Kiến thức: - Cảm nhận được cái sầu của “cái tôi” cô đơn trước thiên nhiên mênh mông hiu quạnh, trong đó thắm đượm cả nỗi sầu nhân thế và tấm lòng yêu nước thầm kín của thi sĩ Huy Cận.. N
Trang 1GIÁO ÁN NGỮ VĂN LỚP 11
TRÀNG GIANG HUY CẬN
A MỤC TIÊU BÀI HỌC:
1 Kiến thức:
- Cảm nhận được cái sầu của “cái tôi” cô đơn trước thiên nhiên mênh mông hiu quạnh, trong đó thắm đượm cả nỗi sầu nhân thế và tấm lòng yêu nước thầm kín của thi sĩ Huy Cận
- Cảm nhận được vẻ đẹp cổ điển trong một bài thơ mới
2 Kĩ năng:
- Đọc – hiểu một bài thơ trữ tình theo đặc trưng thể loại
- Phân tích, bình giảng tác phẩm trữ tình
3 Thái độ:
- Hiểu và thông cảm tâm trạng cô đơn của thi sĩ
- Giáo dục tinh thần yêu quê hương đất nước
- Giáo viện: SGK, SGV, bài giảng, tư liệu về Huy Cận
- Học sinh: SGK, bài soạn
Trang 2D CÁC HOẠT ĐỘNG DẠY – HỌC:
1 Ổn định lớp
2 Kiểm tra bài cũ
3 Giới thiệu bài mới: Dù đã hơn nữa thế kỉ trôi xa, nhưng trên thi
đàn dân tộc vẫn phảng phất dư vị ngọt ngào của phong trào Thơ mới Nổi bật lên trên nền trời nghệ thuật ấy là hồn thơ Huy Cận với tập thơ "Lửa thiêng" thể hiện tâm thế thời đại mang nỗi sầu nhân thế, nỗi buồn của người dân mất nước Đây là tập thơ hay toàn bích, nhuần nhị, đằm thắm, hài hoà Đông - Tây, kim - cổ, kết tinh nhiều giá trị văn hoá truyền thống, mà “Tràng giang” là một trong những thi phẩm xuất sắc
NỘI DUNG LƯU BẢNG
HOẠT ĐỘNG 1: TÌM HIỂU CHUNG.
- Mục tiêu: Tìm hiểu những nét cơ bản về cuộc
đời, sự nghiệp của tác giả Huy Cận; nắm được
xuất xứ, hoàn cảnh sáng tác, đại ý của bài thơ
1 TÁC GIẢ:
- Huy Cận sinh ngày
Trang 3ở làng Ân Phú tỉnh Hà Tĩnh.
- Lúc nhỏ, ông học ở
quê, sau vào Huế học trung học, rồi ra Hà Nội học trường Cao đẳng Canh nông
- Từ năm 1942, thi sĩ
giác ngộ cách mạng, dốc hết tài sức phục vụ cách mạng, từng giữ nhiều cương vị quan trọng trong
bộ máy chính trị Nhà nước
- Huy Cận mất ngày
19 tháng 2 năm 2005 tại HàNội Ngày 23 tháng 2 năm
2005, ông được Nhà nước truy tặng Huân chương Sao Vàng
- Trước CMT8, thơ
ông mang nỗi buồn nhân thế; sau CMT8, thế giới nghệ thuật Huy Cận vừa
Quê hương và gia đình là một trong những cái nôi nuôi lớn hồn thơ Huy Cận.Nếu cái gốc nho giáo
là tố chất cổ điển làm nên phong cách độc đáo của thi sĩ, thì làng
Ân Phú với vẻ đẹp buồn bã của thiên nhiên đất nước nơi đây đã đểlại dấu ấn khá sâu đậm trong thơ Huy Cận bằng điệu buồn ảo não vùng sơn cước
- Con người: Huy Cận là một
công dân Việt Nam yêu nước nồng nàn, mặc dù ông am hiểu
Trang 4nhiều nền văn minh, văn hoá và tiếp nhận nhiều nguồn ảnh hưởng nhưng cái gốc tâm hồn, cái gốc hồn thơ Huy Cận vẫn là ngọn nguồn văn hoá dân tộc Việt Nam
Ở Huy Cận có sự thống nhất hài hoà của nhiều phẩm chất, năng lựcnhư là đối cực Ông có tầm nhìn chiến lược và tính cẩn trọng của một nhà lãnh đạo nhưng cũng rất tinh tế, đa cảm, lãng mạn và đam
mê của một thi sĩ tài hoa Ông là người uyên bác, hiểu biết sâu sắc nhiều lĩnh vực: Triết học, tôn giáo,chính trị, kinh tế, văn hoá nhưng vẫn không quên những việc đời thường Ông quan tâm tới những người thân đến từng việc nhỏ
- Cuộc đời: Huy Cận thuở nhỏ
học trường làng, trung học ở Huế;
đến 1939 ra Hà Nội học trường Cao Đẳng canh nông, và 1943 tốt nghiệp kỹ sư canh nông Tham giaphong trào Việt minh từ năm
1942, và từ 1945 đến ngày nay liên tục giữ các chức hàm Thứ
giàu cảm xúc tươi mới của cuộc đời vừa mang đậm nộidung triết lý về sự sống bất diệt, về tình yêu đất nước,
về sức mạnh nhân dân và vẻđẹp tâm hồn dân tộc Việt Nam
- Sự nghiệp sáng tác
của ông bao gồm những tác phẩm chính sau: Lửa thiêng(1941), Vũ trụ
ca(1942),Trời mỗi ngày lại sáng, Đất nở hoa (1960),Bài thơ cuộc đời (1963) Những năm sáu mươi (1968), Cô gái Mèo (1972), Chiến trường gần chiến trường xa (1973), Những người mẹ những người vợNgày hằng sống ngày hằng thơ (1975), Ngôi nhà giữa nắng (1978), …
Trang 5trưởng, hoặc Bộ trưởng, đặc trách văn hoá văn nghệ.
Trước CMT8: thơ Huy
Cận mang nỗi buồn nhân thế, nỗi buồn của người dân mất nước ý thức sâu sắc về cảnh ngộ non sông
và thân phận con người Yêu đời
và đau đời như là âm bản và dươngbản trong tâm hồn Huy Cận
Sau CMT8: Thơ Huy Cận
vừa giàu cảm xúc tươi mới của cuộc đời vừa mang đậm nội dung triết lý về sự sống bất diệt, về tình yêu đất nước, về sức mạnh nhân dân và vẻ đẹp tâm hồn dân tộc ViệtNam
Thơ đối với Huy Cận là phương tiện màu nhiệm để giao
Trang 6hoà, giao cảm với đất trời, với lòngngười, là chiếc võng tâm tình giữa tâm hồn mình với bao tâm hồn khác Tình yêu đất nước, tình yêu thiên nhiên, tình yêu văn hoá dân tộc đã nâng cánh thơ ông và nhờ thế ông gặp gỡ vẻ đẹp nhân bản của thơ ca nhân loại.
Thơ Huy Cận rất nhiều không gian Tâm hồn nhà thơ lúc nào cũng hướng tới sông dài trời rộng
để thoát khỏi không gian chật chội
2 TÁC PHẨM:
Trang 7- Theo tác giả, bài thơ được viếtvào một buổi chiều mùa thu năm 1939.
Cảm xúc của bài thơ được khơi gợi chủ yếu từ cảnh sông Hồng mênh mang sông nước
Bài thơ là nỗi buồn cô đơn trước vũ trụ rộng lớn, nỗi sầu nhânthế, niềm khát khao hòa nhập với cuộc đời thể hiện tình cảm đối với quê hương đất nước của tác giả
- Xuất xứ: Bài thơ
được rút ra từ tập Lửa thiêng
- Hoàn cảnh sáng tác: Bài thơ được viết vào
một buổi chiều mùa thu năm 1939 Cảm xúc của bài thơ được khơi gợi chủ yếu
từ cảnh sông Hồng mênh mang sông nước
- Đại ý bài thơ: Bài
thơ là nỗi buồn cô đơn trước
vũ trụ rộng lớn, trong đó thấm đượm tình người, tình đời, lòng yêu quê hương đấtnước thầm kín mà da diết
HOẠT ĐỘNG 2: ĐỌC – HIỂU VĂN BẢN
- Mục tiêu:
+ Đọc – hiểu một bài thơ trữ tình theo đặc
trưng thể loại
+ Phân tích, bình giảng nội dung, nghệ thuật
II ĐỌC – HIỂU VĂN BẢN
Trang 8của một tác phẩm trữ tình.
- Cách thức tiến hành: Đọc, phát vấn, làm việc
cá nhân, làm việc nhóm đôi, nhận xét, bình
giảng, chuẩn xác kiến thức
- tại sao tác giả không đặt là
“Chiều trên sông”, hay
“Trường giang”? “Tràng giang” gợi âm hưởng như thế nào?
- Lời đề từ là câu văn hoặc câu thơ, thậm chí là khổ thơđược đặt sau nhan đề và trước văn bản tác phẩm, có chức năng làm rõ nghĩa cho nhan đề và gợi mở cảm xúc cho người đọc cảm hứng bao trùm thi phẩm lời đề từcủa “Tràng giang” đã hé mởcho chúng những cảm nhận
và mở rộng ý cho HS hiểu thêm về
ý nghĩa nhan đề và lời đề từ:
1 Nội dung:
1.1 Nhan đề bài thơ và lời đề từ
Trang 9- “Tràng giang” gợi hình ảnh mênh man sóng nước, dòng sông được mở rộng đến vô biên do âm hưởng vang xa của vần “ang”, còn
“Trường giang” chỉ là con sông dài, không nói lên hết cái thần tháicủa vũ trụ rộng lớn
- Nhan đề “Chiều trên sông “ quá
“lành” , quá cụ thể, bình thường, ítgợi ấn tượng Trong khi nhan đề
“Tràng giang” vừa gợi ra ấn tượngkhái quát và trang trọng ,vừa cổ điển ,vừa thân mật
“ Tràng giang” gợi âm hưởng dài , rộng, lan toả, ngân vang tronglòng người đọc, ánh lên vẻ đẹp vừa cổ điển, vừa hiện đại Cảnh sông nước ở đây không dưng lại ở việc miêu tả sông Hồng - sông lớnnữa, mà là cảnh tràng giang khái
a Nhan đề:
- Từ Hán Việt “Tràng giang”(sông dài) gợi không khí cổ kính
- Hiệp vần “ang”: tạo dư âmvang xa, trầm lắng, mênh mang
Gợi không khí cổ kính, khái quát nỗi buồn mênh mang, rợn ngợp
b.Lời đề từ:
-Thể hiện nội dung tư tưởng
và ý đồ nghệ thuật của tác giả:
+ Nỗi buồn trước cảnh
vũ trụ bao la bát ngát
+ Hình ảnh thiên nhiên rộng lớn, tâm sự của cái tôi
cô đơn mang nhiều nỗi niềm
- Câu này là khung cảnh để tác giả triển khai toàn bộ cảm hứng
Trang 10quát cả không gian và thời gian.
* Ý nghĩa của lời đề từ: Câu đề
từ giản dị nhưng đã thâu tóm đượccảm xúc chủ đạo của cả bài:
"Bâng khuâng trời rộng nhớ sống dài" Trước cảnh "trời rộng",
"sông dài" sao mà bát ngát, mênh mông của thiên nhiên, lòng con người dấy lên tình cảm "bâng khuâng" và nhớ Từ láy "bâng khuâng" được sử dụng rất đắc địa,
nó nói lên được tâm trạng của chủ thể trữ tình, buồn bã, u sầu, cô đơn, lạc lõng Và con "sông dài", nghe miên man tít tắp ấy cứ vỗ sóng đều đặn khắp các khổ thơ, cứcuộn sóng lên mãi trong lòng nhà thơ làm rung động trái tim người đọc
Bằng những nét vẻ đơn sơ, tác giả thể hiện tâm trạng gì? (gợi ý: Hãy phân tích những hình ảnh sông nước,thuyền,cành củi khô để thấy được biểu hiện tâm trạng của tác
Trang 11đề giả?)
- Nhận xét về hình ảnh, nhạc điệu, cách gieo vần của khổ thơ?
- Bức tranh được mở ra bằng hình ảnh của một dòng tràng giang phẳng lặng, một con thuyền lặng
lẽ trôi, một cành củi khô nhỏ bé
- Cảm giác buồn của con người hiện đại:
+ Sóng gợn tràng giang nhưng lại buồn điệp điệp (điệp từ điệp điệp – từ cái hữu hình của sóng trên tràng giang mà nhận ra cái vô hình
là nỗi buồn của con người)
+ Thuyền và nước bên nhau nhưng giữa thuyền và nước là sự
xa cách hững hờ Thuyền và nước theo hai chiều đối nghịch (về – lại), nổi lên giữa cuộc chia li là sầu trăm ngả
+ Cành củi bé nhỏ giữa tràng giang mênh mông, nhà thơ còn cố
1.2 Ba khổ thơ đầu:Bức tranh thiên nhiên
và tâm trạng của nhà thơ
a Khổ 1:
-Hình ảnh :sóng gợn,thuyền,nước song song cảnh sông nước mênh mông,vô tận,bóng con thuyền xuất hiện càng làm cho nó hoangvắng hơn
- Củi một cành khô>< lạc trên mấy dòng nướcsự chìm nổi cô đơn ,biểu tượng
về thân phận con người lênhđênh,lạc loài giữa dòng đời.-Tâm trạng:buồn điệp điệp từ láy gợi nỗi buồn thương da diết,miên man không dứt
- Nhạc tính là nét độc đáo cho khổ thơ được thể hiện ở
sự hoán vị bằng trắc đều
Trang 12o Cấu trúc đăng đối:
~ buồn điệp điệp – nước song song
~ thuyền về – nước lại
~ một cành khô – lạc mấy dòng
o Hai từ láy nguyên "điệp điệp",
"song song" cộng hưởng với độ ngân của vần “ang”, đã mở ra hìnhảnh dòng sông mênh mông những con sóng cứ loang ra, lan xa, gối
đặn, cấu trúc đăng đối âmđiệu tiết tấu nhịp nhàng, chậm rãi, trầm buồn
Với khổ thơ giàu hình
ảnh,nhạc điệu và cách gieo vần nhịp nhàng và dùng nhiều từ láy,khổ thơ đã diễn tả nỗi buồn trầm lắng của tác giả trước thiên nhiên rộng lớn.
Trang 13lên nhau, dòng nước thì cứ cuốn đi
xa tận nơi nào, miên man miên man, dấy lên trong ta một dư vị buồn man mác ở hồn thơ Huy Cận
- Ở khổ hai, bức tranh thiên nhiên tiếp tục được vẽ ra sao?
- Tổ chức cho HS thảo luận nhóm đôi với tình huống có vấn đề sau:
câu thơ thứ hai có 2 cách hiểu:
+ Đâu (đâu có, không có) tiếng làng xa vãn chợ chiều
+ Đâu (đâu đây vẳng lại) tiếnglàng xa vãn chợ chiều
Anh/chị chọn cách hiểu nào?
Trang 14cá nhân bức tranh thiên nhiên và tâm trạng
tác giả ở khổ hai:
- Bức tranh phía bên kia “Tràng giang” với những nét đơn sơ: mấy cồn đất nhỏ thưa thớt, những làn gió nhẹ thổi qua
- Bức tranh vẫn tiếp tục gợi lên nỗi buồn và cô đơn, bởi vì những cồn đất chỉ là lơ thơ cồn nhỏ, gió chỉ là gió đìu hiu Câu thơ gợi mộthình ảnh trong Chinh phụ ngâm :
“Bến Phì gió thổi đìu hiu mấy gò”
- Một chút âm thanh mơ hồ: từ đâu gợi cảm giác mơ hồ, âm thanhlại rất nhỏ: làng xa – vãn chợ chiều
- Cảm nhận về nỗi buồn không chỉtrong không gian mà cả trong thời gian Đây là cảm nhận chỉ con người thời hiện đại mới có Thời gian ngả sang chiều, giữa tràng giang và bầu trời càng cách xa, theo hai chiều đối nghịch: nắng xuống – trời lên Khoảng xa cách càng trở nên đặc biệt với cái nhìn của nhà thơ: trời lên sâu chót vót
chỉnh hơn bằng những chi tiết mới như: Cồn nhỏ lơ thơ,gió đìu hiu, chợ chiều, làng xa, trời chiều, bến cô liêu Bằng những nét vẻ mềm mại, uốn lượn, nhịp nhàng bởi các vần lưng liên
tiếp : lơ thơ, nhỏ, gió, đìu hiu gợi tả cảnh vật nhỏ
bé, cô độc, thoáng lên cái vắng lặng, lạnh lẽo cô đơn đến rợn ngợp
-Âm thanh: Tiếng chợ chiềugợi lên cái mơ hồ, âm thanh yếu ớt gợi thêm không khí tàn tạ,vắng vẻ tuy thoáng chút hơi người
- Trời sâu chót vótcách dùng từ tài tình,ta như thấy bầu trời được nâng cao hơn,
vẽ ra cái thiên địa vô thủy
vô chung, vô cùng vô tậnbút pháp Đường thi đối lập giữa cái vô hạn (sông nước, bầu trời) với cáihữu hạn (cồn nhỏ, bến cô
Trang 15Trời không chỉ trên đầu mà còn là trời soi bóng xuống trường giang,
vũ trụ mở ra vô tận
- Thân phận bé nhỏ và cô đơn của con người càng thấm thía trong sự
so sánh: sông dài, trời rộng – bến
cô liêu Sông dài trời rộng là không gian ba chiều, bến cô liêu làcái bến Chèm, nơi nhà thơ đang ngồi, như cũng chính là thân phận con người
liêu)
- Sông dài,trời rộng><bến
cô liêuSự tương phản giữa cái nhỏ bé và cái vô cùng của vũ trụ gợi lên cảm giác trống vắng,cô đơn bút pháp “họa vân hiển nguyệt” (vẽ trăng nẩy nghuyệt), tả không gian thiên địa vô cùng (vân) nhưng nhằm biểu hiện sự côđơn, trống trãi của cái tôi lãng mạn (nguyệt)
Với cách gieo vần tài tình,
âm hưởng trầm bổng, Huy Cận như muốn lấy âm thanh để xoá nhoà không gian buồn tẻ hiện hữu nhưng không được.Nhà thơ cố tìm sự giao cảm với
Trang 16Hình ảnh cánh bèo trôi bồng bềnh trên sông gợi lên một cái gì bấp bênh, nổi trôi của kiếp người vô định giữa dòng đời Nhưng ở đây không chỉ có một hay hai cánh bèo, mà là "hàng nối hàng" Bèo trôi hàng hàng càng khiến lòng người rợn ngộp trước thiên nhiên,
để từ đó cõi lòng càng đau đớn, cô
đơn Bên cạnh hàng nối hàng cánh
bèo là "bờ xanh tiếp bãi vàng" như
mở ra một không gian bao la, thiên nhiên nối tiếp thiên nhiên, dường không có con người, không
có sự giao hoà, nối kết:
“Mênh mông không một chuyến
đò ngangKhông cầu gợi chút niềm thân mật”
Tác giả đưa ra cấu trúc phủ định
c Khổ 3:
-Hình ảnh ước lệ: “bèo” để diễn tả thân phận, kiếp người chìm nổi
-Câu hỏi: “về đâu” gợi cái
bơ vơ, lạc loài của kiếp người vô định
-Không cầu, không đò: không có sự giao lưu kết nốiđôi bờniềm khao khát mong chờ đau đáu dấu hiệu
sự sống trong tình cảnh cô độc
Trang 17" không không" để phủ định hoàn toàn những kết nối của con người Trước mắt nhà thơ giờ đây không có chút gì gợi niềm thân mật để kéo mình ra khỏi nỗi cô đơn đang vây kín, chỉ có một thiênnhiên mênh mông.Cầu hay chuyến
đò ngang, phương tiện giao kết của con người, là chiếc võng tâm tình giữa tâm hồn mình với bao tâm hồn khác cũng không tồn tại
để rồi hành trình đi tìm niềm giao giao cảm của thi sĩ khép lại trong
vô vọng “lặng lẽ bờ xanh tiếp bãi vàng”
TIỂU KẾT: Ba khổ thơ
biểu hiện cho niềm tha thiết với thiên nhiên tạo vật Đó là một bức tranh thiên nhiên thấm đượm tình người,mang nặng nỗi buồn bâng khuâng,nỗi bơ
vơ của kiếp người.Nhưng đằng sau nỗi buồn về sông núi là nỗi buồn của người dân thuộc địa trước cảnh
Trang 18giang sơn bị mất chủ quyền
- Đây là khổ thơ kết đặc sắc có sự kết hợp hài hoà giữa cổ điển và hiện đại trong cảnh và tình, anh/
chị hãy làm sáng tỏ vấn đề?
- Phân tích điểm khác nhau về nỗi nhớ trong thơ xưa và trong thơ HC(Gv giới thiệu bàiHoàng Hạc Lâu của Thôi Hiệu)
GV nhận xét, chuẩn xác kiến thức
và mở rộng ý cho HS hiểu thêm vềbức tranh thiên nhiên và tâm trạngtác giả ở khổ bốn:
Câu thơ thứ nhất đem đến cho ta cảm giác của một thiên nhiên vừa quen thuộc lại vừa lớn lao, kì vĩ:
“Lớp lớp mây cao đùn núi bạc”
Trước mắt người đọc hiện lên một bức tranh thật đẹp và hùng vĩ bởi hình ảnh bầu trời cao với lớp mây trắng đùn ra như những núi bạc
Giữa nền trời chiều ấy nhà thơ điểm lên bức tranh bầu trời trên
1.3 Tình yêu quê hương
-Hình ảnh ước lệ,cổ điển: Mây,chim vẽ lên bức tranh chiều tà đẹp hùng vĩ,
êm ả,thơ mộng
-Tâm trạng: Không khói
âm hưởng Đường thi nhưng t/c thể hiện mới.Nỗi buồn trong thơ xưa là do thiên nhiên tạo ra,còn ở HuyCận không cần nhờ đến thiên nhiên,tạo vật mà nó tìm ẩn và bộc phát tự nhiên
vì thế mà nó sâu sắc và da
Trang 19dòng tràng giang hình ảnh một cánh chim: “Chim nghiêng cánh nhỏ : bóng chiều sa” Bóng chiều vốn vô hình dường như giờ đây cóthể được nhìn thấy như trong cảm giác về một vật thể hữu hình
“Chim nghiêng cánh nhỏ : bóng chiều sa” Dấu hai chấm này gợi mối quan hệ giữa chim và bóng chiều: Chim nghiêng cánh nhỏ kéobóng chiều, cùng sa xuống mặt tràng giang, hay chính bóng chiều
sa, đè nặng lên cánh chim nhỏ làmnghiêng lệch cả đi Câu thơ tả không gian nhưng gợi được thời gian bởi nó sử dụng "cánh chim"
và "bóng chiều", vốn là những hình tượng thẩm mỹ để tả hoàng hôn trong thơ ca cổ điển Bóng chiều vốn vô hình dường như giờ đây có thể được nhìn thấy như trong cảm giác về một vật thể hữu hình Nhà thơ đã hữu hình hoá cái
vô hình Và như vậy chỉ bằng hai câu mà nhà thơ đem lại cho người đọc những xúc cảm thân thương,
diết vô cùng
Đằng sau nỗi buồn,nỗi
sầu trước không gian và vũ trụ là tâm sự yêu nước thầm kín của một trí thức
bơ vơ,bế tắc trước cuộc đời