1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tổ chức kế toán bán hàng và xác định kết quả bán hàng ở công ty TNHH NN một TV Giày Thượng Đình.

98 48 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 98
Dung lượng 1,53 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Xét về mặt bản chất kinh tế, bán hàng là có sự thay đổi quyền sở hữuhàng hóa, thành phẩm, sau đó người bán thu được tiền nhưng mất quyền sởhữu hàng hóa, còn người mua phải trả tiền để có

Trang 1

LỜI MỞ ĐẦU

Sản xuất ra của cải vật chất là điều kiện để xã hội loài người tồn tại vàphát triển Cùng với xã hội, các hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanhnghiệp ngày càng mở rộng và phát triển không ngừng Trong điều kiện nềnkinh tế thị trường, Nhà nước giao quyền tự chủ về tài chính, quyền tổ chứcsản xuất kinh doanh cho các doanh nghiệp, lãi doanh nghiệp được hưởng, lỗdoanh nghiệp phải chịu, doanh nghiệp phải tôn trọng và thực hiện tốt nguyêntắc tự hạch toán kinh doanh “lấy thu bù chi và có lãi hợp lý” Nói cách khác,các doanh nghiệp phải giải quyết tốt mối quan hệ giữa đầu ra và đầu vào, giữasản xuất và tiêu thụ Có quản lý tốt quá trình sản xuất sản phẩm đồng thời tíchcực tìm kiếm thị trường, tăng nhanh doanh thu tiêu thụ thì doanh nghiệp mới

có điều kiện tăng khả năng cạnh tranh, tạo thế và lực vững chắc trên thịtrường

Đối với quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, kế toán là mộtcông cụ, bộ phận không thể thiếu trong quản lý kinh tế, nhờ có những thôngtin kế toán cung cấp, lãnh đạo của doanh nghiệp mới nắm bắt được mọi tìnhhình hoạt động sản xuất kinh doanh của đơn vị mình, từ đó có thể đưa ra cácquyết định đúng đắn phù hợp và kịp thời

Kế toán bán hàng và xác định kết quả bán hàng là một bộ phận của côngtác kế toán trong doanh nghiệp Không thể phủ nhận vai trò của nó trong việcquản lý giá vốn hàng bán và là cơ sở để xác định giá bán cho phù hợp, cungcấp số liệu về tình hình tiêu thụ và kết quả hoạt động bán hàng của doanhnghiệp Vì vậy việc tổ chức công tác kế toán như thế nào để một mặt phảnánh, cung cấp thông tin kịp thời, chính xác, mặt khác vẫn đảm bảo đúng chế

độ kế toán do Nhà nước ban hành là vấn đề hết sức quan trọng

Xuất phát từ vai trò của kế toán bán hàng và xác định kết quả bán hàng,đồng thời thông qua quá trình thực tập, tìm hiểu tình hình thực tế kế toán đốivới các phần hành kế toán và tìm hiểu kế toán bán hàng và xác định kết quảbán hàng tại công ty TNHH NN một TV Giày Thượng Đình Em đã mạnh dạnchọn đề tài nghiên cứu: “Tổ chức kế toán bán hàng và xác định kết quả bánhàng ở công ty TNHH NN một TV Giày Thượng Đình” Mục tiêu của đề tài

Trang 2

là vận dụng lý luận hạch toán kế toán về bán hàng và xác định kết quả bánhàng nghiên cứu thực tiễn ở công ty TNHH NN một TV Giày Thượng Đình.

Bố cục luận văn của em gồm 3 chương:

Chương 1: Lí luận chung về hạch toán kế toán bán hàng và xác định kếtquả bán hàng ở các doanh nghiệp sản xuất

Chương 2: Thực trạng công tác hạch toán kế toán bán hàng và xác địnhkết quả bán hàng ở công ty giày Thượng Đình

Chương 3: Một số ý kiến đề xuất nhằm hoàn thiện công tác kế toán bánhàng và xác định kết quả bán hàng ở công ty giày Thượng Đình

Là một đề tài nghiên cứu khoa học Do thời gian cũng như khả năng nghiêncứu còn hạn chế, chắc chắn sẽ không tránh khỏi những thiếu sót, khiếmkhuyết nhất định Em kính mong nhận được sự góp ý, bổ sung của các thầy côgiáo trong bộ môn và các cô, các chú trong phòng Kế toán tài chính của công

ty để đề tài luận văn của em có chất lượng hơn nữa

Em xin chân thành cảm ơn thầy giáo thạc sỹ Nguyễn Văn Dậu cùng cácthầy cô giáo trong bộ môn kế toán của trường Em xin chân thành cảm ơn banlãnh đạo công ty, các cô, các chị trong phòng kế toán tài chính của công ty đãtận tình giúp đỡ em hoàn thành bài luận văn cuối khóa này

Hà Nội ngày 21 tháng 4 năm 2009 Sinh viên: Tạ Thị Đông

Trang 3

CHƯƠNG 1:

Lí luận chung về hạch toán kế toán bán hàng và xác định kết quả bán

hàng ở các doanh nghiệp sản xuất.

1.1.Sự cần thiết của quản lý hạch toán kế toán bán hàng và xác định kết quả bán hàng ở các doanh nghiệp sản xuất.

1.1.1 Khái niệm về bán hàng và đặc điểm bán hàng:

Trong cơ chế thị trường, các doanh nghiệp cùng sản xuất, tồn tại, cạnhtranh và bình đẳng trước pháp luật Vì vậy, nếu trước kia các doanh nghiệpchỉ lo sản xuất đủ về kế hoạch để giao nộp cho nhà nước, thì nay không đơnthuần chỉ là sản xuất mà còn phải đưa công tác tiêu thụ lên hàng đầu Bánhàng là một trong những chiến lược hết sức quan trọng quyết định sự thànhbại của các doanh nghiệp

Đứng trên góc độ luân chuyển vốn, bán hàng là quá trình chuyển hóavốn kinh doanh từ hình thái vật chất sang hình thái tiền tệ (H - T), làm chovốn trở lại hình thái ban đầu khi nó bước vào mỗi chu kì sản xuất Thông quaquá trình này, nhu cầu người tiêu dùng về mặt giá trị sử dụng được thỏa mãn

và giá trị hàng hóa được thực hiện

Quá trình tái sản xuất được bắt đầu khi vốn bằng tiền được chuyển hóathành vốn dưới dạng hình thái vật chất, vốn dưới hình thái vật chất được đưavào quá trình sản xuất để tạo ra sản phẩm, hàng hóa được tạo ra đem đi tiêuthụ và kết quả của tiêu thụ là doanh thu tiêu thụ, sẽ thu được tiền về Khi đóđồng vốn của doanh nghiệp lại từ hình thái ban đầu của nó là hình thái tiền tệ,đây là một chu kì kinh doanh, vốn tiền tệ lại sử dụng lặp lại theo đúng chu kỳ

mà nó đã trải qua

Như vậy bán hàng là khâu cuối cùng của quá trình sản xuất kinh doanh,thực hiện giá trị và giá trị sử dụng của sản phẩm hàng hóa thông qua 2 giaiđoạn: doanh nghiệp cung cấp sản phẩm cho khách hàng và được khách hàngthanh toán hoặc chấp nhận thanh toán

Trang 4

+ Giai đoạn 1: Doanh nghiệp xuất sản phẩm giao cho khách hàng, căn

cứ vào hợp đồng kinh tế đã kí kết Trong giai đoạn này chỉ phản ánh một mặtcủa quá trình vận động của hàng hóa, thành phẩm, chưa phản ánh kết quả củaviệc bán hàng, vì số hàng đã mua chưa đảm bảo chắc chắn đã thu được tiềnhay chấp nhận thanh toán tiền

+ Giai đoạn 2: Khách hàng thanh toán hoặc chấp nhận thanh toán tiền

hàng Đây là giai đoạn hoàn tất quá trình bán hàng Doanh nghiệp thu đượctiền hoặc sẽ thu được tiền, doanh thu bán hàng được xác định và khi đó doanhnghiệp có thu nhập để bù đắp những chi phí đã bỏ ra và hình thành nên kếtquả tiêu thụ

Xét về mặt hành vi, quá trình bán hàng phải có sự thỏa thuận trao đổigiữa người mua và người bán Người bán đồng ý bán và người mua đồng ýmua và thanh toán hoặc chấp nhận thanh toán

Xét về mặt bản chất kinh tế, bán hàng là có sự thay đổi quyền sở hữuhàng hóa, thành phẩm, sau đó người bán thu được tiền nhưng mất quyền sởhữu hàng hóa, còn người mua phải trả tiền để có được sự sở hữu hàng hóa đó.Trong quá trình sản xuất và tiêu thụ, doanh nghiệp sản xuất thành phẩmgiao cho khách hàng và nhận lại một khoản tiền tương ứng với giá bán của sốhàng đó gọi là doanh thu bán hàng, với giá bán của số hàng đó gọi là doanhthu bán hàng, với chức năng trên có thể thấy bán hàng có ý nghĩa rất quantrọng trong mỗi doanh nghiệp

Theo quy định hiện nay, hàng hóa, thành phẩm được coi là tiêu thụ khi:

Trường hợp 1: doanh nghiệp bán hàng cho khách hàng và được thanh

toán ngay, khi đó lượng hàng hóa được xác định là tiêu thụ, đồng thời doanhthu tiêu thụ và tiền bán hàng cũng được xác định là trùng nhau về thời điểmthực hiện

Trường hợp 2: doanh nghiệp sản xuất giao hàng và được khách hàng

chấp nhận thanh toán nhưng chưa trả tiền ngay, lúc này doanh thu tiêu thụ đãđược xác định nhưng tiền hàng chưa thu được về

Trường hợp 3: doanh nghiệp xuất giao đủ hàng cho khách hàng theo số

tiền mà khách hàng đã trả trước, đồng thời với việc xuất giao hàng cho kháchhàng tiền ứng trước trở thành tiền thu bán hàng của doanh nghiệp, do đódoanh thu tiêu thụ cũng được xác định tại thời điểm này

Trang 5

Trường hợp 4: doanh nghiệp và khách hàng áp dụng phương thức nhờ

thu theo kế hoạch khi gửi số sản phẩm này cho khách hàng thì số sản phẩmnày cũng được coi là tiêu thụ

1.1.2.Vai trò của bán hàng xác định kết quả bán hàng:

Nền kinh tế thị trường là một nền kinh tế mở, mọi doanh nghiệp thamgia vào thị trường đều phải có trách nhiệm về sản phẩm mình làm ra, tức làdoanh nghiệp vừa sản xuất vừa phải tìm kiếm thị trường tiêu thụ cho sảnphẩm của mình Bán hàng là cơ sở để bảo toàn và phát triển vốn kinh doanhtạo nên kết quả kinh doanh, quyết định sự thành bại của doanh nghiệp.trongdoanh nghiệp sản xuất, bán hàng là giai đoạn cuối cùng của quá trình tuầnhoàn và luân chuyển vốn đồng thời kết thúc vòng chu chuyển vốn của doanhnghiệp Chỉ thông qua quá trình bán hàng thì tính hữu ích của hàng hóa, thànhphẩm mới được xã hội thừa nhận, sự phù hợp với quy cách phẩm chất đối vớithị hiếu của người tiêu dùng mới được xác định rõ ràng Việc bán hàng khôngchỉ có ý nghĩa quan trọng đối với bản thân doanh nghiệp mà nó còn có ýnghĩa đối với toàn bộ nền kinh tế quốc dân

Đối với bản thân doanh nghiệp, việc bán hàng là vấn đề sống còn, quyếtđịnh đến sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp Thông qua bán hàng thìtính chất giá trị và giá trị sử dụng của sản phẩm, hàng hóa mới được thể hiện

Có bán được sản phẩm mới có thu nhập để bù đắp chi phí bỏ ra (gồm chi phísản xuất(chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp, chi phísản xuất chung), chi phí ngoài sản xuất(chi phí bán hàng, chi phí quản lýdoanh nghiệp)), hình thành nên kết quả kinh doanh, có điều kiện quay vòngvốn để tiếp tục sản xuất; ngược lại nếu sản phẩm không tiêu thụ được sẽ dẫnđến ứ đọng, ế thừa sản phẩm, vốn bỏ ra không thu hồi được, thu nhập không

đủ bù đắp chi phí…và sẽ dẫn tới phá sản Việc tăng nhanh quá trình bán hàng(tăng về số lượng và rút ngắn thời gian), đồng nghĩa với việc tăng nhanh vòngquay của vốn, tiết kiệm vốn cho doanh nghiệp, đảm bảo thu hồi vốn nhanhchóng để thực hiện tái sản xuất giản đơn và tái sản xuất mở rộng, là tiền đềvật chất tăng thu nhập cho doanh nghiệp, nâng cao đời sống vật chất cho cán

bộ công nhân viên Do đó việc tổ chức tốt công tác bán hàng, mở rộng thịtrường tiêu thụ sẽ làm tăng doanh thu, khẳng định vị trí của doanh nghiệp trênthương trường

Trang 6

Đối với người tiêu dùng, bán hàng ngoài việc cung cấp hàng hóa cầnthiết một cách kịp thời đầy đủ về số lượng, chất lượng, đáp ứng nhu cầu tiêudùng, còn góp phần hướng dẫn nhu cầu tiêu dùng của khách hàng Chỉ thôngqua quá trình bán hàng thì giá trị sử dụng của hàng hóa mới được thực hiện.Đối với các đơn vị có quan hệ trực tiếp với doanh nghiệp, việc cung cấpsản phẩm kịp thời, đúng thời hạn, đúng quy cách phẩm chất, đúng yêu cầu sốlượng sẽ giúp cho các đơn vị hoàn thành tốt kế hoạch sản xuất đã đề ra, trên

cơ sở đó tăng lợi nhuận cho các đơn vị này

Xét trên phạm vi toàn bộ nền kinh tế quốc dân,bán hàng là điều kiện đểtiến hành tái sản xuất xã hội Quá trình tái sản xuất xã hội bao gồm các khâusản xuất, phân phối, trao đổi và tiêu dùng Giữa các khâu này có mối quan hệmật thiết lẫn nhau, tạo điều kiện để bổ sung cho nhau, nếu thiếu dù chỉ mộtkhâu thì quá trình tái sản xuất sẽ không được thực hiện Trong mối quan hệ đóthì sản xuất giữ vai trò quyết định, tiêu dùng là mục đích, là động cơ thúc đẩysản xuất phát triển, còn khâu phân phối và trao đổi có vai trò là cầu nối giữaquan hệ sản xuất và tiêu dùng, từ đó kích thích tiêu dùng và đẩy mạnh sảnxuất phát triển Tiêu thụ là cầu nối giữa nhà sản xuất với người tiêu dùng,giữa hàng hóa và tiền tệ, giữa nhu cầu tiêu dùng và khả năng thanh toán.Đồng thời nó là điều kiện để đảm bảo cho sự phát triển cân đối của toàn bộnền kinh tế quốc dân

Thông qua quá trình tiêu thụ sản phẩm, doanh nghiệp có căn cứ để xácđịnh kết quả tiêu thụ, từ đó có cơ sở để đánh giá, hạch toán lãi lỗ và tình hìnhphát triển sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Kết quả tiêu thụ chiếm trên80% trong hoạt động sản xuất kinh doanh của hầu hết các doanh nghiệp Xácđịnh kết quả tiêu thụ là khâu cuối cùng của quá trình tiêu thụ sản phẩm, thôngqua đó nhà quản lý có thể nắm bắt được tình hình của doanh nghiệp để đề racác chiến lược sản xuất, tiêu thụ trong kinh doanh kế tiếp

Nói tóm lại, bán hàng và xác định kết quả bán hàng là một trong nhữngnghiệp vụ rất quan trọng đối với hoạt động của mỗi doanh nghiệp, mà chủ yếu

là doanh nghiệp sản xuất Trong cơ chế thị trường đó còn là một nghệ thuật,lượng sản phẩm tiêu thụ là nhân tố trực tiếp làm thay đổi lợi nhuận của doanhnghiệp Thông qua xác định kết quả tiêu thụ doanh nghiệp có thể biết đượcchiến lược tiêu thụ sản phẩm của mình có phù hợp và thành công hay không?

Trang 7

1.1.3 Yêu cầu quản lý bán hàng và xác định kết quả bán hàng:

Do việc bán hàng có vai trò hết sức quan trọng như vậy, cho nên việcquản lý chặt chẽ về công tác bán hàng là rất cần thiết Để có thể làm tốt côngtác quản lý bán hàng, cần quán triệt các yêu cầu sau:

- Tiến hành theo dõi chặt chẽ từng phương thức bán hàng, lựa chọn hìnhthức tiêu thụ phù hợp, thị trường, giám sát sản phẩm tiêu thụ về số lượng, chấtlượng, chủng loại để tránh mất mát, hư hỏng trong khi tiêu thụ, đồng thờigiám sát chi phí bán hàng, xác định đúng đắn số vốn của sản phẩm tiêu thụ đểtính toán chính xác kết quả bán hàng

- Quản lý chặt chẽ tình hình thanh toán của khách hàng, thanh toán đúnghạn, tránh ứ đọng vốn cũng như chiếm dụng vốn

- Phải làm tốt công tác thăm dò nghiên cứu thị trường để đáp ứng nhucầu của khách hàng, tìm kiếm mở rộng thị trường

- Tiến hành phân loại chi phí, xác định giá vốn hàng tiêu thụ chính xác

để có căn cứ xác định kết quả được đúng đắn chính xác

1.1.4 Nhiệm vụ của kế toán bán hàng và xác định kết quả bán hàng:

Bản chất của kế toán bán hàng và xác định kết quả bán hàng là thu nhận,

xử lý và cung cấp thông tin về toàn bộ công tác bán hàng và kết quả của hoạtđộng này Thông qua các thông tin từ kế toán, nhà quản lý doanh nghiệp cóthể biết được mức độ hoàn thành công tác tiêu thụ, phát hiện được những vấn

đề tồn tại trong khâu sản xuất, dự trữ bảo quản có ảnh hưởng khâu tiêu thụ; từ

đó có biện pháp điều chỉnh hợp lý nhằm đạt kết quả kinh doanh tốt hơn Đểcung cấp được các thông tin kịp thời, chính xác đầy đủ, kế toán bán hàng vàxác định kết quả bán hàng cần thực hiện tốt các nhiệm vụ cụ thể sau:

+Phản ánh và ghi chép đầy đủ, kịp thời, chính xác tình hình hiện có và

sự biến động của từng loại thành phẩm, hàng hóa theo chỉ tiêu số lượng, chấtlượng, chủng loại và giá trị

+ Phản ánh và ghi chép đầy đủ, kịp thời và chính xác các khoản doanhthu, các khoản giảm trừ doanh thu và chi phí của từng hoạt động trong doanhnghiệp,đồng thời theo dõi và đôn đốc các khoản phải thu của khách hàng.+ Phản ánh và tính toán chính xác kết quả của từng hoạt động, giám sáttình hình thực hiện nghĩa vụ với Nhà nước và tình hình phân phối kết quả cáchoạt động

Trang 8

+ Cung cấp các thông tin kế toán phục vụ cho việc lập Báo cáo tài chính

và định kỳ phân tích hoạt động kinh tế liên quan đến quá trình bán hàng, xácđịnh và phân phối kết quả

1.1.5 Các phương thức bán hàng:

Phương thức bán hàng có ảnh hưởng trực tiếp đối với việc sử dụng cáctài khoản kế toán, phản ánh tình hình xuất kho thành phẩm, hàng hóa Đồngthời có tính quyết định đối với việc xác định thời điểm bán hàng Hoàn thànhdoanh thu bán hàng và tiết kiệm chi phí để tăng lợi nhuận

Hiện nay các doanh nghiệp thường sử dụng các phương thức bán hàngsau:

+ Phương thức bán hàng trực tiếp: theo phương thức này, việc giao hàng

và thanh toán diễn ra đồng thời Người mua hàng có thể đến kho hoặc đến cửahàng của doanh nghiệp để nhận hàng theo hợp đồng đã kí kết, sau đó ngườimua kí nhận vào hóa đơn của doanh nghiệp để làm thủ tục thanh toán Lúcnày sản phẩm hàng hóa chính thức được coi là tiêu thụ; quyền sở hữu sảnphẩm hàng hóa được được chuyển từ người bán sang người mua Khi đóngười mua có thể thanh toán ngay hoặc chấp nhận thanh toán số hàng đó Và

kế toán hạch toán vào doanh thu bán hàng Các phương thức bán hàng trựctiếp bao gồm bán hàng thu tiền ngay; bán hàng được người mua chấp nhậnthanh toán ngay ( không có lãi trả chậm ); bán hàng trả chậm, trả góp có lãi;bán hàng đổi hàng…

+ Phương thức gửi hàng: theo phương thức này, định kỳ doanh nghiệp sẽgửi hàng cho khách hàng theo những thỏa thuận trong hợp đồng Khách hàng

có thể là các đơn vị nhận bán đại lý hoặc là khách hàng mua thường xuyêntheo hợp đồng kinh tế Khi ta xuất kho hàng hóa – thành phẩm giao cho kháchhàng thì số hàng hóa – thành phẩm đó vẫn thuộc quyền sở hữu của doanhnghiệp, bởi vì chưa thỏa mãn đồng thời 5 điều kiện ghi nhận doanh thu Khikhách hàng thanh toán hoặc chấp nhận thanh toán thì ghi nhận doanh thu dodoanh nghiệp đã chuyển các lợi ích gắn với quyền sở hữu hàng hóa – thànhphẩm cho khách hàng Các phương thức gửi hàng bao gồm gửi bán thôngthường, gửi bán cho đại lý, bán hàng xuất khẩu…

1.2 Nội dung của kế toán bán hàng và xác định kết quả bán hàng:

1.2.1 Các khái niệm chủ yếu liên quan đến quá trình bán hàng:

Trang 9

Kết quả bán hàng là khoản chênh lệch giữa doanh thu thuần với giá vốnhàng bán, chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp phân bổ cho hàngbán ra Nếu doanh thu thuần mà lớn hơn tổng chi phí đã bỏ ra phục vụ choviệc bán hàng trong một kỳ nhất định thì doanh nghiệp có lãi, ngược lại nếudoanh thu thuần mà nhỏ hơn các khoản chi phí đã bỏ ra thì doanh nghiệp sẽ bị

thua lỗ

1.2.2 Kế toán doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ (TK511):

* Khái niệm: theo thông tư số 89/2002/TT-BTC của Bộ Tài Chính quy

định: Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ là toàn bộ số tiền thu đượchoặc sẽ thu được từ các giao dịch và nghiệp vụ phát sinh doanh thu như bánsản phẩm, hàng hóa, cung cấp dịch vụ cho khách hàng bao gồm cả các khoảnphụ thu và phụ phí thêm ngoài giá bán ( nếu có)

+ Đối với doanh nghiệp thực hiện nộp thuế GTGT theo phương phápkhấu trừ Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ là giá bán chưa có thuếGTGT

+ Đối với doanh nghiệp không thuộc đối tượng nộp thuế GTGT hoặcnộp thuế GTGT theo phương pháp trực tiếp thì doanh thu bán hàng và cungcấp dịch vụ là tổng giá thanh toán

+ Đối với sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ thuộc đối tượng chịu thuế tiêu thụđặc biệt, hoặc thuế xuất khẩu thì doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ làtổng giá thanh toán (bao gồm cả thuế tiêu thụ đặc biệt, hoặc thuế xuất khẩu).+ Những doanh nghiệp nhận gia công vật tư, hàng hóa thì chỉ phản ánhvào doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ số tiền gia công thực tế đượchưởng, không bao gồm giá trị vật tư, hàng hóa nhận gia công

+ Đối với hàng hóa nhận đại lý, ký gửi theo phương thức bán đúng giáhưởng hoa hồng thì hạch toán váo doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụphần hoa hồng bán hàng mà doanh nghiệp được hưởng

+ Trường hợp bán hàng theo phương thức trả chậm, trả góp thì doanhnghiệp ghi nhận doanh thu bán hàng theo giá bán trả ngay và ghi nhận vàodoanh thu hoạt động tài chính về phần lãi tính trên khoản phải trả chậm phùhợp với thời điểm ghi nhận doanh thu được xác nhận

+ Những sản phẩm, hàng hóa được xác định là tiêu thụ, nhưng vì lý do

về chất lượng, về quy cách kỹ thuật,… người mua từ chối thanh toán, gửi trả

Trang 10

lại người bán hoặc yêu cầu giảm giá và được doanh nghiệp chấp thuận; hoặcngười mua mua hàng với khối lượng lớn được chiết khấu thương mại thì cáckhoản giảm trừ doanh thu bán hàng này được theo dõi riêng biệt trên các TK

531 “hàng bán bị trả lai” hoặc TK532 “chiết khấu thương mại”

+ Trường hợp trong kỳ doanh nghiệp đã viết hóa đơn bán hàng và đã thutiền bán hàng nhưng đến cuối kỳ vẫn chưa giao hàng cho người mua hàng,TK511 “doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ”, mà chỉ hạch toán vào bên

có TK131 “Phải thu khách hàng” về khoản tiền đã thu của khách hàng Khithực giao hàng cho người mua sẽ hạch toán vào TK 511 “doanh thu bán hàng

và cung cấp dịch vụ” về trị giá hàng đã giao, đã thu trước tiền bán hàng, phùhợp với các điều kiện ghi nhận doanh thu

+ Đối với trường hợp cho thuê tài sản, có nhận trước tiền cho thuê củanhiều năm thì doanh thu cung cấp dịch vụ ghi nhận của năm tài chính là sốtiền cho thuê được xác định trên cơ sở lấy toàn bộ tổng số tiền thu được chiacho số năm cho thuê tài sản

+ Đối với doanh nghiệp thực hiện nhiệm vụ cung cấp sản phẩm, hànghóa, dịch vụ theo yêu cầu của Nhà nước, được Nhà nước trợ cấp, trợ giá theoquy định thì doanh thu trợ cấp, trợ giá là số tiền được Nhà nước chính thứcthông báo, hoặc thực tế trợ cấp, trợ giá Doanh thu trợ cấp, trợ giá được phảnánh trên TK 5114 – doanh thu trợ cấp trợ giá

Chỉ được ghi nhận doanh thu bán hàng tại thời điểm sản phẩm, hàng hóađược coi là tiêu thụ Theo chuẩn mực 14 “doanh thu và thu nhập khác”, sảnphẩm, hàng hóa của doanh nghiệp được coi là tiêu thụ khi thỏa mãn đồng thời

cả 5 điều kiện sau:

1) Doanh nghiệp đã chuyển giao phần lớn rủi ro và lợi ích gắn liền với quyền

sở hữu sản phẩm hoặc hàng hóa cho người mua

2) Doanh nghiệp không còn nắm giữ quyền quản lý hàng hóa như người sởhữu hàng hóa hoặc quyền kiểm soát hàng hóa

3) Doanh thu được xác định tương đối chắc chắn

4) Doanh nghiệp đã thu được hoặc sẽ thu được lợi ích kinh tế từ giao dịchbán hàng

5) Xác định được chi phí liên quan đến giao dịch bán hàng

Khi hạch toán doanh thu lưu ý các quy định sau:

Trang 11

+ Doanh thu chỉ được ghi nhận khi thỏa mãn các điều kiện ghi nhậndoanh thu theo chuẩn mực 14 “doanh thu và thu nhập khác”.

+ Doanh thu liên quan đến cùng một giao dịch phải được ghi nhận đồngthời theo nguyên tắc phù hợp và theo năm tài chính

+ Trường hợp hàng hóa và dịch vụ trao đổi lấy hàng hóa hoặc dịch vụtương tự về bản chất thì không được ghi nhận là doanh thu

+ Phải theo dõi chi tiết từng loại doanh thu, doanh thu từng mặt hàng,ngành hàng, từng sản phẩm…theo dõi chi tiết từng khoản giảm trừ doanh thu.Việc xác định thời điểm sản phẩm, hàng hóa được là tiêu thụ có ý nghĩarất quan trọng Vì có xác định đúng thời điểm tiêu thụ, thì mới xác định đượcchính xác kết quả bán hàng, từ đó mới có thể đánh giá chính xác hiệu quả sảnxuất kinh doanh của doanh nghiệp

1.2.3 Các khoản giảm trừ doanh thu bán hàng:

Trong điều kiện kinh doanh hiện nay, để đẩy mạnh hàng bán ra, thu hồinhanh chóng tiền bán hàng, doanh nghiệp cần có chế độ khuyến khích đối vớikhách hàng Nếu khách hàng mua với khối lượng hàng hóa lớn sẽ đượcdoanh nghiệp giảm giá, nếu khách hàng thanh toán sớm tiền hàng sẽ đượcdoanh nghiệp chiết khấu, còn nếu hàng hóa của doanh nghiệp kém phẩm chấtthì khách hàng có thể không chấp nhận thanh toán hoặc yêu cầu doanh nghiệpgiảm giá Các khoản trên sẽ phải ghi váo hoạt động tài chính hoặc giảm trừdoanh thu bán hàng ghi trên hóa đơn

+ Chiết khấu thương mại là khoản tiền mà doanh nghiệp đã giảm trừhoặc đã thanh toán cho người mua hàng do việc người mua hàng đã mua hàng(sản phẩm, hàng hóa), dịch vụ với khối lượng lớn theo thỏa thuận về chiếtkhấu thương mại đã ghi trên hợp đồng kinh tế mua bán hoặc các cam kết mua,bán hàng

+ Hàng bán bị trả lại là số sản phẩm, hàng hóa doanh nghiệp đã xác địnhtiêu thụ, nhưng bị khách hàng trả lại do vi phạm các điều kiện đã cam kếttrong hợp đồng kinh tế như: hàng kém phẩm chất, sai quy cách, chủng loại.Hàng bán bị trả lại phải có văn bản đề nghị của người mua ghi rõ lý do trả lạihàng, số lượng hàng bị trả lại, giá trị hàng bị trả lại, đính kèm hóa đơn (nếutrả lại toàn bộ) hoặc bản sao hóa đơn (nếu trả lại một phần hàng)

Trang 12

+ Giảm giá hàng bán là khoản tiền doanh nghiệp (bên bán) giảm trừ chobên mua hàng trong trường hợp đặc biệt vì lý do hàng bán bị kém phẩm chất,không đúng quy cách, hoặc không đúng thời hạn … đã ghi trong hợp đồng.+ Thuế GTGT nộp theo phương pháp trực tiếp, thuế TTĐB, thuế xuấtkhẩu: Là các khoản thuế gián thu tính trên doanh thu bán hàng Các khoảnthuế này tính cho các đối tượng tiêu dùng hàng hóa, dịch vụ phải chịu, các cơ

sở sản xuất, kinh doanh chỉ là đơn vị nộp thuế thay cho người tiêu dùng hànghóa, dịch vụ đó

Khi hạch toán các khoản giảm trừ doanh thu bán hàng, cần phải tôntrọng một số quy định sau:

+ Doanh nghiệp phải có quy chế quản lý và công khai các khoản giảmgiá hàng bán

+ Phải đảm bảo được doanh nghiệp vẫn có lãi khi thực hiện các khoảnchiết khấu thanh toán, hoặc giảm giá hàng bán cho số lượng hàng bán ra trongkỳ

+ Phải ghi rõ trong hợp đồng bán hàng hay trong hợp đồng kinh tế cáckhoản được giảm trừ

+ Số hàng bị trả lại phải có văn bản của người mua, phải ghi rõ số lượng,đơn giá, tổng giá trị lô hàng bị trả lại Kèm theo chứng từ nhập lại kho của lôhàng nói trên

1.2.4 Kế toán giá vốn hàng bán:

Để xác định đúng đắn hiệu quả kinh doanh, trước hết cần xác định đúngđắn trị giá vốn của hàng bán Trị giá vốn của hàng bán được sử dụng để xácđịnh hiệu quả kinh doanh là toàn bộ chi phí kinh doanh liên quan đến quátrình bán hàng bao gồm trị giá vốn của hàng xuất kho, chi phí bán hàng và chiphí quản lý doanh nghiệp phân bổ cho hàng đã bán

Đối với doanh nghiệp sản xuất, trị giá vốn của hàng xuất kho để bánhoặc thành phẩm hoàn thành không nhập kho đưa bán ngay chính là giá thànhsản xuất thực tế của thành phẩm xuất kho hoặc giá thành sản xuất thực tế củathành phẩm hoàn thành

* Giá vốn thực tế của thành phẩm nhập kho là các khoản chi cần thiết đểcấu thành nên giá trị của thành phẩm và được xác định phù hợp với từngnguồn nhập

Trang 13

+ Thành phẩm do doanh nghiệp sản xuất hoàn thành nhập kho được phảnphản ánh theo giá thành sản xuất thực tế của thành phẩm hoàn thành trong kỳ,bao gồm chi phí nguyên liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp và chi phísản xuất chung.

+ Thành phẩm do thuê ngoài gia công chế biến hoàn thành nhập kho,được tính theo giá thực tế gia công, bao gồm: chi phí nguyên vật liệu trựctiếp,chi phí thuê gia công và chi phí liên quan khác (chi phí vận chuyển, bốc

dỡ, hao hụt trong gia công…)

+ Thành phẩm đã bán bị trả lại nhập kho: đánh giá bằng thực tế tại thờiđiểm xuất trước đây

* Đối với thành phẩm xuất kho cũng được phản ánh theo giá thành sảnxuất thực tế xuất kho Thành phẩm thuộc nhóm tài sản hàng tồn kho, do vậytheo chuẩn mực số 02 “Kế toán hàng tồn kho”, việc tính giá thành thực tế củasản phẩm tồn kho (hoặc xuất kho) được áp dụng một trong bốn phương phápsau:

+ Phương pháp tính theo giá đích danh: theo phương pháp này, doanhnghiệp phải quản lý vật tư theo từng lô hàng Khi xuất lô hàng nào thì lấy giáthực tế của lô hàng đó

+ Phương pháp bình quân gia quyền tại thời điểm xuất kho hoặc cuối kỳ:theo phương pháp này, kế toán phải tính đơn giá bình quân gia quyền tại thờiđiểm xuất kho hoặc ở thời điểm cuối kỳ, sau đó lấy số lượng vật tư xuất khonhân với đơn giá bình quân đã tính Ta có công thức sau:

Trị giá thực tế của thành phẩm nhập trong kỳ

Số lượng thành phẩm tồn đầu kỳ

Số lượng thành phẩm nhập trongkỳ

Giá thành thực tế

thành phẩm xuất

kho trong kỳ

Đon giá thực tế bình quân

Số lượng thành phẩm xuất kho trong kỳ

Trang 14

+ Phương pháp nhập trước, xuất trước (FIFO): phương pháp này đượcdựa trên giả thiết số vật tư nào nhập trước thì xuất trước và lấy giá thực tế củalần đó là giá của vật tư xuất kho Do đó trị giá vật tư tồn cuối kỳ được tínhtheo đơn giá của những lần nhập kho sau cùng.

+ Phương pháp nhập sau, xuất trước (LIFO): phương pháp này có cáchtính ngược với phương pháp nhập trước, xuất trước tức là dựa trên giả thiết sốvật tư nào nhập sau thì xuất trước và lấy giá thực tế của lần đó là giá của vật

tư xuất kho Do đó trị giá vật tư tồn cuối kỳ được tính theo số lượng hàng tồnkho và đơn giá của những lô hàng nhập kho cũ nhất

Mỗi một phương pháp tính giá thành thực tế của thành phẩm xuất khođều có những ưu, nhược điểm riêng Việc lựa chọn phương pháp nào để vậndụng cho doanh nghiệp mình, phải căn cứ vào tình hình thực tế yêu cầu hạchtoán của doanh nghiệp, đồng thời việc lựa chọn và áp dụng phương pháp tínhgiá thành thực tế thành phẩm xuất kho phải đảm bảo nguyên tắc nhất quán, đểbáo cáo tài chính có thể so sánh được và đảm bảo nguyên tắc công khai để chỉđạo việc thay đổi từ phương pháp này sang phương pháp khác nếu thấy cầnthiết Theo em, đối với thành phẩm, việc lựa chọn phương pháp bình quân giaquyền cố định là phù hợp

1.2.5.Chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp:

* Chi phí bán hàng: là toàn bộ các chi phí phát sinh liên quan đến quá

trình bán sản phẩm, hàng hóa và cung cấp dịch vụ

Nội dung chi phí bán hàng gồm các yếu tố sau:

+ Chi phí nhân viên bán hàng (TK 6411): là toàn bộ các khoản tiềnlương phải trả chi nhân viên bán hàng, nhân viên đóng gói, bảo quản sảnphẩm, hàng hóa, vận chuyển đi tiêu thụ và các khoản trích theo lương (khoảntrích BHXH, BHYT, KPCĐ)

+ Chi phí vật liệu, bao bì (TK 6412): là các khoản chi phí về vật liệu, bao

bì để đóng gói, bảo quản sản phẩm, hàng hóa, vật liệu dùng sửa chữa TSCĐdùng trong quá trình bán hàng, nhiên liệu cho vận chuyển sản phẩm hàng hóa.+ Chi phí dụng cụ đồ dùng (TK 6413): là chi phí về công cụ, dụng cụ, đồdùng đo lường, tính toán, làm việc ở khâu bán hàng và cung cấp dịch vụ

Trang 15

+ Chi phí khấu hao TSCĐ (TK 6414): để phục vụ cho quá trình tiêu thụsản phẩm, hàng hóa và cung cấp dịch vụ như nhà kho, cửa hàng, phương tiệnvận chuyển, bốc dỡ.

+ Chi phí bảo hành sản phẩm (TK 6415): là các khoản chi phí bỏ ra đểsửa chữa, bảo hành sản phẩm, hàng hóa trong thời gian bảo hành (Riêng chiphí bảo hành công trình xây lắp được hạch toán vào tài khoản 627)

+ Chi phí dịch vụ mua ngoài(TK 6417): là các khoản chi phí dịch vụmua ngoài phục vụ cho quá trình tiêu thụ sản phẩm, hàng hóa và dịch vụ như:chi phí thuê tài sản, thuê kho, thuê bến bãi, thuê bốc dỡ vận chuyển, tiền hoahồng đại lý…

+ Chí phí bằng tiền khác(TK 6418): là các khoản chi phí bằng tiền phátsinh trong quá trình tiêu thụ sản phẩm, hàng hóa và cung cấp dịch vụ nằmngoài các chi phí kể trên như: chi phí tiếp khách, hội nghị khách hàng, chi phíquảng cáo giới thiệu sản phẩm, hàng hóa…

Ngoài ra tùy hoạt động sản xuất kinh doanh và yêu cầu quản lý của từngngành, từng đơn vị mà TK 641 “chi phí bán hàng” có thể mở thêm một số nộidung chi phí

* Chi phí quản lý doanh nghiệp: là toàn bộ chi phí liên quan đến hoạt

động quản lý sản xuất kinh doanh, quản lý hành chính và một số khoản khác

có tính chất chung toàn doanh nghiệp

Theo quy định của chế độ hiện hành, chi phí quản lý doanh nghiệp chitiết thành các yếu tố chi phí sau:

+ Chi phí nhân viên quản lý (TK 6421): gồm tiền lương, phụ cấp phải trảcho ban giám đốc, nhân viên các phòng ban của doanh nghiệp và khoản tríchBHXH, BHYT, KPCĐ trên tiền lương nhân viên quản lý theo tỷ lệ quy định.+ Chi phí vật liệu quản lý (TK 6422): trị giá thực tế các loại vật liệu,nhiên liệu xuất dùng cho hoạt động quản lý của ban giám đốc và các phòngban nghiệp vụ của doanh nghiệp, cho việc sửa chữa TSCĐ…dùng chung củadoanh nghiệp

+ Chi phí đồ dùng văn phòng (TK 6423): chi phí về dụng cụ, đồ dùngvăn phòng dùng cho công tác quản lý chung của doanh nghiệp

Trang 16

+ Chi phí khấu hao TSCĐ (TK 6424): khấu hao của những TSCĐ dùngchung cho doanh nghiệp như văn phòng làm việc, kho tàng, vật kiến trúc,phương tiện truyền dẫn…

+ Thuế, phí và lệ phí (TK 6425): các khoản thuế như thuế nhà đất, thuếmôn bài… và các khoản phí, lệ phí giao thông, cầu phà…

+ Chi phí dự phòng (TK 6426): khoản trích lập dự phòng phải thu khóđòi, dự phòng phải trả tính vào chi phí sản xuất kinh doanh

+ Chi phí dịch vụ mua ngoài (TK 6427): các khoản chi về dịch vụ muangoài phục vụ chung toàn doanh nghiệp như: tiền điện, nước, thuê sửa chữaTSCĐ; tiền mua và sử dụng các tài liệu kỹ thuật, bằng phát minh sáng chếphân bổ dần (không đủ tiêu chuẩn TSCĐ); chi phí trả cho nhà thầu phụ

+ Chi phí bằng tiền khác (TK 6428): các khoản chi phí khác bằng tiềnngoài các khoản đã kể trên, như hội nghị, tiếp khách, chi công tác phí, chi đàotạo cán bộ và các khoản chi khác…

1.2.6 Chi phí thuế thu nhập doanh nghiệp hiện hành:

Một số quy định khi hạch toán trên TK 8211 – chi phí thuế thu nhậpdoanh nghiệp hiện hành

Hàng ngày, kế toán căn cứ vào tờ khai kế toán thuế thu nhập doanhnghiệp để ghi nhận số thuế thu nhập doanh nghiệp hiện hành tạm phải nộpvào chi phí thuế thu nhập hiện hành

Cuối năm tài chính, căn cứ vào tờ khai quyết toán thuế, nếu số thuế thunhập doanh nghiệp hiện hành tạm phải nộp trong năm nhỏ hơn số phải nộpcho năm đó, kế toán ghi nhận số thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp thêmvào chi phí thuế thu nhập doanh nghiệp hiện hành Trường hợp số thuế thunhập tạm phải nộp trong năm lớn hơn số phải nộp của năm đó, kế toán phảighi giảm chi phí thuế thu nhập doanh nghiệp hiện hành là số chênh lệch giữa

số thuế thu nhập doanh nghiệp tạm phải nộp trong năm lớn hơn số phải nộp.Trường hợp phát hiện sai sót không trọng yếu của các năm trước liênquan đến khoản thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp của các năm trước,doanh nghiệp được hạch toán tăng (hoặc giảm), số thuế thu nhập doanhnghiệp phải nộp của các năm trước vào chi phí thuế thu nhập hiện hành củanăm phát hiện sai sót

Trang 17

Kết thúc năm, kế toán kết chuyển giữa chi phí thuế thu nhập doanhnghiệp hiện hành phát sinh trong năm vào TK 911 – Xác định kết quả kinhdoanh để xác định kết quả hoạt động sản xuất, kinh doanh trong năm.

1.2.7 Kế toán xác định kết quả bán hàng:

Kết quả bán hàng là một bộ phận cấu thành cơ bản trong hiệu quả sảnxuất kinh doanh của doanh nghiệp Việc xác định kết quả bán hàng thườngđược tiến hành vào cuối kỳ kinh doanh (tháng, quý hoặc năm), tùy thuộc vàođặc điểm kinh doanh và yêu cầu ở từng doanh nghiệp

Cách xác định kết quả bán hàng như sau:

+ Hóa đơn GTGT (mẫu 01-GTKT-3LL)

+ Hóa đơn bán hàng thông thường (mẫu 02-GTTT-3LL)

+ Bảng thanh toán hàng đại lý, kí gửi (mẫu 01-BH)

Doanh thu

thuần

Tổng doanhthu

Các khoản giảm trừdoanh thu

Lîi nhuËn gép Doanh thu thuÇn Gi¸ vèn hµng b¸n

Lợi nhuần thuần

(kết quả kinh

doanh)

Lợi nhuậngộp

Chi phíbánhàng

Chi phíquản lýdoanhnghiệp

Trang 18

+ Hóa đơn kiêm phiếu xuất kho

+ Phiếu xuất kho kiêm vận chuyển nội bộ

+ Các chứng từ thanh toán (phiếu thu, séc chuyển khoản, séc thanh toán,

ủy nhiệm thu, giấy báo Có NH, bảng sao kê của NH…)

+ Bảng kê bán hàng hóa, dịch vụ (M05-VT)

+ Tờ khai thuế GTGT (mẫu 07A/GTGT)

+ Chứng từ liên quan khác

1.3.1.2 Tài khoản sử dụng:

Kết cấu, nội dung và nguyên tắc hạch toán các tài khoản sử dụng trong

kế toán bán hàng và xác định kết quả bán hàng, phải được áp dụng theo “Hệthống kế toán doanh nghiệp” ban hành theo quyết định số 15/2006/QĐ-BTCngày 20 tháng 3 năm 2006 của Bộ trưởng Bộ Tài Chính)

a) TK 511 - Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ có 5 TK cấp 2:

 TK 5111 - doanh thu bán hàng hóa

 TK 5112 - doanh thu bán thành phẩm

 TK 5113 - doanh thu cung cấp dịch vụ

 TK 5114 - doanh thu trợ cấp, trợ giá

 TK 5117 - doanh thu kinh doanh BĐSĐT

Kết cấu và nội dung của TK 511:

Bên Nợ:

- Thuế tiêu thụ đặc biệt hoặc thuế xuất khẩu và thuế GTGT tính theophương pháp trực tiếp phải nộp tính trên doanh thu bán hàng thực tế củadoanh nghiệp trong kỳ

- Các khoản ghi giảm doanh thu bán hàng (giảm giá hàng bán,doanh thu bán hàng đã bán bị trả lại và chiết khấu thương mại)

- Kết chuyển doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ thuần, doanhthu BĐSĐT sang TK 911 để xác định kết quả kinh doanh

Bên Có: Doanh thu bán sản phẩm, hàng hóa và cung cấp dịch vụ, doanh

thu BĐSĐT của doanh nghiệp thực hiện trong kỳ hạch toán

TK 511 không có số dư

b) TK 512 – Doanh thu nội bộ

Kết cấu và nội dung của Tk 512 cũng tương như TK 511

c) TK 333 - Thuế và các khoản phải nộp cho Nhà nước

Trang 19

Bên Nợ:

- Số thuế GTGT đầu vào được khấu trừ

- Số thuế GTGT được giảm trừ vào số thuế GTGT phải nộp

- Số thuế GTGT của hàng đã bán bị trả lại

- Số thuế GTGT đã nộp vào Ngân sách Nhà nước

Bên Có:

- Số thuế GTGT đầu ra phải nộp của hàng hóa, dịch vụ đã tiêu thụ

- Số thuế GTGT đầu ra phải nộp của hàng hóa, dịch vụ dùng để traođổi, biếu tặng, sử dụng nội bộ

- Số thuế GTGT phải nộp của doanh thu hoạt động tài chính, hoạtđộng khác

- Số thuế GTGT phải nộp của hàng hóa nhập khẩu

Số dư bên Có: Số thuế GTGT còn phải nộp

d) TK 521 – chiết khấu thương mại có 3 TK cấp 2:

 TK 5211 – chiết khấu hàng hóa

 TK 5212 – chiết khấu thành phẩm

 TK 5213 – chiết khấu dịch vụ

Bên Nợ: Số chiết khấu thương mại đã chấp nhận thanh toán cho khách

hàng

Bên Có: Kết chuyển toàn bộ số chiết khấu thương mại sang TK “ Doanh

thu bán hàng và cung cấp dịch vụ” để xác định doanh thu thuần của kỳ hạchtoán

TK 521 không có số dư cuối kỳ

e) TK 531 – hàng bán bị trả lại

TK này phản ánh doanh thu của số sản phẩm, hàng hóa đã tiêu thụ bịkhách hàng trả lại do lỗi của doanh nghiệp

Bên Nợ: Doanh thu của hàng đã bán bị trả lại tiền cho người mua hàng;

hoặc trả vào khoản nợ phải thu

Bên Có: Kết chuyển doanh thu của hàng đã bán bị trả lại để xác định

doanh thu thuần

TK 531 không có số dư cuối kỳ

f) TK 532 – giảm giá hàng bán

Trang 20

Bên Nợ: Các khoản giảm giá hàng bán đã chấp thuận cho người mua

hàng

Bên Có: Kết chuyển toàn bộ số tiền giảm giá hàng bán sang TK 511 để

xác định doanh thu thuần

TK 532 không có số dư cuối kỳ

- Các khoản hao hụt, mất mát của hàng tồn kho sau khi trừ phần bồithường do trách nhiệm cá nhân gây ra

- Chi phí xây dựng, tự chế tài sản cố định trên mức bình thườngkhông được tính vào nguyên giá TSCĐ xây dựng, tự chế hoànthành

- Chênh lệch giữa mức dự phòng giảm giá hàng tồn kho phải lậpcuối năm nay lớn hơn khoản đã lập dự phòng cuối năm trước

- Số khấu hao BĐSĐT trích trong kỳ

- Chi phí liên quan đến cho thuê BĐSĐT

- Chi phí sửa chữa nâng cấp, cải tạo BĐSĐT không đủ điều kiệntính vào nguyên giá BĐSĐT

- GTCL và các chi phí bán, thanh lý BĐSĐT trong kỳ

Trang 21

- Kết chuyển toàn bộ chi phí kinh doanh BĐSĐT trong kỳ để xácđịnh kết quả.

- Tổng giá thành sản xuất thực tế của thành phẩm, lao vụ, dịch vụ

đã hoàn thành (không kể có nhập kho hay không) (DNSX)

- Kết chuyển giá vốn hàng hóa đã bán trong kỳ từ TK 611 (DNTM)

- Các khoản khác tính vào giá vốn hàng bán (Số trích lập dựphòng…)

h) TK 641 – chi phí bán hàng có 7 TK cấp 2: như đã nêu ở trên

Kết cấu TK 641 dùng để tập hợp và kết chuyển CPBH thực tế phát sinhtrong kỳ để xác định kết quả kinh doanh

Bên Nợ: Tập hợp chi phí bán hàng thực tế phát sinh trong kỳ

Bên Có:

- Các khoản ghi giảm chi phí bán hàng

- Kết chuyển chi phí bán hàng để xác định kết quả kinh doanh trongkỳ

TK 641 không có số dư

i) TK 642 – chi phí quản lý doanh nghiệp có 8 TK cấp 2: như đã nêu ở trên

TK 642 dùng để tập hợp và kết chuyển chi phí quản lý kinh doanh, quản

lý hành chính và chi phí khác liên quan đến hoạt động chung của toàn doanhnghiệp

Trang 22

Bên Nợ:

- Các khoản chi phí QLDN thực tế phát sinh trong kỳ

- Trích lập và trích lập thêm khoản dự phòng phải thu khó đòi, dựphòng phải trả

Bên Có:

- Các khoản ghi giảm chi phí QLDN

- Hoàn nhập số chênh lệch dự phòng phải thu khó đòi, dự phòngphải trả đã trích lập lớn hơn số phải trích cho kỳ tiếp theo

- Kết chuyển chi phí QLDN để xác định kết quả kinh doanh

- Thuế thu nhập doanh nghiệp của các năm trước phải nộp bổ sung

do phát hiện sai sót không trọng yếu của các năm trước được ghităng chi phí thuế thu nhập doanh nghiệp hiện hành của năm hiện tại

Bên Có:

- Số thuế thu nhập doanh nghiệp thực tế phải nộp trong năm nhỏhơn số thuế thu nhập tạm phải nộp được giảm trừ vào chi phí thuếthu nhập doanh nghiệp hiện hành đã ghi nhận trong năm

- Số thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp được ghi giảm do pháthiện sai sót không trọng yếu của các năm trước được ghi giảm chiphí thuế thu nhập doanh nghiệp hiện hành trong năm hiện tại

- Kết chuyển chi phí thuế thu nhập doanh nghiệp hiện hành vào bên

Nợ TK 911 – Xác định kết quả kinh doanh

TK 8211 không có số dư cuối kỳ

k) TK 911 – xác định kết quả kinh doanh

TK 911 dùng để xác định kết quả kinh doanh trong các doanh nghiệp

Bên Nợ:

- Trị giá vốn của sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ đã tiêu thụ

- Chi phí thuế thu nhập doanh nghiệp

Trang 23

- Chi phí tài chính trong kỳ

- Chi phí bán hàng, chi phí quản lý doanh nghiệp tính cho hàng tiêuthụ trong kỳ

- Chi phí khác trong kỳ

- Kết chuyển số lãi từ hoạt động kinh doanh trong kỳ

Bên Có:

- Doanh thu thuần về bán hàng và cung cấp dịch vụ

- Doanh thu thuần hoạt động tài chính trong kỳ

- Thu nhập thuần khác trong kỳ

- Kết chuyển số lỗ từ hoạt động kinh doanh trong kỳ

TK này không có số dư

Ngoài ra kế toán còn sử dụng một số tài khoản khác như: TK 111, 112,

131, 133, 136, 711, 811, 421…

1.3.1.3 Sổ kế toán sử dụng:

Để hạch toán nghiệp vụ bán hàng và xác định kết quả bán hàng, kế toán

sử dụng sổ kế toán có liên quan đến toàn bộ quá trình bán hàng, từ khâu kiểm

kê đối chiếu số lượng thành phẩm nhập, tồn kho, giá thành thành phẩm nhậpkho, giá bán thành phẩm xuất kho, tập hợp thuế GTGT đầu ra phải nộp choNhà nước, đến tình hình thanh toán khách hàng với đơn vị Vì vậy để thuậntiện cho công tác quản lý, kế toán bán hàng sử dụng các sổ tổng hợp và sổ chitiết có liên quan đến toàn bộ quá trình tiêu thụ Số lượng các sổ tùy thuộc vàoyêu cầu quản lý và việc áp dụng hình thức tổ chức kế toán của từng đơn vị.+ Hình thức sổ kế toán Nhật ký chung: gồm Nhật ký chung; sổ cái cáctài khoản liên quan; sổ chi tiết các tài khoản 511, 512, 131, 641, 642, 911…+ Hình thức sổ kế toán Nhật ký chứng từ: gồm sổ chi tiết số 3 (theo dõicác tài khoản 511, 521, 531, 532, 632, 911…); sổ chi tiết số 4 (theo dõi TK131); bảng kê số 5 (tập hợp chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanhnghiệp); bảng kê số 10 (theo dõi TK157); bảng kê số 11 (theo dõi TK131);nhật ký chứng từ số 8 (theo dõi các TK 155, 156, 157, 131, 511, 521, 532,

632, 641, 642, 3331, 911…)

+ Hình thức sổ kế toán chứng từ ghi sổ: gồm chứng từ ghi sổ; sổ cái cáctài khoản liên quan; sổ đăng ký chứng từ ghi sổ; sổ chi tiết các TK 511, 512,

641, 642, 911…

Trang 24

Ngoài ra dù doanh nghiệp áp dụng hình thức kế toán nào, nếu doanhnghiệp nộp thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ thì còn sử dụng bảng kêhóa đơn hàng hóa dịch vụ bán ra (mẫu số 02/GTGT) kèm tờ kê khai thuếGTGT Còn nếu doanh nghiệp nộp thuế GTGT theo phương pháp trực tiếp thì

sử dụng tờ kê khai thuế thuế hàng tháng (mẫu số 06/GTGT)

1.3.2 Trình tự kế toán bán hàng và xác định kết quả bán hàng:

1.3.2.1 Sơ đồ kế toán bán hàng và xác định kết quả bán hàng (theo phương pháp kê khai thường xuyên)

Trang 25

Trong đó:

(1): Hàng gửi đi bán

(2): Hàng gửi đi bán xác định là tiêu thụ

(3): Thành phẩm, hàng hóa bán theo phương pháp trực tiếp

(4): Thành phẩm bán không qua kho

(5): Số tiền phải thu khách hàng, phải thu nội bộ và thuế GTGT phải thu.(6): Khi người mua hay đơn vị nội bộ thanh toán

(7): Doanh nghiệp bán hàng thu tiền ngay và số thuế GTGT phải thu(8): Kết chuyển giá vốn hàng bán tiêu thụ trong kỳ

(9): Kết chuyển chi phí bán hàng phân bổ cho hàng bán ra

(10): Kết chuyển chi phí quản lý doanh nghiệp phân bổ cho hàng bán(11): Kết chuyển chi phí thuế thu nhập doanh nghiệp hiện hành

(12): Kết chuyển doanh thu thuần về tiêu thụ

1.3.2.2 Sơ đồ trình tự kế toán bán hàng và xác định kết quả bán hàng (theo phương pháp kiểm kê định kỳ):

Trang 26

Sơ đồ 1.2

TK155;157 TK632 TK155;157

Kết chuyển giá vốn kết chuyển hàng

Thành phẩm tồn đầu kỳ hiện còn cuối kỳ

TK631 TK911 TK511

Giá thành thực tế kết chuyển trị giá vốn kết chuyển

SP sản xuất hoàn thành SP tiêu thụ trong kỳ doanh thu thuần

(1) Doanh số chiết khấu thương mại

(2) Kết chuyển chiết khấu thương mại vào cuối kỳ

(3) Doanh số hàng bán bị trả lại và giảm giá hàng bán

(4) Kết chuyển hàng bán bị trả lại và giảm giá hàng bán vào cuối kỳ

1.3.3 Trình tự kế toán chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp: 1.3.3.1 Sơ đồ trình tự kế toán chi phí bán hàng:

Trang 27

TK133 TK331;111;112 (8a)

(3b): phân bổ giá trị thực tế vào chi phí bán hàng

(4): trích khấu hao TSCĐ dùng trong quá trình bán hàng

Trang 28

(5a): Số dự phòng phải trả về chi phí sửa chữa, bảo hành sản phẩm hoặc

là số dự phòng phải trả cần trích lập thêm vào cuối kỳ

(5b): Hoàn nhập dự phòng phải trả về chi phí bảo hành sản phẩm, hàng hóa.(6): Thành phẩm, hàng hóa, dịch vụ tiêu dùng nội bộ trong đó nếu doanhnghiệp nộp thuế theo phương pháp khấu trừ thì sẽ có thêm nghiệp vụ (6a).(7a): trích trước chi phí sửa chữa TSCĐ dùng ở bộ phận bán hàng

(7b): chi phí sửa chữa TSCĐ thực tế phát sinh khi công việc hoàn thành(8): chi phí dịch vụ mua ngoài, chi phí bằng tiền khác phục vụ cho quátrình bán hàng

(9): các khoản giảm chi phí bán hàng thực tế phát sinh

(10): kết chuyển chi phí bán hàng sang TK 911 để xác định kết quả

1.3.3.2 Sơ đồ trình tự kế toán chi phí quản lý doanh nghiệp:

(9)

TK331;111;112

(6) TK133 (nếu có)

Trong đó:

Trang 29

(1): Tiền lương và các khoản trích theo lương của nhân viên quản lý(2): Chi phí vật liệu, công cụ dụng cụ, đồ dùng quản lý

(3): Trích khấu hao TSCĐ dùng chi bộ phận quản lý

(4): Thuế, phí, lệ phí phải nộp cho Nhà nước

(5): Trích lập chi phí dự phòng phải thu khó đòi

(6): Chi phí dịch vụ mua ngoài, chi phí khác bằng tiền và thuế GTGT phải nộp (7): Các khoản giảm chi phí quản lý doanh nghiệp

(8): Hoàn nhập số chênh lệch giữa số dự phòng phải thu khó đòi đã tríchlập năm trước chưa sử dụng hết lớn hơn số phải trích lập năm nay

(9): Kết chuyển chi phí quản lý doanh nghiệp để xác định kết quả

(2): Thuế TTĐB, thuế XNK phải nộp (nếu có)

(3): Kết chuyển doanh thu bán hàng thuần

(4): Kết chuyển giá vốn cho hàng bán ra trong kỳ

(5): Kết chuyển chi phí bán hàng cho hàng bán ra trong kỳ

(6): Kết chuyển chi phí quản lý doanh nghiệp cho hàng bán ra trong kỳ(7): Chi phí thuế thu nhập doanh nghiệphiện hành

Trang 30

CHƯƠNG 2:

Thực trạng công tác hạch toán kế toán bán hàng và xác định kết quả bán

hàng ở công ty TNHH NN một thành viên Giày Thượng Đình

2.1 Đặc điểm chung của công ty giày Thượng Đình:

2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển của công ty:

Công ty TNHH Nhà nước một thành viên giầy Thượng Đình được thànhlập từ tháng 1/1957 Tiền thân của công ty là Xí nghiệp X30 quân đội sápnhập với một số cơ sở, công ty hợp doanh thành Xí nghiệp Giầy vải ThượngĐình Với lịch sử hơn 50 năm xây dựng và trưởng thành, Công ty đã trải quamột chặng đường không ngừng vươn lên tự đổi mới, phát triển và khẳng địnhmình Hiện nay Công ty TNHH Nhà nước một thành viên giầy Thượng Đình

là một công ty lớn của ngành công nghiệp Hà Nội có trụ sở chính tại:

277 đường Nguyễn Trãi – Thanh Xuân – Hà Nội

Tên giao dịch của công ty: ZIVIHA.COMPANY

Tổng diện tích: 35000 m2Email: tdfootwear@fpt.vnWebsite: www.thuongdinh.com.vn

Điện thoại: (04)38544680 – (04)38544312

Fax: (04)38282063Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh:0104000224

Ngày cấp: 01/09/2005

Nơi cấp: Sở Kế hoạch và Đầu tư thành phố Hà Nội

Loại hình doanh nghiệp: Công ty TNHH NN một thành viên

Người đại diện pháp lý: Ông Phạm Tuấn Hưng

Vốn đăng ký kinh doanh: 50 tỷ đồng

Ngành nghề kinh doanh chính: Sản xuất kinh doanh xuất nhập khẩu giày dép các loại

Quá trình hình thành và phát triển của Công ty có thể khái quát qua các giai đoạn sau:

Thời kỳ 1957 đến năm 1960:

Xí nghiệp chịu sự quản lý của Cục Quân nhu Tổng cục hậu cần Quân độinhân dân Việt Nam,với gần 200 cán bộ công nhân viên có nhiệm vụ sản xuất

Trang 31

mũ cứng, giầy vải cung cấp cho bộ đội Trong thời kỳ này, với cơ sở vật chấtđơn sơ và điều kiện sản xuất khó khăn nên sản lượng sản xuất này còn thấp,khoảng 55.000 chiếc mũ/năm và trên 200.000 đôi giầy/năm.

Thời kỳ 1961 – 1972:

Tháng 1 năm 1961, xí nghiệp X30 chính thức chuyển giao sang CụcCông nghiệp Hà Nội Tháng 6 năm 1965, Xí nghiệp X30 tiếp nhận một đơn vịcông tư hợp doanh sản xuất giầy, dép và đổi tên thành “Nhà máy Cao su ThụyKhuê” Quy mô của Xí nghiệp khi đó được mở rộng, sản lượng tăng đáng kểđạt 150% kế hoạch Cuối năm 1970, Nhà máy cao su Thụy Khuê sáp nhập với

XínghiệpGiầy vải Hà Nội cũ và đổi tên mới là: Xí nghiệp Giầy vải Hà Nội.Thời điểm này sản phẩm của Xí nghiệp phong phú và đa dạng hơn: giày vảingắn cổ, giầy vải cao cổ, giầy bata, giầy cao su trẻ em và đặc biệt đã có giầyBasket xuất khẩu theo Nghị định sang Liên Xô và Đông Âu cũ

Thời kỳ 1973 – 1987:

Hòa trong cao trào “Tất cả vì miền Nam ruột thịt”, toàn thể cán bộ côngnhân xí nghiệp ra sức sản xuất, khắc phục khó khăn, góp phần nhỏ bé vàocông cuộc giải phóng miền Nam, cùng đất nước đi lên Chủ Nghĩa Xã Hội Tháng 6/1978, Xí nghiệp giầy vải Hà Nội hợp nhất với Xí nghiệp giầyvải Thượng Đình cũ và lấy tên là: Xí nghiệp giầy vải Thượng Đình Khi đó sốlượng công nhân viên của Xí nghiệp đạt 3.000 người, qui mô sản xuất cũngđược mở rộng với 8 phân xưởng, 10 phòng ban nghiệp vụ, sản lượng giầy đạttới 2.4 triệu đôi /năm

gỡ khó khăn, chủ động tìm kiếm thị trường, khai thác nguồn vật tư, nguyênliệu, thiết kế thử và cải tiến mẫu mã sản phẩm… Ngoài những đôi giày Baskettruyền thống, Phòng chế thử mẫu đã thiết kế nhiều loại giầy mới như: giầyOlimpia, Regetta, ED3… với chất lượng tốt, kiểu dáng đẹp và được xuất khẩu

Trang 32

sang Cộng Hòa Dân chủ Đức và nhiều nước thuộc Xã hội Chủ nghĩa Bêncạnh đó, cơ sở vật chất của Xí nghiệp không ngừng được đầu tư, đổi mới.Tuy nhiên đến năm 1991, hệ thống Chủ nghĩa Xã hội ở Liên Xô và các nướcĐông Âu cũ bị đổ vỡ đã đẩy Xí nghiệp rơi vào một tình thế hết sức khó khăn:mất thị trường xuất khẩu, trong khi đó thị trường nội địa lại chưa hình thànhnên sản xuất bị đình trệ, số lượng công nhân nghỉ việc lên đến vài trăm người.

Từ năm 1992 đến nay:

Trước những khó khăn nêu trên, cuối năm 1991, đầu năm 1992, Xínghiệp đã đưa ra một quyết định quan trọng: Xí nghiệp vay Ngân hàng ngoạithương, chính thức ký hợp đồng kinh tế với Đài Loan để hợp tác sản xuất kinhdoanh trong đó phía Thượng Đình lo tổ chức sản xuất, quản lý doanh nghiệp,quản lý cán bộ, mua nguyên vật liệu trong nước, thủ tục xuất nhập khẩu cònphía đối tác lo thị trường xuất khẩu, cho vay vốn đổi mới thiết bị, công nghệsản xuất… Phương án đúng đắn trên kết hợp với sự giúp đỡ có hiệu quả vềvốn của Ngân hàng Ngoại thương và LEAPODEXIM nên sau 4 tháng ký kết,

3 dây chuyền sản xuất giầy vải hoàn chỉnh đã được lắp đặt tại Xí nghiệp giầyvải Thượng Đình Tháng 9/1992: Lô hàng đầu tiên của Xí nghiệp đạt tiêuchuẩn quốc tế được xuất sang thị trường Pháp và Đức

Ngày 8/7/1993: Được sự đồng ý của Ủy ban Nhân dân thành phố Hà

Nội, phạm vi chức năng của Xí nghiệp đã được mở rộng: trực tiếp xuất nhậpkhẩu và kinh doanh giầy dép cũng như các nguyên liệu, máy móc, ngoài racòn kinh doanh cả du lịch và dịch vụ, chính vì vậy Xí nghiệp được đổi tênthành: “Công ty Giầy Thượng Đình” thông qua giấy phép thành lập công ty2556/QĐ ngày 8/7/1993 – Uỷ ban nhân dân thành phố Hà Nội, giấy phépđăng ký kinh doanh số 10847 cấp ngày 24/7/1993 do trong tài kinh tế thànhphố Hà Nội cấp, giấy phép kinh doanh xuất khẩu số 2051013 loại hình doanhnghiệp Nhà nước

Tháng 7/2004, Công ty giầy Thượng Đình thành lập thêm nhà máy Giầy

da xuất khẩu Hà Nam tại khu công nghiệp Đồng Văn – Hà Nam

Tháng 8/2005 theo quyết định số 108/2005/QĐ ngày 26/07/2005 của Ủy

ban nhân dân thành phố Hà Nội công ty Giầy Thượng Đình chính thức đổi tênthành Công ty trách nhiệm hữu hạn Nhà nước một thành viên Giầy ThượngĐình

Trang 33

Hiện nay công ty có 1 chi nhánh tại Thành phố Hồ Chí Minh, 2 tổng đại

lý tại Hà Nội, Đà Nẵng và gần 50 đại lý tại các tỉnh, thành phố khác trong cảnước Sản phẩm của công ty có thế mạnh về chất lượng, chủng loại, mẫu mã,màu sắc, kiểu dáng, chiếm thị phần lớn trong nước và xuất khẩu, từng bướcchinh phục những khách hàng khó tính như Nga, Pháp, Nhật, Đức, Italy,Bungari

Năm 1996 sản phẩm của Công ty đã đạt giải TOPTEN, là một trong 10 mặthàng được người tiêu dùng yêu thích nhất do báo Đại Đoàn Kết đứng ra tổ chức.Đầu năm 1999 được cấp chứng chỉ ISO 9000 và 9002 của tổ chức QUAVERT( cơ quan chứng nhận của tổng cục tiêu chuẩn và đo lường chất lượng ViệtNam ) và tổ chức PSB Singapore ( thành viên chính thức của tập đoàn chứngnhận quốc tế IQNET)

Ngày 26/02/2001 sản phẩm của Công ty đạt Giải vàng – Giải về chấtlượng Việt Nam 2000 do bộ khoa học công nghệ và môi trường cấp, ngoài raCông ty còn có nhiều giải thưởng khác nữa

Năm 2004, công ty đạt giải thưởng Cúp chân dung Bạch Thái Bưởi, cúpvàng Hà Nội, doanh nghiệp tiêu biểu

Năm 2005, Công ty đạt giải thưởng Hà Nội vàng cho sản phẩm giầy thểthao, 03 huy chương vàng cho 3 sản phẩm giầy thể thao tại Hội chợ Hà nộivàng hướng tới 1000 năm Thăng Long Hà Nội

Thương hiệu Giầy Thượng Đình được công nhận là một trong nhữngthương hiệu mạnh năm 2004:2005 do phòng Thương mại và Công nghiệpViệt Nam tổ chức

Từ tháng 8/2005, Công ty chuyển đổi thành Công ty TNHH NN mộtthành viên giầy Thượng Đình, trực thuộc UBND thành phố Hà Nội Hiện tạiCông ty có trên 2000 CBCNV và 7 dây chuyền sản xuất giầy dép hiện đại.Sản phẩm của Công ty luôn được người tiêu dùng bình chọn TOPTEN, liêntục được công nhận là Hàng Việt nam chất lượng cao từ năm 1996 đến 2006(do Người tiêu dùng bình chọn - Báo Sài gòn tiếp thị tổ chức) Đạt nhiều huychương vàng, bạc tại các Hội chợ triển lãm trong nước và quốc tế.Thương hiệu giầy Thượng Đình luôn được bình chọn là thương hiệu tiêu biểucủa ngành công nghiệp Hà Nội và của cả nước (do thời báo kinh tế tổ chức)

Trang 34

Năm 2006, 2007 nhãn hiệu Thượng Đình được công nhận là nhãn hiệunổi tiếng quốc gia, thương hiệu Thượng Đình được công nhận là thương hiệunổi tiếng

Năm 2007, công ty vinh dự đón nhận huân chương độc lập hạng nhì

Năm 2008, công ty được UBND thành phố Hà Nội công nhận là đơn vịthi đua xuất sắc, Đảng bộ công ty được công nhận trong sạch vững mạnh xuấtsắc

Từ một Xí nhiệp chuyên sản xuất quân trang phục vụ quân đội nhữngnăm 50 – 60 với công nghệ ban đầu hết sức thô sơ đến nay có thể nói Công tyTNHH Nhà nước một thành viên Giầy Thượng Đình đã thực sự trở thành mộtdoanh nghiệp có vị trí cao, vững chắc trong ngành công nghiệp nhẹ nước nhàvới những dây chuyền sản xuất hiện đại, công nghệ tiên tiến Hàng năm công

ty sản xuất từ 4 đến 5 triệu đôi giầy hoàn chỉnh, trong đó khoảng 40% dànhcho tiêu thụ trong nước còn 60% đôi giầy được xuất sang các thị trường nướcngoài như: Australia, Cuba, Nga, EU

Sự tăng trưởng của công ty trong những năm gần đây được biểu hiện quamột số chỉ tiêu như sau:

(Biểu 2.1): Kết quả sản xuất kinh doanh trong một số năm vừa qua

1 Doanh thu bánhàng và cung

toán trước thuế " 2,820,027,343 800,650,000 2,019,377,343 252.22%

4 Lợi nhuận sau

thuế " 2,619,785,343 576,468,000 2,043,317,343 354.46%5

Trang 35

Qua bảng số liệu trên ta thấy doanh thu bán hàng của doanh nghiệp năm

2008 so với năm 2007 tăng, tăng từ 214,274 triệu lên 235,842 triệu tức là tăng21,567 triệu đồng tương ứng 10.06 % Điều này chứng tỏ doanh nghiệp đã cónhiều cố gắng để chiếm lĩnh thị phần trên thị trường hoạt động sản xuất kinhdoanh của doanh nghiệp có hiệu quả Nhìn chung hoạt động sản xuất kinhdoanh của công ty không có biến động lớn, luôn duy trì được tốc độ pháttriển, tạo đủ công ăn việc làm cho cán bộ công nhân viên, đầu tư đúng hướng,nắm được thị trường, tạo được uy tín về sản phẩm của công ty trên thị trường,đặc biệt là thị trường nước ngoài Mặc dù năm 2008 có nhiều biến động nhưthế nhưng công ty vẫn đảm bảo đủ việc làm và thu nhập ổn định cho ngườilao động, và mức lợi nhuận sau thuế vẫn tăng khá rõ Giá trị sản xuất côngnghiệp tăng từ 225 tỷ đồng lên 230 tỷ đồng

2.1.2 Đặc điểm tổ chức hoạt động sản xuất kinh doanh:

2.1.2.1 Đặc điểm về sản phẩm, ngành nghề kinh doanh:

Công ty TNHH Nhà nước một thành viên giầy Thượng Đình là mộtdoanh nghiệp có quy mô sản xuất lớn, tập trung, kinh doanh nhiều chủng loạisản phẩm , sản lượng sản xuất lên tới 5 triệu đôi/ năm với mục đích phục vụcho tiêu dùng trong nước và xuất khẩu Cơ cấu sản phẩm của doanh nghiệpđược chia thành hai loại căn cứ vào phạm vi mặt hàng sản xuất, đó là sảnphẩm giầy nội địa và sản phẩm giầy xuất khẩu theo yêu cầu của khách hàngnước ngoài Mặt hàng giầy dép có các loại: giầy bata, giầy bộ đội, giầybasket, giầy thể thao…Trong đó,mặt hàng giầy thể thao chiếm 30% cơ cấuhàng xuất khẩu của công ty với nhiều kiểu dáng, mẫu mã khác nhau, 70% cònlại là các loại giầy vải cao cấp, giầy thể dục nhịp điệu, giầy leo núi, giầy đábóng

Ngoài ra, công ty còn nhập khẩu máy móc, thiết bị, nguyên vật liệu sảnxuất, gia công, cung cấp các sản phẩm bảo hộ lao động như găng tay, mũ bảohiểm, sản xuất các sản phẩm bằng cao su phục vụ công nghiệp

Trang 36

2.1.2.2 Đặc điểm tổ chức sản xuất:

Công ty TNHH Nhà nước một thành viên Giầy Thượng Đình tổ chức sảnxuất theo các phân xưởng Các phân xưởng này có mối quan hệ với nhautrong quá trình giao bán thành phẩm Mỗi phân xưởng chỉ chịu trách nhiệmthực hiện một số bước trong quá trình sản xuất sản phẩm Các bộ phận, phânxưởng tổ chức thành một dây chuyền khép kín để sản xuất từng loại sảnphẩm Quá trình sản xuất sản phẩm được diễn ra liên tục từ khâu đưa vật liệuvào cho đến khi hoàn thiện sản phẩm Hiện nay, công ty có 4 phân xưởng sảnxuất chính:

- Phân xưởng bồi cắt: Đảm nhiệm 2 khâu đầu của quy trình công nghệ là

bồi tráng và cắt vải bạt Khi có lệnh sản xuất phát ra (cho một đơn đặt hàngnào đó), thì phân xưởng bồi cắt là phân xưởng đầu tiên thực hiện lệnh này.Nhân viên phân xưởng nhận lệnh sản xuất và lên kho nhận vật liệu tùy theotừng đơn đặt hàng tương ứng với lệnh sản xuất để các bộ phận như mũ, giầy,pho hậu, pho mũ, nẹp oze… NVL của công đoạn này chủ yếu là vải bạt cácmàu, vải lót, mút xốp, mếch, bìa catton…NVL được chuyển đến máy bồi,máy bồi có chức năng kết dính các NVL này với nhau bằng một lớp keo dính,vải được bồi trên máy với nhiệt độ lò sấy từ 180 – 200 0 C và được bồi ở 3 lớp

là lớp mặt, lớp lót và lớp giữa Các tấm vải sau khi được bồi xong thì chuyểncho bộ phận cắt Tùy theo loại, kích cỡ, mẫu mã mà các chi tiết của giầy đượcpha cắt cho phù hợp Sau khi cắt xong, sản phẩm của phân xưởng đượcchuyển sang phân xưởng may để lắp ráp mũ giầy

- Phân xưởng may: nhận sản phẩm từ phân xưởng cắt và phụ liệu từ

kho và sẽ may các chi tiết thành mũ giầy hoàn chỉnh NVL chủ yếu ở côngđoạn này là: vải; các loại phụ liệu như: chỉ, ođê, dây trang trí, chun… Quátrình may ở công đoạn này phải trải qua nhiều thao tác kỹ thuật liên tiếp như:can góc, may nẹp, kẻ chỉ… Bán thành phẩm hoàn thành ở phân xưởng này là

mũ giầy Việc tổ chức sản xuất ở phân xưởng may chia ra làm nhiều tổ, mỗi tổlàm một vài loại giầy Trong tổ, mỗi công nhân đảm nhận một thao tác kỹthuật như bồi keo, may…

- Phân xưởng cán: Có nhiệm vụ chế biến các hóa chất, sản xuất đế giầy

bằng

Trang 37

cao su NVL của phân xưởng là cao su, các hóa chất như Benzen, xăng côngnghiệp, các loại bột màu… Bán thành phẩm ở công đoạn này là các đế giầy vàđược chuyển đến phân xưởng gò để lắp ráp giầy.

- Phân xưởng gò: Đảm nhiệm khâu cuối cùng của quy trình công nghệ

sản xuất giầy, sản phẩm của khâu này là từng đôi giầy hoàn chỉnh Nguyên vậtliệu của phân xưởng gò là mũi giầy nhận của phân xưởng may và đế giầy củaphân xưởng cán Ngoài ra phân xưởng còn nhận các loại dây giầy, dây gai,dây xăng, giấy lót giây… Mũi giầy và đế giầy được chuyển đến bộ phận quétkeo, sau đó qua dàn nhiệt, công nhân phân xưởng gò sẽ gò hình giầy theophom giầy Tiếp đến là công đoạn dán đế, dán viền sau đó được đưa vào bộphận lưu hóa để hấp ở nhiệt độ thích hợp khoảng 1300C trong vòng 3 – 4 giờnhằm đảm bảo độ bền của giầy Sau khi giầy lưu hóa xong sẽ được chuyểnđến bộ phận đóng gói để xâu dây và đóng hộp

Ngoài các phân xưởng chính trên, còn có một phân xưởng sản xuất phụphục vụ sản xuất đó là phân xưởng cơ năng, chịu trách nhiệm cung cấp điện,lắp đặt sửa chữa, bảo dưỡng thiết bị, cung cấp hơi nóng, áp lực

Sản phẩm của công ty có chu kỳ ngắn, quy trình công nghệ sản xuất phức tạpkiểu liên tục nhưng ổn định và thuộc loại sản xuất với khối lượng lớn Trêndây chuyền có thể sản xuất giầy hàng loạt với các mã giầy khác nhau theo đơnđặt hàng hoặc theo thiết kế của công ty Ở mỗi giai đoạn sản xuất đều hìnhthành bán thành phẩm nhưng chỉ có thành phẩm mới được bán ra ngoài

Quá trình sản xuất giầy có thể được khái quát qua mô hình sau:

Sơ đồ 2.1: Quy trình công nghệ sản xuất giầy vải

Trang 38

2.1.2.3 Đặc điểm tổ chức quản lý sản xuất kinh doanh của công ty:

Công ty TNHH Nhà nước một thành viên Giầy Thượng Đình là một đơn

vị kế toán độc lập có đặc điểm sản xuất tập trung với quy mô sản xuất lớn,hoạt động định hướng theo nền kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nướcnên Công ty đã xây dựng bộ máy quản lý theo kiểu trực tuyến chức năng:

- Hệ thống trực tuyến bao gồm: Ban giám đốc công ty, giám đốc các xínghiệp và các quản đốc phân xưởng

- Hệ thống chức năng bao gồm: Các phòng chức năng của công ty,Cácphòng ban quản lý, các xí nghiệp, phân xưởng

Đứng đầu Ban Giám đốc là Giám đốc công ty chịu trách nhiệm chung vềhoạt động sản xuất kinh doanh của công ty, giám đốc trực tiếp chỉ đạo giámsát 3 phòng ban là phòng KD – XNK, phòng HCTC và phòng KTTC Tiếptheo là trợ lý Giám đốc và 4 Phó Giám đốc giúp việc cho Giám đốc và thammưu điều hành các phòng ban còn lại Nhiệm vụ và chức năng cơ bản của cácphó giám đốc phòng ban, phân xưởng trong công ty được phân công như sau:Phòng giám đốc kỹ thuật – công nghệ: điều hành hoạt động của trưởngphòng chế thử mẫu và trưởng phòng kỹ thuật công nghệ

Phòng giám đốc sản xuất – chất lượng: phụ trách quản lý các trưởngphòng kỹ thuật vật tư, phòng quản lý chất lượng, phòng tiêu thụ và các quảnđốc phân xưởng

Phòng giám đốc thiết bị an toàn: phụ trách quản lý xưởng trưởng xưởng

cơ năng và phòng bảo vệ

Phòng giám đốc bảo hiểm xã hội – vệ sinh môi trường: phụ trách ban vệsinh công nghiệp – vệ sinh môi trường và trạm y tế

Ở dưới là các phòng ban chức năng có nhiệm vụ tham gia đề xuất vớiBan Giám đốc công ty những chủ trương, biện pháp tăng cường công tác quản

Trang 39

lý sản xuất kinh doanh và giải quyết những khó khăn vướng mắc trong công

ty theo quyền hạn và trách nhiệm của từng phòng ban, bao gồm

- Phòng Chế thử mẫu: có nhiệm vụ sản xuất thử các kiểu mẫu, đưa ra các

kiểu dáng giầy mới để đáp ứng thị hiếu của người tiêu dùng hoặc thiết kế cáckiểu mới theo yêu cầu của đơn đặt hàng

- Phòng Kỹ thuật, công nghệ: Chịu trách nhiệm về phần kỹ thuật trong

sản xuất sản phẩm dựa trên các kiểu mẫu do phòng chế mẫu cung cấp

- Phòng Quản lý chất lượng: Thực hiện chức năng kiểm tra từng quy

trình sản xuất, cũng như chất lượng sản phẩm ở mỗi công đoạn nhằm đạtđược hiệu quả cao nhất

- Phòng Kế hoạch vật tư: Có nhiệm vụ đưa ra kế hoạch mua vật tư, kế

hoạch giá thành sản phẩm, xây dựng định mức vật tư

- Phòng Tiêu thụ: Lập kế hoạch tiêu thụ sản phẩm hàng quí, phân tích

các thông tin về thị trường tiêu thụ để có các quyết định hợp lý

- Phòng Hành chính – tổ chức: Có chức năng tham mưu cho Giám đốc

về việc tổ chức bộ máy, việc quản lý lao động Bên cạnh đó phòng này còn cónhiệm vụ điều hành các mối quan hệ giữa các bộ phận trong và ngoài công ty

- Phòng Kế toán - Tài chính: Phòng này có nhiệm vụ hạch toán chi phí

kinh doanh của công ty và xác định nhu cầu về vốn, tình hình thực hiện vàbiến động các loại tài sản, vật liệu, sản phẩm trong công ty Phòng kế toán tàichính có nghĩa vụ báo cáo các Báo cáo kết quả kinh doanh và một số báo cáotài chính khác trước Ban Giám đốc và cơ quan thuế

- Phòng Kinh doanh xuất nhập khẩu: Có nhiệm vụ tìm kiếm thị trường

tiêu thụ sản phẩm, tìm hiểu thông tin về khách hàng để có chiến lược kinhdoanh mới Phòng này còn thực hiện việc xuất khẩu sản phẩm và nhập cácyếu tố sản xuất theo hợp đồng

- Phòng Cơ năng: Có nhiệm vụ bố trí điện nước, năng lượng phục vụ

cho quá trình sản xuất Thường xuyên kiểm tra đảm bảo an toàn tránh sự cốxảy ra, mặt khác tạo điều kiện phục vụ cho nhu cầu kịp thời không để xảy ratình trạng gián đoạn sản xuất

- Phòng Bảo vệ: Thực hiện việc kiểm tra, bảo vệ mọi tài sản thuộc sở

hữu của công ty cũng như giữ gìn trật tự trị an nội bộ Công ty

Trang 40

- Ban Vệ sinh môi trường: Thực hiện công tác vệ sinh môi trường trong

toàn công ty, đảm bảo cho môi trường, cảnh quan công ty luôn sạch đẹp Mặtkhác đảm bảo vệ sinh đời sống cho toàn bộ cán bộ công nhân viên trong côngty

- Trạm Y tế: Thực hiện các biện pháp cụ thể để phòng khám chữa bệnh

cho cán bộ, công nhân viên trong Công ty, thực hiện công tác Bảo hiểm xãhội, bảo hiểm y tế

Các phân xưởng chịu sự quản lý của phó giám đốc sản xuất Đây là bộphận trực tiếp sản xuất ra sản phẩm, là đầu mối quan trọng trong việc xúc tiếnquá trình tiêu thụ sản phẩm

Các phòng ban có chức năng nhiệm vụ riêng nhưng vẫn có mối quan hệmật thiết với nhau trong đó Phòng Kế toán tài chính là trung tâm đầu mối củatất cả các phòng ban khác trong Công ty

Mô hình tổ chức bộ máy quản lý của công ty được thể hiện qua sơ đồ 2.2(trang bên)

2.1.2.4.Đặc điểm tổ chức công tác kế toán của Công ty:

2.1.2.4.1 Hình thức tổ chức bộ máy kế toán:

Hiện nay, Công ty đang tổ chức bộ máy kế toán theo hình thức kế toántập trung Phòng Kế toán – Tài chính của công ty được trang bị 5 máy tính và

2 máy in Kế toán phụ trách phần hành nào thì đảm nhận luôn việc nhâp, xử

lý dữ liệu và trang in bảng biểu luôn phần hành đó Do đặc điểm tổ chức bộmáy kế toán nên toàn bộ công việc kế toán từ việc lập chứng từ, ghi sổ chi tiếtđến tổng hợp số liệu, lập báo cáo tài chính đều được thực hiện tại phòng kếtoán của Công ty Công ty chỉ bố trí bộ phận thống kê ở mỗi phân xưởng đểlàm nhiệm vụ ghi chép những thông tin kinh tế ban đầu về NVL, sản phẩm,tiền lương sau đó định kỳ hoặc cuối tháng bộ phận này sẽ lập báo cáo theotừng chỉ tiêu gửi về phòng kế toán để các nhân viên kế toán ở đây tiến hành

xử lý số liệu và lập các sổ sách, báo cáo cần thiết

Phòng kế toán có 12 người, trong đó có 1 Kế toán trưởng, 2 kế toán phókiêm kế toán tổng hợp, 1 thủ quỹ và 8 nhân viên kế toán còn lại thực hiện mọinghiệp vụ kế toán phát sinh trong ngày

Ngày đăng: 22/05/2019, 09:03

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w