1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Tình hình thực hiện chính sách hỗ trợ người cao tuổi tại xã nghĩa minh, tỉnh nam định

74 98 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 74
Dung lượng 396,74 KB
File đính kèm 67.rar (203 KB)

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

1. Lý do chọn đề tài Đảng ta đã khẳng định: “Đi đôi với phát triển, tăng cường kinh tế phải quan tâm giải quyết tốt các vấn đề xã hội. kinh tế phát triển là cơ sở, nguồn lực đảm bảo cho các chương trình xã hội, giáo dục, y tế, văn hóa phát triển. Xong phát triển xã hội với nền giáo dục, y tế, văn hóa sẽ thúc đẩy kinh tế phát triển nhanh và bền vững...”. Hiện nay, người cao tuổi trên thế giới nói chung và ở Việt Nam nói riêng đang có xu hướng tăng nhanh. Đây là mối quan tâm chung của nhiều quốc gia. Riêng ở nước ta, bảo vệ và chăm sóc người cso tuổi không chỉ mang ý nghĩa kinh tế, chính trị, xã hội mà còn mang ý nghĩa nhân đạo sâu sắc thể hiện truyền thống “uống nước nhớ nguồn”, “thương người như thể thương thân” của dân tộc ta. Hiện nay, người cao tuổi ở Việt Nam đang có xu hướng tăng nhanh lên trong các năm. Số người tăng lên do thành quả của công tác DSKHHGD. Số trẻ em giảm đi cùng với những cải thiện đáng kể về y tế, dinh dưỡng và phát triển kinh tế xã hội. Số người cao tuổi tăng là thành tựu của sự phát triển những cũng đang đặt ra khó khăn, thách thức. Với xã hội già hóa, thành phần cơ cấu kinh tế, dịch vụ chăm sóc...sẽ phải thay đổi cho thích ứng. Tuy nhiên, Việt Nam là nước vừa thoát nghèo lại chưa kịp chuẩn bị cho một xã hội già hóa là một thách thức rất lớn với chúng ta trong giai đoạn tới. Do đó, nhu cầu chăm sóc sức khỏe NCT sắp tới là vấn đề rất lớn. Riêng tại xã Nghĩa Minh huyện Nghĩa Hưng Tỉnh Nam Định thì dân số đang bước vào thời kì già hóa. Tính đến cuối năm 2016, trên địa bàn huyện Nghĩa Hưng có 22.975 NCT. Xã nghĩa Minh có khoảng hơn 500 người cao tuổi. Vì vậy, việc bảo vệ và chăm sóc người cao tuổi không chỉ mang ý nghĩa kinh tế, chính trị, xã hội mà còn mang ý nghĩa nhân đạo sâu sắc thể hiện truyền thống “ uống nước nhớ nguồn”, “ thương người như thể thương thân”. Không những thế người cao tuổi tại đây là tầng lớp có nhiều cống hiến trong công cuộc xây dựng và bảo vệ tổ quốc của nước ta vì vậy cần được tôn trọng, chăm sóc để tạo điều kiện cho họ tiếp tục phát huy những kinh nghiệm sống mà họ tích lũy được góp phần xậy dựng xã hội mới. đồng thời cần có những chính sách phù hợp nhằm bảo vệ và chăm sóc người cao tuổi. Một trong những khó khăn mà người cao tuổi tại xã Nghĩa Minh gặp phải đó là sự giảm sút nghiêm trọng về sức khỏe và chưa tiếp cận được chính sách hỗ trợ cho người cao tuổi. Vì vậy tôi chọn đề tài “Tình hình thực hiện chính sách hỗ trợ người cao tuổi tại xã Nghĩa Minh, tỉnh Nam Định” để làm đề tài nghiên cứu cho mình. Trong đề tài này tôi xin đi sâu vào tìm hiểu các chính sách hỗ trợ cho người cao tuổi như các chính sách về chăm sóc sức khỏe, chính sách hộ trợ đời sống xã hội và giúp người cao tuổi tiếp cận với những nguồn lực của nhà nước. Nghiên cứu này của tôi tại xã Nghĩa Minh là nghiên cứu đầu tiên và chưa có ai thực hiện. Qua đó, đối với tôi nó rất quan trọng không những có vai trò to lớn với tôi mà còn có vai trò quan trọng với người cao tuổi tại xã Nghĩa Minh, tỉnh Nam Định.

Trang 1

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan công trình nghiên cứu: “Tình hình thực hiện chính sách hỗ trợ người cao tuổi tại xã Nghĩa Minh, tỉnh Nam Định”, là công

trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi

Các số liệu và kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từngđược ai công bố trong bất kỳ một công trình nghiên cứu nào khác Nếu sai, tôixin hoàn toàn chịu trách nhiệm

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Tác giả nghiên cứu Sinh viên

Vũ Thị Xuân Thủy

Trang 2

xã Nghĩa Minh, tỉnh Nam Định Cuối cùng tôi xin chân thành cảm ơn đến giađình, bạn bè thân hữu và đồng nghiệp đã giúp đỡ, động viên tinh thần và tạođiều kiện trong suốt quá trình nghiên cứu.

Do trình độ bản thân vẫn còn nhiều hạn chế nên khóa luận khó tránhkhỏi những thiếu sót, kính mong nhận được sự quan tâm, đánh giá, góp ý củaquý thầy cô giáo, bạn bè và những người quan tâm đến vấn đề này để tôi cóthể rút kinh nghiệm và hoàn thiện tốt hơn

Tôi xin trân trọng cảm ơn tất cả sự giúp đỡ quý báu đó!

Hà nội, ngày 10 tháng 4 năm 2018

Tác giả

Vũ Thị Xuân Thủy

Trang 3

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

Vũ Thị Xuân Thủy ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT vi

DANH CÁC BẢNG BIỂU vii

DANH MỤC BIỂU ĐỒ viii

PHẦN MỞ ĐẦU 1

PHẦN NỘI DUNG 5

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VẤN ĐỀ CHĂM SÓC SỨC KHỎE CHO NGƯỜI CAO TUỔI 5

1.1 Các khái niệm 5

1.1.1 Khái niệm người cao tuổi 5

1.1.2 Khái niệm về chính sách xã hội 5

1.2 Đặc điểm tâm sinh lý của người cao tuổi 6

1.2.1 Đặc điểm sinh lý 6

1.2.2 Đặc điểm tâm lý 7

1.3 Các chính sách hỗ trợ cho người cao tuổi 8

1.3.1 Chính sách chăm sóc sức khỏe y tế 8

1.3.2 Chăm sóc sức khỏe tinh thần: hoạt động văn hóa và thể thao 11

1.3.3 Chính sách trợ cấp hàng tháng 13

1.3.4 Các khuyến nghị 13

1.4 Lịch sử nghiên cứu 15

1.4.1 Các nghiên cứu trên thế giới 15

1.4.2 Các nghiên cứu Việt Nam 15

Tiểu kết chương 1 18

CHƯƠNG 2: TÌNH HÌNH THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH HỖ TRỢ CHO NGƯỜI CAO TUỔI TẠI XÃ NGHĨA MINH, TỈNH NAM ĐỊNH 19

2.1 Khái quát về xã Nghĩa Minh 19

2.1.1 Vị trí địa lý 19

Trang 4

2.1.2 Tình hình Kinh tế - Xã hội 19

2.1.3 Tình hình chính trị 20

2.1.4 Văn hóa 20

2.1.5 Công tác Thương binh xã hội : 21

2.1.6 Hoạt động Mặt trận Tổ Quốc và các đoàn thể 22

2.2 Tình hình thực hiện chính sách hỗ trợ người cao tuổi tại xã Nghĩa Minh, tỉnh Nam Định 23

2.2.1 Đặc điểm nhân khẩu học của mẫu nghiên cứu 23

2.2.1.1 Độ tuổi và giới tính 23

2.2.1.2 Tình trạng hôn nhân 25

2.2.1.3 Tình trạng sinh sống 25

2.2.1.4 Tình trạng học vấn 27

2.2.1.5 Nghề nghiệp của NCT 27

2.2.2 Tình hình thực hiện chính sách chăm sóc sức khỏe cho người cao tuổi tại xã Nghĩa Minh tỉnh Nam Định 28

2.2.2.1 Tình hình chăm sóc sức khỏe y tế cho người cao tuổi 28

2.2.2.2 Tuyên truyền chăm sóc sức khỏe cho người cao tuổi 39

2.2.2.3: Tình hình chăm sóc sức khỏe tinh thần và hoạt động thể thao cho NCT tại xã Nghĩa Minh 41

2.2.3 Tình hình thực hiện chính sách trợ cấp hàng tháng cho NCT 50

2.2.3.1 Thực trạng về nguồn thu nhập của NCT tại xã Nghĩa Minh 50

Tiểu kết chương 2 57

CHƯƠNG 3: ĐỀ XUẤT VÀ KHUYẾN NGHỊ 58

3.1 Đề xuất 58

3.1.1 Vấn đề chăm sóc sức khỏe y tế 58

3.1.2 Chăm sóc sức khỏe tinh thần 58

3.1.3 Đối với trợ cấp xã hội hàng tháng 59

3.2 khuyến nghị 60

3.2.1 Đối với chính quyền địa phương 60

3.2.2 Trách nhiệm của gia đình và xã hội đối với người cao tuổi 61

3.2.2.1 Trách nhiệm của gia đình 61

Trang 5

3.2.2.2Trách nhiệm của nhà nước, xã hội 61

3.2.3 Đối với nghành y tế 61

3.2.4 Đối với người cao tuổi tại địa phương 62

PHẦN KẾT LUẬN 63

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 64

PHỤ LỤC 65

Trang 6

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

STT Từ viết tắt Nghĩa tương ứng

Trang 7

DANH CÁC BẢNG BIỂ

Bảng 2.1: Thu thấp về trình độ học vấn của NCT xã Nghĩa Minh 35Bảng 2.2.Tần suất hỗ trợ y tế tại xã Nghĩa Minh 43Bảng 2.3.Hình thức tuyên truyền sức khỏe cho NCT 47Bảng 2.4: tình hình tham gia các hoạt động văn hóa, văn nghệ tại đại phương 55Y

Trang 8

DANH MỤC BIỂU ĐỒ

Biểu đồ 2.1 Cơ cấu giới tính của đối tượng nghiên cứu 31

Biểu đồ 2.2: Cơ cấu mẫu nghiên cứu phân theo giới tính 32

Biểu đồ 2.3 Tình trạng hôn nhân của người cao tuổi 33

Biểu đồ 2.4 Tình trạng hôn nhân của người cao tuổi 34

Biểu đồ 2.5 Nghề nghiệp của người cao tuổi 35

Biểu đồ 2.6: Tương quan tình hình mắc bệnh mãn tính của người cao tuổi và giới tính (Đơn vị:%) 37

Biều đồ 2.7: Các bệnh mãn tính mà nam giới cao tuổi đang gặp phải 38

Biểu đồ 2.8: Các bệnh mãn tính mà nữ giới cao tuổi đã gặp phải 39

Biểu đồ 2.9 Hình thức chăm sóc sức khỏe của người cao tuổi 40

Biểu đồ 2.10 Tần suất ốm của người cao tuổi 41

Biểu đồ 2.11: tình hình lựa chọn hỗ trợ khám bệnh tại trạm Y tế xã Nghĩa Minh 42

Biểu đồ 2.12 Tình hình lựa chọn hỗ trợ khám bệnh tại trạm y tế xã Nghĩa Minh của NCT 44

Biểu đổ 2.11: Mức độ hài lòng của NCT về chất lượng phục vụ y tế cho NCT .45

Biểu đồ 2.12: Mức độ đánh giá về công tác khám chữa bệnh của cán bộ y tế xã với NCT 46

Biểu đồ 2.13 Mức độ đánh giá về công tác tuyên truyền chăm sóc sức khỏe cho người cao tuổi tại xã Nghĩa Minh 48

Biểu đồ 2.14: Tình hình tham gia hoạt động thể dục thể thao phân theo nhóm tuổi 49

Biểu đồ 2.15: Tình hình hoạt động thể dục thể thao phân theo nhóm tuồi 50

Biểu đồ 2.16: Các hoạt dộng thể dục thể thao của Nam giới phân theo nhóm tuổi 51

Biểu đồ 2.17: Các hoạt dộng thể dục thể thao của nữ giới phân theo nhóm tuổi 52

Biểu đồ 2.19: Tần suất tập luyện thể dục thể thao của NCT 53

Biểu đồ 2.20.Mức độ hướng dẫn tập luyện của cán bộ xã dành cho NCT 54

Trang 9

Biểu đồ 2.21: tần suất giao lưu hoạt động văn nghệ thể thao của NCT 56Biểu đổ 2.20 Mức độ hiệu quả của tình hình thực hiện chính sách chăm sóc sức khỏe tinh thần tại xã Nghĩa Minh của NCT 57Biểu đồ 2.21 Tình hình trợ cấp hàng tháng cho NCT 58Biểu đồ 2.22 Nguồn thu nhập cúa NCT ở Xã Nghĩa Minh 58Biểu đồ 2.23 Tổng mức thu nhập hàng tháng cho người cao tuổi tại Xã Nghĩa Minh 60Biểu đồ 2.24:Tương quan hoạt động chi tiêu của NCT với giới tính 61Biểu đồ 2.25 Mức độ chi tiêu của NCT trong cuộc sống 62Biểu đồ 2.26 Mức độ hài lòng của chính sách trợ cấp hàng tháng dành cho NCT 63

Trang 10

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Đảng ta đã khẳng định: “Đi đôi với phát triển, tăng cường kinh tế phảiquan tâm giải quyết tốt các vấn đề xã hội kinh tế phát triển là cơ sở, nguồnlực đảm bảo cho các chương trình xã hội, giáo dục, y tế, văn hóa phát triển.Xong phát triển xã hội với nền giáo dục, y tế, văn hóa sẽ thúc đẩy kinh tế pháttriển nhanh và bền vững ” Hiện nay, người cao tuổi trên thế giới nói chung

và ở Việt Nam nói riêng đang có xu hướng tăng nhanh Đây là mối quan tâmchung của nhiều quốc gia Riêng ở nước ta, bảo vệ và chăm sóc người csotuổi không chỉ mang ý nghĩa kinh tế, chính trị, xã hội mà còn mang ý nghĩanhân đạo sâu sắc thể hiện truyền thống “uống nước nhớ nguồn”, “thươngngười như thể thương thân” của dân tộc ta

Hiện nay, người cao tuổi ở Việt Nam đang có xu hướng tăng nhanh lêntrong các năm Số người tăng lên do thành quả của công tác DS-KHHGD Sốtrẻ em giảm đi cùng với những cải thiện đáng kể về y tế, dinh dưỡng và pháttriển kinh tế - xã hội Số người cao tuổi tăng là thành tựu của sự phát triểnnhững cũng đang đặt ra khó khăn, thách thức Với xã hội già hóa, thành phần

cơ cấu kinh tế, dịch vụ chăm sóc sẽ phải thay đổi cho thích ứng Tuy nhiên,Việt Nam là nước vừa thoát nghèo lại chưa kịp chuẩn bị cho một xã hội giàhóa là một thách thức rất lớn với chúng ta trong giai đoạn tới Do đó, nhu cầuchăm sóc sức khỏe NCT sắp tới là vấn đề rất lớn Riêng tại xã Nghĩa Minhhuyện Nghĩa Hưng Tỉnh Nam Định thì dân số đang bước vào thời kì già hóa.Tính đến cuối năm 2016, trên địa bàn huyện Nghĩa Hưng có 22.975 NCT Xãnghĩa Minh có khoảng hơn 500 người cao tuổi Vì vậy, việc bảo vệ và chămsóc người cao tuổi không chỉ mang ý nghĩa kinh tế, chính trị, xã hội mà cònmang ý nghĩa nhân đạo sâu sắc thể hiện truyền thống “ uống nước nhớnguồn”, “ thương người như thể thương thân” Không những thế người caotuổi tại đây là tầng lớp có nhiều cống hiến trong công cuộc xây dựng và bảo

vệ tổ quốc của nước ta vì vậy cần được tôn trọng, chăm sóc để tạo điều kiệncho họ tiếp tục phát huy những kinh nghiệm sống mà họ tích lũy được gópphần xậy dựng xã hội mới đồng thời cần có những chính sách phù hợp nhằmbảo vệ và chăm sóc người cao tuổi Một trong những khó khăn mà người caotuổi tại xã Nghĩa Minh gặp phải đó là sự giảm sút nghiêm trọng về sức khỏe

và chưa tiếp cận được chính sách hỗ trợ cho người cao tuổi Vì vậy tôi chọn

đề tài “Tình hình thực hiện chính sách hỗ trợ người cao tuổi tại xã Nghĩa

Trang 11

Minh, tỉnh Nam Định” để làm đề tài nghiên cứu cho mình.

Trong đề tài này tôi xin đi sâu vào tìm hiểu các chính sách hỗ trợ chongười cao tuổi như các chính sách về chăm sóc sức khỏe, chính sách hộ trợđời sống xã hội và giúp người cao tuổi tiếp cận với những nguồn lực của nhànước Nghiên cứu này của tôi tại xã Nghĩa Minh là nghiên cứu đầu tiên vàchưa có ai thực hiện Qua đó, đối với tôi nó rất quan trọng không những cóvai trò to lớn với tôi mà còn có vai trò quan trọng với người cao tuổi tại xãNghĩa Minh, tỉnh Nam Định

2 Mục đích nghiên cứu

Tìm hiểu tình hình thực hiện chính sách hỗ trợ người cao tuổi tại xãNghĩa Minh, tỉnh Nam Định

3 Mục tiêu nghiên cứu

Mục tiêu nghiên cứu bao gồm:

Tìm hiểu tình hình thực hiện chính sách chăm sóc sức khỏe cho ngườicao tuổi tại xã Nghĩa Minh, tỉnh Nam định: tình hình chăm sóc sức khỏe y tế

và tinh hình chăm sóc sức khỏe tinh thần, thể thao

Tìm hiểu về tình hình thực hiện chính sách trợ cấp hàng tháng cho NCTTìm hiểu về tình hình thực hiện chính sách bảo hiểm xã hội cho NCTĐưa ra đề xuất và khuyến nghị

4 Nhiệm vụ nghiên cứu

Tiến hành mô tả, phân tích đánh giá tình hình thực hiện chính sách hỗtrợ người cao tuổi tại xã Nghĩa Minh, tỉnh Nam Định

5 Đối tượng nghiên cứu

Tình hình thực hiện chính sách hỗ trợ người cao tuổi tại xã NghĩaMinh, tỉnh Nam Định

6 Khách thể nghiên cứu

Người cao tuổi sống trên địa bàn xã Nghĩa Minh, tỉnh Nam Định

Cán bộ lao động xã hội của xã Nghĩa Minh

Hội người cao tuổi

Hội Phụ Nữ

7 Phạm vi nghiên cứu

Tại xã nghĩa Minh, huyện Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định

Thời gian từ 9/4/2018 đến ngày 30/4/2018

Trang 12

8 Phương pháp nghiên cứu

8.1 Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi kết hợp phỏng vấn sâu

Điều tra bằng bảng hỏi là phương pháp của xã hội học, là một cuộcphỏng vấn nhưng không đối thoại trực tiếp bằng lời, mà đưa ra các câu hỏi insẵn trên giấy, gửi đến nơi được phỏng vấn Kết quả điều tra tốt hay không phụthuộc vào việc chuẩn bị các câu hỏi có thuận lợi cho việc trả lời hay không

Việc chọn người trả lời bảng hỏi trong đó, nhóm người được chọn phải

từ 60 tuổi trở nên Không phân biệt giới tính, nghề nghiệp, tình trạng sinhsống, trình độ học vấn

Phiếu hỏi là hệ thống các câu hỏi được sắp xếp trên cơ sở các nguyêntắc tâm lí, logic và theo một nội dung nhất định tạo điều kiện cho ngườiđược hỏi thể hiện quan điểm của mình và người nghiên cứu thu thập đượcnhững thông tin cá biệt nhằm đáp ứng các yêu cầu, mục tiêu nghiên cứu

8.2 Phương pháp chọn mẫu điều tra bảng hỏi

Qua tài liệu thống kê ban dân số- trẻ em của xã Nghĩa Minh tôi cóđược cung cấp về số người cao tuổi đang sinh sống ở xã là khoảng 500 người.trong đó Nam giới chiếm khoảng 40% Nữ giới chiếm 60% Tôi tiến hàngpháp phiếu hỏi cho các cụ nữ sẽ nhiều hơn các cụ Nam

Tiến hành phát phiếu hỏi Nghiên cứu cho 40 NCT: 24 cụ là Nữ là 16 cụ

là Nam theo tỉ lệ NCT tại xã Các cụ được hỏi đến từ các thôn xóm khác nhau

và trong các nhóm tuổi khác nhau

Phương pháp này sử dụng các thông tin định tính nhằm tìm hiểu sâuhơn vần đề nghiên cứu mà trong phương pháp trưng cầu ý kiến bằng bảng hỏikhông làm được

Người phỏng vấn sẽ tự do hoàn toàn trong cách dẫn dắt cuộc phỏng vấnsâu, trong cách sắp xếp trình tự cũng như hình thức để hỏi, để thu thập thôngtin chọn người phỏng vấn sâu Tôi tiến hành phỏng vấn sâu 10 cụ Người được

Trang 13

chọn phỏng vấn sâu sẽ ở trong các nhóm tuổi khác nhau và dựa trên mức độkhác nhau sao cho phù hợp với nội dung được hỏi đến.

8.4 Nhóm phương pháp phân tích tài liệu

Phương pháp thu thập và phân tích tài liệu tổng hợp, tập chung cácnguồn tài liệu có liên quan tới nội dung đang tìm hiểu, trong nghiên cứu tàiliệu người nghiên cứu thường phải vừa phân tích vừa tổng hợp tài liệu vìnguồn tài liệu cho nghiên cứu rất đa dạng: tạp chí, báo mạng, thông tin đạichúng Sau khi phân tích phát hiện ra những thiếu sót sai lệch nên lựa chọncác tài liệu cần đủ để xây dựng luận cứ cho đề tài và sắp xếp tài liệu cho phùhợp

Trên cơ sở thu nhập các nguồn tài liệu, thông tin từ sách báo, các trangmạng, các bài viết nghiên cứu tôi tiếp tục phân tích tổng hợp từ tài liệu theophương pháp chọn lọc làm cơ sở để đánh giá cho bài viết nghiên cứu củamình

8.5 Phương pháp quan sát

Phương pháp này được vận động xuyên suốt trong thời quá trìnhnghiên cứu đề tài Phương pháp quan sác là phương pháp pháp thu nhận thôngtin xã hội được sử dụng rộng rãi trong nghiên cứu xã hội học, đây là phươngphap rất cơ bản và quan trọng trong nghiên cứu Quan sác là phương phápnghiên cứu bằng tri giác trực tiếp vag ghi chép mọi nhân tố có liên quan đếnđối tượng nghiên cứu một cách có hệ thống Quan sác rất phù hợp với nhữngvấn đề nghiên cứu mang tính chất mô tả, những sự kiện, diễn biến bề mặt.Dựa vào đó khái quát các bên trong cái bản chất và sự kiện và tìm ra mốiquan hệ giữa chúng với nhau

Áp dụng phương pháp này vào đề tài nghiên cứu giúp em có những ghichép

9 Kết cấu khóa luận tốt nghiệp

Chương 1: Cơ sở lý luận về vấn đề chăm sóc sức khỏe cho người cao tuổi

Chương 2: Tình hình thực hiện chính sách hỗ trợ người cao tuổi tại xã nghĩa Minh tỉnh Nam Định

Chương 3: Khuyến nghị, đề xuất

Trang 14

PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VẤN ĐỀ CHĂM SÓC SỨC KHỎE

CHO NGƯỜI CAO TUỔI 1.1 Các khái niệm

1.1.1 Khái niệm người cao tuổi

Có rất nhiều khái niệm về người co tuổi, trước đây người ta thườngdùng thuật ngữ người già để chỉ những người có tuổi, hiện nay” người caotuổi” đang ngày càng được sử dụng nhiều hơn Hai thuật ngữ này tuy không

khác nhau về mặt khoa học song về tâm lý “Người cao tuổi là thuật ngữ mang tính tích cực và thể hiện thái độ tôn trọng”.

Theo quan điểm y học: người cao tuổi là người ở giai đoạn già hóa gắnliền với sự suy giảm các chức năng của cơ thể

Về mặt pháp luật: luật người cao tuổi ở Việt Nam năm 2010 quy định:

“người cao tuổi là tất cả công dân Việt Nam trên 60 tuổi trở lên”.

WTO định nghĩa: “Người cao tuổi phải từ 70 tuổi trở lên”

Một số nước phát triển như Đức, Hoa Kỳ, lại quy định người cao tuổi

là những người từ 65 tuổi trở nên Quy định ở mỗi nước có sự khác biệt là do

sự khác nhau về lứa tuổi có các biểu hiện về già của người dân ở các nướckhác nhau Những nước có hệ thống y tế, chăm sóc sức khỏe tốt thì tuổi thọ

và sức khỏe của người dân cũng được nâng cao Do đó, các biểu hiện của tuổigià thường đến muộn hơn Vì vậy, quy định về tuổi già ở các nước cũng khácnhau

Theo quan điểm của công tác xã hội: với đặc thù là một nghề trợ giúp

xã hội, công tác xã hội nhìn nhận về người cao tuổi như sau: người cao tuổivới những thay đổi về tâm sinh lí, lao động-thu nhập, quan hệ xã hội sẽ gặpnhiều khó khăn, vấn đề trong cuộc sống Do đó, người cao tuổi là một đốitượng yếu thế, cần sự giúp đỡ của công tác xã hội

Vậy trong nghiên cứu với người cao tuổi tại Xã Nghĩa Minh, tỉnh Nam

định tôi rút ra khái niệm về người cao tuổi như sau: “Người cao tuổi là tất cả công dân Việt Nam phải từ 70 tuổi trở lên” Khái niệm này phù hợp với đối

tượng là người cao tuổi tại xã Nghĩa Minh

1.1.2 Khái niệm về chính sách xã hội

Chính sách xã hội là một hệ thống những quan điểm, chủ trương,

Trang 15

phương hướng, biện pháp của nhà nước và các tổ chức chính trị - xã hội khácđược thể chế hoá để giải quyết những vấn đề xã hội mà trước hết là nhữngvấn đề xã hội ngày càng đảm bảo sự an toàn xã hội

Chính sách xã hội là chính sách đối với con người, tìm cách tác độngvào các hệ thống quan hệ xã hội (quan hệ các giai cấp, các tầng lớp xã hội,quan hệ các nhóm xã hội khác nhau) tác động vào hoàn cảnh sống của conngười và của các nhóm xã hội, (bao gồm điều kiện lao động và điều kiện sinhhoạt) nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội, bảo đảm và thiết lập được côngbằng xã hội trong điều kiện xã hội nhất định

1.2 Đặc điểm tâm sinh lý của người cao tuổi

1.2.1 Đặc điểm sinh lý

a) Quá trình lão hóa

Lão hóa là quá trình tất yếu của cơ thể sống Lão hóa cơ thể sớm hayđến muộn tùy thuộc vào cơ thể của từng người khi tuổi già các đáp uwgs kémnhanh nhậy, khả năng tự điều chỉnh và thích nghi cũng giảm dần, sức khỏe vàthể chất tinh thần cũng giảm sút Về thể xác trong giai đoạn này cơ thể bắtđầu có những thay đổi theo chiều hướng đi xuống:

Diện mạo thay đổi: tóc bạc, da môi, có nhiều thêm nếp nhăn Da trởnên khô và thô hơn Trên cơ thể, dầu và mặt xuất hiện mụn cơm nhiều hơn ởtuổi già có những nếp nhăn là do lớp mỡ ở dưới lớp da mất đi cũng như do dakhông còn tính chất đàn hồi các mạch máu móng vỡ ra, tạo thành các chấtxanh đen nhỏ dưới da

Bộ răng yếu làm cho người cao tuổi ngại ngùng dùng thức ăn cứng,khô, dai dù thức ăn này giàu vitamin, đạm và chất khoáng Thay vào đó ngườicao tuổi chọn thức ăn mềm

Các cơ quan cảm giác: cảm giác- nghe và nhìn, nếm và khứu giác cùngvới tuổi tác ngày càng cao thường bắt đầu hoạt động kém hiệu quả

Khả năng tình dục giảm: do sự thay đổi của nội tiết tố, ham muốn tìnhdục ở người cao tuổi cũng giảm rõ rệt, ở người già xương và khớp không cònlinh hoạt mềm dẻo các coe yếu dần đi đẫn đến mọi cử động chậm chạp, vụng

về, người già hay bị mệ mỏi, mọi hành vi cử chỉ yêu thương gặp khó khăn

b) Các bệnh thường gặp ở người cao tuổi

Người cao tuổi thường mắc các bệnh về:

Trang 16

Các bênh tim mạch và huyết áp: cao huyết áp, nhồi máu cơ tim, suytim, loạn nhịp tim,

Các bênh về xương khớp: thoái hóa khớp, loãng xương, bệnh gút,

Các bênh về hô hấp: cảm sốt, viêm họng- mũi, cúm, viên phê quản, ungthư phổi,

Các bệnh về răng miệng: khô miệng sâu răng, bệnh nha chu,

Các bệnh về tiêu hóa và dinh dưỡng: rối loạn tiêu hóa, suy dinhdưỡng,

Ngoài ra người cao tuổi còn hay mắc bệnh ung bướu, bệnh thần kinh vàcác bệnh về sức khỏe tâm thần

1.2.2 Đặc điểm tâm lý

Trạng thái tâm lý và sức khỏe của người cao tuổi không chỉ phụ thuộcvào nội lực bản thân mà còn phụ thuộc vào môi trường xã hội, đặc biệt là môitrường văn hóa- tình cảm và quan trọng nhất là tình cảm môi trường gia đình,khi bước sang giai đoạn tuổi già, những thay đổi về tâm lý của mỗi người mỗikhác, nhưng tập chung nhưng thay đổi thường gặp là:

Hướng về quá khứ

Chuyển từ trạng thái “ tích cực” sang trạng thái “ tiêu cực”

Sợ cô đơn và mong được quan tâm chăm sóc nhiều hơn

Cảm thấy bất lực và tủi thân

Nói nhiều hoặc trầm cảm

Sợ phải đối mặt với cái chết

Với những thay đổi chung về tâm lý của người cao tuổi đã trình bày ởtrên dẫn đến mỗi một bộ phận người cao tuổi thường thay đổi tính nết Concháu cần chuẩn bị sẵn tâm lý để nhận thực tế này nhằm có những ứng xử hợplý

Nhu cầu của người cao tuổi: là hiện tâm lý của con người, là những đòi

hỏi, mong muốn, nguyện vọng của con người về vật chất, tinh thần để tồn tại

và phát triển Tùy theo trình độ nhận thức và môi trường sống, những đặcđiểm tâm sinh lý, mỗi người có những nhu cầu khác nhau

Nhu cầu là cảm giác thiếu hụt một cái gì đó mà con người cảm nhậnđược Nhu cầu là yếu tố thúc đẩy con người hoạt động Nhu cầu càng cấpbách thì khả năng chi phối của con người càng cao Về mặt quản lý, kiểm soátđược nhu cầu đồng nghĩa với việc có thể kiểm soát được cá nhân

Trang 17

Nhu cầu của một cá nhân, đa dạng và vô tận Về mặt quản lý, ngườiquản lý chỉ kiểm soát những nhu cầu có liên quan đến hiệu quả làm việc của

cá nhân Việc thỏa mãn nhu cầu nào đó cua cá nhân đồng thời tạo ra một nhucầu khác theo đinh hướng của nhà quản lý, do đó người quản lý luôn có thểđiều kiển được các cá nhân

Nhu cầu là tính chất của cơ thể sống, biểu hiện trạng thái hụt hay mấtcân bằng của chính cá thể đó và do đó phân biệt nó với môi trường sống Nhucầu tối thiếu hay còn gọi là nhu cầu yếu đã được lập trình qua quá trình rất lâudài tồn tại, phát triển và tiến hóa Nhu cầu chi phối mạnh mẽ đến đời sốngtâm lý nói chung, đến hành vi của con người nói riêng Nhu cầu được nhiềunghành khoa học quan tâm nghiên cứu và sử dụng ở nhiều lĩnh vực khác nhautrong đời sống, xã hội

Theo từ điển bách khoa toàn thư triết học ( liên xô) thì nhu cầu là sựhay hụt một cái gì đó thiết yếu để duy trì cuộc sống của cơ thể một cá nhâncon người, một nhóm xã hội hay toàn bộ xã hội nói chung Nhu cầu là động

cơ bên trong của tính tích cực

Như vậy, có thể nói rằng nhu cầu là thuộc tính tâm lý của cá nhân, là sựđòi hỏi mà cá nhân thấy cần được thỏa mãn trong những điều kiện nhất định

để tồn tại và phát triển, đồng thời là nguồn gốc cảu tính tích cực và óc sángtạo trong hoạt động của con người

1.3 Các chính sách hỗ trợ cho người cao tuổi

1.3.1 Chính sách chăm sóc sức khỏe y tế

Đối với người cao tuổi đủ điều kiện tiếp nhận vào sống trong các cơ sởbảo trợ xã hội nhưng có người nhận chăm sóc tại cộng đồng theo quy định tạimục 4 điều 19 Luật người cao tuổi, thì được hưởng mức trợ cấp 360 nghìnđồng/người/tháng Ngoài mức trợ cấp trên, khi người cao tuổi qua đời, cònđược Nhà Nước hỗ trợ chi phí mai táng 3 triệu đồng theo quy định tại mục 4điều 18, 19 của Luật Người cao tuổi

Nhà nước khuyến khích tổ chức, cá nhân đầu tư xây dựng cơ sở chămsóc người cao tuổi; đầu tư cơ sở vật chất và hỗ trợ kinh phí hoạt động cho cơsởchăm sóc người cao tuổi công lập; hỗ trợ kinh phí cho cơ sở chăm sócngười cao tuổi ngoài công lập nuôi dưỡng người cao tuổi Tổ chức, cá nhânđóng góp, đầu tư xây dựng cơ sở chăm sóc người cao tuổi bằng nguồn kinhphí của mình được hưởng các chính sách ưu đãi theo quy định của pháp luật

Trang 18

về chính sách khuyến khích xã hội hóa đối với các hoạt động trong lĩnh vựcgiáo dục, dạy nghề, y tế, văn hóa, thể thao, môi trường.

Ngoài ra, Căn cứ Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Namnăm 1992 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Nghị quyết số 51/2001/QH10; Quốc hội ban hành Luật người cao tuổi Trong đó Mục 2: Chăm sócsức khỏe người cao tuổi quy định:

Về Khám chữa bệnh, người từ đủ 80 tuổi trở lên được ưu tiên khámtrước người bệnh khác trừ bệnh nhân cấp cứu, trẻ em dưới 6 tuổi, ngườikhuyết tật nặng; Người cao tuổi được bố trí giường nằm phù hợp khi điều trịnội trú

Các bệnh viện, trừ bệnh viện chuyên khoa nhi, có trách nhiệm tổ chứckhoa lão khoa hoặc dành một số giường để điều trị người bệnh là người caotuổi; Phục hồi sức khoẻ cho người bệnh là người cao tuổi sau các đợt điều trịcấp tính tại bệnh viện và hướng dẫn tiếp tục điều trị, chăm sóc tại gia đình; Kết hợp các phương pháp điều trị y học cổ truyền với y học hiện đại, hướngdẫn các phương pháp chữa bệnh không dùng thuốc ở tuyến y tế cơ sở đối vớingười bệnh là người cao tuổi Nhà nước khuyến khích tổ chức, cá nhân khámbệnh, chữa bệnh miễn phí ch o người cao tuổi

Về chăm sóc sức khoẻ ban đầu tại nơi cư trú, Trạm y tế xã, phường, thịtrấn có trách nhiệm sau đây:

Triển khai các hình thức tuyên truyền, phổ biến kiến thức phổ thông vềchăm sóc sức khỏe; hướng dẫn người cao tuổi kỹ năng phòng bệnh, chữabệnh và tự chăm sóc sức khoẻ; Lập hồ sơ theo dõi, quản lý sức khoẻ ngườicao tuổi; Khám bệnh, chữa bệnh phù hợp với chuyên môn cho người cao tuổi;Phối hợp với cơ sở khám bệnh, chữa bệnh tuyến trên tổ chức kiểm tra sứckhoẻ định kỳ cho người cao tuổi

Trạm y tế xã, phường, thị trấn cử cán bộ y tế đến khám bệnh, chữabệnh tại nơi cư trú đối với người cao tuổi cô đơn bị bệnh nặng không thể đếnkhám bệnh, chữa bệnh tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh Uỷ ban nhân dân xã,phường, thị trấn có trách nhiệm hỗ trợ việc đưa người bệnh quy định tạikhoản này tới cơ sở khám bệnh, chữa bệnh theo đề nghị của trạm y tế xã,phường, thị trấn Nhà nước khuyến khích tổ chức, cá nhân khám bệnh, chữabệnh cho người cao tuổi tại nơi cư trú

Việc đưa ra các chính sách, luật định nhằm bảo vệ người cao tuổi của

Trang 19

Đảng và Nhà nước nếu được tuyên truyền, phổ biến rõ ràng với tất cả mọi đốitượng trong xã hội thì sẽ trở nên rất hữu ích và thiết thực Bởi vậy luật đưa ranên thông qua các cấp, ngành, các tổ chức cộng đồng để thông báo cho ngườidân địa phương, tránh việc luật chỉ trên giấy tờ và không được đi vào thựctiễn.

Chính sách bảo hiểm y tế cho NCT:

Việt Nam đang bước vào giai đoạn già hóa dân số, số người trên 80tuổi ước khoảng gần 2% tổng số dân Trong khi đó, phần lớn nhóm người ở

độ tuổi 80 trở lên không có lương hưu, sống phụ thuộc vào gia đình và các trợcấp xã hội hàng tháng Đặc biệt, những người cao tuổi hiện nay thường mắccùng lúc nhiều bệnh mãn tính như tiểu đường, tim mạch, huyết áp… nênthường xuyên phải đi khám và điều trị Số tiền điều trị này cũng không phải lànhỏ nên hầu hết các gia đình chỉ nhớ đến BHYT khi con số này vượt quá mứcchi trả của gia đình có thể Vì vậy căn cứ theo khoản 5 Điều 5 Nghị định136/2013/NĐ-CP thì người cao tuổi được hưởng trợ cấp bảo trợ xã hội hàngtháng nếu thuộc một trong các trường hợp sau:

Người cao tuổi thuộc hộ nghèo không có người có nghĩa vụ và quyềnphụng dưỡng hoặc có người có nghĩa vụ và quyền phụng dưỡng nhưng ngườinày đang hưởng chế độ trợ cấp xã hội hàng tháng;

Người từ đủ 80 tuổi trở lên không thuộc diện quy định tại Điểm aKhoản này mà không có lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội hàng tháng, trợcấp xã hội hàng tháng;

Người cao tuổi thuộc hộ nghèo không có người có nghĩa vụ và quyềnphụng dưỡng, không có điều kiện sống ở cộng đồng, đủ điều kiện tiếp nhậnvào cơ sở bảo trợ xã hội, nhà xã hội nhưng có người nhận chăm sóc tại cộngđồng

Và mức hưởng BHYT đối với người thuộc diện được hưởng trợ cấp xãhội khi đi khám chữa bệnh đúng tuyến theo điểm a khoản 1 Điều 22 Luật bảohiểm y tế sửa đổi, bổ sung năm 2014: “100% chi phí khám bệnh, chữa bệnhđối với đối tượng quy định tại các điểm a, d, e, g, h và i khoản 3 Điều 12 củaLuật này Chi phí khám bệnh, chữa bệnh ngoài phạm vi được hưởng bảo hiểm

y tế của đối tượng quy định tại điểm a khoản 3 Điều 12 của Luật này được chitrả từ nguồn kinh phí bảo hiểm y tế dành cho khám bệnh, chữa bệnh củanhóm đối tượng này; trường hợp nguồn kinh phí này không đủ thì do ngân

Trang 20

b) Bố trí giường nằm phù hợp khi điều trị nội trú.

2 Các bệnh viện, trừ bệnh viện chuyên khoa nhi, có trách nhiệm sauđây:

a) Tổ chức khoa lão khoa hoặc dành một số giường để điều trị ngườibệnh là người cao tuổi;

b) Phục hồi sức khoẻ cho người bệnh là người cao tuổi sau các đợt điềutrị cấp tính tại bệnh viện và hướng dẫn tiếp tục điều trị, chăm sóc tại gia đình;

c) Kết hợp các phương pháp điều trị y học cổ truyền với y học hiện đại,hướng dẫn các phương pháp chữa bệnh không dùng thuốc ở tuyến y tế cơ sởđối với người bệnh là người cao tuổi

3 Nhà nước khuyến khích tổ chức, cá nhân khám bệnh, chữa bệnhmiễn phí cho người cao tuổi.”

Như vậy, người 80 tuổi trở lên được ưu tiên khám trước trên bệnh việntoàn quốc, được hưởng những ưu đãi phù hợp với người cao tuổi

1.3.2 Chăm sóc sức khỏe tinh thần: hoạt động văn hóa và thể thao

Chăm sóc sức khỏe là một việc làm hết sức cần thiết đối với NCT, vìkhi thời điểm tuổi càng cao thì NCT càng cần đến hỗ trợ từ những xungquanh, sự suy thoái các chức năng trong cơ thể, sự lão hóa các bộ phận làmcho NCT không còn tự chăm sóc tốt cho bản thân nữa, lúc này họ cần sự trợgiúp thừ những người xung quanh Bên cạnh đó song song với những hoạtđộng thể dục, thể thao, văn nghệ để giúp các cụ thư giãn, vui, khỏe và cóích.NCT đồng nghĩa với sức khỏe giảm dần, môi trường tương tác hàng ngàycũng bị thu hẹp nên nhu cầu bức thiết của người cao tuổi chính là giao tiếp vàtập luyện Người cao tuổi nên lựa chọn cho mình một môn thể thao phù hợpvới điều kiện, sở thích, khả năng của mình Ngoài việc nâng cao sức khỏe,đây còn là môi trường tốt để người cao tuổi giao lưu, chia sẻ những vui buồntrong cuộc sống

Trang 21

a) Hỗ trợ người cao tuổi hoạt động văn hóa, thể thao và du lịch

Hỗ trợ người cao tuổi trong hoạt động văn hóa, thể thao và du lịch đượcquy định tại Điều 3 Thông tư 06/2012/TT-BVHTTDL hướng dẫn Nghị định06/2011/NĐ-CP về hỗ trợ người cao tuổi tham gia hoạt động văn hóa, thểthao, du lịch và tổ chức mừng thọ người cao tuổi do Bộ Văn hóa, Thể thao và

Du lịch ban hành, cụ thể như sau:

Các cơ quan, đơn vị, tổ chức, cá nhân hoạt động trong lĩnh vực vănhóa, thể thao và du lịch có trách nhiệm hỗ trợ người cao tuổi tham gia học tập,sinh hoạt văn hóa, giải trí, du lịch, tập luyện thể dục, thể thao như sau:

Ưu tiên đầu tư xây dựng, cải tạo các cơ sở văn hóa, thể thao và du lịchđáp ứng nhu cầu học tập, sinh hoạt văn hóa, giải trí, rèn luyện sức khỏe củangười cao tuổi

Hướng dẫn, tạo điều kiện thuận lợi để người cao tuổi sử dụng tài liệuthư viện và tham gia các hoạt động do thư viện tổ chức dưới hình thức phùhợp với sức khỏe người cao tuổi và nội quy thư viện

Giúp đỡ, tạo điều kiện cho người cao tuổi tham gia hoạt động thể dục,thể thao, bố trí dụng cụ, người hướng dẫn tập luyện, tổ chức các giải thi đấuthể thao dành riêng cho người cao tuổi, bảo đảm an toàn cho người cao tuổitrong quá trình tập luyện, thi đấu tại cơ sở

Phát triển các loại hình du lịch phù hợp với tâm lý và sức khỏe ngườicao tuổi

Hỗ trợ, giảm giá dịch vụ đối với người cao tuổi theo quy định củaThông tư này và quy định của pháp luật có liên quan

Đồng thời, người cao tuổi khi tham gia tập luyện thể dục, thể thao tạicác cơ sở thuộc thẩm quyền quản lý của Bộ VHTTDL thì sẽ được giảm giádịch vụ với mức giảm là ít nhất 20% giá dịch vụ đang áp dụng tại các cơ sở

b) Tham gia hoạt động văn hóa của các hội

Đối với người cao tuổi, làm việc thiện, sống có ích cho xã hội là niềmvui sống Tham gia các hoạt động thiện nguyện sẽ giúp họ cảm thấy dễ thôngcảm, sẻ chia, hạn chế những suy nghĩ tiêu cực

Bên cạnh đó, tham gia các các lớp học do hội nhóm tổ chức riêng chongười cao tuổi như hoạt động hội văn ghệ: múa, hát ngâm thơ tín ngưỡng dântộc, thờ cúng sẽ giúp đời sống tinh thần của người cao tuổi thêm phong phú

Trang 22

c) Du lịch, thăm quan

Con cái đi sớm về muộn làm người cao tuổi phát sinh cảm giác trốngtrải, phiền muộn khi ở nhà một mình Du lịch nghỉ dưỡng, vãn cảnh đền chùa,cảnh đẹp quê hương, thăm viếng họ hàng… là một trong những khoảng thờigian vui vẻ, đẩy lùi suy nghĩ tiêu cực của người cao tuổi

d) Tham gia hoạt động hội nhóm

Các hoạt động hội nhóm tại khu dân cư, thôn, xóm, phường, xã sẽgiảm bớt thời gian buồn tẻ khi ở nhà Người cao tuổi được phát huy vai trò xãhội, sẽ cảm thấy mình vẫn còn trẻ trung, năng động

Người cao tuổi nên thường xuyên tham gia các chương trình thămkhám sức khỏe định kỳ cho người cao tuổi để kiểm tra tổng quát chiều cao,cân nặng, chỉ số khối cơ thể BMI, huyết áp, độ loãng xương…

Như vậy, bản thân có thể tầm soát và điều trị bệnh kịp thời nếu có gười cao tuổi cũng nên tham gia các buổi hội thảo tư vấn với các bác sĩchuyên khoa để được giải đáp thắc mắc, hiểu hơn về cách tự theo dõi và chămsóc sức khỏe hay chế độ dinh dưỡng khoa học

b) Người từ đủ 80 tuổi trở lên mà không có lương hưu, trợ cấp bảohiểm xã hội hàng tháng, trợ cấp xã hội hàng tháng;

c) Người cao tuổi thuộc hộ nghèo không có người có nghĩa vụ vàquyền phụng dưỡng, không có điều kiện sống ở cộng đồng, đủ điều kiện tiếpnhận vào cơ sở bảo trợ xã hội, nhà xã hội nhưng có người nhận chăm sóc tạicộng đồng

Như vậy, những người là công dân Việt Nam từ 60 tuổi trở lên vàthuộc 1 trong 3 trường hợp nêu trên thì được hưởng trợ cấp hàng tháng

1.3.4 Các khuyến nghị

Để đảm bảo đời sống tinh thần cho NCT và đáp ứng nhu cầu tối thiếucho người cao tuổi tôi có một số khuyến nghị sau:

Trang 23

 Nâng mức hưởng và hạ độ tuổi được hưởng trợ cấp xã hội hằngtháng đối với NCT.

 Đáp ứng đủ nhu cầu dinh dưỡng

Muốn chăm sóc tốt sức khỏe, trước hết cần hiểu rõ đặc điểm và nhu cầucủa mỗi lứa tuổi.Trong bữa ăn của người cao tuổi cần có đầy đủ 4 nhóm thựcphẩm cơ bản để đáp ứng nhu cầu dinh dưỡng bao gồm: Chất bột đường (gạo,ngô, khoai, mỳ, bắp, các loại ngũ cốc), chất đạm ( thịt, cá, trứng, sữa, đậunành ) , chất béo (có nhiều trong dầu, mỡ, lạc, vừng,…), chất xơ vitamin vàkhoáng chất (có nhiều trong các loại rau, củ và trái cây tươi,…);

Người cao tuổi nên ăn giảm các loại tinh bột như gạo, ngô, khoai, ngũcốc để tránh thừa calo, tích mỡ và tăng cân Trung bình nên ăn dưới300g/người/ngày; Ăn vừa phải thịt, cá, trứng, hải sản; nên ăn cá nhiều hơn ănthịt: Mỗi tuần tối thiểu 3 bữa cá; ăn không quá 1,5kg thịt/tháng Chỉ nên ăn 2-

3 quả trứng một tuần Ngoài thức ăn đa dạng, người cao tuổi nên uống 1-2 lysữa mỗi ngày vì sữa bổ dưỡng, cung cấp nguồn axit amin cân đối và khôngchưa nhiều cholesterol như trứng gà

Nên hạn chế đồ chiên xào, tăng cường thức ăn tươi hoặc luộc Ănchậm, nhai kỹ làm cho thức ăn dễ tiêu hóa, giờ ăn trong ngày nên ổn định

 Rèn luyện thể lực:

Cần duy trì chế độ vận động hợp lý và đều đặn Cách rèn luyện dễ thựchiện nhất là đi bộ đều dặn hằng ngày từ 30 đến 40 phút vào sáng sớm và chiềutối ( nên chọn thời gian thích hợp tùy theo mùa hè hay mùa đông) Nên đi vớitốc độ vừa phải tùy theo sức khỏe từng người để sau khi đi không thấy mệt,

ăn ngon hơn và ngủ tốt hơn

 Chăm sóc giấc ngủ:

Một người ngủ trung bình 7 giờ/ngày là hợp lý, có tuổi thọ cao nhất,còn ngủ 9 giờ/ngày có nguy cơ cao về tim mạch và giảm tuổi thọ

Ngoài giấc ngủ buổi tối, nên ngủ 15-30 phút vào buổi trưa, giúp cho trí

óc tỉnh táo, minh mẫn hơn vào buổi chiều

 Chăm sóc sức khỏe tinh thần:

Duy trì việc hoạt động trí tuệ dưới nhiều hình thức Đọc sách báo, giaolưu với bạn bè (bạn hàng xóm và bạn trên mạng), sinh hoạt trong câu lạc bộ,làm thơ, ghi nhật ký

Trang 24

1.4 Lịch sử nghiên cứu

1.4.1 Các nghiên cứu trên thế giới

Chương “lão hóa với người lớn tuổi” của John J Macions trong tácphẩm “xã hội học” (2014) đã trình bày rõ thực trạng người cao tuổi đang gặpphải ở các nước, các nền văn hóa khâc nhau Tác giả đã phân tích và lí giảidưới nhiều góc độ khác nhau về hiện trạng và số lượng người cao tuổi ở Mỹthêm đông Tác phẩm đã làm rõ được vấn đề tình trạng NCT ở các nước đangphát triển phải đối mặt như: phân biệt đối xử và định kiến xã hội trong vấn đềnghèo đói Sự cô lập của xã hội đang dần trừ thành nỗi lo âu của hàng triệuNCT, trong đó nữ chiếm số dông Một thống kê của mỹ năm 1985 cho thấy,khoảng 40% sống một mình so với nam giới chiếm 14%, tỉ lệ sống với ngườithân chiếm 17.8% đối với nữ và 7,4% đối với Nam hay sống ở nhà dưỡng lão

họ muốn chia sẻ những kinh nghiệm mà mình từng trải cho con cháu thôngqua hồi tưởng quá khứ

Để làm được điều này trong thời gian tới, tổ chức NCT quốc tế dự kiếntăng 2/3 câc dịch vụ trực tiếp hỗ trợ người cao tuổi và gia đình họ Đồng thờităng cường các hoạt động thúc đẩy cải thiện cách nhìn nhận về chế độ lươnghưu, dịch vụ chăm sóc tăng thêm sự đáp ứng nhu cầu phù hợp khẩn cấp đểđem lại lợi ích cho nhiều người cao tuổi và tăng cường mở rộng hình sách,công tác vận động cùng với các hoạt động hỗ trợ trong các trường hợp khẩncấp

1.4.2 Các nghiên cứu Việt Nam

Theo Bùi Thế Cường trong cuấn “trong miền an sinh xã hội- nhữngnghiên cứu về người cao tuổi Việt Nam” xuất bản năm 2005, nghiên cứungười cao tuổi trong nghiên cứu xã hội Việt Nam bắt đầu từ những năm 1970,các nhà y khoa là những người đầu tiên khai phá lĩnh vực nghiên cứu y học về

Trang 25

người cao tuổi Năm 1970, thành lập chương trình nghiên cứu y học tuổi già

và mười năm sau trở thành đơn vị nghiên cứu y học tuổi già của bộ y tế

Năm 1977, chương trình nghiên cứu y học NCT do Phạm Khuê chỉ đạothực hiện cuộc khảo sát lớn đầu tiên về sức khỏe NCT trên mẫu gồm 13.399người 60 tuổi trở nên ở phía Bắc Cuộc khảo sát tập trung cung cấp một bứctranh thực tế về bệnh tật và sức khỏe của người cao tuổi Miền Bắc Tháng 9năm 1984, bệnh viện Việt Xô đã tiếp tục tìm hiểu sức khỏe và đời sống củaNCT thông qua khảo sát các cụ nghỉ hưu ở Hà Nội Vào thời điểm giữa haithập niên 1980 và 1990, các bác sĩ lão khoa tiến hành một cuộc khảo cứu vàbảng hỏi có tham khảo chương trình nghiên cứu do tổ chức y tế thế giới tiếnhành ở vùng Tây Thái BÌnh Dương, đánh dấu bước tiến vè nghiên cứu chothấy hầu hết NCT có hoàn cảnh kinh tế khó khăn, phải làm thêm nhiều việc

để tăng thêm thu nhập

Năm 1989, những nghiên cứu dân số và lao động và tuổi già bắt đầuvới một báo cáo quan trọng về NCT theo yêu cầu của ESCAP được hoànthành Đây là báo cáo dân số học đầu tiên về tuổi già Việt Nam được giớithiệu ra quốc tế Tiếp theo sau đó là khảo sát của bộ Lao Động Thương Binh

Xã Hội về NCT, những khảo sát là công cụ quan trọng của quá trình làmchính sách Có thể kể đến nghiên cứu của Trịnh Văn Lễ về người nghỉ hưu,tác giả chỉ ra chế độ bảo hiểm đối với người nghỉ hưu, tác giả chỉ ra chế đôbảo hiểm xã hội đối với người nghỉ hưu hình thành rất sớm từ những năm

1950 Đến đầu năm 1991, viện bảo vệ sức khỏe NCT có chủ chì một hội thảolớn về lão khoa xã hội các công trình giới thiệu và được xuất bản Đây là mốcquan trọng cho nghiên cứu xã hội học NCT

Năm 1983, trong khuân khổ một chương trình nghiên cứu quốc gia vềnhà ở, một nhóm nhà xã hội học tiến hành khảo sát: trách nhiệm gia đình làmthêm, uy tín trong gia định, tiếp đó là nghiên cứu thực nghiệm về NCT tạilàng An Điền ( Hải Dương) giữa năm 1991 với nhiều phát hiện mới về NCTdùng làm chỉ dẫn cho các nghiên cứu tiếp theo Giữa năm 1993, một khảo sáttrong khuân khổ cửa dự án ESCAP “ phát triển chính sách cấp địa phương vềngười cao tuổi tham gia vào quá trình phát triển” mở ra hướng nghiên cứu xãhội học tham gia

Trong những năm 1990, chương trình nghiên cứu NCT tại viện xã hộihọc đưa ra một dự kiến khá tổng quát, muốn tìm hiểu vấn đề từ các góc độnghiên cứu lịch sử và thực nghiệm đối với hoàn cảnh sống cũng như thể chế

Trang 26

an sinh xã hội của người cao tuổi, chương trình được biết đến với tên gọi “nghiên cứu tuổi già và người cao tuổi”

Đầu năm 1990, nhóm người về hưu từ khu vực nhà nước chiếm khoảng

¼ tổng dân số người cao tuổi vì vậy, đề tài về hưu một lần nữa được quantâm Một số phân tích, thống kê về nhóm người về hưu được thực hiện vàonăm 1992 với sự giúp đỡ của vụ bảo trợ xã hội, phân tích chủ yếu nhấn mạnhđến nhóm hưu chí, những người công bố không đồng đều về tuổi hưu, sangnhững nghiên cứu thăm dò ở Hải Hưng và Hà Nội, năm 1993 một cuộc khảosát đã được thực hiện ở Hải Hưng nhằm thu thập dữ liệu về đời sống củangười cao tuổi

Như vậy, trong thập niên 1980 người cao tuổi ỏ Hà Nội đã được câcnhà y khoa và xã hội nghiên cứu khá nhiều Mười năm sau, AAR tiến hànhhai cuộc điều tra định lượng ở hà Nội vào các năm 1993 và 1994 nhằm tìmhiểu các vấn đề giúp đỡ người cao tuổi và gia đình họ như: mạng lưới thânthuộc, được lắng nghe, giúp đỡ khi đau ốm, có thẻ thấy vấn đề trợ giúpngười cao tuổi đã được các nhà nghiên cứu quan tâm nhưng mới chỉ là cấp đọgia đình thôi

Từ năm 2000 trở đi cũng có nhiều nghiên cứu,bài viết người cao tuổi

do các nhà khoa học xã hội tiến hành Có thể kể đến công trình nghiên cứucủa các tác giả như Nguyễn Hoàng Lan “ tìm hiểu đời sống văn hóa người caotuổi” dưới góc độ văn hóa học, nguyễn Trung Nghĩa với khóa luận xã hội học

“tìm hiểu đời sống văn hóa tinh thần của cán bộ công nhân viên hưu trí” tạithành phố Hồ Chí Minh Kết quả các nghiên cứu cho thấy, tham gia các hoạtđộng văn hóa tinh thần là nhu cầu cấp thiết đối với người cao tuổi

Trang 28

CHƯƠNG 2: TÌNH HÌNH THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH HỖ TRỢ CHO NGƯỜI CAO TUỔI TẠI XÃ NGHĨA MINH, TỈNH NAM ĐỊNH

2.1 Khái quát về xã Nghĩa Minh

2.1.1 Vị trí địa lý

Xã Nghĩa Minh hiện nay thuộc huyện Nghĩa Hưng tỉnh Nam Định Trước cách mạng tháng Tám năm 1945 là Làng Đắc Phú và Đông Ba Thượngthuộc xã Nghĩa Hoàng Minh của huyện Nghĩa Hưng Sau năm 1945 cải cách

và đổi tên là Xã Nghĩa Minh thuộc huyện Nghĩa Hưng

Nằm giữa trục đường quốc lộ 37B và cách trung tâm Huyện NghĩaHưng 10 km về địa giới : Phía Đông Nghĩa Châu; Phía Bắc giáp xã HoàngNam; Phía Tây giáp xã Yên Nhân Huyện Ý Yên; Phía Nam giáp xã NghĩaThịnh và Nghĩa Châu

Nằm ở vị trí địa lý thuận lợi vậy xã có điều kiện giao lưu thuận lợi vớicác trung tâm chính trị , kinh tế quan trọng trong huyện Nghĩa Hưng Đó làmột lợi thế trong điều kiện hoà bình xây dựng phát triển kinh tế

Xã Nghĩa Minh, tỉnh Nam Định có diện tích như sau: Xã có tổng diệntích mặt bằng là : 616 ha Trong đó đất canh tác là : 437,5 ha Mặc dù diện tíchđất canh tác không nhiều, dân số lại đông bình quân đầu người trước CMtháng tám 1945 là 3 sào/1 người hiện nay chỉ có trên 1 sào/ 1 người

2.1.2 Tình hình Kinh tế - Xã hội

 Dân số

Dân số toàn xã có khoảng 10.291 nhân khẩu với 3.069 hộ phân bố ởcho hai thôn đó là thôn Đông Ba và thôn Đắc thắng Thượng Thôn Đắc ThắngThượng được phân nhỏ thành 4 xóm đó là xóm 1, xóm 2, xóm 3 và xóm 4.Thôn Đông Ba diện tích rộng hơn và được chia thành 5 xóm: xóm 5, xóm 6,xóm 7, xóm 8, xóm 9 và Phố Mới Trụ sở UBND của xã nằm tại đây

Dân cư ở đây 100% là dân tộc kinh

 Kinh tế:

Nghĩa Minh là một xã miền đồng của huyện Nghĩa Hưng, có tổng diệntích 615,99 ha, là một xã đông dân cư, trước kia chủ yếu sống về nông nghiệpnhưng hiện nay đang phát triển mạnh về tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ,nhân dân trong xã cần cù chịu khó, mọi người, mọi nhà vươn lên phát triển

Trang 29

kinh tế

Nằm ở vị trí địa bàn khá thuận lợi do đó xã có điều kiện giao lưu thuậnlợi với các trung tâm chính trị , kinh tế quan trọng trong tỉnh và ngoài tỉnh

Đó là một lợi thế trong điều kiện hoà bình xây dựng phát triển kinh tế

Ngày nay trong công cuộc xây dựng đất nước CNH – HĐH, xã cóchuyển biến tích cực, đưa các tiến bộ khoa học kỹ thuật, các cây – con giống

có năng xuất cao vào sản xuất, chăn nuôi…Đời sống nhân dân ngày đượcnâng lên, thu nhập ngày một phát triển, thu nhập bình quân đầu người đạt24,5 triệu đồng/năm Góp phần từng bước đưa quê hương ngày một giàu đẹp

và phát triển

Thực hiện công tác xây dựng nông thôn mới, là một trong những xãtrọng điểm về xây dựng Nông thôn mới của huyện Công tác xây dựng Nôngthôn mới của xã đã đạt được nhiều kết quả khả quan Toàn Đảng bộ và nhândân xã quyết tâm đẩy nhanh tiến độ xây dựng Nông thôn mới của xã và nhằmxây dựng xã Phụng Thượng trở thành xã hoàn thành chương trình xây dựngNông thôn mới trong giai đoạn sắp tới

2.1.3 Tình hình chính trị

Được sự quan tâm chỉ đạo lãnh đạo của HĐND, UBND HuyệnNghĩa Hưng, các ban ngành chức năng của huyện, cũng như toàn tỉnh, tìnhhình chính trị của xã đã được đảm bảo, khắc phục được những khó khăn,đoàn kết, sáng tạo, tích cực đổi mới nội dung, phương thức hoạt động

Vừa qua, Ban chấp hành Đoàn xã đã chú trọng xây dựng chương trình

và chỉ đạo các chi đoàn đẩy mạnh việc tuyên truyền các chỉ thị, Nghị quyếtcủa Đảng, của Đoàn cho cán bộ và ĐVTN.BCH Đoàn xã xây dựng kế hoạch

và chỉ đạo các chi đoàn thực hiện tốt công tác giáo dục chính trị tư tưởng,nhằm giáo dục cho ĐVTN sống có lý tưởng, niềm tin, tự nguyện phấn đấutheo con đường xã hội chủ nghĩa, thu hút được đông đảo đoàn thanh niêntham gia Tổ chức tốt các đợt học tập Nghị quyết của Đại hội Đảng toàn quốclần thứ XII, Nghị quyết Đại hội Đoàn toàn quốc lần thứ XI, Nghị quyết ĐạiHội Đảng bộ xã Phụng Thượng lần thứ XVIII…

2.1.4 Văn hóa

Nhân dân Nghĩa Minh có truyền thống hiếu học, nội dung bia Văn Chỉ

đã ghi lại những bậc tiền nhân có nhiều người đã đỗ đạt khoa bảng: Tú tài, TúTài Khép, Thám Hoa…Có người được triều đình ban tước: Quận Công,

Trang 30

Vương Phi, Cửu Phẩm…phát huy truyền thống của cha ông ngày nay, trong

xã hàng năm đã có hàng trăm các cháu đỗ Đại học, Cao Đẳng

Sau hai cuộc kháng chiến thần thánh của dân tộc, xã đã có 11 bà mẹViệt Nam anh hùng, 171 liệt sỹ, có trên 1500 quân nhân đã hoàn thành nhiệm

vụ trong quân đội về phục viên, xuất ngũ và nghỉ hưu, có 83 Thương Binh vàBệnh Binh, có 450 Cựu Chiến Binh và 90 Thanh Niên xung phong

Trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc Việt Nam XHCN, xã đãxây dựng thành công mô hình HTX Công – Nông – Thương - Tín với quy

mô toàn xã Kinh tế xã hội phát triển, đời sống nhân dân được nâng lên

Ghi nhận những thành tích đã đạt được của quê hương Đảng bộ và

nhân dân xã Nghĩa Minh được Đảng và nhà nước tặng danh hiệu “Hợp tác xã anh hùng” vào thời kỳ đổi mới năm 1986, “Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân” năm 2004.

2.1.5 Công tác Thương binh xã hội :

Thực hiện tốt đầy đủ các chính sách xã hội như cấp phát tiền lương,phụ cấp hàng tháng cho các đối tượng gia đình chính sách đảm bảo đúng thờigian an toàn và chính xác

Tổ chức tặng quà trong dịp tết nguyên Đán đầy đủ, chính xác và đúngđối tượng

UBND trợ cấp cho các gia đình có hoàn cảnh gia đình khó khăn trongdịp tết nguyên đán: 186 xuất = 19.050.000đ

Cấp thẻ BHYT tham gia tự nguyện cho 645 trường hợp

Chi trả tiền hỗ trợ hỏa táng cho 22 hộ gia đình = 132 triệu đồng

Triển khai thực hiện công tác tổng rà soát các đối tượng chính sáchngười có công theo kế hoạch hướng dẫn của cấp trên là: 330 trường hợp

Rà soát đề nghị nhà nước truy tặng 6 bà mẹ Việt nam anh hùng Đếnnay đã được nhà nước truy tặng 4 bà mẹ Mỗi bà mẹ được hỗ trợ 42 triệu 225nghìn đồng

Chi trả tiền hỗ trợ diện hộ nghèo quý 1 và quý 2 năm 2016 = 128 hộ,với số tiền là 23.040 000đ

Triển khai rà soát hộ nghèo trong toàn xã năm 2016 : Hộ nghèo là 69

hộ = 2,06% Hộ cận nghèo 79 hộ = 2,36%

Trang 31

2.1.6 Hoạt động Mặt trận Tổ Quốc và các đoàn thể

Dưới sự lãnh đạo của Đảng ủy – HĐND - UBND đã chỉ đạo MTTQ,các đoàn thể thường xuyên củng cố tổ chức nâng cao chất lượng và hiệu quảhoạt động: Tổng kết 15 năm thực hiện cuộc vận động “ Toàn dân đoàn kếtxây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư”, 10 năm thực hiện cuộc vận động “Ngày vì người nghèo”

Thực hiện cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức HồChí Minh”

Năm 2016 phối hợp với các ban, ngành, đoàn thể xã vận động nhân dânủng hộ 4 quỹ: Quỹ vì người nghèo, Quỹ trẻ em, Quỹ mái ấm tình thương vàQuỹ nhân đạo từ thiện”được 91.418.000 triệu đồng ( Trong đó Quỹ vì ngườinghèo 42.147.000 đồng; Quỹ mái ấm tình thương 14.000.000 đồng; Quỹ nhânđạo từ thiện 14.000.000 đ; Quỹ trẻ em 14.000.000 )

Hội phụ nữ: xã 3 năm đăng ký thi đua thực hiện phong trào: “Phụ nữ Thủ đô tích cực học tập, năng động sáng tạo xây dựng gia đình văn minh hạnh phúc”, Đồng thời tổ chức tốt thực hiện cuộc vận động “ Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” và cuộc vận động thực hiện “ Gia đình 5 không 3 sạch” Trong năm 2016 tổ chức Hội thi chi hội trưởng Phụ nữ

giỏi cấp xã đạt kết quả tốt, tham gia thi chi Hội phụ nữ giỏi cấp Huyện đạtgiải nhì Ngoài ra hội phụ nữ xã còn tham gia hội thao cấp xã và Huyện tổchức đều đạt giải

Đoàn thanh niên: xã tổ chức nhiều hoạt động văn hóa, văn nghệ, TDTT

nhân các ngày lễ lớn của Thủ đô và Đất nước Duy trì phát động đoàn viêntham gia lao động tình nguyện Tổ chức kêu gọi ủng hộ đồng bào Miền Trunggặp lũ lụt do huyện Đoàn phát động, vận động đoàn viên thanh niên làm tốtcông tác vệ sinh môi trường

Hội Nông dân, Hội cựu chiến binh: của xã thực hiện tốt nhiệm vụ hàng

năm, tổ chức các hoạt động tuyên truyền thực hiện các Chỉ thị, Nghị Quyết vàchương trình các cấp Ủy đảng và các nhiệm vụ của Hội đạt kết quả tốt HộiCựu chiến binh đã thành lập được “ Quỹ nghĩa tình đồng đội” với số tiền là19.830.000 đồng

Hội chữ thập đỏ xã : trong năm 2016 đã trao 165 xuất quà cho các đối

tượng tổng số tiền là 26.000.000 đ; cấp 3 xe Lăn cho các đối tượng tàn tật;thường xuyên thăm hỏi các đối tượng khó khăn trong xã

Trang 32

Công đoàn cơ sở xã: hàng năm phối hợp với UBND thường xuyên

động viên hội viên công đoàn hoàn thành tốt nhiệm vụ được phân công Chăm

lo tốt đời sống cán bộ, công chức, viên chức, người lao động Xây dựng công

đoàn cơ sở xã “Đoàn kết, năng động, sáng tạo” nâng cao tinh thần gtrách

nhiệm, tổ chức thực hiện có hiệu quả các nhiệm vụ kinh tế xã hội của xã

Năm 2016 MTTQ và các đoàn thể nhân dân được Trung ương hội,Thành hội, Huyện hội tặng bằng khen, giấy khen

Hàng năm các ban ngành, đoàn thể luôn bám sát nội dung, các chỉ tiêuphấn đấu xây dựng “cơ quan văn hóa” đã đăng ký với cấp trên và định kỳ tổchức sơ kết, tổng kết, biểu dương các cá nhân tiêu biểu có nhiều thành tíchtrong hoạt động

2.2 Tình hình thực hiện chính sách hỗ trợ người cao tuổi tại xã Nghĩa Minh, tỉnh Nam Định

2.2.1 Đặc điểm nhân khẩu học của mẫu nghiên cứu

2.2.1.1 Độ tuổi và giới tính

Theo thống kê xã có khoảng hơn 500 NCT từ 60 tuổi trở nên Phân chiatheo giới tính thì NCT là nam giới chiếm 40% tổng dân số NCT, nữ giới chiếm60% dân số NCT trong xã và được phân chia theo các nhóm tuổi khác nhau

Nhằm có cái nhìn khái quát về mẫu nghiên cứu, sinh viên tiến hànhphát phiếu hỏi cho 40 NCT trong xã Số liệu được thể hiện qua bảng sau:

Biểu đồ 2.1 Cơ cấu giới tính của đối tượng nghiên cứu

Trang 33

Qua biểu đồ trên ta thấy, mẫu nghiên cứu bao gồm 60% (tương đương24/40 NCT) là nữ giới, và 40% (tương đương 16/40 NCT) là nam giới Đâycũng là xu hướng chung của Việt Nam và trên thế giới Nguyên nhân có thể lýgiải cho xu hướng này là nam giới cao tuổi thường có tỷ suất chết cao hơn nữgiới cao tuổi ở cùng nhóm tuổi Do tỷ lệ phụ nữ trong dân số cao tuổi ngày

càng tăng (còn gọi là xu hướng “nữ hóa” dân số cao tuổi) nên đòi hỏi phải có

các chính sách chăm sóc NCT thích ứng với xu hướng này vì phụ nữ cao tuổithường dễ tổn thương hơn với các cú sốc kinh tế và xã hội Trên thực tế, chỉ

số (nữ >nam) này không liên quan nhiều đến cán cân giới tính của NCT trongdân số nói chung nhưng lại có ý nghĩa quan trọng trong quá trình phân tích và

so sánh sự khác biệt giữa nam giới và nữ giới trên các nội dung khác nhau

Biểu đồ 2.2: Cơ cấu mẫu nghiên cứu phân theo giới tính

(Đơn vị: %)

55.00%

33.00%

12.00%

60-69 tuổi 70-79 tuổi Trên 80 tuổi

(Nguồn: Số liệu khảo sát người cao tuổi tháng 4 năm 2018)

Theo kết quả mẫu khảo sát, độ tuổi tập trung cao nhất của NCT ở nhómtuổi 60 – 69 (chiếm 55%) trong tổng số NCT trong mẫu nghiên cứu và cũng

là nhóm tuổi chiếm tỷ lệ cao nhất, đây được coi như là nhóm “Trẻ nhất” của

lớp NCT Đồng thời cũng là nhóm tuổi vừa mới về hưu, vừa mới kết thúc quátrình làm việc tại cơ quan đơn vị do nhà nước quản lý, họ vẫn đủ sức laođộng, tham gia tích cực vào hoạt động sản xuất hàng ngày Còn lại nhóm tuổi

70 – 79 chiếm 33% và 12% là NCT trên 80 tuổi Nhìn chung, cơ cấu phânnhóm tuổi của mẫu khảo sát có độ tập trung cao và tương đối gần gũi với cơcấu độ tuổi của NCT tại cộng đồng Bên cạnh đó kết quả khảo sát cũng cho

Trang 34

thấy nhóm người có tuổi thọ cao trong cộng đồng đã chiếm một tỷ lệ đáng kể.

2.2.1.2 Tình trạng hôn nhân

Đời sống gia đình, văn hóa và tinh thần cho biết nhiều hàm ý về phúclợi của NCT bởi nó được thể hiện qua tình trạng hôn nhân; việc sống cùnghay không sống cùng với con, cháu; điều kiện sống khác; văn hóa và tinhthần Trong các yếu tố thể hiện đời sống của NCT thì tình trạng hôn nhân làyếu tố quan trọng nhất vì vợ/chồng của NCT có thể là nguồn hỗ trợ và chia sẻchủ yếu về vật chất, tinh thần như chăm sóc khi đau ốm hoặc dễ tổn thương.Nói cách khác, đối với NCT thì sống với vợ/chồng sẽ có nhiều tác động tíchcực

Biểu đồ 2.3 Tình trạng hôn nhân của người cao tuổi

(Nguồn: Số liệu khảo sát người cao tuổi tháng 4 năm 2018)

Số liệu cho thấy phần lớn NCT tại xã Nghĩa Minh đã kết hôn chiếm92,5%, tiếp đó là độc thân chiếm 5%; còn tình trạng ly hôn chiếm 2,5%.Nhìn chung, hôn nhân phổ biến của NCT là đã kết hôn và sống cùng bạn đờicủa mình (chiếm gần 3/4 mẫu khảo sát), các tình trạng khác chiếm tỷ lệ nhỏ

và không phổ biến Tuy nhiên, chúng ta cũng cần lưu ý đến nhóm NCT độcthân và ly hôn khi trợ giúp cho NCT bởi họ rất dễ rơi vào tình trạng bị cô đơn

2.2.1.3 Tình trạng sinh sống

Theo như số liệu điều tra tình trạng sinh sống của NCT tại xã NghĩaMinh phổ biến là hai vợ chồng NCT sống cùng con cháu chiếm 50%, hai vợchồng cao tuổi sống với nhau chiếm 35%, NCT sống một mình chiếm 15%

Trang 35

Biểu đồ 2.4 Tình trạng hôn nhân của người cao tuổi

(Nguồn: Số liệu khảo sát người cao tuổi tháng 4 năm 2018)

Mô hình gia đình hiện nay đang được nhiều nguời khuyến khích, duytrì song việc dung hòa về lối sống, suy nghĩa giữa các thế hệ trong một giađình luôn là vấn đề quan trọng Tìm hiểu lý do một số cụ hiện đang phải sống

cô đơn một mình không có ai phụng dưỡng chăm sóc thì lý do chủ yếu của

NCT là: “Tôi muốn tự do thoải mái, không hợp với người thân trong gia đình, quen sống riêng” (Nam, 69 tuổi) Bên cạnh đó, còn có nguyên nhân khác như: “Tình trạng nhà ở của tôi chật chội, kinh tế con cháu khó khăn nên tôi sống riêng”(Nữ, 65 tuổi) Hay do con cái họ không ở gần, đi làm ăn kinh

tế xa, hoặc không có con, cái Một nguyên nhân đáng lưu ý ở đây là lý do concái không muốn sống chung Tuy nguyên nhân này chiếm tỷ lệ không nhiềunhưng cũng cần phải cảnh báo nhằm hạn chế và chấm dứt tình trạng này nhất

là khi cơ chế thị trường đang có những ảnh hưởng sâu sắc đến gia đình, đảmbảo cuộc sống gia đình cho NCT

Trang 36

(Nguồn: Số liệu khảo sát người cao tuổi tháng 4 năm 2018)

Qua bảng số liệu trên ta thấy NCT tại xã Nghĩa Minh đều được đi họckhông có ai là không được đi học Tuy nhiên, có những người học hết cấp 1chiếm 7.5% , cấp 2 chiếm 45% , cấp 3 là chiếm 40% cao đẳng và đại họcchiếm 7.5% trên tổng số 500 người cao tuổi ở xã Qua PVS các cụ học hếtcấp 1, cấp 2 là vì chiến tranhvà vừa thoát khỏi thời phong kiến và gia đìnhkhông cho phép phải ở nhà lao động sản xuất Còn học hết cấp 3 là do họđược trong diện chính sách cử đi học và do ý trí của họ từ nhỏ.Còn chỉ cóphần nhỏ là học ở trình độ cao đẳng và hiện đang làm giáo viên, cán bộ vềhưu ở xã là do họ được ưu tiên đi học và trong chiến tranh họ xung phong đi

bộ đội và được tạo điều kiện cho đi học để về làm lãnh đạo địa phương

Như vậy, qua điều tra ta thấy tại xã Nghĩa Minh NCT đều biết chữ và

có trình độ văn hóa tương đối ổn định và cao Dẫn đến họ có đời sống phongphú và biết hưởng thụ

(Nguồn: Số liệu khảo sát người cao tuổi tháng 4 năm 2018)

Trang 37

Qua bảng số liệu ta thấy,hầu hết Người cao tuổi tại xã Nghĩa Minh đều

có nghề nghiệp ổn định Mặc dù bây giờ họ đã nghỉ hưu những một số ngườicũng có thể vẫn tham gia lao động sản xuất Cụ thể như sau nhóm làm nghềnông nghiệp chiếm 32,5%, công nhân về hưu là chiếm 20%, viên chức vềhưu chiếm 27,5%, nghề khác là chiếm 20% trên tổng số 500 người cao tuổi.Như vậy, nhóm nônghiệp cao nhất và nhóm công nhân, nghề khác chiếm tỉ

lệ thấp nhất

Người cao tuổi tại xã Nghĩa Minh có có trình độ dân trí tương đổi ổn là

do Nghĩa Minh là xã phát triển và có có truyền thống hiếu học Hơn nữa đờisống tinh thần họ cao nên người cao tuổi ở đây họ đều có điều kiện và có cuộcsống đầy đủ Trong thời kháng chiến và xây dựng tổ quốc họ hết lòng phụng

sự cho cách mạng cho nên tuổi già đất nước đã ổn định kinh tế- chính trị họđược hưởng những chính sách ưu đãi của nhà nước và được hưởng nhữngthành tựu tiến bộ của khoa học- kic thuật Tuy nhiên, nền kinh tế nông nghiệpvẫn là then chốt của đất nước cho nên hoạt động kinh tế của xã Nghĩa Minhvẫn là nông nghiệp Nghề nghiệp của các cụ vẫn là nông nghiệp và chiếm tỉ lệcao nhất.Nghề khác chiếm tỉ lệ nhỏ nhất, nghề khác ở đây qua khảo sát các cụchia sẻ các cụ từng làm buôn bán nhỏ hoặc tiểu nông nghiệp

2.2.2 Tình hình thực hiện chính sách chăm sóc sức khỏe cho người cao tuổi tại xã Nghĩa Minh tỉnh Nam Định

Người cao tuổi xã Nghĩa Minh cũng như người cao tuổi chung của cảnước Họ đều mong muốn được hưởng những chính sách ưu đãi của nhà nướcdành cho người cao tuổi Ho luôn mong muốn được tiếp cận những dịch vụ vềchăm sóc y tế, được khám chữa bệnh, tư vấn, tuyên truyền phòng ngừa vềbệnh Qua khảo sát phát câu hỏi kết hợp phỏng vấn sâu tôi cũng đã thu thậpđược thông tin về nhu cầu của Người cao tuổi tại xã nghĩa minh

2.2.2.1 Tình hình chăm sóc sức khỏe y tế cho người cao tuổi

a) Nhu cầu về chăm sóc sức khỏe Y tế

Ngày đăng: 22/05/2019, 16:15

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w