1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Hoạt động kinh doanh bảo hiểm hỏa hoạn và các rủi ro đặc biệt tại công ty bảo minh hà nội – thực trạng và giải pháp

100 152 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 100
Dung lượng 239,39 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

LỜI CAM ĐOANTôi xin cam đoan bài luận văn cuối khóa đề tài: “Hoạt động kinh doanhbảo hiểm hỏa hoạn và các rủi ro đặc biệt tại Bảo Minh Hà Nội –thực trạng và giải pháp” là công trình nghi

Trang 1

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan bài luận văn cuối khóa đề tài: “Hoạt động kinh doanhbảo hiểm hỏa hoạn và các rủi ro đặc biệt tại Bảo Minh Hà Nội –thực trạng và giải pháp” là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các số liệu, kết quả

nêu trong luận văn tốt nghiệp là trung thực xuất phát từ tình hình thực tế củađơn vị thực tập

Hà Nội, ngày tháng năm 2016

Sinh viên

Trịnh Thị Mai Hoa

Trang 2

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

MỤC LỤC ii

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT v

DANH MỤC CÁC BẢNG vi

DANH MỤC CÁC HÌNH VÀ BIỂU ĐỒ vii

LỜI MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ BẢO HIỂM HỎA HOẠN VÀ CÁC RỦI RO ĐẶC BIỆT 4

1.1 Tính tất yếu khách quan và vai trò của bảo hiểm hỏa hoạn và các rủi ro đặc biệt 4

1.1.1 Tính tất yếu khách quan của bảo hiểm hỏa hoạn và các RRĐB 4

1.1.2 Vai trò của bảo hiểm hỏa hoạn và các RRĐB 7

1.2 Những nội dung cơ bản của nghiệp vụ bảo hiểm hỏa hoạn và rủi ro đặc biệt 10

1.2.1 Một số khái niệm liên quan 10

1.2.2 Đối tượng bảo hiểm 12

1.2.3 Phạm vi bảo hiểm 13

1.2.4 Giá trị bảo hiểm và số tiền bảo hiểm 13

1.2.5 Phí bảo hiểm 16

1.3 Quy trình khai thác bảo hiểm hỏa hoạn và rủi ro đặc biệt 16

1.3.1 Lập kế hoạch, tiếp cận khách hàng 16

1.3.2 Xác định biện pháp khai thác 18

1.3.3 Đánh giá rủi ro 18

1.3.4 Đưa ra các biện pháp hỗ trợ 19

Trang 3

1.3.5 Đánh giá rút kinh nghiệm 20

CHƯƠNG II: TÌNH HÌNH HOẠT ĐỘNG KINH DOANH BẢO HIỂM HỎA HOẠN VÀ RỦI RO ĐẶC BIỆT TẠI CÔNG TY BẢO MINH HÀ NỘI GIAI ĐOẠN 2013-2015 21

2.1 Vài nét về Công ty Bảo Minh Hà Nội 21

2.1.1 Vài nét về Tổng Công ty Cổ phần Bảo Minh 21

2.1.2 Quá trình hình thành và phát triển Công ty Bảo Minh Hà Nội 23

2.1.3 Cơ cấu tổ chức 25

2.1.4 Chức năng, nhiệm vụ của các phòng ban 26

2.1.5 Kết quả hoạt động kinh doanh chung của Công ty Bảo Minh Hà Nội từ 2013 – 2015 27

2.3.1 Lựa chọn kênh phân phối trong khai thác bảo hiểm hỏa hoạn và rủi ro đặc biệt 30

2.2.2 Quy trình khai thác bảo hiểm hỏa hoạn và các rủi ro đặc biệt tại Bảo Minh Hà Nội 31

2.3 Đánh giá hoạt động kinh doanh bảo hiểm hỏa hoạn và rủi ro đặc biệt tại Bảo Minh Hà Nội 37

2.3.1 Kết quả đạt được 37

2.3.2 Công tác đề phòng hạn chế tổn thất 40

2.3.3 Công tác giám định bồi thường 40

2.3.4 Những mặt còn hạn chế 45

2.3.5 Nguyên nhân 46

CHƯƠNG III: MỘT SỐ GIẢI PHÁP VÀ KIẾN NGHỊ NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH NGHIỆP VỤ BẢO HIỂM HỎA HOẠN VÀ RỦI RO ĐẶC BIỆT TẠI BẢO MINH HÀ NỘI 50

3.1 Phương hướng trong thời gian tới của công ty 50

3.1.1 Mục tiêu 50

Trang 4

3.1.2 Định hướng chiến lược 52

3.2 Giải pháp thúc đẩy khai thác BHHH & RRĐB tại Bảo Minh Hà Nội 54

3.2.1 Phát triển và hoàn thiện sản phẩm 54

3.2.2 Đẩy mạnh công tác khai thác 55

3.2.3 Nâng cao chất lượng dịch vụ chăm sóc khách hàng 56

3.2.4 Nâng cao công tác giám định đề phòng và hạn chế tổn thất 56

3.2.5 Nâng cao công tác giám định bồi thường 57

3.3 Những kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh nghiệp vụ bảo hiểm hỏa hoạn và rủi ro đặc biệt 57

3.3.1 Kiến nghị đối với nhà nước 57

3.3.2 Kiến nghị với Hiệp hội Bảo hiểm Việt Nam 60

3.3.3 Một số kiến nghị với công ty 60

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 64

PHỤ LỤC 65

Phụ lục 1 66

Danh mục cơ sở có nguy hiểm về cháy, nổ 66

Phụ lục 2 69

Rủi ro được bảo hiểm và rủi ro loại trừ 69

Phụ lục 3 72

Xác định phí bảo hiểm trong bảo hiểm hỏa hoạn và các rủi ro đặc biệt 72

Phụ lục 4 76

Biểu phí bảo hiểm hỏa hoạn và các rủi ro đặc biệt tại Bảo Minh Hà Nội 76

Trang 5

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

BHHH & RRĐB : Bảo hiểm hỏa hoạn và các rủi ro đặc biệt

Trang 7

Hình 2.1: Sơ đồ cơ cấu tổ chức của Công ty Bảo Minh Hà Nội

Hình 2.2: Quy trình khai thác BHHH&RRĐB tại Bảo Minh Hà Nội

Trang 8

LỜI MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài.

Nền kinh tế nước ta đang trong quá trình hội nhập với nền kinh tế thếgiới Cùng với sự phát triển của kinh tế, đời sống của người dân được nângcao Tất cả những điều trên kéo theo sự ra tăng nhanh chóng của các loại tàisản, các vật liệu sản xuất, nhà máy công xưởng… Điều này đồng nghĩa vớinguy cơ của các vụ hỏa hoạn xảy ra ngày càng cao.Hậu quả của các vụ hỏahoạn là rất lớn, nó có thể thiêu trụi toàn bộ tài sản của bất kì doanh nghiệp,công ty nào và hoạt động trên bất kỳ lĩnh vực gì Những vụ hỏa hoạn để lạinhững thiệt hại nặng nề, như vụ cháy Chợ Đồng Xuân vào đêm 14/7/1994 cóthiệt hại lên tới 300 tỷ đồng; ngày 15/09/2013, vụ cháy lớn ở trung tâmthương mại Hải Dương gây ra thiệt hại đặc biệt nghiêm trọng về tài sản, vớitổng thiệt hại lên đến hơn 500 tỷ đồng…

Những vụ cháy gây ra thiệt hại lớn như vậy thì các doanh nghiệp cũngnhư các hộ gia đình sẽ phải làm gì để khắc phục những tổn thất mà mình gặpphải?Các DN sẽ khắc phục hoạt động sản xuất như thế nào?Ngoài ra cònnhững thiệt hại về người cũng như ô nhiễm môi trường.Nguồn lực tài chínhnào sẽ là “cứu cánh” cho DN khi xảy ra tổn thất?Câu trả lời chính là Bảohiểm

Người dân và doanh nghiệp đều ý thức được sự nghiêm trọng của cháy,

nổ và thiệt hại do cháy, nổ gây ra nhưng không phải tổ chức cá nhân nào cũng

ý thức được tầm quan trọng của việc mua bảo hiểm cháy, nổ Chính vì vậy,

Trang 9

tuy đã được triển khai trên thị trường Việt Nam từ lâu nhưng BH cháy, nổthời gian vừa qua vẫn chưa thực sự phát triển đúng với tiềm năng.

Qua thời gian tìm hiểu thực tập thực tế tại Công ty Bảo Minh Hà Nội,

em thấy được bảo hiểm hỏa hoạn là một nghiệp vụ quan trọng của công ty,

em cũng nhận thấy được tầm quan trọng của BHHH trong đời sống hàng

ngày, em đã tìm hiểu, nghiên cứu và lựa chọn đề tài : “Hoạt động kinh doanh bảo hiểm hỏa hoạn và các rủi ro đặc biệt tại Công ty Bảo Minh Hà Nội – thực trạng và giải pháp” cho luận văn tốt nghiệp của mình.

2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Luận văn tốt nghiệp tập trung nghiên cứu công tác khai thác Bảo hiểm hỏahoạn và các rủi ro đặc biệt (BHHH&RRĐB) tại Bảo Minh Hà Nội từ năm 2013-2015

3 Mục đích nghiên cứu

Từ những vấn đề lý luận chung về hoạt động khai thác Bảo hiểm hỏahoạn và các rủi ro đặc biệt để thấy được ý nghĩa thiết thực của bảo hiểm hỏahoạn và các rủi ro đặc biệt Đồng thời thông qua việc phân tích cụ thể tìnhhình khai thác nghiệp vụ này ở Bảo Minh Hà Nội để nhằm tìm ra những mặtcòn hạn chế trong việc khai thác nghiệp vụ bảo hiểm này từ đó đưa ra nhữnggiải pháp, khuyến nghị nhằm nâng cao hiệu quả khai thác nghiệp vụBHHH&RRĐB tại Bảo Minh Hà Nội trong thời gian tiếp theo

4 Phương pháp nghiên cứu

Trang 10

- Phương pháp nghiên cứu lý luận và phương pháp nghiên cứu thực tiễn

- Một số phương pháp khác: Phương pháp phân tích, so sánh, tổng hợp

số liệu kết hợp phân tích lý luận và thực tiễn

5 Kết cấu luận văn

Ngoài phần Mục lục, Danh mục các từ viết tắt, Lời mở đầu, Kết luận vàTài liệu tham khảo, luận văn được kết cấu gồm 3 chương:

Chương I: Cơ sở lý luận về bảo hiểm hỏa hoạn và các rủi ro đặc biệt.

Chương II: Tình hình hoạt động kinh doanh bảo hiểm hỏa hoạn và các

rủi ro đặc biệt tại Công ty Bảo Minh Hà Nội giai đoạn 2013 – 2015.

Chương III: Một số giải pháp và kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả

hoạt động kinh doanh bảo hiểm hỏa hoạn và các rủi ro đặc biệt tại Công ty Bảo Minh Hà Nội

Do điều kiện thời gian, kiến thức thực tế và kinh nghiệm còn hạn chếnên chuyên đề của em không tránh khỏi những thiếu sót Em rất mong nhậnđược sự đóng góp ý kiến của thầy cô giáo và các bạn để chuyên đề thực tậpcủa em được hoàn thiện hơn

Em xin chân thành cảm ơn sự hướng dẫn nhiệt tình của PGS.TS ĐoànMinh Phụng và sự giúp đỡ nhiệt tình của các anh chị trong Công ty Bảo Minh

Hà Nội trong thời gian thực tập đã tạo điều kiện tốt nhất cho em

Trang 11

Em xin chân thành cảm ơn!!!

Hà Nội, ngày tháng năm 2016

Sinh viên

Trịnh Thị Mai Hoa

Trang 12

CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ BẢO HIỂM HỎA HOẠN VÀ CÁC RỦI

RO ĐẶC BIỆT 1.1 Tính tất yếu khách quan và vai trò của bảo hiểm hỏa hoạn và các rủi

ro đặc biệt.

1.1.1 Tính tất yếu khách quan của bảo hiểm hỏa hoạn và các RRĐB.

Từ xa xưa con người đã biết sử dụng lửa để phục vụ cho đời sống sinhhoạt hàng ngày của mình Ngày nay, lửa vẫn đóng vai trò quan trọng khôngchỉ trong đời sống hàng ngày mà còn quan trọng trong các ngành nghề củanền kinh tế.Tuy nhiên, bên cạnh những lợi ích không thể thiếu trong cuộcsống thì lửa cũng là một yếu tố mang lại rủi ro lớn cho đời sống con người

Trong nền kinh tế thị trường hiện nay, các hoạt động khai thác, đầu tư,sản xuất, kinh doanh ngày càng tăng; khối lượng hàng hóa, vật tư được luânchuyển ngày càng đa dạng, phong phú.Trong khi đó, khoa học kỹ thuật antoàn thường đi sau, nguồn vốn sử dụng cho các biện pháp an toàn thường rấtthấp so với vốn đầu tư phát triển sản xuất, thêm vào đó điều kiện tự nhiênngày càng khắc nghiệt khiến cho khả năngxảy ra rủi ro tai nạn nhiều hơn,mức độ thiệt hại về người và của nghiêm trọng hơn Trong đó có thể nói hiệnnay, cháy là một trong những nguyên nhân gây ra thiệt hại lớn Các vụ cháykhông chỉ xảy ra ở các nước có nền kinh tế chậm phát triển mà còn xảy ra ởcác nước có nền kinh tế phát triển như Anh, Pháp, Mỹ… nơi mà nên khoa họccông nghệ đã đạt đến đỉnh cao của sự hiện đại và an toàn thì cháy vẫn xảy rangày một tăng cả về số lượng và mức độ nghiêm trọng

Trang 13

Theo ước tính, mỗi năm trên thế giới xảy ra khoảng 5 triệu vụ cháy vớithiệt hại lên tới hàng trăm tỷ USD Như ở Mỹ, các vụ cháy đã gây thiệt hạikhoảng 1,5 tỷ USD mỗi năm, hay ở Anh là khoảng 1,8 tỷ USD.

Ở Việt Nam, các vụ cháy xảy ra nhiều và gây thiệt hại lớn cả về người

và tài sản Các vụ hỏa hoạn điển hình như: Vụ cháy chợ Đồng Xuân Hà Nộingày 4/7/1994 gây thiệt hại khoảng 300 tỷ đồng; Cháy tại kho xăng dầu 131Thủy Nguyên, Hải Phòng ngày 26/06/1996 do sét gây thiệt hại lên tới 31 tỷđồng Ngày 15/09/2013, cháy trung tâm thương mại Hải Dươngvới tổng thiệthại lên đến hơn 500 tỷ đồng; vụ cháy ở nhà máy Diana Bắc Ninh ngày25/10/2015 cũng có thiệt hại lớn về tài sản, với giá trị thiệt hại ước tính lên tớihơn 400 tỷ đồng

Theo thống kê của Cục Cảnh sát PCCC và cứu nạn cứu hộ (CNCH),trong năm 2014 cả nước xảy ra 2.375 vụ cháy (trong đó có 2.025 vụ cháy tạicác cơ sở, nhà dân, phương tiện giao thông và 350 vụ cháy rừng) Thiệt hại docháy gây ra làm chết 90 người, bị thương 143 người, về tài sản ước tính trị giá1.307,078 tỷ đồng và 1.352 ha rừng Theo thống kê, trong năm 2015, cả nướcxảy ra gần 2.800 vụ cháy, làm chết 62 người, bị thương 264 người, thiệt hại

về tài sản trị giá 1.498 tỷ đồng và 1.623,2 ha rừng Xảy ra 35 vụ nổ, làm chết

12 người, bị thương 41 người, thiệt hại về tài sản 896 triệu đồng So với cùng

kỳ năm 2014, số vụ cháy tăng 417 vụ; về người chết giảm 28 người Nguyênnhân các vụ cháy chủ yếu là sự cố hệ thống và thiết bị điện chiếm 51%; sơsuất trong sử dụng lửa, điện, xăng dầu, khí đốt, hóa chất chiếm 23,3%

Như vậy có thể thấy rằng thiệt hại do cháy gây ra không chỉ là đối với tàisản mà còn là tính mạng con người và cảnh quan môi trường sinh thái Do đó

Trang 14

nhất thiết cần có những biện pháp đối phó với hỏa hoạn Con người đã sửdụng nhiều các biện pháp khác nhau như các biện pháp phòng cháy chữacháy, đào tạo nâng cao trình độ kiến thức và ý thức, tuyên truyền về phòngcháy chữa cháy Tuy nhiên, phòng hỏa và bảo hiểm vẫn được coi là hai giảipháp tốt nhất để hạn chế thiệt hại do cháy gây ra và giảm bớt tổn thất.

Ngày nay khi mà công nghệ khoa học phát triển như vũ bão thì cáccông cụ PCCC cũng được cải tiến và đổi mới rất nhiều Song hành với việcphát triển khoa học công nghệ kéo theo sự phát triển kinh tế và các vật dùngmới, các ngành mới … và những nguy cơ về hiểm họa hỏa hoạn mới Đối vớicác doanh nghiệp, khi xảy ra hỏa hoạn, họ phải đối mặt với nhiều khó khăn vềmặt tài chính và thậm chí có thể bị phá sản Tuy nhiên, khi tham gia bảo hiểmhỏa hoạn, sau khi xảy ra hỏa hoạn, họ có thể nhanh chóng ổn định sản xuất vàtiếp tục kinh doanh nhờ vào khoản tiền bồi thường nhận được từ phía các nhàbảo hiểm

Có thể nói, hỏa hoạn thực sự là thảm họa đối với loài người, và mặc dùcon người đã có nhiều biện pháp hạn chế nhưng hiệu quả của các biện phápnày đem lại là không khả quan lắm Do vậy, bên cạnh việc tích cực phòngcháy chữa cháy thì bảo hiểm hỏa hoạn chính là một giải pháp hữu hiệu chomỗi cá nhân, mỗi doanh nghiệp tham gia bảo hiểm

Hiệp hội hỏa hoạn đầu tiên ra đời là ở Đức năm 1591 mang tên FeuerCasse Tại Anh, cũng có các công ty bảo hiểm lần lượt ra đời: Hand in hand(1969), Sun Fire Office (1710), Union (1714), London (1714) và hầu hết vẫnhoạt động đến nay Ở Pháp, công ty bảo hiểm hỏa hoạn đầu tiên mang tênCompany L’assuarance Centrer L’incedie Công ty bảo hiểm hỏa hoạn đầu

Trang 15

tiên ở Mỹ là công ty bảo hiểm tương hỗ có tên là The PhiladelphiaContributionship Ngày nay, xuất phát từ chính nhu cầu thực tế, nghiệp vụbảo hiểm hỏa hoạn hầu hết đã được tiến hành ở mọi nước trên thế giới.

Tại Việt Nam, nghiệp vụ bảo hiểm hỏa hoan chính thức được triển khaitheo quyết định số 06/TCQĐ ngày 17/01/1989 Ngày 02/05/1991, Bộ Tàichính đã ra quyết định số 142/TCQĐ ban hành quy tắc và biểu phí mới Ngày12/04/1993, Bộ Tài chính ra quyết định số 212/TCQĐ ban hành biểu phí bảohiểm hỏa hoạn và các rủi ro đặc biệt với mức phí tối đa để thay cho biểu phíbảo hiểm hỏa hoạn theo quyết định số 142/TCQĐ

Năm 1989, sau khi Bảo Việt triển khai nghiệp vụ bảo hiểm hỏa hoạn thìđến năm 1994, 1995 hàng loạt các công ty khác ra đời như: Bảo Minh,Pijico cũng đã triển khai nghiệp vụ bảo hiểm này Những năm đầu mới triểnkhai nghiệp vụ này các công ty bảo hiểm còn non trẻ, gặp nhiều khó khăn vànghiệp vụ này chưa thực sự phát triển Sau một thời gian triển khai, nghiệp vụbảo hiểm hỏa hoạn ngày càng phát triển Xét về con số tuyệt đối, năm 2005doanh thu đối với bảo hiểm hỏa hoạn và các rủi ro đặc biệt mới đạt 530 tỷđồng, thì đến năm 2012 con số này đã là 1.565 tỷ đồng Ngày càng có nhiềucông ty bảo hiểm tham gia cung cấp dịch vụ trong thị trường bảo hiểm hỏahoạn, các sản phẩm bảo hiểm hỏa hoạn thì ngày càng phong phú ngày càngkhẳng định được vai trò là tấm lá chắn cho các tổ chức, doanh nghiệp, cánhân tham gia bảo hiểm

Như vậy, có thể nói bảo hiểm hỏa hoạn đã dần đi vào tiềm thức củangười dân Việt Nam, đáp ứng được yêu cầu đòi hỏi tất yếu của không chỉ cácdoanh nghiệp nói riêng mà của toàn xã hội nói chung Đó cũng là cơ sở để

Trang 16

bảo hiểm hỏa hoạn ngày càng củng cố thêm vị trí của mình trong cơ cấuchung của ngành bảo hiểm phi nhân thọ Việt Nam.

1.1.2 Vai trò của bảo hiểm hỏa hoạn và các RRĐB.

Bảo hiểm là biện pháp chia sẻ rủi ro của một người hay của số một ítngười cho cả cộng đồng những người có khả năng gặp rủi ro cùng loại; bằngcách mỗi người trong cộng đồng góp một số tiền nhất định vào một quỹchung và từ quỹ chung đó bù đắp thiệt hại cho thành viên trong cộng đồngkhông may bị thiệt hại do rủi ro đó gây ra Trong khi đó hỏa hoạn là loại rủi

ro có thể xảy ra ở bất cứ đâu, bất cứ khi nào và thiệt hại do nó gây ra thườngrất lớn Nếu những tổn thất do cháy gây ra thuộc phạm vi bảo hiểm thì ngườiđược bảo hiểm (NĐBH) sẽ nhận được một khoản tiền bồi thường từ nhà bảohiểm

Việc tham gia bảo hiểm hỏa hoạn và các rủi ro đặc biệt mang lại nhiềulợi ích cho Nhà nước, cho doanh nghiệp cũng như các doanh nghiệp bảo hiểm(DNBH):

Thứ nhất,BHHH & RRĐB góp phần ổn định tài chính cho người tham gia bảo hiểm trước tổn thất do rủi ro gây ra.

Bảo hiểm hỏa hoạn và RRĐB là loại bảo hiểm áp dụng cho các đốitượng bảo hiểm là nhà cửa, công trình kiến trúc và các trang thiết bị; máy mócthiết bị; hàng hóa, vật tư và các tài sản khác Giá trị bảo hiểm thường rất lớn.Khi xảy ra rủi ro thì không chỉ là một bộ phận nhỏ mà có khi là toàn bộ tàisản của doanh nghiệp Do đó, việc tham gia bảo hiểm là điều tất yếu, giúpđảm bảo ổn định trong kinh doanh của doanh nghiệp

Trang 17

Dựa trên nguyên tắc san sẻ rủi ro, bảo hiểm hỏa hoạn mang lại cho cácdoanh nghiệp, các tổ chức sự an tâm được bảo vệ và đền bù các mất mát thiệthại đối với con người, với tài sản thuộc tổ chức đơn vị tham gia bảo hiểm

Việc tham gia Bảo hiểm hỏa hoạn cho những tài sản của mình với mộtkhoản phí có tỷ lệ không lớn, các cá nhân và doanh nghiệp sẽ nhận được camkết bồi thường từ phía các DNBH khi có rủi ro xảy ra Thông qua việc bồithường nhanh chóng, chính xác, kịp thời, bảo hiểm sẽ giúp các cá nhân vàdoanh nghiệp nhanh chóng khắc phục được hậu quả

Thứ hai, BHHH & RRĐB tạo nguồn vốn cho đầu tư tăng trưởng kinh tế.

Các cơ quan và công ty bảo hiểm thu phí bảo hiểm trước khi rủi ro và sựkiện bảo hiểm xảy ra với đối tượng bảo hiểm Điều đó cho phép họ có một sốtiền rất lớn và cần phải quản lý chặt chẽ để đảm bảo quyền lợi cho người thamgia bảo hiểm Ngoài ra, luôn có một khoảng thời gian giữa thời điểm xảy rarủi ro gây tổn thất và thời điểm chi trả hoặc bồi thường, có thể kéo dài nhiềunăm Vì vậy, với nguồn quỹ tạm thời nhàn rỗi được huy động từ sự đóng gópcủa người tham gia bảo hiểm, các DNBH sẽ sử dụng một cách hết sức linhhoạt Nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi đó sẽ được các DNBH đem vào kinhdoanh như cho vay, mua trái phiếu, đầu tư vào các dự án, tham gia vào thịtrường chứng khoán Các hoạt động kinh tế nhờ đó mà sôi động, hiệu quảhơn Như vậy, có thể nói DNBH đã tạo ra một bàn tay vô hình thúc đẩy nềnkinh tế phát triển

Thứ ba, BHHH & RRĐB đóng góp một phần cho ngân sách nhà nước.

Trang 18

Hậu quả của hỏa hoạn để lại thường rất nặng nề, số tiền để có thể khắcphục được hậu quả là rất lớn, không một tổ chức, cá nhân nào có khả nănggánh vác mà phải viện tới sự trợ giúp từ ngân sách Nhà nước Như vậy, bảohiểm hỏa hoạn góp phần giảm bớt gánh nặng cho Ngân sách Quốc gia trongviệc khắc phục hậu quả Ngoài ra Nhà nước còn thu thêm được từ các doanhnghiệp một khoản thuế bổ sung vào Ngân sách Nhà nước.

Thứ tư, BHHH & RRĐB góp phần tích cực vào công tác đề phòng hạn chế tổn thất, giúp cuộc sống của con người an toàn, xã hội trật tự hơn

Khi nghiệp vụ BHHH&RRĐB được triển khai, do là một nghiệp vụ bảohiểm nên áp dụng nguyên tắc số đông bù số ít Vì vậy để có thể xác định đượcmột tỉ lệ phí chính xác thì các DNBH phải thường xuyên tiến hành các cuộcđiều tra thu thập số liệu một cách tỉ mỉ, chính xác Và dựa vào các số liệu nàycủa DNBH, các nhà quản lý có thể nắm bắt được tình hình, xác định đượcnhững điểm nóng về cháy nổ…để từ đó chỉ đạo tốt công tác đề phòng hạn chếtổn thất Mặt khác, các DNBH muốn nghiệp vụ BHHH&RRĐB đạt được hiệuquả kinh doanh cao thì cần hạn chế được rủi ro xảy ra, để làm được điều nàythì các doanh nghiệp sẽ cung cấp cho bên tham gia bảo hiểm những biện pháphữu hiệu trong công tác đề phòng hạn chế tổn thất, tư vấn về quản lý rủi ro,tuyên truyền nâng cao ý thức của cộng đồng về công tác phòng cháy chữacháy

Thứ năm, bảo hiểm hỏa hoạn cũng góp phần thúc đẩy quan hệ kinh tế giữa các nước.

Trang 19

Thị trường bảo hiểm nội địa và thị trường bảo hiểm quốc tế có mối quan

hệ qua lại, thúc đẩy nhau phát triển thông qua hình thức tái bảo hiểm giữa cáccông ty của các nước Nhờ vậy, quan hệ kinh tế giữa các nước sẽ được pháttriển, góp phần ổn định thu chi ngoại tệ cho ngân sách

Bảo hiểm hỏa hoạn còn góp phần xuất khẩu rủi ro thông qua hoạt độngtái bảo hiểm, nhờ đó góp phần giảm gánh nặng cho các nguồn lực trong nước

do thông thường tổn thất do rủi ro hỏa hoạn gây ra là rất lớn

Với những vai trò to lớn như vậy, Bảo hiểm hỏa hoạn ra đời, tồn tại làmột tất yếu khách quan Đặc biệt ở nhiều quốc gia đã qui định loại bảo hiểmnày là bảo hiểm bắt buộc, một trong số đó là Việt Nam

1.2 Những nội dung cơ bản của nghiệp vụ bảo hiểm hỏa hoạn và rủi ro đặc biệt.

1.2.1 Một số khái niệm liên quan.

a) Cháy: là phản ứng hoá học có toả nhiệt và phát ra ánh sáng.

b) Hoả hoạn: Là cháy xảy ra không kiểm soát được ngoài nguồn lửa

chuyên dùng và gây thiệt hại cho tài sản và người xung quanh

c) Nổ: Có 2 loại nổ chính

Nổ lý học là nổ do áp suất trong một thể tích tăng lên quá cao, vỏ thểtích không chịu nổi áp lực nên bị nổ

Trang 20

Nổ hóa học là hiện tượng nổ do cháy quá nhanh gây ra Nổ hóa họcthường gây thiệt hại có tính cơ học cho môi trường xung quanh như phá hủyhay lan sang rất mạnh.

d) Đơn vị rủi ro: Là nhóm tài sản tách biệt khỏi nhóm tài sản khác với

khoảng cách không cho phép lửa từ nhóm này lan sang nhóm khác, tuy nhiênkhoảng cách gần nhất không dưới 12m Mục đích của quy định này là để xácđịnh vị trí, quy vùng trách nhiệm bồi thường Chỉ có những tài sản nằm trongkhu vực đó mới được bồi thường khi có rủi ro xảy ra, và đã được người sởhữu hay quản lý tài sản đó tham gia mua bảo hiểm Tài sản: bao gồm tất cảcác loại tài sản trừ những loại tài sản bị thiệt hại do những rủi ro loại trừ Tàisản ở đây phải là tài sản thuộc quyền sử dụng hay quyền quản lý của ngườiđược bảo hiểm ghi trên giấy bảo hiểm Đồng thời tài sản đó phải nằm trongphạm vi bảo hiểm

e) Những rủi ro đặc biệt: Là các rủi ro nổ, động đất, núi lửa, giông bão,

lũ lụt… mà người được bảo hiểm chọn trong số những rủi ro liệt kê trong bảnphụ lục kèm theo quy tắc và phải được người bảo hiểm chấp nhận và xácnhận trong đơn bảo hiểm

f)Tổn thất toàn bộ

Tổn thất toàn bộ thực tế: Tài sản được bảo hiểm bị phá huỷ hoàn toàn

hoặc hư hỏng nghiêm trọng đến mức không thể phục hồi lại trạng thái banđầu

Trang 21

Tổn thất toàn bộ ước tính: Tài sản được bảo hiểm bị phá huỷ hoặc hư

hỏng đến mức nếu sửa chữa, phục hồi thì chi phí sửa chữa, phục hồi bằnghoặc lớn hơn số tiền bảo hiểm

g) Mức miễn bồi thường: là số tiền tổn thất mà người được bảo hiểm tự

gánh chịu cho mỗi vụ hoặc mọi tổn thất Nếu thiệt hại do tổn thất gây ra nhỏhơn mức miễn bồi thường này thì công ty bảo hiểm sẽ không phải chịu tráchnhiệm bồi thường cho người được bảo hiểm

h) Số tiền bảo hiểm: Là giá trị tài sản được công ty bảo hiểm chấp nhận bảo hiểm ghi trong Giấy chứng nhận bảo hiểm Trong mọi trường hợp, đó là giới hạn

trách nhiệm tối đa của công ty bảo hiểm đối với tài sản được bảo hiểm bị thiệt hại

1.2.2 Đối tượng bảo hiểm.

Đối tượng bảo hiểm cháy và các rủi ro đặc biệt bao gồm các tài sản làbất động sản, động sản (trừ phương tiện giao thông, vật nuôi, cây trồng và tàisản đang trong quá trình xây dựng - lắp đặt thuộc loại hình bảo hiểm khác)thuộc quyền sở hữu và quản lý hợp pháp của các đơn vị, các tổ chức, cá nhânthuộc mọi thành phần kinh tế

Cụ thể đối tượng bảo hiểm bao gồm:

- Công trình xây dựng, vật kiến trúc đã đưa vào sử dụng (trừ đất đai)

- Các máy móc, thiết bị, phương tiện lao động phục vụ sản xuất kinhdoanh

Trang 22

- Sản phẩm vật tư, hàng hóa dự trữ trong kho.

- Nguyên vật liệu, sản phẩm làm dở, thành phẩm trên dây chuyền sảnxuất

- Các loại tài sản khác như: kho, bãi, chợ, cửa hàng, khách sạn

Việc phân loại này nhằm mục đích xác định phí bảo hiểm cho chính xác

và dễ dàng hơn; làm cho công tác đánh giá và quản lý rủi ro có lợi hơn, làmcho công tác giám định và bồi thường chuẩn xác hơn, hạn chế tối đa sự khiếunại bồi thường không cần thiết

Nghị định 35/2003/NĐ-CP ngày 4/4/2003 của Chính phủ đã đưa ra danhmục cơ sở có nguy hiểm về cháy, nổ là những đối tượng bắt buộc phải tham

gia bảo hiểm Cháy, nổ ( Phụ lục 1)

1.2.3 Phạm vi bảo hiểm.

Phạm vi bảo hiểm là giới hạn những rủi ro được bảo hiểm và giới hạntrách nhiệm của nhà bảo hiểm đối với người tham gia bảo hiểm TrongBHHH&RRĐB, ngoài việc bảo hiểm cho các tổn thất trực tiếp gây ra bởi cácrủi ro được bảo hiểm, DNBH còn mở rộng cho những chi phí hợp lý như sau:

- Những thiệt hại do những rủi ro được bảo hiểm gây ra cho tài sản đượcbảo hiểm ghi trong Giấy chứng nhận bảo hiểm

- Chi phí cần thiết và hợp lý nhằm hạn chế tổn thất tài sản được bảo hiểmtrong và sau khi cháy: Chi phí chữa cháy, chị phí trả cho Giám định viên

Trang 23

- Chi phí thu dọn hiện trường sau khi cháy.

Các rủi ro được bảo hiểm và rủi ro loại trừ trong bảo hiểm hỏa hoạn và

các rủi ro đặc biệt (Phụ lục 2)

Thời hạn bảo hiểm của BHHH&RRĐB thường là 12 tháng Trong từngtrường hợp cụ thể, thời hạn bảo hiểm có thể linh động ngắn hạn, dài hạn theoyêu cầu của NĐBH với sự chấp thuận của DNBH

1.2.4 Giá trị bảo hiểm và số tiền bảo hiểm.

a, Giá trị bảo hiểm

GTBH là giá trị thực tế hoặc giá trị mua mới của tài sản được bảo hiểm

Có nghĩa là đối với các tài sản mới mua chưa qua sử dụng, thì GTBH của tàisản đó chính là giá trị mua mới của tài sản đó trên thị trường Còn đối với cáctài sản đã đi vào sử dụng thì GTBH của nó được tính bằng giá trị thực tế haygiá trị còn lại của tài sản đó tại thời điểm tham gia bảo hiểm

Giá trị thực tế = Giá trị mua mới ( Nguyên giá) – Hao mòn

Những tài sản tham gia loại bảo hiểm này thường có giá trị rất lớn, như:các công trình lớn, nhà cửa, nhà máy, xí nghiệp, phương tiện vận tải, hànghóa trong kho…

- Đối với nhà cửa, vật kiến trúc GTBH được xác định theo giá trị muamới hoặc giá trị còn lại

Trang 24

+ Giá trị mới là giá trị là giá trị ban đầu khi đưa những loại TS này vào

sử dụng (giá trị mới xây của ngôi nhà) bao gồm cả chi phí khảo sát thiết kế

+ Giá trị còn lại là giá trị mua mới trừ đi hao mòn đã sử dụng theo thờigian (đối với TS đã qua sử dụng)

- Đối với máy móc, thiết bị và các loại TS cố định khác: GTBH được xácđịnh trên cơ sở giá trị mua mới cộng chi phí chuyên chở lắp đặt (nếu có) hoặcgiá trị còn lại

- Đối với thành phẩm, bán thành phẩm, GTBH được xác định trên cơ sởgiá thành sản xuất

- Đối với hàng hóa mua về để trong kho, để trong cửa hàng GTBH đượcxác định theo giá trị bình quân hoặc giá trị tối đa của các loại hàng hoá có mặttrong thời gian bảo hiểm

NĐBH có thể yêu cầu DNBH bảo hiểm cho tài sản của mình mà khôngtính khấu hao Khi đó phí bảo hiểm sẽ cao hơn Thông thường đối với nhữngtài sản có thời hạn sử dụng dưới 5 năm và có thời gian khấu hao dài mới đượctham gia bảo hiểm không khấu hao

b) Số tiền bảo hiểm (STBH)

Trong bảo hiểm hỏa hoạn, thuật ngữ STBH được sử dụng phổ biến bởi

vì có rất nhiều loại tài sản biến động liên tục thường xuyên cho nên phải dùng

Trang 25

thuật ngữ STBH mới thể hiện được STBH là giới hạn bồi thường tối đa củaNĐBH trong trường hợp tài sản được bảo hiểm bị tổn thất toàn bộ

STBH tối thiểu là giá trị tính thành tiền theo giá thị trường của tài sản tạithời điểm tham gia bảo hiểm và được ghi trong Giấy chứng nhận/HĐBH

Trường hợp số lượng tài sản thường xuyên tăng giảm thì STBH có thểđược xác định theo giá trị trung bình hoặc giá trị tối đa theo thoả thuận củaDNBH và bên mua bảo hiểm Cụ thể như sau:

- Giá trị trung bình là số tiền được bên mua bảo hiểm ước tính và thôngbáo cho DNBH về giá trị trung bình của tài sản trong thời hạn bảo hiểm

- Giá trị tối đa là số tiền được bên mua bảo hiểm ước tính và thông báocho DNBH giá trị tối đa của tài sản có thể đạt được vào một thời điểm nào đótrong thời hạn bảo hiểm Tùy theo thỏa thuận, đầu mỗi tháng hoặc quý, bênmua bảo hiểm thông báo cho DNBH giá trị tối đa của tài sản được bảo hiểmtrong tháng hoặc quý trước đó

Trường hợp không xác định được giá thị trường của tài sản thì STBH cóthể được xác định theo những cơ sở sau:

- Tài sản mới sử dụng trong thời hạn dưới 05 năm: Áp dụng giá trị thaythế mới cùng với Điều khoản đồng bảo hiểm 85%

- Áp dụng theo sổ sách kế toán của NĐBH Tuy nhiên, cần tư vấn kỹ chokhách hàng tránh tình trạng bảo hiểm dưới giá trị

Trang 26

Trong trường hợp tài sản tham gia bảo hiểm đã hết khấu hao theo sổ sáchhoặc không xác định được giá trị thị trường còn lại thì STBH có thể được cácbên thoả thuận.

Trang 27

1.2.5 Phí bảo hiểm.

Bảo hiểm là một sản phẩm dịch vụ, và được trao đổi mua bán trên thịtrường, bên bán là nhà bảo hiểm còn bên mua là người tham gia, khi nhà bảohiểm chấp nhận bảo hiểm thì bên tham gia sẽ phải trả một khoản phí bảohiểm, và phí bảo hiểm chính là giá cả của dịch vụ bảo hiểm Chính vì phí bảohiểm là giá cả của sản phẩm dịch vụ bảo hiểm nên việc tính toán giá cả mộtcách chính xác, đảm bảo công bằng cho cả hai bên là rất cần thiết cho sự hoạtđộng của thị trường BHHH&RRĐB có đối tượng là tài sản rất đa dạng vềchủng loại, giá trị và mức độ rủi ro của mỗi loại tài sản khác nhau do đó phíbảo hiểm cũng khác nhau Vì thế, việc tính toán mức phí bảo hiểm vừa phải,phù hợp với yêu cầu và khả năng của khách hàng, vừa đảm bảo hoạt độngkinh doanh cho DNBH là không đơn giản

Cách xác định phí bảo hiểm trong bảo hiểm hỏa hoạn và các rủi ro đặc

biệt (Phụ lục 3)

Thời gian nộp phí sẽ do hai bên thoả thuận nhưng thông thường trongnghiệp vụ BHHH&RRĐB thì bên tham gia sẽ tiến hành nộp phí bảo hiểmngay sau khi ký kết HĐBH, và nhà bảo hiểm sẽ trích lại một phần cho côngtác đề phòng hạn chế tổn thất

1.3 Quy trình khai thác bảo hiểm hỏa hoạn và rủi ro đặc biệt.

1.3.1 Lập kế hoạch, tiếp cận khách hàng.

Đối với bất kỳ một doanh nghiệp nào hoạt động tìm kiếm khách hàng làhoạt động không thể thiếu được Do đó, bước đầu tiên trong quy trình khaithác bảo hiểm là cần phải lập ra một kế hoạch để tìm kiếm khách hàng, hướng

Trang 28

tới những từng nhóm khách hàng mục tiêu riêng của từng nghiệp vụ bảohiểm Vì vậy khi lập ra kế hoạch khai thác một nghiệp vụ bảo hiểm, cần chútrọng đến các vấn đề sau:

 Quan tâm đến những đối tượng có thể trở thành khách hàng của Công ty.

Mỗi sản phẩm bảo hiểm có một đặc tính riêng, phù hợp với từng nhómkhách hàng khác nhau Vì vậy cần phải nghiên cứu đặc điểm các nhóm kháchhàng, so sánh với khả nǎng đáp ứng của doanh nghiệp và quyết định chọnnhóm khách hàng mục tiêu để lập kế hoạch chinh phục

 Quan tâm tới những khách hàng có quan hệ rộng

Doanh nghiệp cần quan tâm đến những người mới được thǎng chức,những người đã giành được các giải thưởng, những người đã mới mở tiệmkinh doanh, hoặc những người theo bất kì cách nào có thể sẽ trở thành kháchhàng tiềm nǎng Nếu doanh nghiệp khiến những người trên trở thành kháchhàng của mình, doanh nghiệp sẽ được biết đến nhiều hơn

 Chú ý đến các sự kiện

Tham gia các cuộc mít tinh hay các cuộc hội thảo mà các khách hàng tươnglai của doanh nghiệp có lẽ sẽ tham dự Khách hàng tương lai biết đến sản phẩm,dịch vụ của doanh nghiệp bằng nhiều cách khác nhau và từ nhiều nguồn khácnhau

 Dùng quảng cáo nhỏ thay vì những quảng cáo lớn

Trang 29

Đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ lập kế hoạch vung tiền qua cửa sổbằng một quảng cáo lớn là một điều không hoàn toàn cần thiết Tốt hơn hãyxây dựng kế hoạch quảng cáo nhỏ để sử dụng trong thời gian dài Sự nhắc lại

sẽ làm cho tên tuổi của doanh nghiệp trở nên quen thuộc Khiến cho nhữngkhách hàng có tiềm năng có thể nhớ và tham gia vào các sản phẩm bảo hiểm

mà công ty cung cấp

1.3.2 Xác định biện pháp khai thác.

Khi đã lập ra một kế hoạch khai thác bảo hiểm hợp lý, bước thực hiệnkhai thác sẽ được các chuyên viên khai thác bảo hiểm thực hiện Nhiệm vụcủa chuyên viên khai thác bảo hiểm là:

- Tư vấn cho khách hàng hiểu họ đang có các nguy cơ gặp phải nhữngrủi ro nào, từ đó giới thiệu cho khách hàng sản phẩm bảo hiểm họ cần

- Đánh giá mỗi rủi ro của từng đơn vị rủi ro khác nhau

- Quyết định chấp nhận hay không chấp nhận rủi ro và chấp nhận rủi ro

đó tới mức nào

- Xác định các điều khoản, điều kiện và phạm vi bảo hiểm

- Tính toán mức phí bảo hiểm thích hợp

1.3.3 Đánh giá rủi ro.

Phần đánh giá rủi ro sẽ được thực hiện bởi giám định viên cùng vớichuyên viên khai thác bảo hiểm

Trang 30

Giám định viên sẽ chuẩn bị biên bản giám định Biên bản sẽ bao gồmcác nội dung sau đây:

- Miêu tả đầy đủ về rủi ro: Phần này có thể bao gồm sơ đồ của các cơ sởtrong trường hợp có rủi ro tài sản, tính chất của công việc được thực hiện ởcác cơ sở này, những chi tiết về vấn đề bảo vệ đối tượng bảo hiểm, như: hệthống phòng cháy chữa cháy, hệ thống chống trộm

- Đánh giá mức độ rủi ro:Giám định viên có thể nhận xét về tài sản xungquanh, như trong trường hợp bảo hiểm hỏa hoạn Điều này có thể ảnh hưởngtới mức độ rủi ro

- Xác định mức độ tổn thất lớn nhất có thể xảy ra: Tổn thất có thể xảy rachính là tổn thất tối đa của đối tượng được bảo hiểm theo đánh giá của giámđịnh viên

- Ngăn ngừa tổn thất: Giám định viên sẽ thông báo cho NĐBH nhữngbước cần thiết phải thực hiện để phòng ngừa rủi ro Trong một số trường hợp,những đề nghị này được trình bày dưới hình thức yêu cầu mà NĐBH phảithực hiện nếu muốn được bảo hiểm

- Bảo hiểm đủ giá trị: Giám định viên sẽ đưa ra một con số thẩm địnhchính xác về GTBH Trong mọi trường hợp, NĐBH có trách nhiệm đảm bảorằng mình đã mua bảo hiểm đủ giá trị mong muốn, tuy nhiên STBH mongmuốn không thể vượt quá GTBH Và NĐBH có thể tham khảo ý kiến của môigiới bảo hiểm hoặc của một chuyên gia khác về vấn đề này Sau đó NĐBHthống nhất với DNBH về STBH

Trang 31

- Giả sử rủi ro được chấp nhận bảo hiểm, và việc quyết định chấp nhậnrủi ro ở mức nào và STBH bao nhiêu còn phụ thuộc vào khả năng tài chínhcủa DNBH Công ty bảo hiểm sẽ đưa ra một giới hạn nào đó cho một rủi ro cụthể phù hợp với khả năng của công ty bảo hiểm cũng như khả năng tái bảohiểm

1.3.4 Đưa ra các biện pháp hỗ trợ.

Nhiệm vụ cơ bản của một chuyên viên khai thác bảo hiểm là phải đánhgiá nguy cơ có liên quan tới rủi ro được yêu cầu bảo hiểm Đối với nhữngtrường hợp đơn bảo hiểm có giá trị nhỏ, chuyên viên khai thác bảo hiểm cóthể thực hiện nhiệm vụ trên thông qua nghiên cứu đơn yêu cầu bảo hiểm vàtrao đổi thư từ với người yêu cầu bảo hiểm Có thể công ty bảo hiểm sẽ cửmột nhân viên bán bảo hiểm tại địa phương tới địa điểm yêu cầu bảo hiểm đểđánh giá đối tượng bảo hiểm Tuy nhiên, điều này không thể áp dụng đượcvới các trường hợp đơn bảo hiểm có giá trị lớn và phức tạp Bởi vì, các chitiết về rủi ro không chỉ giới hạn trong một đơn yêu cầu bảo hiểm

Đây là lúc cần tới sự giúp đỡ của môi giới bảo hiểm Đối với nhữngtrường hợp đơn bảo hiểm có giá trị lớn, công ty môi giới sẽ đại diện choNĐBH đảm đương nhiệm vụ chuẩn bị hồ sơ cho chuyên viên khai thác bảohiểm Điều này có nghĩa là môi giới bảo hiểm sẽ thực hiện kiểm tra tại chỗcũng như chuẩn bị các hồ sơ và biên bản giám định về những vấn đề liên quanđến các khía cạnh khác của rủi ro Tài liệu này có thể rất đầy đủ và sẽ đượcchuyển cho chuyên viên khai thác bảo hiểm để tiến hành thương thuyết về cácđiều khoản, điều kiện, phạm vi bảo hiểm và phí bảo hiểm

Trang 32

1.3.5 Đánh giá rút kinh nghiệm.

Bảo hiểm là một ngành dịch vụ, do đó quan tâm chăm sóc khách hàng làmột nhiệm vụ không thể thiếu của các DNBH Biết được mức độ thỏa mãncủa khách hàng, nhu cầu cụ thể của họ sẽ giúp DNBH xem xét xem kế hoạchkhai thác bảo hiểm của mình đã hoàn thiện chưa, hay còn những thiếu sót gìcần sửa chữa để dần dần hoàn thiện và nâng cao hiệu quả khai thác bảo hiểm.Sau khi kí hợp đồng bảo hiểm, các DNBH cần thực hiện tốt việc quan tâmchăm sóc khách hàng như: thường xuyên hỏi thăm về tình hình hoạt động củakhách hàng, tình hình của các tài sản được bảo hiểm,

Trang 33

CHƯƠNG II: TÌNH HÌNH HOẠT ĐỘNG KINH DOANH BẢO HIỂM HỎA

HOẠN VÀ RỦI RO ĐẶC BIỆT TẠI CÔNG TY BẢO MINH HÀ NỘI GIAI

ĐOẠN 2013-2015 2.1 Vài nét về Công ty Bảo Minh Hà Nội.

2.1.1 Vài nét về Tổng Công ty Cổ phần Bảo Minh.

Công ty Bảo hiểm Thành phố Hồ Chí Minh (Bảo Minh) được thành lậptheo quyết định số 1164TC/TCCB ngày 28/11/1994 và được phép hoạt độngtheo giấy chứng nhận đủ tiêu chuẩn và điều kiện hoạt động kinh doanh bảohiểm số 04TC/GCN ngày 20/12/1994 của Bộ Tài chính với 100% vốn Nhànước trực thuộc Bộ Tài chính

Ngày 08/09/2004 Bộ Tài chính đã có quyết định số 27GP/KDBH vềviệc thành lập Tổng Công ty Cổ phần Bảo Minh dưới hình thức chuyển đổiCông ty bảo hiểm Thành phố Hồ Chí Minh từ doanh nghiệp Nhà nước thànhTổng Công ty Cổ phần Tổng Công ty Cổ phần Bảo Minh chính thức đi vàohoạt động kinh doanh theo mô hình công ty cổ phần ngày 01/10/2004.

Tổng Công ty Cổ phân Bảo Minh được ký quyết định thành lập với vốnđiều lệ là 1.100 tỷ đồng ; Vốn thực góp tính đến thời điểm 31/12/2015 là830,5 tỷ đồng Trong đó, Nhà nước chiếm 50,7% nhưng đến tháng 10/2015,Nhà nước đã có văn bản chấp nhận chủ trương thoái toàn bộ vốn nhà nước tạiTổng Công ty Cổ phần Bảo Minh Hiện tại, Bảo Minh có hai cổ đông nướcngoài lớn là Tập đoàn Tài chính Bảo hiểm AXA (Pháp) nắm giữ 16,65% vốnđiều lệ và Công ty TNHH Firstland (Hong Kong) nắm giữ 5,63 vốn điều lệ

Trang 34

Trong những năm qua, thị phần doanh thu của Bảo Minh luôn trong vịtrí Top 3 của thị trường bảo hiểm phi nhân thọ.

Biểu đồ 2.1: Thị phần doanh thu phí bảo hiểm theo doanh nghiệp năm 2013

(Nguồn: Cục quản lý và giám sát bảo hiểm)

Biểu đồ 2.2: Thị phần doanh thu phí bảo hiểm theo doanh nghiệp năm

2014

Trang 35

(Nguồn: Cục quản lý và giám sát bảo hiểm)

Trang 36

Biểu đồ 2.3: Thị phần doanh thu phí bảo hiểm theo doanh nghiệp năm 2015

(Nguồn: Cục quản lý và giám sát bảo hiểm)

2.1.2 Quá trình hình thành và phát triển Công ty Bảo Minh Hà Nội

- Địa chỉ: Số 10 Phan Huy Chú, P Phan Chu Trinh, Q Hoàn Kiếm, TP.Hà

Trang 37

Chi nhánh Bảo Minh Hà Nội được khai chương và đi vào hoạt độngchính thức từ 06/1995, Bảo Minh Hà Nội đã đóng góp một phần không nhỏvào sự phát triển chung của toàn Tổng Công ty và từ tháng 10/2004 cùng vớiviệc cổ phần hóa Tổng Công ty Bảo Minh, Bảo Minh Hà Nội là chi nhánh củaTổng Công ty Từ tháng 06/1005 đến tháng 06/2006, Công ty Bảo Minh HàNội hoạt động độc quyền trên địa bàn Hà Nội cho đến tháng 06/2006 thì BảoMinh Thăng Long ra đời trên cơ sở một bộ phận cán bộ thuộc Bảo Minh HàNội chuyển sang nhằm thúc đẩy quá trình kinh doanh của Bảo Minh trên địabàn Hà Nội.

Bảo Minh Hà Nội hiện cung cấp cho thị trường hơn 100 sản phẩm bảohiểm các loại, áp dụng cho mọi đối tượng bảo hiểm, đáp ứng đầy đủ nhu cầucủa các cá nhân và tổ chức Các sản phẩm tập trung vào 8 nhóm nghiệp vụ bảohiểm sau:

- Bảo hiểm con người

- Bảo hiểm xe cơ giới

- Bảo hiểm tài sản kĩ thuật

- Bảo hiểm trách nhiệm

- Bảo hiểm hàng hải

- Bảo hiểm hàng hóa vận chuyển

Trang 38

- Bảo hiểm hàng không

- Bảo hiểm nông nghiệp

Công ty Bảo Minh Hà Nội triển khai tất cả các lĩnh vực bảo hiểm màTổng Công ty Cổ phần Bảo Minh được phép triển khai Trong những nămqua, Bảo Minh Hà Nội luôn đạt được kết quả kinh doanh tốt, tăng trưởng cao

Trang 39

2.1.3 Cơ cấu tổ chức.

Hình 2.3: Sơ đồ cơ cấu tổ chức của Công ty Bảo Minh Hà Nội

(Nguồn: Bảo Minh Hà Nội)

+ Ban Giám Đốc bao gồm 01 giám đốc và 02 phó giám đốc

+ Các phòng quản lý bao gồm: Phòng Tổng hợp và phòng Tài chính kế

toán

+ Các phòng nghiệp vụ bao gồm: Phòng bảo hiểm Xe – Con người,

phòng bảo hiểm Hàng hải, và phòng bảo hiểm Tài sản – Kĩ thuật

Giám

đ c ốc

Phó Giám

đ c ốc

P k ế toán

P

hành chính

Trang 40

+ Các phòng khai thác bảo hiểm bao gồm 06 phòng: Phòng khai thác số

2, phòng khai thác số 4, phòng khai thác số 5, phòng khai thác số 6, phòngkhai thác số 7, phòng khai thác số 8

2.1.4 Chức năng, nhiệm vụ của các phòng ban.

- Phòng Tổng hợp: Chịu trách nhiệm về các mặt hành chính, quản trị, lễ

tân, tổ chức nhân sự, lao động tiền lương, thi đua, khen thưởng, tuyên truyền,quảng cáo và quản lí đại lí

- Phòng Tài chính Kế toán: Chịu trách nhiệm tổ chức thực hiện cáccông tác liên quan đến tài chính, kế toán, hạch toán kế toán theo đúng quyđịnh của Nhà nước, của Tổng công ty và phù hợp với hoạt động kinh doanhcủa công ty, tham mưu cho ban giám đốc trong lĩnh vực tài chính kế toán, tổchức nhập dữ liệu, khai thác chương trình hỗ trợ quản lí đại lí

- Phòng bảo hiểm Xe cơ giới: Chịu trách nhiệm quản lí nghiệp vụ, chỉđạo hướng dẫn kinh doanh nghiệp vụ bảo hiểm Xe cơ giới trong phạm vi toàncông ty Tổ chức kinh doanh nghiệp vụ bảo hiểm theo phân cấp của công ty,giám định, bồi thường và trả tiền bồi thường các nghiệp vụ bảo hiểm theophân cấp của công ty, quản lí hệ thống đại lí hoạt động tại phòng

- Phòng bảo hiểm Con người: Có nhiệm vụ quản lí nghiệp vụ, chỉ đạo

và hướng dẫn thực hiện kinh doanh nghiệp vụ Bảo hiểm Con người trongphạm vi toàn công ty Tổ chức kinh doanh các nghiệp vụ bảo hiểm theo phâncấp của công ty Giám định bồi thường, trả tiền bồi thường các nghiệp vụ bảohiểm theo phân cấp của công ty và quản lí hệ thống đại lí hoạt động tạiphòng

Ngày đăng: 21/05/2019, 21:30

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. PGS.,TS. Đoàn Minh Phụng ( chủ biên) ( 2010), “ Giáo trình Bảo hiểm phi nhân thọ”, Nhà xuất bản Tài chính Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trìnhBảo hiểm phi nhân thọ
Nhà XB: Nhà xuất bản Tài chính
2. Báo cáo tổng kết kinh doanh Bảo Minh Hà Nội 2013, 2014, 2015 Khác
3. Quyết định số 142/TCQĐ ngày 02/05/1991 của Bộ Tài chính Khác
4. Thông tư 220/2010/TT-BTC ngày 30/12/2010 của Bộ Tài chính Khác
5. Các tạp chí Bảo hiểm, Tài chính, Kinh tế Khác
6. Các tài liệu từ Bảo Minh Hà Nội Khác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w