1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Bài soạn triết học về nội dung tư tưởng pháp trị, nhân trị

16 63 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 16
Dung lượng 38,05 KB
File đính kèm Bai soan Triet học.rar (36 KB)

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nội dung tư tưởng pháp trị, nhân trị và nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn và liên hệ thực tiễn bản thân Hàn Phi (khoảng 280 – 233 TCN) là người tập đại thành tư tưởng Pháp gia. Ông đã tiếp thu điểm ưu trội của ba trường pháp “pháp”, “thuật”, “thế” để xây dựng và phát triển một hệ thống lý luận pháp trị tương đối hoàn chỉnh và tiến bộ so với đương thời. Học thuyết của Hàn Phi được người xưa gọi là “học thuyết của đế vương”.

Trang 1

NỘI DUNG TƯ TƯỞNG PHÁP TRỊ

1 Nội dung tư tưởng pháp trị

Hàn Phi (khoảng 280 – 233 TCN) là người tập đại thành tư tưởng Pháp gia Ông đã tiếp thu điểm ưu trội của ba trường pháp “pháp”, “thuật”, “thế” để xây dựng và phát triển một hệ thống lý luận pháp trị tương đối hoàn chỉnh và tiến bộ so với đương thời Học thuyết của Hàn Phi được người xưa gọi là “học thuyết của đế vương”

* Nội dung tư tưởng

Trong quá trình xây dựng học thuyết của mình, Hàn Phi phê phán mạnh

mẽ lý thuyết chính trị của Nho gia Dưới con mắt của ông, cách cai trị dựa trên nhân đức của nhà cầm quyền (dưới các tên gọi như “Nhân trị”, “Đức trị” hay

“Lễ trị”) hay những lý tưởng chính trị Nghiêu Thuấn là trái với thực tế lúc bấy giờ và nếu áp dụng quan niệm đó sẽ làm loạn đất nước

Về lý luận chính trị, ông tiếp thu điểm nổi bật của ba trường phái trong Pháp gia: “Pháp” (Thương Ưởng), “Thuật” (Thân Bất Hại), “Thế” (Thận Đáo) làm nội dung cơ bản; từ đó, phát triển và xây dựng một hệ thống lý luận pháp trị tương đối hoàn chỉnh và tiến bộ so với đương thời Ông cho rằng ba yếu tố nói trên phải thống nhất không thể tách rời trong đường lối trị nước bằng pháp luật

Sở dĩ Hàn Phi đưa ra chủ trương sử dụng pháp luật, mệnh lệnh và hình phạt để cai trị là phương pháp có hiệu lực nhất vì “dân vốn lờn với lòng thương mà chỉ vâng theo uy lực”

Pháp: được hiểu theo hai nghĩa:

- Nghĩa rộng "Pháp" là thể chế quốc gia là chế độ chính trị xã hội của đất nước

- Nghĩa hẹp "Pháp" là những luật lệ mang tính nguyên tắc và khuôn mẫu

Tính cách của pháp luật theo Hàn Phi, trên cơ sở chủ trương của Pháp gia, là vua tượng trưng cho quốc gia, nên vua nắm hết uy quyền: lập pháp, hành pháp, tư pháp Tuy vậy, khi lập pháp vua cũng phải dựa trên những nguyên tắc chính như:

- Pháp luật phải hợp thời

- Pháp luật phải soạn sao cho dân dễ hiểu, dễ thi hành

- Pháp luật phải công bằng

- Pháp luật có tính cách phổ biến

Với Hàn Phi, "Pháp" thật sự là tiêu chuẩn khách quan để phân định danh phận, phải trái, tốt, xấu, thiện, ác và sẽ làm cho nhân tâm và vạn sự đều qui về một mối, đều lấy pháp làm chuẩn, và mọi người đều bình đẳng trước pháp luật

Vì vậy, "Pháp" trở thành cái gốc của thiên hạ

Chủ trương của Pháp gia là bậc vua chúa phải làm cho dân theo đúng pháp luật

Trang 2

Thế là yếu tố không thể thiếu được trong pháp trị Thế tức là quyền thế,

địa vị, thế lực, quyền uy của người đứng đầu Pháp gia cho rằng muốn có luật pháp rõ ràng minh bạch và được dân tuyệt đối tôn trọng thi hành thì nhà vua phải có "Thế" Trọng Thế tức trọng sự cưỡng chế, cho nên chủ trương:

- Chủ quyền (lập pháp, hành pháp, tư pháp) tập trung cả vào một người là vua;

- Vua phải được tôn kính tuân theo triệt để: dân không được quyền làm cách mạng, không được trái ý vua, vua bắt chết thì phải chết, không chết tức là bất trung

- Đưa sự thưởng phạt lên hàng quốc sách vì thưởng và phạt là

phương tiện hiệu nghiệm nhất để cưỡng chế Muốn cho nước trị thì vua chỉ cần dùng thưởng phạt chứ không cần dùng giáo hóa, lễ nhạc

Hàn Phi cho cách thưởng phạt là mầm trị hay loạn của quốc gia, trong đó dựa theo nguyên tắc: Thưởng thì phải tín, phạt thì phải tất; Thưởng thì phải trọng hậu, phạt thì phải nặng; Sự thưởng phạt phải theo đúng phép nước, chí công vô tư; Vua phải nắm hết quyền thưởng phạt

"Thế" có vị trí quan trọng đến mức có thể thay thế được hiền nhân,

"Thế" không chỉ là địa vị, quyền hành của vua mà còn là sức mạnh của dân, của đất nước, của vận nước Hàn Phi giải thích: "Cái ná yếu lại bắn được mũi tên lên cao là nhờ có "gió kích động", và nếu không có sự trợ giúp của quần chúng thì làm sao kẻ kém tài lại cai trị được thiên hạ”

Thuật được hiểu là phương pháp, thủ thuật, cách thức, mưu lược khiển

việc, khiến người ta triệt để thực hiện mệnh lệnh mà không hiểu người sai dùng

họ như thế nào Nhiệm vụ chính của thuật cai trị là phân biệt quan lại trung thành, tận tâm và những quan lại ma giáo, thử năng lực của họ kiểm tra công trạng và những sai lầm của họ với mục đích tăng cường bộ máy cai trị trên cơ

sở bộ máy luật pháp và chế độ chuyên chế

Theo Hàn Phi “Thuật” có hai khía cạnh: kỹ thuật và tâm thuật Kỹ thuật:

là phương án để tuyển, dùng, xét khả năng quan lại Tâm thuật tức mưu mô để chế ngự quần thần, bắt họ để lộ thâm của họ ra

Tâm thuật: có rất nhiều và thiên biến vạn hóa, thường không theo quy tắc nào ngoài quy tắc gạt bỏ người sao cho có kết quả Chẳng hạn như: Làm bộ như

ra lệnh và ra lệnh giả; Giấu điều mình biết rồi mà hỏi để biết thêm những điều khác; Nói ngược lại điều mình muốn nói để dò xét gian tình của người; Ngầm hại những kẻ bề tôi mình không cảm hóa được

Kỹ thuật cũng được Hàn Phi rất coi trọng, đặc biệt là thuật trừ gian và dùng người Ông kể ra những hạng gian thần và có thể làm loạn là: kẻ thân thích của vua và quần thần

"Thuật" còn thể hiện trong "thuật dùng người" Quy tắc cơ bản của thuật dùng người theo Pháp gia là thuyết Hình danh, Chính Danh và Thực Danh Thuyết này là Pháp gia kế thừa từ Khổng Tử, và Phái Danh gia Nhưng Hàn Phi

có óc thực tế, không bàn về tri thức luận mà đem học thuyết của Nho gia vào chính trị, ông chỉ thu hẹp vào việc dùng người, gạt bỏ những vấn đề về đạo đức,

Trang 3

luân lí Ở đây danh là lời nói và hình là việc thực hiện Chẳng hạn như một người hứa đến thăm ta, lời hứa đó là "Danh" và hành động tới thăm là "Hình" hay "Thực" vậy Thuật phải nắm được cái cốt yếu là lấy danh làm đầu, danh chính thì vật định, danh lệch thì vật đổi.Vua nắm lấy danh còn bề tôi làm ra hình Hàn Phi cho quy tắc hình và danh hợp nhau là quan trọng nhất trong việc trị quan lại, nếu không theo thì sao có thể phân biệt được kẻ hay người dở, người giỏi kẻ gian, khó thưởng phạt đúng được, như vậy nước khó mà trị được

2 Liên hệ thực tiễn bản thân

Một Nhà nước chuyên quyền sẽ ban hành những luật lệ mà Nhà nước đó muốn và cần có để cai trị Ở Việt Nam, Nhà nước pháp quyền XHCN được xây dựng trên nền tảng của chế độ pháp trị Tôi cho rằng ở Việt Nam ta vận dụng tư tưởng Pháp trị của Pháp gia vào việc quản lý nhà nước một cách hiệu quả nhưng cũng tồn tại những mặt hạn chế, tôi cho rằng:

Thứ nhất, hoạt động quản lý nhà nước phải phù hợp với pháp luật Đây

cũng là yêu cầu của nhà nước pháp quyền Nhà nước pháp quyền đòi hỏi việc tổ chức và thực thi quyền lực nhà nước phải dựa trên nền tảng pháp lý Pháp luật là

cơ sở của mọi hình thức tổ chức quyền lực công khai, mọi chủ thể trong xã hội trong đó có cả những cơ quan nhà nước bất kể cương vị nào đều phải tuân theo pháp luật Nội dung quan trọng của nhà nước pháp quyền Việt nam khẳng định cội nguồn nhà nước pháp lực nhà nước là ở nhân dân

Thứ hai, pháp luật phải được thực thi một cách nghiêm minh, chí công vô

tư, phải có tính cố định Nghĩa là, pháp luật phải có tính lâu dài, nếu thay đổi quá nhanh thì người dân khó ứng xử kịp với những thay đổi dẫn đến dễ làm giảm lòng tin của nhân dân

Pháp luật trong nhà nước pháp quyền phải phù hợp với thực tiễn Nhưng thực tiễn đối với pháp luật Việt Nam là hiện nay có khá nhiều văn bản pháp luật ban hành không phù hợp với thực tiễn nên thiếu khả năng đi vào cuộc sống;

Việc ban hành mới, sửa đổi, bổ sung qua các văn bản pháp luậtv của các cấp chính quyền nhiều khi dẫn đến mâu thuẫn, chồng chéo, thiếu thống nhất trong pháp luật Chẳng hạn, khi một người kinh doanh giao dịch trên thị trường,

họ bối rối không biết dùng loại hợp đồng nào (kinh tế, dân sự, thương mại…) cho đúng

Thứ ba, người quản lý nhà nước phải có sự học hỏi và áp dụng nghệ thuật dùng người trong quản lý Chẳng hạn, việc bố trí người vào cơ quan nhà nước phải căn cứ vào tài năng và đức hạnh của họ, phải công bằng, người quản lý nhà nước cũng cần chú trọng đến việc sử dụng và đãi ngộ người tài – đức

Trong cuộc sống xã hội tất yếu cũng nảy sinh những nghệ thuật ứng xử Trong hành chính nhà nước, nghệ thuật dùng người là đặc biệt cần thiết cho nhà quản lý thực hiện một cách hiệu quả và nhanh chóng công việc chính mình

Ngày 9/11 hằng năm là Ngày Pháp luật nước CHXHCN Việt Nam - ngày ban hành bản Hiến pháp đầu tiên năm 1946, khẳng định, tôn vinh vai trò lớn lao

và ý nghĩa đặc biệt quan trọng của các giá trị trường tồn trong bản Hiến pháp

Trang 4

Với chủ đề “Nâng cao hiệu quả công tác xây dựng, thực thi, bảo vệ pháp luật, ý thức tuân thủ pháp luật, góp phần xây dựng nhà nước liêm chính, hành động, kỷ cương, sáng tạo, hiệu quả; xã hội dân chủ, công bằng, văn minh”, Ngày Pháp luật năm nay có ý nghĩa đặc biệt Đây là năm hệ thống pháp luật được tập trung hoàn thiện, trọng tâm là bảo vệ quyền con người, quyền tự do, dân chủ của công dân; thiết lập hành lang pháp lý minh bạch, khuyến khích đầu

tư, tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp phát triển, đổi mới sáng tạo

Là một công dân Việt Nam, một cán bộ công chức nhà nước, bản thân tôi luôn làm theo chủ trương của Đảng; chính sách, pháp luật của Nhà nước, tích cực học tập và làm theo tư tưởng, phong cách Hồ Chí Minh đồng thời tham gia xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức trong sạch, có năng lực, cải cách thể chế và phương thức hoạt động quản lý nhà nước, phát huy dân chủ và đấu tranh phòng, chống tham nhũng

Trang 5

NHÂN TRỊ

1 Nội dung tư tưởng nhân trị

Nho giáo ra đời vào thế kỷ VI trước công nguyên do Khổng

Tử (551 - 479 TCN) là người sáng lập Nho gia là một học thuyết quá rộng lớn, không thể nào nói hết trong một bài viết Dưới đây chỉ tìm hiểu tư tưởng nhân trị trong triết học Trung Quốc mà đại diện là tư tưởng Khổng – Mạnh

Trong triết học Khổng Tử, nhân là phạm trù luân lý đạo đức căn bản nhất mang nhiều nghĩa khác nhau Khổng Tử gắn liền nhân với thiên mệnh và ông

cho rằng, tất cả những gì thuộc về tiên nghiệm đều là cái trời phú cho con người, nó là hạt nhân của hệ thống tri thức và đạo đức của con người

Có lúc Khổng Tử giải thích chữ nhân một cách trừu tượng, nhưng cũng

có lúc ông nói về nhân rất cụ thể Tuy nhiên, dù hiểu theo nghĩa trừu tượng hay

cụ thể, xét tới cùng, nhân cũng là đạo làm người và do đó, nhân chính là cái đích của sự tu thân sửa mình của mỗi người trong xã hội Có thể nói, nhân là

phạm trù xuất phát mang tính nền tảng của Khổng Tử trong quan niệm về đạo trị nước và trong chính sách cai trị của nhà cầm quyền, bởi ông chủ trương xây

dựng một học thuyết chính trị lấy nhân làm tư tưởng chủ đạo, dùng đức

và chính danh để điều chỉnh các mối quan hệ xã hội.

Tuy nhiên, do đứng trên lập trường của giai cấp quý tộc thị tộc, Khổng

Tử đã gắn cho học thuyết nhân một nội dung giai cấp khá rõ nét Luận điểm:

“Người quân tử có khi phạm điều bất nhân, chứ chưa từng thấy kẻ tiểu nhân mà làm được điều nhân” của Khổng Tử cho thấy ông không thừa nhận

đức nhân của quần chúng lao động Trong suy nghĩ của ông, các đức đều có sẵn

mầm mống và đầu mối như nhau trong tính trời, lòng người, nhưng chỉ kẻ quân

tử biết mệnh trời nên mới có thể tự tu thân sửa mình giữ gìn tâm tính để có đạo cao, đức sáng Trái lại, kẻ tiểu nhân vì không hiểu mệnh trời nên không biết tồn tâm dưỡng tính, đưa đến hậu quả hư cả tâm, mất cả tính; do vậy, họ không có

đức Điều đó có nghĩa, đức nhân chỉ là đức của người quân tử và triết lý tu thân

sửa mình mà Khổng Tử đưa ra chỉ dành riêng cho giai cấp thống trị

"Nhân" cũng có thể hiểu là "trung thứ", tức là đạo đối với người, nhưng cũng là đạo đối với mình nữa Trong một cuộc nói chuyện với các học trò

Khổng Tử đã nói: Đạo của ta chỉ có một lẽ mà thông suốt cả Về điều này, Tăng

Tử - một học trò của Khổng Tử cho rằng, Đạo của Khổng Tử là "trung thứ"

"Trung" ở đây là làm hết sức mình, còn "thứ" là suy từ lòng mình ra mà biết lòng người, mình không muốn điều gì thì người cũng không muốn điều đó

"Trung thứ" là sống đúng với mình và mang cái đó ứng xử tốt với người

Như vậy, có thể nói, trong quan niệm của Khổng Tử, "Nhân" không chỉ là

"yêu người", "thương người", mà còn là đức hoàn thiện của con người, và do vậy, "nhân chính" là đạo làm người - sống với mình vả sống với người, đức

Trang 6

nhân là cái bền vững như núi sông Với ông, nếu thịnh đức của trời - đất là sinh thành, bắt nguồn từ đạo trung hoà, trung dung thì cái gốc của đạo lý con người

là "trung thứ" và đạo đức, luân lý con người là "Nhân", người có đạo nhân là bậc quân tử, nước có đạo nhân thì bền vững như núi sông Tuy nhiên, trong thời

kỳ Xuân Thu - Chiến Quốc đã có nhiều học thuyết phê phán chữ "Nhân" (yêu người) của Khổng Tử Có người cho đó là giả dối, có người cho đó là nói suông,

có người lại cho đó là nguồn gốc của bất nhân, bất nghĩa Thế nhưng không phải vì thế mà tư tưởng "Nhân" của Khổng Tử không đi vào lòng của nhiều người đương thời, gây cho họ biết bao sự xúc động và làm cơ sở cho hành động

nhân đạo của họ Thực tế cho chúng ta thấy, "từ đời Hán trở đi, suốt trên hai nghìn năm đạo Khổng được độc tôn, Vua Chúa đời nào cũng ráng áp dụng nó, mặc dầu không đúng Nó thực tế hơn đạo Mặc, đạo Lão, nhân bản hơn thuyết của Pháp gia" Cũng cần phải nói thêm rằng, trong Luận ngữ, tư tưởng "Nhân"

của Khổng Tử còn bao gồm nhiều đức khác, như: Trực (ngay thẳng, không giả dối), Kính (nghiêm trang, cẩn trọng, cẩn thận trong công việc), Nghĩa, Lễ

Có thể nói, chế độ phong kiến Đông Á kéo dài được mấy nghìn năm một phần là nhờ tư tưởng "Nhân" của Khổng Tử Nhờ có đường lối "nhân nghĩa" của Khổng - Mạnh mà xã hội đó được ổn định, con người với con người có quan hệ hòa hợp, còn xã hội trở thành một khối bền vững Sự trì trệ của xã hội phong kiến đó ở giai đoạn sau là do nguyên nhân khác, chứ không phải do nguyên nhân ở tư tưởng "Nhân" của Khổng Tử

Ngày nay, chế độ xã hội đã khác trước Con người ngày nay cần một thứ nhân đạo chủ nghĩa phù hợp với thời đại mình Nhưng không phải vì vậy mà tư tưởng "Nhân" của Khổng Tử không còn có ý nghĩa Xã hội ngày nay vẫn còn những người nghèo khó, đói rét, cô đơn, bất hạnh, những con người này rất cần đến sự quan tâm, thông cảm, giúp đỡ của người khác và của cả cộng đồng Do vậy, tư tưởng "Nhân" là yêu người của Khổng Tử vẫn còn có thể phát huy tác dụng

Nhân Trị : lấy nhân nghĩa - đạo lý làm gốc

Đây là đường lối cơ bản và nổi bật nhất trong nghệ thuật lãnh đạo, cũng như chiếm được nhiều tình cảm nhất Điều này được thể hiện xuyên suốt và nhất quán qua hình tượng Lưu Bị dưới ngòi bút La Quán Trung, một vị lãnh đạo nhân đức Chính bằng sự nhân nghĩa - lấy dân làm gốc và trung tín với huynh

đệ, bề tôi, Lưu Bị đã quy tụ dưới trướng những bậc hào kiệt vào sinh ra tử, cũng như chiếm được lòng tin yêu của muôn dân

Những điển tích " Kết nghĩa vườn đào", " Tam lư thảo cố", hay "Triệu Tử Long cứu ấu chúa" thường được nhắc đến như điển hình cho tính cách nhân nghĩa, trọng dụng và tin cậy nhân tài của Lưu Bị Quả thực, trong Tam Quốc, Lưu Bị vượt hẳn lên là người biết nhìn nhận nhân tài và sử dụng đúng nơi đúng

Trang 7

chỗ, giúp họ phát huy hết khả năng của mình, và giữ họ bên mình với tiêu chí "

Đã dùng thì tin, không tin thì không dùng." Ngay cả nhà đại trí như Khổng Minh, cũng thua ông một bậc

Ví dụ dưới trướng Lưu Bị có 5 anh em nhà Mã Lương đều là những hiền tài hiếm có, trong đó Mã Lương lại là người kiệt xuất nhất Lưu Bị rất tín nhiệm anh em nhà Mã Lương Bản thân Mã Lương cũng từng đảm nhiệm vai trò phò

tá thân cận cho Lưu Bị Em trai Mã Lương là Mã Tốc cũng là người nổi tiếng có tài thao lược, nhưng Lưu Bị sớm nhìn thấy tính cách ba hoa khoác lác của anh

ta, nên đã dặn Gia Cát Lượng rằng “ Mã Tốc lời lẽ sáo rỗng ba hoa, vượt quá cả tài năng thực tế của anh ta, không thích hợp giao đại sự Khanh cần phải kiểm tra thực tế tài năng anh ta nhiều”

Sau khi Lưu Bị chết, Gia Cát Lượng đã để Mã Tốc trấn thủ Nhai Đình cuối cùng để thất thủ Gia Cát Lương trảm Mã Tốc nhưng ruột đau như cắt Ông

vô cùng hối hận đã không nghe lời cảnh báo của tiên đế Lưu Bị để hôm nay phải chịu thất bại này

Về sau, hậu thế có những ý kiến trái chiều về thuật lãnh đạo của Lưu Bị, cho là ông nhu nhược hoặc giả tạo Cũng có nhiều phán xét về những tình huống quá "cảm tính" của Lưu Bị mà cuối cùng dẫn đến nhà Thục không hoàn thành đại nghiệp, ví như việc ông nôn nóng trả thù cho Quan Vũ, dẫn đến thất bại thay đổi cục diện Tam Quốc Tuy nhiên, đối với tôi, một người suốt đời đề cao lòng trung nghĩa, thì khi chết đi để trọn vẹn trước sau, âu cũng là một sự mãn nguyện rồi

Các bậc vua chúa thời xưa rất coi trọng chữ “ nhân” Và một thời học thuyết “ nhân trị” của Khổng Tử đã trở thành phương pháp trị nước của rất nhiều các nước phương Đông Đến nay, những đạo đức Nho Giáo vẫn được rất tôn trọng ở Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc … Tư tưởng cơ bản của học thuyết “ nhân trị” là việc dùng đức nhân để thu phục lòng người Tuy vậy, sau nhiều thế kỷ sử dụng học thuyết này để trị quốc Các nước phương Đông trở nên yếu ớt, xã hội tuy bình yên nhưng không phát triển Đặc biệt là khoa học kỹ thuật thì càng rất kém phát triển Và kết quả là vào thế kỷ 20, gần như tất cả các nước châu Á đã trở thành thuộc địa của các nước phương Tây Vào những năm cuối của thế kỷ 20, đa phần các nước này đã dành lại được sự độc lập cho dân tộc mình Đi đầu phong trào giải phóng dân tộc là Việt Nam Sau đó, học thuyết

“ nhân trị” không còn được sử dụng rộng rãi trong việc trị quốc ở các nước Châu Á nữa Đa phần họ đều dùng học thuyết “ pháp trị” của Hàn Phi Tử

để xây dựng một nhà nước pháp quyền

Trang 8

Tuy nhiên, những nền tảng của đạo đức Nho Giáo vẫn ăn sâu, bám dễ trong lòng mỗi người dân của các nước châu Á Nó tạo thành một nền tảng văn hóa phương Đông Điều này không thể thay đổi trong ngày một, ngày hai Vì

nền học vấn, đạo đức Nho Gia đã tồn tại cả ba nghìn năm nay ở các nước

phương Đông

Trong thời đại ngày nay, học thuyết “nhân trị” vẫn có một giá trị to lớn về nhận thức và tư tưởng của con người Nếu một nền chính trị kết hợp được học thuyết “ nhân trị” và “ pháp trị”, chắc chắn sẽ tạo ra một đất nước phồn vinh và phát triển Chữ “ nhân” là nền tảng của đạo đức Nho Giáo Theo tôi, dù xã hội

có còn tôn trọng đạo đức Nho Giáo hay không, thì một nền tư tưởng, đạo đức đã tồn tại cả 3000 năm ở các nước phương Đông cũng rất đáng để ta tìm hiểu và suy ngẫm về chúng!

Trang 9

Nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn

1 Nội dung nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn

* Khái niệm

Lý luận là thuật ngữ đa nghĩa Có thể hiểu lý luận là quan điểm, học

thuyết với tư cách là kết quả của một quá trình nhận thức nhất định Nhưng lý luận còn được hiểu là quá trình nhận thức Tùy theo yêu cầu cụ thể mà người ta dùng nghĩa thứ nhất hay nghĩa thứ hai Ở đây chúng ta nghiên nhiều hơn về lý luận với tư cách là hoạt động nhận thức lý luận

V.I Lê nin viết: “Nhận thức lý luận phải trình bày khách thể trong tính tất yếu của nó, trong những quan hệ toàn diện của nó, trong sự vận động mâu thuẫn của nó và vì nó” Từ ý kiến trên của Lê nin, có thể định nghĩa: Lý luận là sự nhận thức bản chất, mối liên hệ bên trong tất yếu của đối tượng và diễn đạt két quả của nhận thức đó bằng hệ thống các khải niệm, phạm trù, phán đoán về quy luật nội tại của đối tượng

Thực tiễn là toàn bộ hoạt động vật chất, đối tượng – cảm tính, có mục

đích, có tính lịch sử - xã hội của con người với nội dung là chinh phục và cải biến các khách thể tự nhiên, xã hội và cấu thành cơ sở phổ biến, động lực phát triển của xã hội, của nhận thức con người

* Sự thống nhất

Sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn thể hiện ở chỗ:

- Chúng không thể tách rời nhau Như sản phẩm của nhận thức lý luận nảy sinh từ thực tiễn, thực tiễn quy định nội dung lý luận, lý luận hình thành, phát triển là vì mục đích thực tiễn

- Giữa chúng có sự tương thích, tương ứng Thực tiễn cần được soi tỏ bằng lý luận của nó và lý luận bao giờ cũng là về thực tiễn nhất định Không có thực tiễn được soi tỏ bằng lý luận bất kỳ, cũng như không có lý luận về mọi thực tiễn

- sự thống nhất đó cũng có ý nghĩa là đồng nhất biện chứng giữa chúng,

đó là sự chuyển hóa lý luận thành thực tiễn, áp dụng thành công lý luận vào thực tiễn, là sự tương thích của lý luận và thực tiễn Quan niệm về sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn có nội dung cơ bản ở sự phù hợp giữa chúng Nhưng đó là sự thống nhất trong khác biệt, đối lập

Sự đối lập giữa lý luận và thực tiễn thể hiện:

- Là sự đối lập giữa cái phản ánh, kết quả với các được phản ánh, với nguồn gốc, cơ sở

- Là sự đối lập giữa cái bị quy định và quy định

Trang 10

- Ở sự lạc hậu của lý luận so với thực tiễn hoặc ngược lại, hay đối lập theo kiểu sự sai lầm của lý luận so với thực tiễn và ngược lại

Xét về bản chất, lý luận là một hệ thống những tri thức được khái quát hóa từ thực tiễn, phản ánh mối liên hệ về bản chất, những tính quy luật của thế giới khách quan Lý luận được hình thành không phải ở bên ngoài thực tiễn mà trong mối liên hệ với thực tiễn Giữa lý luận và thực tiễn có mối quan hệ biện chứng với nhau, tác động qua lại nhau, trong đó thực tiễn giữ vai trò quyết định,

vì nó là cơ sở, nền tảng của lý luận bởi vì chính thực tiễn là cơ sở xuất phát của nhận thức nói chung trong đó có lý luận., nó đặt ra các vấn đề cho nhận thức, cho lý luận

Con người quan hệ với thế giới bắt đầu không phải bằng lý luận mà bằng thực tiễn Chính từ trong quá trình hoạt động thực tiễn, cải tạo thế giới mà nhận thức, lý luận ở con người mới được hình thành và phát triển Bằng hoạt động th

ực tiễn, con người tác động vào thế giới, buộc thế giới phải bộc lộ những thuộc t ính, những tính quy luật để cho con người nhận thức chúng Ban đầu con người thu nhận những tài liệu cảm tính, những kinh nghiệm, sau đó tiến hành so sánh, phân tích, tổng hợp, khái quát hoá, trừu tượng hoá… để phát triển thành lý tính, xây dựng thành lý luận, khoaọc phản ánh bản chất, quy luật vận động của các sự vật, hiện tượng trong thế giới

Thực tiễn là động lực, là mục đích của nhận thức, của lý luận, vì chính th

ực tiễn luôn đề ra nhu cầu, nhiệm vụ, phương hướng phát triển cho nhận thức N hận thức phát triển được hay không là nhờ vào sự thúc đẩy của thực tiễn Lý luậ

n, khoa học không có mục đích tự thân Lý luận, khoa học ra đời chính vì và ch

ủ yếu vì chúng cần thiết cho hoạt động thực tiễn của con người Thực tiễn là mụ

c đích của nhận thức, lý luận Nhận thức, lý luận sau khi ra đời phải quay về ph

ục vụ thực tiễn, hướng dẫn, chỉ đạo thực tiễn, phải biến thành hành động thực ti

ễn của quần chúng Lý luận, khoa học chỉ có ý nghĩa thực sự khi chúng được vậ

n dụng vào thực tiễn, cải tạo thực tiễn phục vụ mục tiêu phát triển nói chung nh

ằm thỏa mãn những nhu cầu ngày càng tăng của con người

2 Liên hệ

* Trong xây dựng đất nước

Lý luận luôn luôn gắn liền với thực tiễn và chỉ đường cho hoạt động thực tiễn Nhưng đổi mới là sự nghiệp rất mới mẻ Công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở n ước ta không giống như ở Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu cũ, m

à có điều kiện, hoàn cảnh và đặc thù khác Nên nghị quyết Đại hội VI đã chỉ rõ rằng: sự nghiệp đổi mới của ta "không có tiền lệ", phải "vừa làm vừa rút kinh ng hiệm" Nói như thế không có nghĩa rằng sự nghiệp đổi mới của nước ta không c

ó lý luận soi đường Nhưng chắc chắn sơ đồ, lộ trình vạch ra không thể một lúc

đã rõ ràng, đầy đủ được Điều đó nói lên rằng, tổng kết thực tiễn nhất là thực tiễ

n thời kỳ đổi mới càng có vị trí rất quan trọng đối với việc phát triển lý luận của

Ngày đăng: 22/05/2019, 13:39

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w