1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tổ chức kế toán tiền lương và các khoản trích theo lương tại công ty cổ phần đầu tư và xây dựng xuân mai1

138 98 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 138
Dung lượng 2,17 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

1.1.1 Khái niệm, bản chất và vai trò của tiền lương và các khoản trích theo lương.1.1.1.1 Khái niệm, bản chất của tiền lương và các khoản trích theo lương Tiền lương hay tiền công là số

Trang 1

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các số liệu và kết quả nêu trong luận văn tốt nghiệp là trung thực xuất phát từ tình hình thực tế của đơn vị thực tập.

Tác giả luận văn

Nguyễn Thị Huyền

Trang 2

MỤC LỤC

Trang 3

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

Trang 4

DANH MỤC SƠ ĐỔ - HÌNH – BẢNG BIỂU

S đ 1.1: Trình t ghi s k toán theo Hình th c Nh t ký chungơ ồ ự ổ ế ứ ậ

S đ 1.2: Trình t ghi s k toán theo hình th c Nh t ký – S cáiơ ồ ự ổ ế ứ ậ ổ

S đ 1.3: Trình t ghi s k toán theo hình th c k toán Ch ng t ghi sơ ồ ự ổ ế ứ ế ứ ừ ổ

S đ 1.4: Trình t ghi s k toán theo hình th c Nh t ký – Ch ng tơ ồ ự ổ ế ứ ậ ứ ừ

S đ 1.5: Trình t ghi s k toán theo hình th c k toán trên máy vi tínhơ ồ ự ổ ế ứ ế

B ng 2.1: Báo cáo k t qu s n xu t kinh doanh m t s năm g n đây: (nămả ế ả ả ấ ộ ố ầ

2012, 2013, 2014)

B ng 2.2: K t qu s n xu t kinh doanh năm 2014 c a m t s lĩnh v c:ả ế ả ả ấ ủ ộ ố ự

S đ 2.2: C c u t ch c Công ty c ph n đ u t và xây d ng Xuân Maiơ ồ ơ ấ ổ ứ ổ ầ ầ ư ự

S đ 2.4: Trình t ghi s k toán theo Hình th c Nh t ký chungơ ồ ự ổ ế ứ ậ

Hình 2.1: Giao di n ph n m m k toán Fast 10:ệ ầ ề ế

Hình 2.2 : Minh h a danh m c tài kho nọ ụ ả

B ng 2.6: T ng h p ti n lả ổ ợ ề ương V1 các phòng, ban

Hình 2.3:Màn hình nh p li u minh h a phân b lậ ệ ọ ổ ương V1 T10/2014 Vănphòng công ty :

B ng 2.7 : B ng phân b BHXH tháng 10/2014 – VPCTả ả ổ

Hình 2.5: Màn hình minh h a trích BHXH tính vào chi phí c a công tyọ ủ

B ng 2.8: B ng t ng h p thanh toán lả ả ổ ợ ương kinh doanh tháng 10/2014

Hình 2.6: Màn hình minh h a Phân b lọ ổ ương V2 T10 Văn phòng công ty

Hình 2.7: Minh h a ph n m m k toán tính thu TNCN Văn phòng công tyọ ầ ề ế ế

B ng 2.9: K t qu s n xu t kinh doanh v lao đ ng và ti n lả ế ả ả ấ ề ộ ề ương năm 2014

và k ho ch năm 2015ế ạ

Trang 5

LỜI MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu

Ngày nay, trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, nền kinh tếnước ta đang trong quá trình hội nhập nền kinh tế thế giới, việc phát triển nền kinh

tế theo hướng nền kinh tế thị trường cùng với chính sách mở cửa đã thu hút đượccác nguồn vốn đầu tư trong và ngoài nước tạo động lực thúc đẩy sự tăng trưởngkhông ngừng của nền kinh tế Đứng trước những cơ hội cũng như thách thức trongbối cảnh nền kinh tế phát triển, việc nâng cao lợi ích cho người lao động ngày càngđược chú trọng nhằm thu hút tài năng, nguồn lực lao động góp phần tạo nên một thếmạnh để cạnh tranh trên thị trường Như MarX đã nói: “Con người là tiền đề cho sựphát triển, quyết định sự tồn tại của quá trình sản xuất, giữ vai trò chủ chốt trongviệc tạo ra của cải vật chất và tinh thần trong xã hội Lao động có năng suất, chấtlượng và đạt hiệu quả cao là nhân tố đảm bảo sự phồn vinh của mỗi quốc gia”.Người lao động chỉ phát huy hết khả năng của mình khi công sức họ bỏ ra đượcđền bù một cách chính đáng Đó là số tiền người sử dụng lao động trả cho người laođộng để họ tái tạo sức lao động và tích lũy, đó gọi là tiền lương Người sử dụng laođộng một mặt muốn giảm thiểu chi phí, một mặt muốn lôi kéo và giữ chân người laođộng Giải quyết tốt vấn đề tiền lương sẽ ổn định tâm lý người lao động, thúc đẩy năngsuất lao động và nâng cao hiệu quả lao động

Hơn nữa, quyền lợi người lao động còn được quyền lực của Nhà nước bảo hộthông qua Pháp luật quy định Dựa trên các chế độ tiền lương do Nhà nước banhành, mỗi doanh nghiệp tùy thuộc vào đặc điểm tổ chức quản lý và tính chất côngviệc để có những vận dụng phù hợp nhằm đạt hiệu quả cao Đây là một công việckhông đơn giản, đòi hỏi các kế toán viên luôn phải tìm tòi để hoàn thiện hơn côngtác hạch toán tiền lương và các khoản trích theo lương đảm bảo cung cấp kịp thời,chính xác cho nhà quản trị, đồng thời là chỗ dựa tinh thần cho người lao động.Công ty Cổ phần Đầu tư và Xây dựng Xuân Mai là một doanh nghiệp lớn, lĩnhvực sản xuất đa dạng Chính vì vậy, tổ chức kế toán tiền lương sao cho hợp lý, đúngđắn nhằm mục tiêu thúc đẩy năng suất lao động, gắn tiền lương vào kế hoạch sảnxuất thực sự là thiết thực

Trang 6

Nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề tiền lương nên em đã chọn đề tài “

Tổ chức kế toán tiền lương và các khoản trích theo lương tại Công ty Cổ phần Đầu tư và Xây dựng Xuân Mai”

2. Mục đích nghiên cứu

Nghiên cứu những vấn đề lý luận chung về tổ chức công tác kế toán tiền lương

và các khoản trích theo lương, qua đó thấy được tầm quan trọng của việc nâng caochất lượng của tổ chức kế toán tiền lương và các khoản trích theo lương tại cácdoanh nghiệp

Vận dụng lý luận về nghiệp vụ kế toán tiền lương, đi sâu nghiên cứu thực tậptại Công ty Cổ phần Đầu tư và Xây dựng Xuân Mai Từ đó thấy được những tồn tại

để có những giải pháp nhằm nâng cao chất lượng tổ chức kế toán tiền lương và cáckhoản trích theo lương tại doanh nghiệp và mạnh dạn đề xuất một số kiến nghị đểthực hiện giải pháp

3. Đối tượng, phạm vi, phương pháp nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu: Đề tài nghiên cứu là thực trạng về tổ chức kế toán tiền lương

và các khoản trích theo lương tại Công ty Cổ phần Đầu tư và Xây dựng Xuân Mai,việc vận dụng chứng từ, sổ sách kế toán, quy trình hạch toán kế toán trong phầnhành này

- Phạm vi nghiên cứu: thực trạng về tổ chức kế toán tiền lương và các khoản tríchtheo lương tại Công ty Cổ phần Đầu tư và Xây dựng Xuân Mai

- Các phương pháp nghiên cứu:

+ Phương pháp thu thập thông tin

+ Phương pháp phân tích, đánh giá

+ Kết hợp nghiên cứu lý luận và thực tế hoạt động của Công ty Cổ phần Đầu

tư và Xây dựng Xuân Mai

4. Kết cấu của luận văn

Nội dung chính của luận văn gồm 3 chương:

Chương 1: Lý luận cơ bản của tổ chức kế toán tiền lương và các khoản trích theo lương trong doanh nghiệp.

Chương 2: Thực trạng tổ chức kế toán tiền lương và các khoản trích theo lương tại Công ty Cổ phần Đầu tư và Xây dựng Xuân Mai.

Chương 3: Những giải pháp nhằm hoàn thiện kế toán tiền lương và các khoản trích theo lương tại Công ty Cổ phần Đầu tư và Xây dựng Xuân Mai.

Trang 7

Trong quá trình thực hiện luận văn này, tuy đã cố gắng tìm tòi, đi sâu nghiêncứu cả lý luận và thực tiễn tại công ty, nhưng do hạn chế về trình độ cũng như thờigian nên bài viết không thể tránh khỏi những thiếu sót Em rất mong nhận được sựđánh giá của các thầy cô giáo, ban lãnh đạo công ty và các anh chị phòng tài chính

kế toán của công ty để có thể rút kinh nghiệm và có sự hiểu biết sâu hơn về đề tàinày

Em xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ của thầy giáo, PGS.TS.NGƯT Nguyễn

Vũ Việt, Ban lãnh đạo công ty cùng toàn bộ các anh chị phòng tài chính kế toán củacông ty đã tận tình hướng dẫn và giúp đỡ em trong quá trình thực tập và hoàn thành

đề tài Luận văn này

Hà Nội , ngày tháng năm 2015

Sinh viên

Nguyễn Thị Huyền

Trang 8

1.1.1 Khái niệm, bản chất và vai trò của tiền lương và các khoản trích theo lương.

1.1.1.1 Khái niệm, bản chất của tiền lương và các khoản trích theo lương

Tiền lương (hay tiền công) là số tiền thù lao mà doanh nghiệp trả cho ngườilao động theo số lượng và chất lượng lao động mà họ đóng góp cho doanh nghiệp,

để tái tạo sức lao động, bù đắp hao phí lao động của họ trong quá trình sản xuất.Trong tất cả mọi hình thái kinh tế xã hội, con người luôn đóng vai trò trungtâm chi phối tất cả quá trình sản xuất kinh doanh Để sản xuất của cải vật chất, conngười phải hao phí sức lao động Để có thể tái sản xuất và duy trì sức lao động đó,người lao động sẽ nhận được những khoản bù đắp được gọi là tiền lương Tiềnlương chính là biểu hiện bằng tiền của giá trị sức lao động mà người lao động sửdụng nó để bù đắp hao phí lao động của mình trong quá trình sản xuất nhằm tái sảnxuất sức lao động Như vậy, bản chất của tiền lương chính là giá cả sức lao động,được xác định dựa trên cơ sở giá trị sức lao động đã hao phí để sản xuất ra của cảivật chất, được người lao động và người sử dụng lao động thỏa thuận với nhau.Ngoài tiền lương, người lao động còn được hưởng các khoản phụ cấp, trợ cấp bảohiểm xã hội, bảo hiềm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, kinh phí công đoàn đây còn đượcgọi là các khoản trích theo lương Các khoản này cũng góp phần trợ giúp người lao độngtrong các trường hợp khó khăn, tạm thời hoặc vĩnh viễn mất sức lao động

1.1.1.2 Vai trò của tiền lương và các khoản trích theo lương

Tiền lương là công cụ để thực hiện chức năng phân phối thu nhập quốc dân,chức năng thanh toán, tiền lương nhằm tái sản xuất sức lao động thông qua việc sửdụng tiền lương trao đổi lấy các vật sinh hoạt cần thiết cho cuộc sống hàng ngày củangười lao động, tiền lương là một bộ phận quan trọng của thu nhập, chi phối vàquyết định mức sống của người lao động, do đó, là một công cụ quan trọng trongquản lý Người ta sử dụng nó để thúc đẩy người lao động hăng hái lao động và sángtạo, tạo động lực trong lao động

Trang 9

Tiền lương là nhân tố giúp kinh doanh hoàn thành vượt mức kế hoạch sản xuấtcủa mình Tổ chức tốt công tác kế toán tiền lương giúp cho công tác quản lý laođộng của doanh nghiệp nề nếp, thúc đẩy người lao động chấp hành tốt kỷ luật laođộng, tăng năng suất và hiệu quả công việc.

Tổ chức công tác hạch toán lao động và tiền lương giúp cho doanh nghiệpquản lý tốt quỹ tiền lương, đảm bảo việc trả lương và trợ cấp bảo hiểm xã hội đúngnguyên tắc, đúng chế độ, khuyến khích người lao động hoàn thành tốt nhiệm vụđược giao, đồng thời cũng tạo cơ sở cho việc phân bổ chi phí nhân công vào giáthành sản phẩm được chính xác

1.1.1.3 Ý nghĩa của tiền lương

Duy trì và tái sản xuất sức lao động

Theo MarX “sức lao động là toàn bộ khả năng và thể lực, trí tuệ tạo nên chocon người khả năng tạo ra của cải vật chất và tinh thần cho xã hội” Sức lao động làsản phẩm của lịch sử, luôn được hoàn thiện và nâng cao chất lượng, thường xuyênđược khôi phục và phát triển Bản chất của tái sản xuât sức lao động là duy trì vàphát triển sức lao động, nghĩa là đảm bảo cho người lao động có được lượng tiềnlương nhất định để họ phục vụ cho hoạt động sinh hoạt như: duy trì và phát triểnsức lao động của bản thân người lao động; sản xuất ra sức lao động mới; tích lũykinh nghiệm, nâng cao trình độ để hoàn thành kỹ năng lao động, tức là phải nângcao chất lượng lao động

Với ý nghĩa này, tiền lương chỉ phát huy tác dụng khi được hạch toán theođúng nguyên tắc “trao đổi ngang giá giữa hoạt động và kết quả lao động”

Là đòn bẩy kinh tế

Thực tế cho thấy rằng: Khi được trả lương xứng đáng, người lao động sẽ làmviêc tích cực, gắn chặt trách nhiệm của bản thân vào lợi ích của tập thế, họ khôngngừng phấn đấu để hoàn thiện mình hơn

Ở một mức độ nhất định, tiền lương là một bằng chứng thể hiện giá trị, địa vị

và uy tín của người lao động trong gia đình, ở một doanh nghiêp và ngoài xã hội.Thể hiện sự đánh giá đúng năng lực và công lao của họ đối với sự phát triển của

Trang 10

doanh nghiệp Do đó, tiền lương sẽ trở thành công cụ khuyến khích vật chất là độnglực thúc đẩy phát triển.

Muốn thể hiện tốt ý nghĩa này, tiền lương phải được trả theo lao động, nghĩa làngười nào “làm nhiều hưởng nhiều, làm ít hưởng ít” Lấy kết quả và hiệu quả côngviệc làm cơ sở cho việc tính toán tiền lương một cách hợp lý Có như vậy tiền lươngmới thực sự phát huy hết ý nghĩa là đòn bấy kinh tế

Là công cụ quản lý Nhà nước

Hoạt động sản xuất kinh doanh, người chủ lao động thường đứng trước 2nghịch lý, đó là: tìm mọi biện pháp để giảm chi phí sản xuất kinh doanh (trong đó

có chi phí tiền lương) và hai là phải đảm bảo chính sách cho Nhà nước về quyền lợitối thiểu của người lao động

Nhà nước xây dựng một cơ chế tiền lương phù hợp và ban hành nó như mộtvăn bản pháp luật buộc người sử dụng lao động phải tuân theo

Điều tiết lao động

Trong quá trình thực hiện kế hoạch phát triển, cân đối giữa các ngành, các vùng

và trên toàn quốc, Nhà nước thường thông qua chế độ, chính sách về tiền lương nhưthang lương, bảng lương, các chế độ phụ cấp cho từng ngành, từng khu vực để làmcông cụ điều tiết lao động Nhờ vậy, tiền lương đã góp phần tạo một cơ cấu lao độnghợp lý, tạo điều kiện cho sự phát triển của đất nước

Là thước đo hao phí lao động xã hội

Khi tiền lương được trả cho người lao động ngang với giá trị sức lao động mà

họ bỏ ra trong quá trình thực hiện công việc, xã hội có thể tính chính xác hao phílao động của toàn cộng đồng, thông qua toàn bộ quỹ lương của toàn bộ người laođộng Điều này rất có ý nghĩa trong công tác thống kê, giúp Nhà nước hoạch địnhcác chính sách và chiến lược lâu dài

Qua 5 ý nghĩa của tiền lương, cho thấy tiền lương đóng vai trò quan trọngtrong việc thúc đẩy phát triển sản xuất kinh doanh, phát huy tính chủ động, sáng tạocủa người lao động, tăng năng suất lao động, tăng hiệu quả sản xuất kinh doanh chodoanh nghiệp

1.1.2 Yêu cầu quản lý tiền lương và các khoản trích theo lương trong doanh nghiệp

Trang 11

Lao động là nhân tố quan trọng trong quá trình sản xuất kinh doanh Do đó,việc quản lý tiền lương và các khoản trích theo lương cần thực hiện chính xác, đảmbảo công bằng và xứng đáng với công sức mà người lao động đã bỏ ra Để thựchiện tốt việc quản lý tiền lương và các khoản trich theo lương, công tác quản lý tiềnlương và các khoản trích theo lương cần đảm bảo các yêu cầu sau:

- Thực hiện đúng các chính sách về tiền lương và các khoản trích theo lương do Nhànước ban hành

- Xây dựng được quỹ lương và quỹ lương kế hoạch để đảm bảo chi trả cho người laođộng

- Quản lý chặt chẽ, có hiệu quả tiền lương và các khoản trích theo lương

1.1.3 Vai trò, nhiệm vụ của kế toán tiền lương và các khoản trích theo lương.

Hạch toán lao động, kế toán tiền lương và các khoản trích theo lương khôngchỉ liên quan đến quyền lợi của người lao động, mà còn liên quan đến các chi phíhoạt động sản xuất kinh doanh, giá thành sản phẩm của doanh nghiệp, liên quan đếntình hình chấp hành các chính sách về lao động tiền lương của Nhà nước

Để phục vụ yêu cầu quản lý chặt chẽ, có hiệu quả, kế toán tiền lương và cáckhoản trích theo lương ở doanh nghiệp phải thực hiện các nhiệm vụ sau:

- Tổ chức hạch toán đúng thời gian, số lượng, chất lượng, kết quả lao động của ngườilao động, tính đúng và thanh toán kịp thời tiền lương và các khoản liên quan kháccho người lao động

- Tính toán, phân bổ hợp lý, chính xác chi phí tiền lương, tiền công và các khoảntrích bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, kinh phí công đoàn chocác đối tượng sử dụng liên quan

- Định kỳ tiền hành phân tích tình hình sử dụng lao động, tình hình quản lý và chitiêu quỹ lương; cung cấp thông tin kinh tế cần thiết cho các bộ phận liên quan.1.2 Một số vấn đề lý luận cơ sở cho tổ chức kế toán tiền lương và các khoản trích theo lương trong doanh nghiệp.

1.2.1 Ảnh hưởng của việc lựa chọn vận dụng lý thuyết các loại hình kế toán đến kế

toán tiền lương và các khoản trích theo lương.

Các nhà nghiên cứu kế toán đều cho rằng giữa lý thuyết kế toán và thực tiễn kếtoán có mối quan hệ mật thiết với nhau dù không thể đồng nhất Sự kết hợp giữa lý

Trang 12

thuyết kế toán và thực tiễn kế toán trong một môi trường nhất định hình thành nênmột loại hình kế toán.Các yếu tố hình thành nên một loại hình kế toán bao gồm:

- Các lý thuyết kế toán chi phối đến kế toán trong một môi trường kinh tế - xã hộinhất định, trong đó luôn tồn tại một lý thuyết kế toán có tính chủ đạo, định hìnhnhững giả định, khái niệm và nguyên tắc kế toán cơ bản

- Các thủ tục và kỹ thuật kế toán được áp dụng mang tính phổ biến trong thực tiễn kếtoán Các thủ tục và kỹ thuật này được thể chế hóa dưới hình thức các chuẩn mực, chế

độ kế toán hoặc là các thông lệ kế toán mang tính phổ biến

Việc nghiên cứu loại hình kế toán cho thấy sự vận dụng lý thuyết kế toán vàothực tiễn Như vậy, mỗi loại hình kế toán sẽ ảnh hưởng khác nhau đến việc tổ chức,đánh giá và ghi nhận thông tin kế toán

Hiện nay, trong lịch sử kế toán tồn tại một số loại hình kế toán: loại hình kếtoán tĩnh, loại hình kế toán động, loại hình kế toán vi mô, loại hình kế toán vĩ mô 1.2.1.1 Loại hình kế toán tĩnh và kế toán động

1.2.1.1.1 Loại hình kế toán tĩnh

Theo các nhà nghiên cứu lý thuyết và lịch sử kế toán, kế toán tĩnh là loại hình

kế toán cơ bản trong tiến trình phát triển của kế toán giai đoạn từ thế kỷ 12 đến cuốithế kỷ 19, giai đoạn mà bối cảnh nền kinh tế có nhiều sự chuyển biến đáng kể.Trong thời kỳ này, các nước châu Âu đang ở giai đoạn tiền tư bản, hoạt động kinhdoanh qui mô nhỏ là chủ yếu; chủ sở hữu đồng thời là người điều hành trực tiếp cácđơn vị kinh doanh, họ chịu mọi rủi ro và hưởng mọi lợi ích, lợi ích của các chủ thểkhác là tương đối mờ nhạt do hoạt động tín dụng chưa phát triển

Điều kiện kinh tế xã hội trên dẫn đến hình thành loại hình kế toán tĩnh với nềntảng cơ bản là quan điểm hướng tới chủ sở hữu – lý thuyết sở hữu Đặc điểm chủyếu của loại hình kế toán tĩnh như sau:

- Đối tượng quan tâm chủ yếu đến thông tin kế toán là chủ sở hữu của đơn vị

- Giả định cơ bản làm nền tảng cho kế toán tĩnh là định kỳ đơn vị kinh doanh ngừnghoạt động

- Thông tin kế toán chú trọng đến tài sản thuần (hay vốn chủ sở hữu), do vậy, bảng cânđối kế toán được đặc biệt quan tâm bởi cả chủ sở hữu và chủ nợ

- Về cơ bản, tài sản và nợ phải trả được ghi nhận vào bảng cân đối kế toán trên cơ sở cácdấu hiệu pháp lý về quyền sở hữu và chủ yếu ghi nhận các tài sản vật chất

Trang 13

- Kết quả hoạt động kinh doanh được tiếp cận theo bảng cân đối kế toán, tức là sựbiến động của tài sản thuần ở các thời điểm khác nhau.

- Trong loại hình kế toán tĩnh, các khái niệm và nguyên tắc kế toán được chấp nhậnchung mới xuất hiện và chưa mang tính hệ thống Vì vậy, thực tiễn kế toán diễnbiến khá phong phú và thiếu sự nhất quán

- Các phương pháp kế toán được hình thành chủ yếu cho việc phục vụ lập bảng cânđối kế toán, do đó, kiểm kê thực tế các tài sản và khoản nợ tại thời điểm lập báo cáo

là một phương pháp cơ bản của kế toán

Lý thuyết sở hữu ảnh hưởng đến kế toán tiền lương và các khoản trích theolương: theo lý thuyết này thì tiền lương thanh toán cho chủ sở hữu không được tínhvào chi phí do chủ sở hữu và đơn vị được đồng nhất hóa trong một thực thể

Trong loại hình kế toán tĩnh, kết quả kinh doanh được xác định trên sự biếnđộng của tài sản thuần hay vốn chủ sở hữu, do đó, vấn đề ghi nhận thu nhập và chiphí vào báo cáo kết quả kinh doanh trở nên không quan trọng Như vậy, việc ghinhận tiền lương và các khoản trích theo lương là chi phí trong báo cáo kết quả kinhdoanh cũng không được coi trọng

Với giả định cơ bản là định kỳ đơn vị kinh doanh ngừng hoạt động và các kháiniệm cũng như nguyên tắc kế toán chưa mang tính hệ thống dẫn đến việc tổ chức, ghinhận và trình bày thông tin kế toán tiền lương chưa mang tính hệ thống, nhất quán.Loại hình kế toán tĩnh với nền tảng và lý thuyết sở hữu trải dài một giai đoạnlịch sử quan trọng trong sự phát triển của kế toán Cho đến nay, tư tưởng và một sốđặc điểm đặc trưng của loại hình kế toán tĩnh vẫn còn được duy trì trong khuôn khổcác quy định và thực tiễn kế toán ngay cả khi bối cảnh kinh tế - xã hội đã có nhiềuthay đổi dẫn đến hình thành nhiều loại hình kế toán khác thay thế cho loại hình kếtoán tĩnh

Loại hình kế toán động

Loại hình kế toán động hình thành và trở nên phổ biến từ những năm cuối thế

kỷ 19 thay thế cho các tư tưởng và thông lệ kế toán tĩnh vốn đã tồn tại rất lâu tronglịch sử phát triển kế toán Sự dịch chuyển từ loại hình kế toán tĩnh sang loại hình kếtoán động gắn với những chuyển biến cơ bản của các điều kiện kinh tế - xã hội

Trang 14

Các lý thuyết kế toán trong loại hình kế toán động

Lý thuyết thực thể coi trọng báo cáo kết quả kinh doanh để cung cấp khả năngsinh lời của khoản đầu tư vào đơn vị Trong đó, kết quả kinh doanh được xác địnhtrên cơ sở so sánh giữa thu nhập và chi phí (thu nhập và chi phí được ghi nhận theo

cơ sở dồn tích)

Ảnh hưởng của lý thuyết thực thể đến kế toán tiền lương và các khoản tríchtheo lương: theo lý thuyết này, tiền lương của công nhân viên được tính vào chi phí.(2) Lý thuyết doanh nghiệp

Lý thuyết doanh nghiệp là bước phát triển của lý thuyết thực thể, khi công ty

cổ phần đã trở nên phổ biến mang tính đại chúng và thị trường chứng khoán đã hìnhthành

Theo lý thuyết này, doanh nghiệp được coi là một thực thể kinh tế - xã hội cóliên quan đến lợi ích của nhiều bên Trách nhiệm của đơn vị kế toán là đảm bảo cholợi ích của tất cả các bên có lợi ích liên quan Do vậy, hệ thống kế toán được thiếtlập nhằm cung cấp thông tin cho các đối tượng khác nhau Thông tin kế toán trunglập, không thiên vị cho bất kỳ đối tượng nào

Thông tin về tình hình tài chính của đơn vị có sự phân biệt rõ tài sản, nợ phảitrả, vốn chủ sở hữu (Phương trình kế toán được viết: Tài sản = Vốn chủ sở hữu +

Nợ phải trả)

Thông tin về tình hình kinh doanh tiếp tục kế thừa nguyên tắc dồn tích và xácđịnh kết quả kinh doanh như lý thuyết thực thể

Trang 15

Ảnh hưởng của lý thuyết doanh nghiệp đến kế toán tiền lương và các khoảntrích theo lương: tiền lương công nhân viên được tính vào chi phí.

(3) Các lý thuyết kế toán khácBên cạnh lý thuyết thực thể và lý thuyết doanh nghiệp, trong sự phát triển của

kế toán theo loại hình kế toán động còn xuất hiện một số lý thuyết khác như: Lýthuyết điều hành, Lý thuyết nhà đầu tư, Lý thuyết quỹ… Tuy nhiên, các lý thuyếtnày không được chấp nhận phổ biến, ít ảnh hưởng đến xu hướng phát triển của hệthống kế toán

1.2.1.2 Loại hình kế toán vi mô, vĩ mô

Xét theo phạm vi mà hệ thống kế toán được thiết lập để phục vụ cho các chủthể sử dụng thông tin, các nhà nghiên cứu phân biệt loại hình kế toán vi mô và loạihình kế toán vĩ mô

1.2.1.2.1 Loại hình kế toán vi mô

Loại hình kế toán vi mô là loại hình kế toán theo đó thông tin kế toán chủ yếuphục vụ cho các chủ thể quản lý vi mô là các đơn vị kinh tế riêng lẻ Tức l thông tin

kế toán trước hết là phục vụ các chủ thể quản lý trong nội bộ đơn vị và các chủ thểkinh tế vi mô khác có lợi ích liên quan

Đặc điểm chính của loại hình kế toán vi mô được thể hiện ở các khía cạnh sau:

- Các khái niệm, nguyên tắc, thủ tục kế toán hướng đến đáp ứng yêu cầu sử dụngthông tin của chủ thể vi mô trong nền kinh tế Do vậy, tính kinh tế của kế toán được

đề cao

- Các nguyên tắc và thủ tục kế toán có sự linh hoạt cao mang tính thông lệ Doanhnghiệp được phép lựa chọn các chính sách kế toán khác nhau phù hợp với sự đadạng của ngành nghề, lĩnh vực kinh doanh nên tính thống nhất của hệ thống kế toán

bị suy giảm

- Hệ thống kế toán có sự độc lập tương đối với các chính sách quản lý kinh tế - tàichính cũng như hệ thống chính trị của quốc gia Khuôn khổ quy định về kế toánthường do tổ chức tư nhân, hiệp hội nghề nghiệp xây dựng mang tính thông lệ thay

vì là các quy phạm pháp luật của Nhà nước

1.2.1.2.2 Loại hình kế toán vĩ mô

Trang 16

Loại hình kế toán vĩ mô được hiểu là hệ thống kế toán có mối tương quan chặtchẽ với các chính sách quản lý kinh tế của Nhà nước Thông tin kế toán được cungcấp nhằm đảm bảo sự quản lý vĩ mô của Nhà nước.

Theo tiến trình phát triển của kế toán, loại hình kế toán vĩ mô được đề cậptrong nhiều giai đoạn khác nhau Tuy nhiên, chỉ khi hệ thống các khuôn khổ quyđịnh về kế toán được hình thành từ thế kỷ 19, loại hình kế toán vĩ mô mới đượcnhận diện một cách rõ nét Đặc điểm cơ bản của loại hình kế toán vĩ mô bao gồm:

- Mục tiêu của việc thiết lập hệ thống kế toán là nhằm đảm bảo sự quản lý vĩ mô củaNhà nước đối với nền kinh tế Vì vậy, hệ thống kế toán vĩ mô mang tính thống nhấtcao từ các khái niệm, nguyên tắc và thủ tục kế toán

- Sự ảnh hưởng của các chính sách quản lý kinh tế của Nhà nước đến kế toán là rất rõnét, trong đó đặc biệt là chính sách thuế và chính sách quản lý tài chính doanhnghiệp

- Để đảm bảo được tính thống nhất cao, khuôn khổ các quy định về kế toán thườngđược thiết lập đồng bộ theo quan điểm chi tiết đối với các thủ tục và phương pháp

cụ thể

Loại hình kế toán vĩ mô được nhận diện rõ nét gắn với hệ thống kế toán cácnước có nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung: Như các nước xã hội chủ nghĩa tronggiai đoạn 1945 – 1990, các nước phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hộichủ nghĩa như Việt Nam, Trung Quốc và các nước có nền kinh tế thị trường mangtính xã hội thuộc châu Âu lục địa như Pháp, Đức, Thụy Điển

1.2.1.2.3 Ảnh hưởng của loại hình kế toán vi mô, loại hình kế toán vĩ mô đến kế toán tiền

lương

Ảnh hưởng của loại hình kế toán vi mô: việc tổ chức kế toán cũng như kế toántiền lương không nhất thiết phải theo các quy phạm pháp luật của Nhà nước, doanhnghiệp có thể lựa chọn các chính sách kế toán phù hợp với đặc điểm của doanhnghiệp mình

Ảnh hưởng của loại hình kế toán vĩ mô: loại hình kế toán vĩ mô với đặc điểm

có sự tương quan chặt chẽ với các chính sách kinh tế vĩ mô của Nhà nước chi phốiđến việc tổ chức kế toán cũng như kế toán tiền lương mang tính chất bắt buộc

Trang 17

1.2.2 Hệ thống khái niệm, nguyên tắc kế toán chi phối đến kế toán tiền lương và các

khoản trích theo lương.

1.2.2.1 Hệ thống khái niệm kế toán

Các khái niệm kế toán là những lý thuyết có tính bất biến và tuyệt đối, tạo nềntảng cho những lý thuyết khác Khái niệm kế toán là tiền đề cho việc tổ chức kếtoán nói chung cũng như tổ chức kế toán tiền lương và các khoản trích theo lương.Các khái niệm kế toán cơ bản gồm: khái niệm đơn vị kế toán, khái niệm thước đotiền tệ, khái niệm kỳ kế toán

 Khái niệm đơn vị kế toán

Khái niệm đơn vị kế toán chỉ ra phạm vi kinh tế của kế toán Thông tin kế toánluôn gắn với đơn vị kế toán cụ thể Đơn vị kế toán là thực thể kinh tế có tài sảnriêng, chịu trách nhiệm sử dụng và quản lý tài sản đó và phải lập báo cáo kế toán.Thông tin kế toán luôn gắn liền với một đơn vị kế toán cụ thể, do đó, trong quátrình thu nhận, xử lý thông tin kế toán, cần phải có sự tách biệt giữa các đơn vị kếtoán và giữa đơn vị kế toán với các bên liên quan Mỗi đơn vị kế toán có hệ thốngbáo cáo riêng biệt

Sự tách biệt giữa các đơn vị kế toán và sự tách biệt giữa đơn vị kế toán và cácbên lên quan làm cho kế toán chỉ ghi nhận các nghiệp vụ kinh tế tài chính của đơn

vị kế toán mình Hay cụ thể hơn, đối với công tác tổ chức kế toán tiền lương và cáckhoản trích theo lương, kế toán chỉ ghi nhận các nghiệp vụ kinh tế tài chính phátsinh liên quan đến tiền lương của người lao động trong đơn vị mình mà không phảnánh của các bên liên quan hay của các đơn vị khác

Trang 18

Khái niệm đơn vị kế toán dẫn đến các hệ quả:

Thứ nhất: Sự khác biệt nhất định giữa các hệ thống kế toán của các đơn vịtrong việc ghi nhận những sự kiện và giao dịch có cùng bản chất trong hoàn cảnhtương tự

Thứ hai: Kế toán chỉ tồn tại khi đơn vị kế toán tồn tại

Như vậy, hệ quả của khái niệm đơn vị kế toán có ảnh hưởng lớn đến tổ chức

kế toán tiền lương và các khoản trích theo lương Theo hệ quả thứ hai “kế toán chỉtồn tại khi đơn vị kế toán tồn tại” cho thấy khái niệm đơn vị kế toán là điều kiện đểthực hiện tổ chức kế toán nói chung cũng như tổ chức kế toán tiền lương và cáckhoản trích theo lương nói riêng

 Khái niệm thước đo tiền tệ

Thông tin kế toán là thông tin kinh tế tài chính với thước đo chủ yếu và bắtbuộc là thước đo tiền tệ Điều đó cho phép kế toán tổng hợp được toàn bộ cácnguồn lực của đơn vị dưới dạng giá trị và giúp người sử dụng thông tin có cái nhìntổng quát về tình hình tài chính và hoạt động của đơn vị đó Kế toán chỉ phản ánhnhững sự kiện và giao dịch có khả năng tiền tệ hóa Đồng tiền được kế toán sử dụngtrong đo lường được gọi là đồng tiền kế toán Thông thường, đồng tiền kế toán củamỗi quốc gia là đồng tiền của quốc gia đó

Các sự kiện và giao dịch có thể phát sinh bằng nội tệ hoặc ngoại tệ Trườnghợp đồng tiền kế toán là nội tệ, các sự kiện và giao dịch phát sinh bằng ngoại tệ phảiđược kế toán quy đổi về nội tệ theo một tỷ giá nhất định

Ảnh hưởng của khái niệm thước đo tiền tệ đến tổ chức kế toán tiền lương vàcác khoản trích theo lương:

Thứ nhất, khái niệm thước đo tiền tệ dẫn đến hệ quả tiền là thước đo giá trịnên có liên quan đến yếu tố giá cả, từ đó làm phát sinh nhiều loại giá cả khác nhautrong đo lường và ghi nhận các đối tượng kế toán Như vậy, từ hệ quả này cho thấykhái niệm thước đo tiền dẫn đến các hình thức, công thức tính tiền lương trongdoanh nghiệp

Trang 19

Thứ hai, đối với các khoản tiền lương trả cho chuyên gia nước ngoài bằngngoại tệ, cần quy đổi ra nội tệ nếu đồng tiền kế toán của đơn vị là nội tệ.

 Khái niệm kỳ kế toán

Thông tin kế toán luôn gắn liền với phạm vi thời gian là kỳ kế toán Kỳ kế toán làkhoảng thời gian mà kế toán phản ánh tình hình tài chính và hoạt động của đơn vị vớicác sự kiện và giao dịch xảy ra trong khoảng thời gian đó

Kỳ kế toán có thể là năm, quý, tháng… Độ dài lớn nhất của kỳ kế toán là nămđược gọi là niên độ kế toán, thông thường phù hợp với niên độ tài chính của quốcgia, có thể không trùng với năm dương lịch.Các độ dài còn lại của kỳ kế toán (ngắnhơn) phụ thuộc vào đặc điểm hoạt động, trình độ và yêu cầu quản lý của đơn vị.Khái niệm kỳ kế toán dẫn đến việc hình thành kế toán trên cơ sở dồn tích, nhưvậy tiền lương được ghi nhận là một khoản nợ phải trả khi tính toán lương trả chonhân viên

Khái niệm kỳ kế toán còn là cơ sở để kế toán tổng hợp, cung cấp thông tin vềtiền lương và các khoản trích theo lương cho một giai đoạn cụ thể, từ đó các nhàquản trị có thể đưa ra các quyết định cho từng thời kỳ

Căn cứ vào khái niệm kỳ kế toán, tiền lương phải trả cho người lao động làmột khoản nợ phải trả ngắn hạn

Như vậy, theo cơ sở dồn tích, tiền lương được ghi nhận là một khoản nợ phảitrả khi bắt đầu tính lương phải trả cho công nhân viên

Trang 20

 Hoạt động liên tục

Báo cáo tài chính phải được lập trên cơ sở giả định là doanh nghiệp đang hoạtđộng liên tục và sẽ tiếp tục hoạt động kinh doanh bình thường trong tương lai gần,nghĩa là doanh nghiệp không có ý định cũng như không buộc phải ngừng hoạt độnghoặc phải thu hẹp đáng kể quy mô hoạt động của mình Trường hợp thực tế khác vớigiả định hoạt động liên tục thì báo cáo tài chính phải được lập trên một cơ sở khác vàphải giải thích cơ sở để lập báo cáo tài chính

Khái niệm hoạt động liên tục có liên quan đến việc thiết lập hệ thống báo cáo tàichính Vì giả thiết đơn vị hoạt động liên tục, nên khi lập báo cáo tài chính người takhông quan tâm đến giá thị trường của các loại tài sản, vốn, công nợ,… mặc dù trênthực tế giá thị trường có thể thay đổi Do đó, với giả định hoạt động liên tục, tiền lương

và các khoản trích theo lương được trình bày trên báo cáo tài chính theo giá gốc màkhông phải đánh giá lại theo giá thị trường

 Nguyên tắc giá gốc

Nguyên tắc giá gốc cho phép kế toán ghi nhận các đối tượng kế toán theo giávốn ban đầu khi hình thành và không cần điều chỉnh theo sự thay đổi của giá thịtrường trong suốt thời gian tồn tại của đối tượng kế toán đó ở đơn vị kế toán

Như vậy, tiền lương được ghi nhận theo giá ban đầu khi kế toán thực hiện tínhlương mà không phải điều chỉnh khi có sự biến động của thị trường như lạm phát…

 Nguyên tắc trọng yếu

Thông tin được coi là trọng yếu trong trường hợp nếu thiếu thông tin hoặcthiếu sự chính xác của thông tin đó có thể làm sai lệch đáng kể báo cáo tài chính,làm ảnh hưởng đến quyết định kinh tế của người sử dụng báo cáo tài chính Tínhtrọng yếu phụ thuộc vào độ lớn và tính chất của thông tin hoặc các sai sót đượcđánh giá trong hoàn cảnh cụ thể, Tính trọng yếu của thông tin phải được xem xéttrên cả phương diện định lượng và định tính

Nguyên tắc trọng yếu, giúp cho việc ghi chép kế toán đơn giản, hiệu quả hơnnhưng vẫn đảm bảo được tính chất trung thực, khách quan

Nguyên tắc này chú trọng đến các yếu tố, các khoản mục chi phí mang tính

Trang 21

phép bỏ qua không ghi chép các nghiệp vụ, sự kiện không quan trọng, không làmảnh hưởng đến nội dung, bản chất của nghiệp vụ kinh tế phát sinh,

Như vậy, tiền lương là thông tin có tính trọng yếu, kế toán không thể bỏ quanghiệp vụ này vì nó làm ảnh hưởng đáng kể đến báo cáo tài chính, làm ảnh hưởngđến quyết định của những người sử dụng báo cáo tài chính

 Nguyên tắc phù hợp

Việc ghi nhận doanh thu và chi phí phải phù hợp với nhau trong cùng kỳ kếtoán nhằm đảm bảo việc xác định kết quả của kỳ kế toán được chính xác và tin cậy.Nguyên tắc phù hợp đưa ra việc xác định phần chi phí tương ứng với doanh thu đãthực hiện

Như vậy tiền lương của người lao động được ghi nhận là một khoản chi phíkhi nó phù hợp với doanh thu từ sản phẩm, dịch vụ do người lao động tạo ra

 Nguyên tắc thận trọng

Nguyên tắc này đề cập đến việc lựa chọn những giải pháp sao cho ít ảnhhưởng nhất tới nguồn vốn chủ sở hữu Nguyên tắc thận trọng đòi hỏi:

- Phải lập các khoản dự phòng nhưng không lập quá lớn

- Không đánh giá cao hơn giá trị của các tài sản và các khoản thu nhập

- Không đánh giá thấp hơn giá trị của các khoản phải trả và chi phí

- Doanh thu và thu nhập chỉ được ghi nhận khi có bằng cứ chắc chắn về khả năng thuđược lợi ích kinh tế còn chi phí phải được ghi nhận khi có bằng chứng về khả năngphát sinh

 Nguyên tắc nhất quán

Nguyên tắc này đòi hỏi việc áp dụng, thực hiện các khái niệm, nguyên tắc,chuẩn mực và các phương pháp kế toán… phải thống nhất trong suốt các niên độ kếtoán

Theo nguyên tắc nhất quán, việc xác định tiền lương cần thực hiện thống nhấttrong suốt các niên độ kế toán

1.2.3 Cơ sở, giả định kế toán.

Trang 22

Cơ sở kế toán dồn tích

Mỗi nghiệp vụ kinh tế, tài chính của doanh nghiệp liên quan đến tài sản, nợphải trả, nguồn vốn chủ sở hữu, doanh thu, chi phí phải được ghi vào sổ kế toán vàothời điểm phát sinh thực tế, mà không căn cứ vào thời điểm thu hoặc chi tiền hoặctương đương tiền Báo cáo tài chính được lập trên cơ sở dồn tích phản ánh tình hìnhkinh tế tài chính của doanh nghiệp trong quá khứ, hiện tại và tương lai

Như vậy, theo cơ sở dồn tích, tiền lương được ghi nhận là một khoản nợ phảitrả khi bắt đầu tính lương phải trả cho công nhân viên

Cơ sở kế toán tiền mặt

Nguyên tắc kế toán tiền cho phép kế toán ghi nhận thu nhập và chi phí chỉ khi đơn

vị kế toán thu hoặc chi tiền đối với các giao dịch liên quan đến thu nhập và chi phí.Theo nguyên tắc kế toán tiền mặt, tiền lương trả cho người lao động chỉ được ghinhận là chi phí tiền lương khi đơn vị thanh toán lương cho người lao động,

Giả định hoạt động liên tục

Báo cáo tài chính phải được lập trên cơ sở giả định là doanh nghiệp đang hoạt độngliên tục và sẽ tiếp tục hoạt động kinh doanh bình thường trong tương lai gần, nghĩa làdoanh nghiệp không có ý định cũng như không buộc phải ngừng hoạt động hoặc phảithu hẹp đáng kể quy mô hoạt động của mình Trường hợp thực tế khác với giả định hoạtđộng liên tục thì báo cáo tài chính phải được lập trên một cơ sở khác và phải giải thích cơ

sở để lập báo cáo tài chính

1.3 Tổ chức kế toán tiền lương và các khoản trích theo lương trong doanh nghiệp

1.3.1 Phân loại, nhận diện tiền lương và các khoản trích theo lương

1.3.1.1 Các hình thức trả lương trong doanh nghiệp

Việc tính lương có thể thực hiện theo nhiều hình thức khác nhau, tùy theo đặcđiểm hoạt động kinh doanh, tính chất công việc và trình độ quản lý Trên thực tế,thường áp dụng các hình thức trả lương sau:

1.3.1.1.1 Hình thức tiền lương thời gian

Hình thức tiền lương thời gian: Là hình thức tiền lương theo thời gian làmviệc, cấp bậc kỹ thuật và thang lương của người lao động Theo hình thức này, tiền

Trang 23

lương thời gian, tiền lương phải trả được tính bằng: Thời gian làm việc thực tế nhânvới mức lương thời gian.

Tiền lương

thời gian =

Thời gian làm việc thực tế x

Đơn giá tiền lương thời gian hay mức lương thời gian

Tiền lương thời gian với đơn giá tiền lương cố định gọi là tiền lương thời giangiản đơn Tiền lương thời gian giản đơn có thể kết hợp với chế độ tiền thưởng đểkhuyến khích người lao động hăng hái làm việc, tạo nên tiền lương thời gian cóthưởng

Tiền lương thời

gian có thưởng =

Tiền lương thời gian giản đơn +

Tiền thưởng có tính chất lương

Để áp dụng trả lương theo thời gian, doanh nghiệp phải theo dõi, ghi chép thờigian làm việc của người lao động và mức lương thời gian của họ

Các doanh nghiệp chỉ áp dụng tiền lương thời gian cho những công việc chưaxây dựng được định mức lao động, chưa có đơn giá tiền lương sản phẩm, thường ápdụng cho lao động làm công tác văn phòng như: hành chính, quản trị, thống kê, kếtoán, tài vụ…; áp dụng cho bộ phận quản lý không trực tiếp sản xuất sản phẩm haycung cấp dịch vụ

Hình thức trả lương theo thời gian có nhiều hạn chế là chưa gắn được tiềnlương với kết quả và chất lượng lao động

1.3.1.1.2 Hình thức tiền lương theo sản phẩm

Hình thức tiền lương theo sản phẩm: Là hình thức tiền lương tính theo số lượng,chất lượng sản phẩm, công việc đã hoàn thành đảm bảo yêu cầu chất lượng và đơn giátiền lương tính cho một đơn vị sản phẩm, công việc đó Tiền lương sản phẩm phải trảtính bằng: Số lượng hoặc khối lượng công việc, sản phẩm hoàn thành đủ tiêu chuẩn chấtlượng nhân với đơn giá tiền lương sản phẩm

Tiền lương = Khối lượng sản x Đơn giá tiền lương

Trang 24

sản phẩm phẩm hoàn thành sản phẩm

Trong việc trả lương theo sản phẩm, vấn đề quan trọng là phải xây dựng địnhmức kinh tế - kỹ thuật, làm cơ sở cho việc xây dựng đơn giá tiền lương đối với từngloại sản phẩm Việc xác định tiền lương sản phẩm phải dựa trên cơ sở các tài liệuhạch toán kết quả lao động Do đó, để thực hiện tính lương theo sản phẩm, doanhnghiệp cần hạch toán ban đầu sao cho xác định được kết quả của từng người, xâydựng được đơn giá tiền lương sản phẩm và phải có hệ thống kiểm tra chất lượngchặt chẽ

Tiền lương sản phẩm có thể áp dụng trực tiếp với lao động trực tiếp sản xuấtsản phẩm, gọi là tiền lương sản phẩm trực tiếp, hoặc có thể áp dụng đối với ngườigián tiếp phục vụ sản xuất gọi là tiền lương sản phẩm gián tiếp.Tiền lương sảnphẩm gián tiếp thường áp dụng để trả cho công nhân phụ làm những công việc phục

vụ cho công nhân chính Chế độ tiền lương này nhằm khuyến khích công nhân phụphục vụ tốt hơn cho công nhân chính mà mình có trách nhiệm phục vụ

Để khuyến khích người lao động nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm,doanh nghiệp có thể áp dụng các đơn giá lương sản phẩm khác nhau

- Tiền lương sản phẩm tính theo đơn giá tiền lương cố định gọi là tiền lương sảnphẩm giản đơn

- Tiền lương sản phẩm giản đơn kết hợp với tiền thưởng về năng suất chất lượng sảnphẩm, gọi là tiền lương sản phẩm có thưởng

- Tiền lương sản phẩm tính theo đơn giá lương sản phẩm tăng dần áp dụng theo mức

độ hoàn thành vượt mức kế hoạch khối lượng sản phẩm, gọi là tiền lương sản phẩmlũy tiến

Tiền lương sản phẩm khoán (thực chất là một dạng của tiền lương sản phẩm):hình thức này có thể khoán việc, khoán khối lượng, khoán sản phẩm cuối cùng,khoán quỹ lương

Trong doanh nghiệp xây dựng, tiền lương khoán sản phẩm thường theo hình thứckhoán cho cả công trình hoặc hạng mục công trình cho các đội thi công

Trang 25

Hình thức tiền lương sản phẩm được tính trên kết quả lao động của người laođộng do đó hình thức lương sản phẩm đảm bảo nguyên tắc phân phối theo số lượng,chất lượng lao động; khuyến khích người lao động quan tâm đến kết quả và chấtlượng sản phẩm.

1.3.1.2 Các hình thức trả thưởng và trợ cấp trong doanh nghiệp.

Ngoài tiền lương và BHXH, công nhân viên có thành tích trong sản xuất,trong công tác được hưởng khoản tiền lương, tiền thưởng thi đua được trích từ quỹkhen thưởng căn cứ vào kết quả bình xét và hệ số lương để tính

Tiền lương về sáng kiến nâng cao chất lượng sản phẩm, tiết kiệm vật tư, tăngnăng suất lao động sẽ căn cứ vào hiệu quả kinh tế cụ thể để xác định

Lương phép: Người lao động nghỉ phép thì được tính lương phép Theo chế

độ hiện hành thì lương phép bằng 100% lương cấp bậc (chức vụ) Hiện nay, mỗingười lao động được nghỉ 12 ngày phép trong một năm, nếu làm việc từ 5 năm liêntục trở lên thì được nghỉ thêm 1 ngày; nếu thời hạn làm việc 30 năm trở lên thì thờigian nghỉ phép tăng thêm 6 ngày

Chế độ phụ cấp:

Phụ cấp lương là khoản tiền lương doanh nghiệp trả thêm cho người lao độngkhi họ làm việc ở những điều kiện đặc biệt

- Phụ cấp làm đêmNếu người lao động làm thêm giờ vào ban đêm (từ 22h đến 6h sáng) thì ngoài sốtiền trả cho những giờ làm thêm, người lao động còn được hưởng phụ cấp làm đêm

××x

Trong đó:

Số giờ làm đêm

30%

Hoặc 40%

Tiền lương cấp bậc hoặc chức vụ tháng (kể cả phụ cấp) công việc )

Phụ cấp làm đêm Số giờ tiêu chuẩn quy định trong tháng

Trang 26

+ 30% đối với những công việc không thường xuyên làm việc ban đêm

+ 40% đối với những công việc thường xuyên làm việc ban đêm hoặc làm theo

ca (chế độ 3 ca)

- Phụ cấp trách nhiệm

Nhằm bù đắp cho những người vừa trực tiếp sản xuất hoặc làm công tácchuyên môn, nghiệp vụ vừa kiêm nghiệm công tác quản lý không thuộc chức vụlãnh đạo bổ nhiệm hoặc làm những công việc đòi hỏi trách nhiệm cao được xácđịnh trong mức lương

Phụ cấp trách nhiệm được tính trả cùng kỳ lương hàng tháng Đối với doanhnghiệp khoản phụ cấp này được tính vào đơn giá tiền lương và được hạch toán vàogiá thành hoặc phí lưu thông

- Chế độ trả lương thêm giờ

Những người làm việc trong thời gian ngoài giờ làm việc quy định trong hợpđồng lao động được hưởng tiền làm thêm giờ

Cách tính như sau:

Tg = Tt x Hg x Gt

Trong đó:

- Tg: tiền lương trả thêm giờ

- Tt: tiền lương giờ thực tế

- Hg: tỷ lệ % lương được trả thêm

- Gt: số giờ làm thêm

Mức lương trả thêm được Nhà nước quy định:

- Bằng 150% nếu làm thêm vào ngày thường

- Bằng 200% nếu làm thêm vào ngày nghỉ cuối tuần

- Bằng 300% nếu làm thêm vào ngày lễ

Nếu doanh nghiệp bố trí làm việc vào ban đêm, ngoài lương hưởng theo thời giancòn phải trả thêm ít nhất 30% theo lương thực tế cho người lao động

Tiền thưởng

Trang 27

Tiền thưởng thực chất là khoản bổ sung tiền lương nhằm quán triệt phân phốitheo lao động gắn với hiệu quả sản xuất kinh doanh Tiền lương nhiều hay ít là dokết quả thực hiện các chỉ tiêu thường.

Tiền thưởng được phân loại như sau:

- Thưởng thường xuyên (có tính chất lương): thực chất là một phần quỹ lương đượctrích ra để trả cho người lao động dưới hình thức tiền lương theo một tiêu chí nhấtđịnh,

- Thưởng sáng kiến cải tiến kỹ thuật: là hình thức khuyến khích cán bộ công nhânphát huy khả năng sáng tạo của mình trong quá trình sản xuất nhằm nâng cao năngsuất lao động, chất lượng sản phẩm hoặc cải thiện điều kiện làm việc mang lại hiệuquả trong sản xuất kinh doanh cho doanh nghiệp

Mức thưởng tùy theo điều kiện của từng doanh nghiệp và hiệu quả lợi ích kinh

tế xã hội mà có quy chế, quy định cụ thể Tuy nhiên, mức thưởng phải đảm bảođược vai trò khuyến khích người lao động đóng góp trí tuệ cho sự phát triển củadoanh nghiệp và xã hội

1.3.1.3 Quỹ tiền lương, quỹ BHXH, quỹ BHYT, quỹ BHTN, quỹ KPCĐ

1.3.1.3.1 Quỹ tiền lương

Quỹ tiền lương của doanh nghiệp là toàn bộ tiền lương tính theo người laođộng của doanh nghiệp do doanh nghiệp quản lý và chi trả

Quỹ tiền lương bao gồm:

- Tiền lương trả theo thời gian, trả theo sản phẩm, lương khoán

- Các loại phụ cấp làm đêm, thêm giờ, độc hại…

- Tiền lương trả cho người lao động sản xuất ra sản phẩm hỏng trong phạm vi chế độquy định

- Tiền lương trả cho thời gian người lao động ngừng sản xuất do nguyên nhân kháchquan như: đi học, tập quân sự, nghỉ phép năm, hội nghị…

- Các khoản tiền thưởng có tính chất thường xuyên

Trong doanh nghiệp, để phục vụ cho công tác hạch toán và phân tích tiềnlương có thể chia ra tiền lương chính và tiền lương phụ

Trang 28

Tiền lương chính: là tiền lương trả cho thời gian người lao động làm nhiệm vụchính của họ, gồm tiền lương trả theo cấp bậc và các khoản phụ cấp kèm theo.Tiền lương phụ: là tiền lương trả cho người lao động trong thời gian họ thựchiện các nhiệm vụ khác do doanh nghiệp điều động như: hội họp, tập quân sự, nghỉphép năm theo chế độ.

Để đảm bảo cho doanh nghiệp hoàn thành và vượt mức kế hoạch sản xuất thìviệc quản lý và chi tiêu quỹ tiền lương phải hợp lý, tiết kiệm quỹ lương nhằm phục

vụ tốt cho việc thực hiện kế hoạch sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp

1.3.1.3.2 Quỹ bảo hiểm xã hội

Quỹ BHXH được hình thành bằng cách trích theo tỷ lệ quy định trên tổng sốquỹ lương cơ bản và các khoản phụ cấp (chức vụ, khu vực… ) của người lao độngthực tế phát sinh trong tháng

Quỹ BHXH được chi tiêu cho các trường hợp người lao động ốm đau, thaisản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, hưu trí, tử tuất; quỹ này do cơ quan bảohiểm xã hội quản lý

1.3.1.3.3 Quỹ bảo hiểm y tế

Quỹ BHYT được sử dụng để thanh toán các khoản tiền khám chữa bệnh, thuốcchữa bệnh, viện phí,,, cho người lao động trong thời gian ốm đau, sinh đẻ

Quỹ này được hình thành bằng cách trích theo tỷ lệ quy định trên tổng số tiềnlương cơ bản và các khoản phụ cấp của người lao động thực tế phát sinh trong tháng.1.3.1.3.4 Quỹ bảo hiểm thất nghiệp

Bảo hiểm thất nghiệp là khoản tiền được trích để trợ cấp cho người lao động bịmất việc làm Theo Điều 81 Luật BHXH, người thất nghiệp được hưởng BHTN khi

có đủ các điều kiện sau:

- Đã đóng BHTN đủ 12 tháng trở lên trong thời gian 24 tháng trước khi thất nghiệp

- Đã đăng ký thất nghiệp với tổ chức BHXH

- Chưa tìm được việc làm sau 15 ngày kể từ ngày đăng ký thất nghiệp

Mức trợ cấp thất nghiệp hàng tháng bằng 60% mức bình quân tiền lương, tiềncông tháng đóng BHTN của 6 tháng liền kề trước khi thất nghiệp

Quỹ kinh phí công đoàn

Trang 29

Kinh phí công đoàn là khoản trích lập theo tỷ lệ 2% trên tổng quỹ lương thực

tế phải trả cho người lao động thực tế phát sinh trong tháng, tính vào chi phí sảnxuất kinh doanh

Quỹ kinh phí công đoàn nhằm chăm lo, bảo vệ quyền lợi chính đáng chongười lao động đồng thời duy trì hoạt động của công đoàn tại doanh nghiệp

Ngoài chế độ tiền lương và các khoản trích theo lương, doanh nghiệp còn xâydựng chế độ tiền thưởng tập thể, cá nhân có thành tích trong hoạt động sản xuấtkinh doanh Tiền thưởng nhằm kích thích người lao động trong sản xuất kinh doanhgồm có: thưởng thi đua, thưởng nâng cao chất lượng sản phẩm, tiết kiệm vật tư,phát minh sáng kiến cải tiến kỹ thuật

1.3.2 Đánh giá, xác định tiền lương và các khoản trích theo lương

 Tiền lương thời gian cơ bản

TL tg = (HSL + HSPC (nếu có)) x Mức lương tối thiểu x T1/T

Trong đó:

- HSL: hệ số lương cơ bản của người lao động

- HSPC: hệ số phụ cấp

- Mức lương tối thiểu theo quy định của Nhà nước

- T: số ngày công trong tháng

- T1: số ngày làm việc thực tế trong tháng

 Lương sản phẩm:

Tiền lương sản phẩm giản đơn

TL sp = Số lượng sản phẩm hoàn thành x Đơn giá sản phẩm

Tiền lương sản phẩm có thưởng

TL spthưởng = TL sp + mh/100 x TL sp

Trong đó:

- TLsp: tiền lương sản phẩm giản đơn

- m: là % tiền thưởng so với lương sản phẩm ch0 1% hoàn thành vượt mứcsản lượng

- h: là % hoàn thành vượt mức sản lượng

Tiền lương sản phẩm lũy tiến

TL spLT = ĐG x Q 1 + ĐG x k x (Q 1 – Q 0 )

Trang 30

- ĐG: đơn giá tiền lương sản phẩm cơ bản

- Q0: sản lượng hoàn thành ở mức khởi điểm

- Q1: sản lượng thực tế hoàn thành

- k: tỷ lệ tăng thêm để có được đơn giá lũy tiến

 Tiền lương khoán

1.3.3 Tổ chức ghi nhận thông tin về tiền lương và các khoản trích theo lương

1.3.3.1 Tổ chức chứng từ kế toán

Hiện nay, theo Thông tư 200/2014/TT-BTC ban hành ngày 22/12/2014 của BộTài chính doanh nghiệp được chủ động xây dựng các biểu mẫu chứng từ kế toánnhưng phải đáp ứng yêu cầu của Luật kế toán và đảm bảo nguyên tắc rõ ràng, minhbạch, kịp thời, dễ kiểm tra, kiểm soát và đối chiếu

Trường hợp doanh nghiệp không tự xây dựng được biểu mẫu chứng từ kế toáncho riêng mình có thể áp dụng hệ thống biểu mẫu và hướng dẫn nội dung ghi chépchứng từ kế toán theo hướng dẫn của thông tư này

1.3.3.1.1 Chứng từ hạch toán lao động

Ở các doanh nghiệp, tổ chức về hạch toán lao động thường do bộ phận tổ chứclao động, nhân sự của doanh nghiệp thực hiện Tuy nhiên các chứng từ ban đầu vềlao động là cơ sở để tính trả lương và các khoản phụ cấp, trợ cấp cho người laođộng; là tài liệu quan trọng để đánh giá hiệu quả các biện pháp quản lý lao động vậndụng ở doanh nghiệp Do đó, doanh nghiệp phải vận dụng lập các chứng từ ban đầu

về lao động phù hợp với các yêu cầu quản lý lao động, phản ánh rõ ràng, đầy đủ sốlượng, chất lượng lao động

Các chứng từ ban đầu gồm:

- Bảng chấm công: Bảng chấm công do các tổ sản xuất hoặc phòng ban lập, nhằmcung cấp chi tiết số ngày công của từng người lao động theo tháng, hoặc theo tuần(tùy theo cách chấm công và trả lương ở doanh nghiệp)

- Bảng chấm công làm thêm giờ

- Bảng thanh toán lương

- Phiếu xác nhận sản phẩm hoặc công việc hoàn thành

Mục đích lập chứng từ này nhằm xác nhận số sản phẩm hoặc công việc hoànthành của đơn vị hoặc cá nhân người lao động làm cơ sở để lập bảng thanh toán tiềnlương hoặc tiền công cho người lao động; phiếu này do người giao việc lập, phòng

Trang 31

lao động tiền lương thu nhận và ký duyệt trước khi chuyển đến phòng kế toán làmchứng từ hợp pháp để trả lương.

- Bảng thanh toán tiền làm thêm giờ

- Hợp đồng giao khoán: Phiếu này là bản ký kết giữa người giao khoán và ngườinhận khoán về khối lượng công việc, thời gian làm việc, trách nhiệm và quyền lợimỗi bên khi thực hiện công việc đó; đồng thời là cơ sở để thanh toán tiền công laođộng cho người nhận khoán

- Bảng thanh toán tiền thuê ngoài

- Bảng thanh lý (nghiệm thu) hợp đồng giao khoán

- Bảng kê trích nộp các khoản theo lương

- Bảng phân bổ tiền lương và bảo hiểm xã hội

Trên cơ sở các chứng từ ban đầu, bộ phận lao động tiền lương thu thập, kiểmtra, đối chiếu với chế độ của Nhà nước, doanh nghiệp và thỏa thuận theo hợp đồnglao động; sau đó ký xác nhận chuyển cho kế toán tiền lương làm căn cứ lập bảngthanh toán lương, thanh toán bảo hiểm xã hội

1.3.3.1.2 Chứng từ tính lương và các khoản trợ cấp lao động

Hiện nay, Nhà nước cho phép doanh nghiệp trả lương cho người lao động theotháng hoặc tuần Việc tính lương và các khoản trợ cấp bảo hiểm xã hội, kế toán phảitính riêng cho từng người lao động, tổng hợp lương theo từng tổ sản xuất, từngphòng ban quản lý

Trường hợp trả lương khoán cho tập thể người lao động, kế toán phải tínhlương, trả lương cho từng việc khoán và hướng dẫn chia lương cho từng thành viêntrong nhóm (tập thể) đó theo các phương pháp chia lương nhất định, nhưng phảiđảm bảo công bằng, hợp lý

Căn cứ các chứng từ ban đầu có liên quan đến tiền lương và trợ cấp bảo hiểm

xã hội được duyệt, kế toán lập các bảng thanh toán sau:

- Bảng thanh toán tiền lương

Mỗi tổ sản xuất, mỗi phòng (ban) quản lý mở một bảng thanh toán lương,trong đó kê tên và các khoản lương được lĩnh của từng người trong đơn vị

Danh sách người lao động được hưởng trợ cấp bảo hiểm xã hội

Trang 32

Bảng này được mở để theo dõi cho cả doanh nghiệp về các chỉ tiêu: Họ tên

và nội dung từng khoản bảo hiểm xã hội người lao động được hưởng trong tháng

- Bảng thanh toán tiền thưởng:

Bảng này được lập cho từng tổ sản xuất, từng phòng ban, bộ phận kinhdoanh,…; các bảng thanh toán này là căn cứ để trả lương và khấu trừ các khoảnkhác như: BHXH, BHYT, BHTN, khoản bồi thường vật chất,… đối với người laođộng

1.3.3.2 Tổ chức tài khoản kế toán

Để tiến hành kế toán tiền lương và các khoản trích theo lương, kế toán sử dụngmột số tài khoản sau:

Tài khoản 334 – Phải trả người lao động

Tài khoản này dùng để phản ánh các khoản phải trả và tình hình thanh toáncác khoản phải trả cho người lao động của doanh nghiệp về tiền lương, tiền công,tiền thưởng, bảo hiểm xã hội và các khoản phải trả khác thuộc về thu nhập củangười lao động

Kết cấu và nội dung của Tài khoản 334 – Phải trả người lao động như sau:

Bên Nợ:

- Các khoản tiền lương, tiền công, tiền thưởng có tính chất lương, bảo hiểm xã hội và cáckhoản khác đã trả, đã chi, đã ứng trước cho người lao động

- Các khoản khấu trừ vào tiền lương, tiền công của người lao động

Bên Có: Các khoản tiền lương, tiền công, tiền thưởng có tính chất lương và các

khoản khác phải trả, phải chi cho người lao động

Số dư bên Có: Các khoản tiền lương, tiền công, tiền thưởng có tính chất lương và

các khoản khác còn phải trả cho người lao động

TK 334 có thể có số dư bên Nợ, số dư bên Nợ TK 334 rất cá biệt – nếu cóphản ánh số tiền đã trả lớn hơn số phải trả về tiền lương, tiền công, tiền thưởng vàcác khoản khác cho người lao động

TK 334 phải hạch toán chi tiết theo 2 nội dung: Thanh toán lương và thanh toán cáckhoản khác

TK 334 – Phải trả người lao động có 2 tài khoản cấp 2:

Trang 33

- TK 3341 – Phải trả công nhân viên: Phản ánh các khoản phải trả và tình hình thanhtoán các khoản phải trả cho công nhân viên của doanh nghiệp về tiền lương, tiềnthưởng có tính chất lương, bảo hiểm xã hội và các khoản phải trả khác thuộc về thunhập của công nhân viên

- TK 3348 – Phải trả người lao động khác: Phản ánh các khoản phải trả và tình hìnhthanh toán các khoản phải trả cho người lao động khác ngoài công nhân viên củadoanh nghiệp về tiền công, tiền thưởng (nếu có) có tính chất tiền công và các khoảnkhác thuộc thu nhập của người lao động

Tài khoản 338 – Phải trả, phải nộp khác

Tài khoản này dùng để phản ánh tình hình thanh toán về các khoản phải trả,phải nộp ngoài nội dung đã phản ánh ở các tài khoản khác thuộc nhóm TK33 (từ TK

331 đến TK 337) Tài khoản này cũng được dùng để hạch toán doanh thu nhậntrước về các dịch vụ đã cung cấp cho khách hàng và các khoản chênh lệch giá phátsinh trong giao dịch bán và thuê lại tài sản là thuê tài chính hoặc thuê hoạt động.Kết cấu TK 338 – Phải trả, phải nộp khác

Bên Nợ:

- Kết chuyển giá trị các tài sản thừa vào các tài khoản liên quan theo quyết định ghitrong biên bản xử lý;

- Kinh phí công đoàn chi tại đơn vị;

- Số BHXH, BHYT, BHTN, KPCĐ đã nộp cho cơ quan quản lý quỹ bảo hiểm xã hội,bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp và kinh phí công đoàn;

- Doanh thu chưa thực hiện tính cho từng kỳ kế toán; trả lại tiền nhận trước chokhách hàng khi không tiếp tục thực hiện việc cho thuê tài sản;

- Số chênh lệch khoản phân bổ giữa giá bán trả chậm, trả góp theo cam kết với giábán trả tiền ngay (lãi trả chậm) vào chi phí tài chính;

- Kết chuyển chênh lệch giá bán lớn hơn giá trị còn lại TSCĐ bán và thuê lại là thuêtài chính ghi giảm chi phí sản xuất kinh doanh;

- Kết chuyển chênh lệch giá bán lớn hơn giá trị hợp lý của TSCĐ bán và thuê lại làthuê hoạt động ghi giảm chi phí sản xuất kinh doanh;

- Nộp vào Quỹ Hỗ trợ sắp xếp doanh nghiệp số tiền thu từ cổ phần hóa doanh nghiệp100% vốn Nhà nước;

- Kết chuyển chi phí cổ phần hóa trừ (-) vào số tiền Nhà nước thu được từ cổ phầnhóa công ty Nhà nước;

Trang 34

- Các khoản đã trả và đã nộp khác.

Bên Có:

- Giá trị tài sản thừa chờ xử lý (chưa xác định rõ nguyên nhân); Giá trị tài sản thừaphải trả cho cá nhân, tập thể (trong và ngoài đơn vị); theo quyết định ghi trong biênbản xử lý do xác định ngay được nguyên nhân;

- Trích BHXH, BHYT, BHTN, KPCĐ vào chi phí sản xuất, kinh doanh hoặc khấu trừvào lương của công nhân viên;

- Các khoản thanh toán với công nhân viên về tiền nhà, điện, nước ở tập thể;

- Kinh phí công đoàn vượt chi được cấp bù;

- Số BHXH đã chi trả công nhân viên khi được cơ quan BHXH thanh toán;

- Doanh thu chưa thực hiện phát sinh trong kỳ;

- Số chênh lệch giữa giá bán trả chậm, trả góp theo cam kết với giá bán trả ngay;

- Số chênh lệch giữa giá bán cao hơn giá trị còn lại của TSCĐ bán và thuê lại củagiao dịch bán và thuê lại TSCĐ là thuê tài chính;

- Số chênh lệch giữa giá bán cao hơn giá trị hợp lý của TSCĐ bán và thuê lại của giaodịch bán và thuê lại TSCĐ là thuê hoạt động;

- Phản ánh tổng số tiền thu từ bán cổ phần thuộc vốn Nhà nước; Khoản chênh lệchgiữa giá trị thực tế phần vốn Nhà nước tại thời điểm doanh nghiệp 100% vốn Nhànước chuyển thành công ty cổ phần lớn hơn giá trị thực tế phần vốn Nhà nước tạithời điểm xác định giá trị doanh nghiệp;

- Vật tư, hàng hóa vay, mượn tạm thời, các khoản nhận vốn góp hợp đồng hợp táckinh doanh không thành lập pháp nhân;

- Các khoản thu hộ đơn vị khác phải trả lại;

- Các khoản phải trả khác

Số dư bên Có:

- BHXH, BHYT, BHTN, KPCĐ đã trích chưa nộp cho cơ quan quản lý hoặc kinh phícông đoàn được để lại chưa chi hết;

- Giá trị tài sản phát hiện thừa còn chờ giải quyết;

- Doanh thu chưa thực hiện ở cuối kỳ kế toán;

- Số chênh lệch giữa giá bán cao hơn giá trị hợp lý hoặc giá trị còn lại của TSCĐ bán

và thuê lại chưa kết chuyển;

- Phản ánh số tiền thu về bán cổ phần thuộc vốn Nhà nước hoặc khoản chênh lệchgiữa giá trị thực tế phần vốn Nhà nước tại thời điểm doanh nghiệp 100% vốn Nhànước chuyển thành công ty cổ phần lớn hơn giá trị thực tế phần vốn Nhà nước tạithời điểm xác định giá trị doanh nghiệp còn phải trả đến cuối kỳ kế toán;

Trang 35

- Các khoản còn phải trả, còn phải nộp khác.

Tài khoản 338 – Phải trả, phải nộp khác có 8 tài khoản cấp 2:

- TK 3381 – Tài sản chờ giải quyết

- TK 3382 – Kinh phí công đoàn: Phản ánh tình hình trích và thanh toánkinh phí công đoàn tại đơn vị

- TK 3383 – Bảo hiểm xã hội: Phản ánh tình hình trích và thanh toán bảohiểm xã hội tại đơn vị

- TK 3384 – Bảo hiểm y tế: Phản ánh tình hình trích và thanh toán bảo hiểm

Trình tự kế toán một số nghiệp vụ chủ yếu:

(1) Tính tiền lương, các khoản phụ cấp theo quy định phải trả cho người lao động, ghi:

Nợ TK 241 – Xây dựng cơ bản dở dang

Nợ các TK 622, 623, 627, 641, 642

Có TK 334(2) Tiền thưởng trả cho công nhân viên:

- Khi xác định số tiền thưởng phải trả cho công nhân viên từ quỹ khen thưởng:

Nợ TK 353 – Quỹ khen thưởng phúc lợi (TK 3531)

Có TK 334 – Phải trả người lao động (TK 3341)

- Khi xuất quỹ chi trả tiền thưởng, ghi:

Nợ TK 334 – Phải trả người lao động (TK 3341, 3348)

Có TK 141 – Tạm ứng

Có TK 138 – Phải thu khác

Trang 36

Nợ TK 334

Có TK 333 – Thuế và các khoản phải nộp Nhà nước (3335)(7) Khi ứng trước hoặc thực trả tiền lương, tiền công cho công nhân viên và người laođộng khác của doanh nghiệp, ghi:

Nợ TK 334

Có TK 511 – Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ

Có TK 3331 – Thuế GTGT phải nộp (33311)(10)Xác định và thanh toán các khoản phải trả cho công nhân viên và người lao độngkhác của doanh nghiệp như tiền ăn ca, tiền nhà, tiền điện thoại, học phí, thẻ hộiviên,…

- Khi xác định được số phải trả cho công nhân viên và người lao động của doanhnghiệp, ghi:

Trang 37

1.3.3.3 Tổng hợp phân bổ tiền lương và các khoản trích theo lương

Hàng tháng, kế toán tiền lương phải tổng hợp tiền lương phải trả trong kỳ theotừng đối tượng sử dụng và tính BHXH, BHYT, BHTN, KPCĐ hàng tháng tính vào chiphí kinh doanh theo mức lương quy định của chế độ, tổng hợp các số liệu này, kế toánlập “Bảng phân bổ tiền lương và bảo hiểm xã hội”

Trên Bảng phân bổ tiền lương và bảo hiểm xã hội ngoài tiền lương và BHXH,BHYT, BHTN, KPCĐ còn phản ánh khoản trích trước tiền lương nghỉ phép củacông nhân sản xuất (nếu có); bảng này được lập hàng tháng trên cơ sở các bảngthanh toán lương đã lập theo các tổ, đội sản xuất, các phòng ban quản lý, các bộphận kinh doanh và các chế độ trích lập BHXH, BHYT, BHTN, KPCĐ, mức tríchtrước tiền lương nghỉ phép,…

Căn cứ vào bảng thanh toán lương; kế toán tổng hợp và phân loại tiền lươngphải trả theo từng đối tượng sử dụng lao động, theo nội dung: tiền lương phải trảtrực tiếp cho sản xuất hay phục vụ quản lý ở các bộ phận liên quan; đồng thời có sựphân biệt tiền lương chính, tiền lương phụ; các khoản phụ cấp… để tổng hợp số liệughi vào cột ghi Có TK 334 “Phải trả người lao động” vào các dòng phù hợp

Căn cứ tiền lương cấp bậc, tiền lương thực tế phải trả và các tỷ lệ trích BHXH,BHYT, BHTN, KPCĐ, trích trước tiền lương nghỉ phép,… kế toán tính và ghi sốliệu vào các cột liên quan trong biểu

Số liệu ở bảng phân bổ tiền lương và bảo hiểm xã hội do kế toán lương lập, đượcchuyển cho các bộ phận kế toán liên quan làm căn cứ ghi sổ và đối chiếu

1.3.3.3.1 Tổ chức hệ thống sổ kế toán để ghi nhận

Theo Thông tư 200/2014/TT-BTC, doanh nghiệp được tự xây dựng biểu mẫu

sổ kế toán cho riêng mình nhưng phải đảm bảo cung cấp thông tin về giao dịch kinh

tế một cách minh bạch, đầy đủ, dễ kiểm tra, dễ kiểm soát và dễ đối chiếu Trườnghợp không tự xây dựng biểu mẫu sổ kế toán, doanh nghiệp có thể áp dụng biểu mẫu

Trang 38

sổ kế toán theo hướng dẫn tại phụ lục số 4 Thông tư này nếu phù hợp với đặc điểmquản lý và hoạt động kinh doanh của mình

Tùy theo đặc điểm hoạt động và yêu cầu quản lý, doanh nghiệp được tự xâydựng hình thức ghi sổ kế toán cho riêng mình trên cơ sở đảm bảo thông tin về cácgiao dịch phải được phản ánh đầy đủ, kịp thời, dễ kiểm tra, kiểm soát và đối chiếu.Trường hợp không tự xây dựng hình thức ghi sổ kế toán cho riêng mình, doanhnghiệp có thể áp dụng các hình thức sổ kế toán được hướng dẫn trong phụ lục số 4Thông tư này để lập Báo cáo tài chính nếu phù hợp với đặc điểm quản lý và hoạtđộng kinh doanh của mình

Các hình thức sổ kế toán theo hướng dẫn của Thông tư 200/2014/TT – BTC:

- Hình thức kế toán Nhật ký chung

- Hình thức kế toán Nhật ký – Sổ Cái

- Hình thức kế toán Chứng từ ghi sổ

- Hình thức kế toán Nhật ký – Chứng từ

- Hình thức kế toán trên máy vi tính

Trong mỗi hình thức sổ kế toán có những quy định cụ thể về số lượng, kết cấu,mẫu sổ, trình tự, phương pháp ghi chép và mối quan hệ giữa các sổ kế toán

1.3.3.3.2 Hình thức kế toán Nhật ký chung

Nguyên tắc, đặc trưng cơ bản của hình thức kế toán Nhật ký chung: ất cả cácnghiệp vụ kinh tế tài chính phát sinh đều phải được ghi vào sổ nhật ký, mà trọngtâm là sổ Nhật Ký Chung theo trình tự thời gian phát sinh và định khoản kế toán củanghiệp vụ đó, sau đó lấy số liệu trên các sổ nhật ký để ghi vào Sổ Cái theo từngnghiệp vụ kinh tế phát sinh Hình thức kế toán Nhật ký chung gồm các loại sổ chủyếu: Sổ Nhật ký chung, Sổ Nhật ký đặc biệt, Sổ Cái, các sổ, thẻ kế toán chi tiết

Sơ đồ 1.1: Trình tự ghi sổ kế toán theo Hình thức Nhật ký chung

Trang 39

Ghi chú:

Ghi hàng ngàyGhi cuối tháng, hoặc định kỳ Quan hệ đối chiếu, kiểm tra1.3.3.3.3 Hình thức kế toán Nhật ký – Sổ Cái

Đặc trưng cơ bản của hình thức kế toán Nhật ký – Sổ Cái: Các nghiệp vụ kinh

tế phát sinh được kết hợp ghi chép theo trình tự thời gian và theo nội dung kinh tếtrên cùng một quyển sổ kế toán tổng hợp duy nhất là sổ Nhật ký – Sổ Cái Căn cứ

để ghi vào sổ Nhật ký – Sổ Cái là các chứng từ gốc hoặc Bảng tổng hợp chứng từgốc Hình thức Nhật ký – Sổ Cái sử dụng các loại sổ kế toán: Sổ Nhật ký – Sổ Cái;các sổ, thẻ kế toán chi tiết

Sơ đồ 1.2: Trình tự ghi sổ kế toán theo hình thức Nhật ký – Sổ cái

Trang 40

Chứng từ ghi sổ do kế toán lập trên cơ sở từng chứng từ kế toán hoặc BảngTổng hợp chứng từ kế toán cùng loại, có cùng nội dung kinh tế Chứng từ ghi sổđược đánh số liên tục trong từng thàng hoặc cả năm (theo số thứ tự trong sổ Đăng

ký chứng từ ghi sổ) và có chứng từ kế toán đính kèm, phải được kế toán trưởngduyệt trước khi ghi sổ kế toán

Hình thức kế toán chứng từ ghi sổ gồm các loại sổ kế toán: Chứng từ ghi sổ;

Ngày đăng: 22/05/2019, 15:13

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w