếu tỷ lệ này nhỏ hơn 100% tức là trong các loại tàisản của CTCK khi được phân loại, đánh giá theo kỳ hạn, loại trừ các loại cổphiếu và tài sản khác không có khả năng chuyển hóa thành tiền mặt mà nhỏ hơn
nợ thanh toán cùng kỳ hạn thì có thể dẫn đến tình trạng CTCK mất khả năngthanh toán tạm thời tại các điểm nhất định
* Chỉ tiêu nợ trong thanh toán giao dịch chứng khoán trên nguồn vốn
Chỉ tiêu nợ trong thanh toán giao dịch chứng khoán trên nguồn vốn là quan
hệ tỷ lệ giữa các khoản phải thu từ nhà đầu tư với nguồn vốn của CTCK Chỉ tiêunat được tính theo công thức sau:
Tỷ lệ khoản phải thu
từ nhà đầu tư trên
nguồn vốn
Khoản phải thu từ nhà đầu
tư chứng khoán
Nguồn vốn
Trang 24Chỉ tiêu này không những cho biết mức độ phụ thuộc của khả năng thanhtoán của CTCK vào một loại tài sản thường không thể chuyển đổi thành tiền(khoản phải thu của nhà đầu tư chứng khoán) mà còn để phân biệt CTCK hoạtđộng lành mạnh với CTCK có khó khăn về mặt tài chính.
1.2.2.2 Các chỉ tiêu đánh giá về hoạt động
* Chỉ tiêu đánh giá thay dổi về nguồn vốn
Đây là một chỉ tiêu quan trọng, được dử dụng để xác định mức độ cải thiện
hoặc giảm sút về khả năng tài chính trong năm
* Chỉ tiêu về số trích dự phòng giảm giá chứng khoán
Số trích dự phòng giảm giá chứng khoán bao gồm dự phòng giảm giá
chứng khoán tự doanh, ủy thác đầu tư (nếu CTCK chịu theo cam kết), chứngkhoán đầu tư dài hạn, đầu tư ngắn hạn và dài hạn khác…
* Mức độ tăng doanh thu
Chỉ tiêu này có thể được tính cho từng loại hoạt động như hoạt động môi
giới, hoạt động tư doanh, hoạt động bảo lãnh, hoạt động tư vấn… Người ta
Trang 25thường dùng chỉ tiêu mức độ tăng doanh thu, tức là xem xét doanh thu của nămnay tăng hay giảm bao nhiêu phần trăm so với năm trước.
= * 100
Doanh thu năm trước
*Chỉ tiêu tỷ lệ chi phí hoạt động
Tỷ lệ chi phí là một trong những chỉ tiêu thể hiện khả năng cạnh tranh của
CTCK thông qua việc khống chế các chi phí ở mức hợp lý mà vẫn đảm bảo hiệuquả kinh doanh Tỷ lệ chi phí cao hay thấp ảnh hưởng tới kết quả kinh doanh vàảnh hưởng tới lợi nhuận thu được từ hoạt động kinh doanh của CTCK
Chi phí cho hoạt động kinh doanh chứng khoán bao gồm: khoản lỗ bánchứng khoán tự doanh, các khoản chi phí thực tế phát sinh liên quan đến việcthực hiện các hoạt động dịch vụ chứng khoán và các chi phí hoạt động tài chínhkhác
1.2.2.3 Các chỉ tiêu sinh lời
Các chỉ tiêu sinh lời là cơ sở quan trọng để đánh giá kết quả hoạt động vàhiệu quả hoạt động kinh doanh của CTCK trong một thời kỳ nhất định Căn cứvào các chỉ tiêu này, các nhà hoạch định sẽ đưa ra các quyết định tài chính trongtương lai của công ty
Trang 26* Chỉ tiêu tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu
Lợi nhuận sau thuế
= * 100
Doanh thu thuần
Chỉ tiêu tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu này phản ánh một đồng doanh thu
mà CTCK thực hiện trong kỳ đạt được bao nhiêu đồng lợi nhuận sau thuế Chỉtiêu này thể hiện hiệu quả kinh doanh của CTCK
Chỉ tiêu tỷ suất lợi nhuận vốn kinh doanh
Tỷ suât lợi nhuận vốn kinh doanh là chỉ tiêu đo lường mức sinh lợi của đồng
vốn, công thức tinh như sau:
Lợi nhuận sau thuế
= * 100 Vốn kinh doanh bình quân
Chỉ tiêu đánh giá về chất lượng đầu tư tự doanh
= * 100 Giá trị tài sản đầu tư tự doanh
Chỉ tiêu chất lượng đầu tư tự doanh đánh giá hiệu quả hoạt động đầu tư tựdoanh của CTCK, một yếu tố quan trọng đóng góp vào lợi nhuận chung của công
ty Chỉ tiêu này còn cho biết chất lượng chung trong danh mục đầu tư tự doanhcủa CTCK
Chỉ tiêu tỷ suất lợi nhuận vốn chủ sỡ hữu
Tỷ suất lợi nhuận sau
thuế trên doanh thu
Tỷ suất lợi nhuận vốn kinh
doanh
Tỷ lệ thu nhập từ đầu tư tự
doanh trên tài sản đầu tư tự
doanh
Thu nhập từ hoạt động đầu tư tự doanh
Trang 27Chỉ tiêu tỷ suất lợi nhuận vốn chủ sở hữu cho biết một đồng vốn chủ sở hữu
sử dụng sinh ra được bao nhiêu đồng lợi nhuận sau thuế Công thức xác định nhưsau:
Lợi nhuận sau thuế
= * 100 Vốn chủ sở hữu bình quân
Chỉ tiêu hiệu quả gia tăng vốn chủ sở hữu
Mức thay đổi lợi nhuận sau thuế
= * 100
Mức thay đổi vốn chủ sở hữu
Chỉ tiêu này cho phép theo dõi, đánh giá lợi nhuận ròng của số vốn chủ sởhữu tăng thêm cho một hoạt động kinh doanh nhất định
Chỉ tiêu định tính và chỉ tiêu định lượng có mối quan hệ mật thiết với nhau.Chỉ tiêu định lượng là tiền đề, là cơ sở để đạt được chỉ tiêu định tính, ngược lạichỉ tiêu định tính tác động trở lại để hoạt động kinh doanh của công ty thêm hiệuquả
1.2.3 Nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của công ty chứng khoán
1.2.3.1 Nhân tố khách quan
*Môi trường kinh tế
Hoạt động kinh doanh của CTCK luôn diễn ra trong một bối cảnh kinh tế cụ
thể như tốc độ tăng trưởng hay suy thoái của nền kinh tế, mức độ ổn định củađồng tiền, của tỷ giá hối đoái… Mỗi sự thay đổi của các yếu tố trên đều tác dụngtích cực hay tiêu cực đến hoạt động kinh doanh của CTCK Nền kinh tế luôntăng trưởng với tốc độ cao, nhu cầu đầu tư được mở rộng, đồng tiền ổn định, lãisuất và tỷ giá hối đoái có tính kích thích đầu tư, mở rộng TTCK sẽ trở thành cơhội tốt cho CTCK phát triển hoạt động kinh doanh để nâng cao hiệu quả kinh
Tỷ suất lợi nhuận vốn
chủ sở hữu
Hệ số hiệu quả gia tăng
vốn chủ sở hữu
Trang 28doanh Ngược lai, sự suy thoái kinh tế, giá chứng khoán thụt giảm, lạm phát…thì mọi sự hoạt động của công ty sẽ gặp nhiều khó khăn.
*Môi trường chính trị, pháp luật, và cơ chế chính sách
TTCK là thị trường của niềm tin và thông tin, nó rất nhạy cảm với các yếu
tố về chính trị pháp luật và cơ chế chính sách Do vậy, các yếu tố này sẽ ảnhhưởng trực tiép đến các diễn biến trên TTCK nói chung và đến hoạt động kinhdoanh chứng khoán nói riêng Hoạt động kinh doanh chứng khoán chỉ có thểphát triển được trong một môi trường chính trị ổn định và pháp luật minh bạch Hoạt động kinh doanh chứng khoán chịu ảnh hưởng rất nhiều của nhân tốchính trị Các yếu tố của môi trường chính trị bao gồm thể chế chính trị, an ninh,trật tự an toàn xã hội, quan điểm trong quan nhệ ngoại giao và hợp tác kinh tếcủa chính phủ với các quốc gia khác… Trong đó quan trọng nhất là thể chế chínhtrị vì sự thay đổi thể chế chính trị sẽ kéo theo sự thay đổi về chính sách kinh tế
xã hội, chính sách an ninh quốc phòng… từ đó sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến hoạtđộng của TTCK nói chung và đến hiệu quả hoạt động kinh doanh của CTCK nóiriêng
*Môi trường công nghệ
Sự phát triển mạnh mẽ của khoa học công nghệ đặc biệt là công nghệ thôngtin đã tạo ra các điều kiện thuận lợi để các CTCK nâng cao hiệu quả trong quản
lý và kinh doanh Nhờ khoa học công nghiệ thông tin các CTCK có thể tiết kiệmđược chi phí quản lý, chi phí hoạt động kinh doanh chứng khoán để từ đó giảmphí dịch vụ cung cấp cho khách hàng, nâng cao khả năng cạnh tranh của CTCK.Tuy nhiên, nhân tố này cũng đòi hỏi các CTCK phải chủ động nắm bắt được xuthế mới trong hoạt động kinh doanh chứng khoán do những thay đổi của khoahọc công nghệ mang lại như: chủ động trong việc tiếp nhận khoa học công nghệmới vào mở rộng các hình thức nhận lệnh từ xa, có kế hoạch phát triển các sảnphẩm chứng khoán phái sinh, các dịch vụ mới…
Trang 29 Môi trường đặc thù
Môi trường đặc thù bao gồm các yếu tố tác động đến hoạt động kinh doanh
chứng khoán của CTCK một cách trực tiếp và rõ rệt mà CTCK có thể tác độnghoặc kiểm soát chúng ở một mức độ nhất định Thuộc về môi trường đặc thù cócác yếu tố như khách hàng, các công ty cạnh tranh và sự kiểm tra giám sát củacác cơ quan quản lý nhà nước đối với CTCK
Khách hàng là yếu tố quyết định đên đầu ra sản phẩm, dịch vụ của CTCK.Khách hàng của CTCK có thể là các nhà phát hành, các nhà đầu tư… Họ là mộttrong những nhân tố quyết định đến hiệu quả kinh doanh của CTCK Do vậy,công ty cần phải xây dựng chính sách khách hàng toàn diện, vừa giữ vững nềntảng truyền thống, vừa khai thác được khách hàng tiềm năng Đối với mỗi đốitượng khách hàng công ty cần có chính sách cụ thể đáp ứng một cách tốt nhấtnhu cầu của khách hàng để khai thác tối đa tiềm năng của thị trường
Sự canh tranh giữa các công ty cũng là một nhân tố ảnh hưởng đến hoạtđộng kinh doanh của CTCK Để có được lợi thế cạnh tranh về giá cả, chất lượngsản phẩm, dịch vụ cung cấp… đòi hỏi CTCK cần phải quan tâm nghiên cứu thịtrường, đổi mới thiết bị, nâng cao trình độ nhân viên, nâng cao chất lượng cácsản phẩm dịch vụ cũ, phát triển các dịch vụ mới… Do đó, ảnh hưởng đến chi phíkinh doanh và lợi nhuận của công ty
Sự hoạt động của CTCK cũng luôn phải chịu sự kiểm tra, giám sát của các
cơ quan quản lý Nhà nước như UBCK, SGDCK, cơ quan thanh tra… cũng chiphối mạnh mẽ đến hoạt động và hiệu quả hoạt động kinh doanh của CTCK Tuynhiên, trong cơ chế thị trường, sự quản lý Nhà nước đối với CTCK chỉ mang tínhđịnh hướng và tác động gián tếp theo nguyên tắc; nhà nước điều chỉnh thịtrường, thị trường điều chỉnh công ty Các công ty được tự chủ kinh doanh, tựchủ tài chính, đồng thời cũng tự chịu trách nhiệm đối với kết quả kinh doanh củamình
Trang 30 Ảnh hưởng của thị trường chứng khoán
TTCK có ảnh hưởng tới chuyên môn, sản phẩm, dịch vụ và khả năng thu lợi
nhuận của CTCK TTCK càng phát triển thì càng có khả năng tạo thêm các công
cụ tài chính và đa dạng hóa dịch vụ, qua đó các CTCK có thêm các cơ hội thu lợinhuận và ngược lại Khi TTCL kém phát triển thì các CTCK không có điều kiệntạo thêm sản phẩm, dịch vụ dẫn đến khả năng thu lợi nhuận bị hạn chế
1.2.3.2 Nhân tố chủ quan
Nhân tố chủ quan ở đây chính là các yếu tố bên trong doanh nghiệp Đó làcác yếu tố quan trọng, ảnh hưởng quyết định đến hoạt động và hiệu quả hoạtđộng kinh doanh của CTCK Các yếu tố bên trong CTCK bao gồm:
Tiềm lực tài chính
Trong nền kinh tế thị trường, mọi yếu tố đầu vào của hoạt động kinh doanh
đều phải đi mua hoặc phải đầu tư ứng trước Do vậy, để tiến hành hoạt động kinhdoanh CTCK phải có vốn, vốn phải được tích tụ và đạt được quy mô nhất định
để thuê đội ngũ nhân viên có chất lượng cao, để đầu tư máy móc, thiết bị thôngtin hiện đại, quảng cáo… Vốn của CTCK nhiều hay ít phụ thuộc vào loại hìnhnghiệp vụ mà công ty thực hiện Tiềm lực tài chính của CTCK không chỉ là sốvốn hiện có mà còn thể hiện ở khả năng khai thác và sử dụng nguồn lực tài chínhtrong và ngoài công ty để phục vụ cho chiến lược phát triển của công ty Tiềmlực tài chính đủ mạnh cho phép công ty mở rộng quy mô hoạt động, đa dạng hóahoạt động Tiềm lực tài chính mạnh sẽ tăng khả năng cạnh tranh của CTCK
Uy tín hoạt động
Uy tín hoạt động của một CTCK trên TTCK được thể hiện ở sự ổn định
khách hàng, ở sự gia tăng nhanh chóng thị phần và doanh thu từ các hoạt động
Uy tín hoạt động là sự đánh giá của khách hàng vể sản phẩm, dịch vụ củacông ty, nhưng nó lại hình thành bởi nhiều yếu tố khác nhau từ bên trong công ty
Trang 31như năng lực và uy tín ban lãnh đạo, kinh nghiệm hoạt động, chất lượng dịchvụ… Uy tín của một CTCK là tài sản vô hình mang lại lợi thế cho hoạt độngkinh doanh của CTCK Cùng một sản phẩm dịch vụ trên thị trường, CTCK nào
có uy tín hơn sẽ có nhiều cơ hội mở rộng và phát triển dịch vụ, chiếm lĩnh thịtrường hơn các CTCK khác
Năng lực kinh doanh
Năng lực quản trị kinh doanh luôn được coi như một yếu tố đặc biệt quan
trọng tác động tới hiệu quả hoạt động của CTCK Trong điều kiện kinh tế thịtrường, các CTCK phải chịu sức ép và tác động từ nhiều phía của môi trườngkinh doanh, những yêu cầu về sản phẩm dịch vụ cung cấp ngày càng đòi hỏi phảiđáp ứng được các tiêu chuẩn hết sức khắt khe Được sự trợ giúp của khoa học kỹthuật công nghệ, khoa học về quản lý kinh doanh nói chung và quản trị công tynói riêng đã phát triển những bước nhảy vọt Trong điều kiện đó, một CTCKmuốn tồn tại và phát triển lâu dài cần phải có bộ máy quản lý kinh doanh đủmạnh để giúp công ty có khả năng sử dụng một cách tốt nhất các nguồn lực trongquá trình kinh doanh, biết tận dụng mọi tiềm năng và cơ hội kinh doanh, ứng phómột cách linh hoạt với những biến động của môi trường và thị trường để nângcao hiệu quả hoạt động kinh doanh
Chất lượng nguồn nhân lực
Trong nền kinh tế tri thức, nhân tố quyết định đến tăng giá trị sản phẩm dịch
vụ là yếu tố chất lượng nguồn nhân lực Chất lượng nguồn nhân lực bao gồm cảtrình độ của ban lãnh đạo công ty, đội ngũ nhân viên trong công ty và tinh thần,thái độ làm việc của họ
Kinh doanh chứng khoán là một lĩnh vực đặc thù có sự chi phối rất lớn củanhân tố con người Trong CTCK, quan hệ với khách hàng có tầm quan trọng số
Trang 32một Những người quản lý hay nhân viên của CTCK phải có đầy đủ kiên thức vàkinh nghiệm cũng như độ tín nhiệm.
Khả năng quản lý và điều hành của ban lãnh đạo công ty quyết định đến hiệuquả sử dụng các nguồn lực của công ty Đội ngũ nhân viên của công ty có kỹnăng và lành nghề mới tạo ra được các sản phẩm, dịch vụ có chất lượng cao giatăng lợi nhuận cho công ty cung như thu nhập cho nhân viên
Ngoài các nhân tố khách quan và chủ quan được nêu ở trên, hiệu quả hoạtđộng kinh doanh của CTCK còn phụ thuộc vào các yếu tố khác như: thu nhậpcủa dân cư, tốc đọ phát triển của các ngành cũng như toàn bộ nền kinh tế, nhậnthức của công chúng về chứng khoán và TTCK… Sự nhận thức đầy đủ các ảnhhưởng tích cực hoặc tiêu cực của các nhân tố đó được coi như một điều kiện tiênquyết để tổ chức tốt và nâng cao hoạt động của CTCK
Trang 332.1.1 Sự hình thành và phát triển của công ty cổ phần chứng khoán quốc
tế Việt Nam
Công ty Cổ phần Chứng khoán Quốc Tế Việt Nam (VIS) là doanh nghiệp
hoạt động theo mô hình công ty cổ phần Sở Kế hoạch và Đầu tư thành phố HàNội cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh số 0103014511 cấp lần đầu ngày06/11/2006 và Ủy Ban Chứng khoán cấp Giấy phép hoạt động số 20/UBCK-GPHĐKD ngày 15/11/2006
Vốn điều lệ khi mới thành lập của Công ty Cổ phần Chứng khoán Quốc TếViệt Nam là 55 tỷ đồng Hiện nay, vốn điều lệ của Công ty đã đạt 200 tỷ đồng VIS hiện nay đồng thời là thành viên của Sở Giao dịch Chứng khoán Thànhphố Hồ Chí Minh và Sở Giao dịch Chứng khoán Hà Nội
Lĩnh vực hoạt động kinh doanh chủ yếu của công ty bao gồm môi giới
chứng khoán, tự doanh, tư vấn tài chính và đầu tư chứng khoán, lưu ký chứngkhoán và các dịch vụ gia tăng khác
2.1.2 Cơ cấu tổ chức và nhân sự
Mô hình tổ chức của công ty bao gồm Hội sở chính, 1 chi nhánh
Trang 34Hội sở chính tại tầng 3, 59 Quang Trung, Phường Nguyễn Du, Quận Hai BàTrưng, Hà Nội