Do dó, để phục vụ cho công tácquản lý hoạt động sản xuất kinh doanh có hiệu quả các nhà quản trị phải thườngxuyên tổ chức phân tích tình hình tài chính cho tương lai.. Qua đó các nhà quả
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU
Quản trị tài chính là một bộ phận quan trọng của quản trị doanh nghiệp Tất
cả các hoạt động sản xuất kinh doanh đều có ảnh hưởng tới tình hình tài chính củadoanh nghiệp, ngược lại tình hình tài chính tốt hay xấu lại có tác động thúc đẩyhoặc kìm hãm quá trình sản xuất kinh doanh Do dó, để phục vụ cho công tácquản lý hoạt động sản xuất kinh doanh có hiệu quả các nhà quản trị phải thườngxuyên tổ chức phân tích tình hình tài chính cho tương lai Bởi vì thông qua việctính toán, phân tích tài chính cho ta biết những điểm mạnh, điểm yếu về hoạt độngsản xuất kinh doanh của doanh nghiệp cũng như những thế mạnh cần phát huy vànhững nhược điểm cần khắc phục Qua đó các nhà quản trị tài chính có thể xácđịnh được những nguyên nhân gây ra và đề xuất các giải pháp nhằm cải thiện tìnhhình tài chính cũng như tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của đơn vị mìnhtrong thời gian sắp tới
Xuất phát từ đó, trong thời gian thực tập tại công ty cổ phần nhựa Hưng Yên,
em đã cố gắng tìm hiểu thực tiễn hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty thôngqua phân tích tình hình tài chính Công ty trong vài năm gần đây nhằm mục đích tựnâng cao hiểu biết của chính mình về vấn đề tài chính doanh nghiệp nói chung,
phân tích tài chính doanh nghiệp nói riêng Vì vậy, em chọn đề tài “ Phân tích tài
chính và nâng cao hiệu quả tài chính của công ty cổ phần nhựa Hưng Yên” làm
đề tài luận văn tốt nghiệp của mình
Trang 2Luận văn của em gồm 3 chương:
Chương 1 - Lý thuyết chung về phân tích tài chính và đánh giá hiệu quả tài chính.
Chương 2 – Đánh giá thực trạng tình hình tài chính của công ty cổ phần nhựa Hưng Yên – HUNG YEN PLASTIC J.S COMPANY.
Chương 3 - Một số kiến nghị và giải pháp nhằm nâng cao hơn nữa năng lực tài chính của công ty cổ phần nhựa Hưng Yên.
EM XIN CHÂN THÀNH CÁM ƠN THẦY GIÁO PGS.TS VŨ CÔNG TY, CÙNG TOÀN THỂ CÁC CÁN BỘ CÔNG NHÂN VIÊN CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN NHỰA HƯNG YÊN ĐÃ GIÚP ĐỠ EM THỰC HIỆN LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP NÀY !.
Trang 3CHƯƠNG1
LÝ THUYẾT CHUNG VỀ PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH VÀ ĐÁNH GIÁ
HIỆU QUẢ TÀI CHÍNH
1.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP
VÀ PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP.
1.1.1 Khái niệm tài chính doanh nghiệp.
Doanh nghiệp là một tổ chức kinh tế thực hiện các hoạt động sản xuất, cung ứng
hàng hóa cho người tiêu dùng qua thị trường nhằm mục đích sinh lời Quá trình
hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp cũng là quá trình kết hợp các yếu tố đầu
vào như nhà xưởng, thiết bị, nguyên vật liệu và sức lao động để tạo ra các yếu
tố đầu ra là hàng hóa và tiêu thụ hàng hóa đó để thu lợi nhuận
Trong nền kinh tế thị trường, để có các yếu tố đầu vào đòi hỏi doanh nghiệp phải
có số lượng vốn tiền tệ nhất định Với từng loại hình pháp lý, tổ chức, doanh
nghiệp có phương thức thích hợp để tạo lập số vốn tiền tệ ban đầu, từ số vốn tiền
tệ đó doanh nghiệp mua sắm máy móc thiết bị, nguyên vật liệu Sau khi sản xuất
xong, doanh nghiệp thực hiện bán hàng hóa và thu tiền bán hàng Với số tiền bán
hàng, doanh nghiệp sử dụng để bù đắp các khoản chi phí vật chất đã tiêu hao, trả
tiền công cho người lao động, các khoản chi phí khác, nộp thuế cho nhà nước và
phần còn lại là lợi nhuận sau thuế, doanh nghiệp tiếp tục phân phối số lợi nhuận
này Như vậy, quá trình hoạt động của doanh nghiệp cũng là quá trình tạo lập,
phân phối và sử dụng quỹ tiền tệ hợp thành hoạt động tài chính doanh nghiệp
1.1.2 Khái niệm quản trị tài chính doanh nghiệp.
Quản trị tài chính doanh nghiệp là việc lựa chọn và đưa ra các quyết định tài
chính, tổ chức thực hiện các quyết định đó nhằm đạt được mục tiêu hoạt động của
Trang 4doanh nghiệp là tối đa hóa lợi nhuận, không ngừng làm tăng giá trị của doanhnghiệp và khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường.
Quản trị tài chính có mối quan hệ chặt chẽ với quản trị doanh nghiệp, và giữ vị tríquan trọng hàng đầu trong quản trị doanh nghiệp Hầu hết mọi quyết định quản trịkhác đều dựa trên các kết luận được rút ra từ những đánh giá về tình hình tài chínhcủa doanh nghiệp Trong hoạt động kinh doanh, có nhiều vấn đề tài chính nảy sinh,đòi hỏi các nhà quản trị phải đưa ra các quyết định tài chính đúng đắn và tổ chứcthực hiện các quyết định đó một cách kịp thời và khoa học, có như vậy doanhnghiệp mới có thể tồn tại, đứng vững và phát triển được Mặt khác để doanhnghiệp có thể đứng vững thì các nhà quản trị phải có những hoạch định về mặtchiến thuật và chiến lược
Về mặt chiến lược: phải xác định được mục tiêu kinh doanh, các hoạt độngdài hạn nhằm phát triển doanh nghiệp và các chính sách tài chính doanh nghiệp
Về mặt chiến thuật: phải xác định những công việc trong thời gian ngắn,những tác nghiệp cụ thể nhằm phục vụ cho các kế hoạch chiến lược của doanhnghiệp
Để có những quyết định tài chính về chiến thuật và chiến lược của doanh nghiệp
có hiệu quả cao và có tính khả thi đòi hỏi nó phải được lựa chọn dựa trên cơ sởphân tích, đánh giá cân nhắc, kỹ lưỡng về mặt tài chính
Quản trị tài chính doanh nghiệp thể hiện trên tất cả các mặt hoạt động sảnxuất kinh doanh của doanh nghiệp, nó có vai trò quan trọng quyết định đến sựthành công hay thất bại của doanh nghiệp Trong kinh doanh hiện nay, quản trị tàichính có giữ vai trò chủ yếu sau:
- Huy động và đảm bảo đầy đủ, kịp thời số vốn cho hoạt động sản xuất kinhdoanh của doanh nghiệp
Trong quá trình hoạt động của doanh nghiệp thường nảy sinh các nhu cầu vốndài hạn cũng như ngắn hạn cho hoạt động thường xuyên của doanh nghiệp và cho
Trang 5đầu tư phát triển Vai trò của tài chính doanh nghiệp thể hiện ở chỗ xác định đúngđắn nhu cầu vốn cần thiết cho doanh nghiệp trong từng thời kỳ và tìm nguồn vốnhuy động để đáp ứng kịp thời nhu cầu vốn của doanh nghiệp Nền kinh tế thịtrường ngày càng phát triển thì vai trò huy động vốn càng trở lên quan trọng trongtài chính doanh nghiệp Làm sao có thể huy động được nguồn vốn rẻ nhất, thuậnlợi nhất và chủ động đối với doanh nghiệp để tạo điều kiện thuận lợi cho quá trìnhsản xuất kinh doanh, đảm bảo cho doanh nghiệp hoạt động liên tục và có hiệu quả.
- Tổ chức sử dụng vốn kinh doanh tiết kiệm và hiệu quả
Hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp phụ thuộc rất lớn vào việc tổchức sử dụng vốn Tài chính doanh nghiệp giữ vai trò quan trọng trong việc đánhgiá và lựa chọn các dự án đầu tư dựa trên cơ sở phân tích khả năng sinh lời vàmức độ rủi ro của các dự án đầu tư từ đó góp phần vào việc lựa chọn dự án đầu tưtối ưu Việc huy động kịp thời các nguồn vốn có ý nghĩa rất quan trọng để doanhnghiệp có thể nắm bắt được các cơ hội kinh doanh Mặt khác, huy động tối đa sốvốn hiện có của doanh nghiệp vào hoạt động sản xuất kinh doanh có thể giảm bớt
và tránh được những thiệt hại do ứ đọng vốn gây ra, đồng thời giảm bớt được nhucầu vay vốn, từ đó giảm được các khoản tiền lãi vay phải trả
- Giám sát chặt chẽ và kiểm tra liên tục các hoạt động sản xuất kinh doanhthường xuyên của doanh nghiệp
Thông qua tình hình thu chi hàng ngày, tình hình tài chính và việc thực hiện cácchỉ tiêu tài chính giúp lãnh đạo và các nhà quản lý doanh nghiệp có thể đánh giátổng hợp và kiểm soát được các mặt hoạt động của doanh nghiệp, phát hiện kịpthời những khó khăn, vướng mắc còn tồn tại trong kinh doanh, từ đó đưa ra cácquyết định để điều chỉnh cá hoạt động sản xuất kinh doanh sao cho phù hợp vớidiễn biến kinh doanh thực tế
Như vậy, quản trị tài chính doanh nghiệp có vai trò quan trọng quyết định toàn
bộ các công tác quản trị doanh nghiệp Nhận thức được tầm quan trọng của quản trị
Trang 6tài chính doanh nghiệp trong hoạt động sản xuất kinh doanh để từ đó các nhà quản
lý doanh nghiệp có cái nhìn tổng quan, toàn diện và đúng đắn về tình hình tài chínhcủa doanh nghiệp
1.1.3 Khái niệm về phân tích tài chính doanh nghiệp
Phân tích tài chính doanh nghiệp là tập hợp các khái niệm, phương pháp, công
cụ theo một hệ thống nhất định cho phép thu thập và xử lý các thông tin kế toáncũng như các thông tin khác trong quản lý doanh nghiệp nhằm đưa ra những đánhgiá chính xác, đúng đắn về tình hình tài chính, khả năng và tiềm lực của doanhnghiệp, giúp các nhà quản lý có thể kiểm soát được tình hình sản xuất kinh doanhcủa doanh nghiệp, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn cũng như dự đoán trước nhữngrủi ro có thể xảy ra trong tương lai, để đưa ra các quyết định xử lý phù hợp tùytừng mục tiêu theo đuổi
Đối tượng của phân tích tài chính.
Để tiến hành sản xuất kinh doanh, doanh nghiệp cần có các hoạt động trao đổiđiều kiện và kết quả sản xuất thông qua các công cụ tài chính cũng như vật chất.Chính vì vậy, bất kỳ doanh nghiệp nào cũng phải tham gia vào các mối quan hệ tàichính đa dạng và phức tạp.Các quan hệ tài chính đó có thể chia thành các nhómsau:
- Quan hệ tài chính giữa doanh nghiệp và Nhà nước: quan hệ này được thực hiệnchủ yếu ở chỗ doanh nghiệp thực hiện các nghĩa vụ tài chính với Nhà nước nhưnộp các khoản thuế, lệ phí vào ngân sách Đối với doanh nghiệp nhà nước còn thểhiện ở việc: Nhà nước bổ xung vốn ban đầu và vốn bổ xung cho doanh nghiệpbằng những cach khác nhau
- Quan hệ tài chính giữa doanh nghiệp với các chủ thể kinh tế và các tổ chức xãhội khác
Quan hệ tài chính giữa doanh nghiệp với các chủ thể kinh tế khác là mốiquan hệ rất đa dạng và phong phú được thể hiện trong việc thanh toán, thưởng
Trang 7phạt vật chất khi doanh nghiệp và các chủ thể kinh tế khác cung cấp hàng hóa,dịch vụ cho nhau ( bao gồm cả dịch vụ tài chính).
Ngoài quan hệ tài chính với các chủ thể kinh tế khác, doanh nghiệp còn cóquan hệ tài chính với các tổ chức xã hội khác như doanh nghiệp thực hiện tàitrợ cho các tổ chức xã hội
- Quan hệ tài chính giữa doanh nghiệp và người lao động trong doanh nghiệp :Quan hệ này được thể hiện trong việc thanh toán tiền công, thực hiện thưởngphạt vật chất với người lao động trong quá trình tham gia vào hoạt động sảnxuất kinh doanh của doanh nghiệp
- Quan hệ tài chính giữa doanh nghiệp với các chủ sở hữucuar doanh nghiệp:mối quan hệ này thể hiện trong việc đầu tư, góp vốn hay rút vốn của chủ sở hữuđối với doanh nghiệp và trong việc phân chia lợi nhuận sau thuế của doanhnghiệp
- Quan hệ tài chính trong nội bộ doanh nghiệp: Đây là mối quan hệ thanh toángiữa các bộ phận nội bộ doanh nghiệp trong hoạt động sản xuất kinh doanh,trong việc hình thành và sử dụng các quỹ của doanh nghiệp
1.1.4 Các mục đích và ý nghĩa phân tích tài chính doanh nghiệp.
Đánh giá tình hình tài chính doanh nghiệp là việc xem xét, phân tích mộtcách toàn diện trên tất cả các mặt hoạt động của tài chính doanh nghiệp để thấyđược thực trạng tài chính doanh nghiệp là tốt hay xấu, xác định rõ nguyên nhân
và mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đến tình hình tài chính, từ đó giúp chonhà quản lý doanh nghiệp có những quyết định kịp thời để nâng cao hiệu quảsản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
Ngày nay trong cơ chế thị trường cạnh tranh ngày càng gay gắt, các doanhnghiệp muốn đứng vững và giữ vị thế của mình trong cạnh tranh thì phải cótiềm lực tài chính vững vàng Vì vậy việc đánh giá đúng đắn tình hình tài chínhdoanh nghiệp giúp cho các chủ doanh nghiệp đánh giá chính xác thực trạng tài
Trang 8chính và tiềm tàng của doanh nghiệp để đưa ra các quyết định lựa chọn phương
án kinh doanh tối ưu để đảm bảo cho doanh nghiệp hoạt động kinh doanh cóhiệu quả
Có nhiều đối tượng quan tâm đến tình hình tài chính của doanh nghiệpnhư : chủ doanh nghiệp, nhà tài trợ, nhà cung cấp, khách hàng…Mỗi đối tượngquan tâm tới một mục đích riêng của họ nhưng thường là liên quan tới lợi íchcủa họ và chúng cũng thường liên quan với nhau
Đối với chủ doanh nghiệp và các nhà quản tri doanh nghiệp, mối quan tâmlớn nhất của họ là tối đa hóa lợi nhuân và có khả năng trả được các khoản nợvay Ngoài ra, các nhà quản trị doanh nghiệp còn quan tâm tới một số mục tiêukhác như: tăng số lượng việc làm, nâng cao chất lượng sản phẩm, tăng doanhthu, giảm chi phí…Tuy nhiên, doanh nghiệp chỉ có thể thực hiện được các mụctiêu trên khi doanh nghiệp kinh doanh có lãi và thanh toán được các khoản nợ.Một doanh nghiệp bị thua lỗ liên tục thì sẽ bị cạn kiệt nguồn lực và sẽ bị phásản trong tương lai gần, còn nếu doanh nghiệp không có khả năng trả được cáckhoản nợ đến hạn trả thì doanh nghiệp cũng sẽ lâm vào tình trạng phá sản, nếukhông cải thiện được tình hình thì doanh nghiệp sẽ phải ngừng hoạt động
Đối với chủ ngân hàng và các nhà cho vay tín dụng, mối quan tâm của họhướng đến là khả năng trả nợ của doanh nghiệp Họ đặc biệt quan tâm tới sốlượng tiền và các tài sản có tính thanh khoản, dễ dàng chuyển đổi thành tiền từ
đó có thể thấy được khả năng thanh toán của doanh nghiệp Họ cũng quan tâmtới vốn chủ sở hữu vì đó được coi là khoản bảo hiểm cho ngân hàng khi doanhnghiệp gặp phải rủi ro, đặc biệt là rủi ro về tài chính
Đối với các nhà đầu tư, mối quan tâm của họ lại là lợi nhuận bình quân vốn,vòng quay vốn và khả năng tồn tại và phát triển lau dài của công ty Từ đó ảnhhưởng tới quyết định sẽ tiếp tục đầu tư vào công ty trong tương lai hay không?
Trang 9Bên cạnh những nhóm người trên, các cơ quan tài chính, cơ quan thuế, nhàcung cấp và người lao động cũng rất quan tâm tới bức tranh tài chính của doanhnghiệp với những mục tiêu cơ bản gần giống với chủ doanh nghiệp, chủ ngânhàng và nhà đầu tư.
Tất cả các cá nhân, tổ chức trên đều có thể tìm thấy và thỏa mãn về nhucầu thông tin của mình thông qua hệ thống các chỉ tiêu do phân tích báo cáo tàichính cung cấp Do vậy việc đánh giá tình hình tài chính đối với các đối tượng
sử dụng thông tin của doanh nghiệp thì việc đánh giá tình hình tài chính củamỗi doanh nghiệp là cần thiết và không thể thiếu được trong nền kinh tế thịtrường hiện nay
1.2 NỘI DUNG PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP
1.2.1 Các bước trong quá trình tiến hành phân tích tài chính.
1.2.1.1 Thu thập thông tin.
Phân tích hoạt động tài chính sử dụng mọi nguồn thông tin có khả năng lýgiải và thuyết minh thực trạng hoạt động tài chính, hoạt động sản xuất kinhdoanh của doanh nghiệp, phục vụ cho việc dự đoán, đánh giá, lập kế hoạch Nóbao gồm từ những thông tin nội bộ đến những thông tin bên ngoài, thông tin kếtoán và thông tin quản lý khác cả về định tính hay định lượng… Trong đó thôngtin kế toán là quan trọng và phổ biến nhất, được phản ánh trong các bản báo cáotài chính của doanh nghiệp, đó là những nguồn thông tin đặc biệt quan trọng
Do vậy, phân tích hoạt động tài chính trên thực tế là phân tích báo cáo tài chínhdoanh nghiệp
1.2.1.2 Xử lý thông tin.
Giai đoạn tiếp theo của phân tích hoạt động tài chính là quá trình xử lý cácthông tin đã được thu thập Trong giai đoạn này, người xử dụng thông tin ở cácgóc độ nghiên cứu, ứng dụng khác nhau phục vụ mục tiêu phân tích đã đặt ra
Xử lý thông tin là quá trình sắp xếp thông tin theo các mục tiêu nhất định nhằm
Trang 10tính toán, so sánh, giải thích, đánh giá, xác định các nguyên nhân của các kếtquả đã đạt được nhằm phục vụ cho quá trình dự đoán và ra quyết định.
1.2.1.3 Dự đoán và ra quyết định.
Thu thập và xử lý thông tin nhằm chuẩn bị những tiền đề và những điều kiệncần thiết để người sử dụng thông tin dự đoán và đưa ra những quyết định hoạtđộng kinh doanh Đối với chủ doanh nghiệp, phân tích hoạt động tài chínhnhằm đưa ra các quyết định liên quan đến mục tiêu hoạt động của doanh nghiệp
là tăng trưởng, phát triển, tối đa hóa lợi nhuận, tăng doanh thu và giảm chi phí.Đối với các chủ nợ và các nhà đầu tư vào doanh nghiệp thì đưa ra các quyếtđịnh đầu tư, tài trợ, đối với cấp trên của doanh nghiệp đưa ra những quyết địnhquản lý doanh nghiệp
1.2.2 Phương pháp phân tích tài chính.
Phương pháp phân tích tài chính bao gồm một hệ thống các công cụ và biệnpháp nhằm tiếp cận, nghiên cứu các sự việc, hiện tượng, các mối quan hệ bêntrong cũng như bên ngoài, các luồng dịch chuyển và biến đổi tài chính, các chỉtiêu tài chính tổng hợp và chi tiết, nhằm đánh giá tình hình tài chính của doanhnghiệp
Về lý thuyết có nhiều phương pháp phân tích tài chính doanh nghiệp, nhưngtrên thực tế người ta sử dụng những phương pháp sau:
1.2.2.1 Phương pháp so sánh.
- So sánh giữa số thực hiện kỳ này với số thực hiện kỳ trước để thấy rõ xuhướng thay đổi về tài chính của doanh nghiệp,thấy được tình hình tài chính đãđược cải thiện hay xấu đi như thế nào để có những biện pháp khắc phục kịp thờicho kỳ tới
- So sánh giữa số thực hiện và số kế hoạch để thấy được mức độ phấn đấu củadoanh nghiệp
Trang 11- So sánh giữa số thực hiện kỳ này với số trung bình ngành để thấy được tìnhhình tài chính của doanh nghiệp tốt hay xấu, được hay chưa được so với cácdoanh nghiệp trong cùng ngành.
- So sánh chiều dọc để thấy được tỷ trọng của từng chỉ tiêu trong tổng số ở mỗibáo cáo và qua đó chỉ rõ ý nghĩa tương đối của các chỉ tiêu, tạo thuận lợi choviệc so sánh
- So sánh theo chiều ngang để có thể thấy được sự thay đổi cả về số tương đốicũng như số tuyệt đối của cùng một chỉ tiêu giữa các niên độ kế toán liên tiếp.Khi sử dụng phương pháp so sánh cần tuân thủ 2 điều kiện sau:
+ Điều kiện một: Xác định rõ “ gốc so sánh ” và “ kỳ phân tích ”
+ Điều kiện hai: Các chỉ tiêu so sánh (hoặc các trị số của chỉ tiêu so sánh) phảiđảm bảo tính chất có thể so sánh được với nhau Muốn vậy, chúng phải thôngnhất về nội dung kinh tế, phương pháp tính toán và thời gian tính toán
1.2.2.2 Phương pháp tỷ lệ.
Phương pháp này dựa trên các ý nghĩa chuẩn mực các tỷ lệ của đại lượng tàichính trong các quan hệ tài chính Về nguyên tắc, phương pháp này yêu cầuphải xác định được các ngưỡng, các định mức để nhận xét, đánh giá tình hìnhtài chính của doanh nghiệp trên cơ sở so sánh tỷ lệ củ doanh nghiệp với giá trịcác tỷ lệ tham chiếu
Đây là phương pháp có tính hiện thực cao với các điều kiện được áp dụng ngàycàng được bổ sung và hoàn thiện hơn là vì:
- Nguồn thông tin kế toán và tài chính được cải tiến và cung cấp đầy đủ hơn, là
cơ sở để hình thành những tham chiếu tin cậy nhằm đánh giá một tỷ lệ của mộtdoanh nghiệp hoặc một nhóm doanh nghiệp
- Việc áp dụng tin học cho phép tích lũy dữ liệu và thúc đẩy nhanh quá trìnhtính toán hàng loạt các tỷ lệ
Trang 12- Phương pháp này giúp các nhà phân tích khai thác có hiệu quả những số liệu
và phân tích có hệ thống hàng loạt tỷ lệ theo chuỗi thời gian liên tục hoặc theotừng giai đoạn
1.2.2.3 Phương pháp phân tích tài chính DUPONT
Dupont là tên của một nhà quản trị tài chính người Pháp tham gia kinhdoanh ở Mỹ Dupont đã chỉ ra mối quan hệ tương hỗ giữa các chỉ số hoạt độngtrên phương diện chi phí và các chỉ số hiệu quả sử dụng vốn Từ việc phân tích :
Lợi nhuận sau thuế
Dupont đã khái quát hóa và trình bày chỉ số ROA một cách rõ ràng, nó giúpcho các nhà quản trị tài chính có một bức tranh tổng hợp để có thể đưa ra cácquyết định tài chính hữu hiệu
1.3 ĐÁNH GIÁ TÌNH HÌNH TÀI CHÍNH THÔNG QUA CÁC CHỈ TIÊU :
1.3.1 Đánh giá khái quát tình hình tài chính doanh nghiệp thông qua các chỉ tiêu trên Bảng cân đối kế toán.
Bảng cân đối kế toán là một báo cáo tài chính tổng hợp phản ánh tổng quát tìnhhình tài sản của một doanh nghiệp tại một thời điểm nhất định dưới hình thái tiền
tệ theo hai cách phân loại là tài sản và nguồn hình thành tài sản Về bản chất Bảngcân đối kế toán là một bảng cân đối tổng hợp giữa tài sản với vốn chủ sở hữu vàcông nợ phải trả
Phần tài sản phản ánh số vốn và kết cấu các loại vốn của đơn vị hiện có tại thờiđiểm lập báo cáo đang tồn tại dưới dạng hình thái vật chất như tài sản cố định, vật
Trang 13liệu, sản phẩm, hàng hóa, tiền tệ, các khoản đầu tư tài chính hoặc dưới hình thái nợphải thu ở tất cả các khâu, các giai đoạn trong quá trình sản xuất kinh doanh (thumua, dự trữ, sản xuất, tiêu thụ) Căn cứ vào nguồn số liệu này trên cơ sở tổng số vàkết cấu tài sản mà đánh giá một cách tổng quát qui mô tài sản, năng lực và trình độ
sử dụng vốn của doanh nghiệp
Phần nguồn vốn phản ánh các nguồn hình thành tài sản, các loại vốn kinh doanhcủa doanh nghiệp như nguồn vốn chủ sở hữu, nguồn vốn nợ phải trả Tỷ lệ và kếtcấu của từng nguồn trong tổng số nguồn vốn hiện có phản ánh chất lượng hoạtđộng, thực trạng tình hình tài chính của doanh nghiệp Phần nguồn vốn thể hiệntrách nhiệm pháp lý, vật chất của doanh nghiệp đối với tài sản đang quản lý, sửdụng Cụ thể là đối với Nhà nước, cấp trên, nhà đầu tư, cổ đông, Ngân hàng, các tổchức tín dụng, khách hàng, các đơn vị kinh tế khác, cán bộ công nhân viên
1.3.2 Đánh giá tình hình tài chính doanh nghiệp thông qua các chỉ tiêu trên Báo cáo kết quả kinh doanh.
Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh là một bản báo cáo tài chính tổng hợpphản ánh tình hình và kết quả hoạt động kinh doanh theo từng loại hoạt động củadoanh nghiệp Số liệu trên báo cáo này cung cấp những thông tin tổng hợp vềphương thức kinh doanh, về việc sử dụng các tiềm năng vốn, lao động, kỹ thuật,kinh nghiệm quản lý của doanh nghiệp, và chỉ ra rằng các họat động kinh doanh đóđem lại lợi nhuận hay gây ra tình trạng lỗ vốn
Đây là một bản báo cáo tài chính được những nhà lập kế hoạch rất quan tâm, vì
nó cung cấp các số liệu về hoạt động kinh doanh mà doanh nghiệp đã thực hiệntrong kỳ Nó còn được coi như là một bản hướng dẫn để dự báo xem doanh nghiệp
sẽ hoạt động ra sao trong tương lai
Nội dung của báo cáo kết quả họat động kinh doanh có thể thay đổi theo từngthời kỳ tùy theo yêu cầu quản lý, nhưng phải phản ánh được các nội dung cơ bảnsau: doanh thu, giá vốn hàng bán, chi phí bán hàng, chi phí quản lý doanh nghiệp
Trang 14và lợi nhuận Ngoài ra báo cáo kết quả kinh doanh còn cho biết tình hình thực hiệnnghĩa vụ đối với Nhà nước của doanh nghiệp trong kỳ kinh doanh đó.
Thông qua các chỉ tiêu trên báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh để kiểm tra,phân tích và đánh giá tình hình thực hiên kế hoạch, dự toán chi phí sản xuất, giávốn, doanh thu sản phẩm vật tư, hàng hóa tiêu thụ, tình hình chi phí, thu nhập củahoạt động khác và kết quả kinh doanh của doanh nghiệp trong kỳ Để từ đó cónhững nhận xét, đánh giá sâu hơn tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh, tìnhhình sử dụng lao động vật tư, tiền vốn của doanh nghiệp, tìm ra nguyên nhân củanhững kết quả đó và đưa ra các giải pháp, quyết định tài chính phù hợp
1.3.3 Đánh giá tình hình tài chính doanh nghiệp thông qua các chỉ tiêu tài chính đặc trưng.
1.3.3.1 Các chỉ tiêu về khả năng thanh toán
Đây là những chỉ tiêu được rất nhiều người quan tâm như các nhà đầu tư, ngườicho vay, người cung cấp nguyên vật liệu Họ luôn đặt ra câu hỏi, hiện doanhnghiệp có khả năng trả các khoản nợ tới hạn hay không? Thông qua việc nghiêncứu khả năng thanh toán người ta có thể đánh giá được thực trạng tài chính củadoanh nghiệp và thông qua đó người ta biết được xu hướng phát triển của doanhnghiệp
* Hệ số khả năng thanh toán tổng quát:
Nợ ngắn hạn và nợ dài hạn
Hệ số khả năng thanh toán tổng quát là mối quan hệ giữa tổng tài sản mà hiệnnay doanh nghiệp đang quản lý, sử dụng với tổng số nợ phải trả (nợ dài hạn, nợngắn hạn )
Hệ số này phản ánh một đồng nợ của doanh nghiệp được đảm bảo bằng baonhiêu đồng tài sản Nếu hệ số này lớn hơn 1 nó phản ánh khả năng thanh toán củadoanh nghiệp là tốt Còn hệ số này nhỏ hơn 1 thì báo hiệu sự phá sản của doanh
Trang 15nghiệp, vốn chủ sở hữu bị mất toàn bộ, tổng tài sản hiện có không đủ bù đắp cáckhoản nợ mà doanh nghiệp phải thanh toán Thông thường thì hệ số này lớn hơn 1.Như vậy chỉ tiêu này cho biết nhìn chung doanh nghiệp có khả năng chi trả cáckhoản nợ phải thanh toán hay không? Trên thực tế có những tài sản của công ty cóthể chuyển đổi ngay được thành tiền, có những tài sản không có khả năng chuyểnđổi thành tiền mặc dù giá trị tài sản đó vẫn còn tồn tại Mặt khác, trong tổng nợ củacông ty cũng có khoản đến hạn, quá hạn nhưng cũng có những khoản chưa đến hạnphải trả Do đó, chỉ tiêu này dùng để xem xét một cách chung nhất khả năng thanhtoán làm cơ sở đánh giá doanh nghiệp mà thôi.
* Hệ số khả năng thanh toán hiện thời (hay hệ số khả năng thanh toán nợ
ngắn hạn)
Nợ ngắn hạn
Hệ số này là mối quan hệ giữa Tài sản lưu động và các khoản nợ ngắn hạn Hệ
số này phản ánh 1 đồng nợ ngắn hạn của doanh nghiệp được đảm bảo bằng baonhiêu đồng Tài sản lưu động và đầu tư ngắn hạn Tính hợp lý của hệ số này phụthuộc vào ngành nghề kinh doanh, ngành nghề nào mà Tài sản lưu động chiếm tỷtrọng lớn trong tổng tài sản thì hệ số này lớn và ngược lại
Nếu hệ số này thấp thì thể hiện khả năng trả nợ của doanh nghiệp ở mức độthấp và cũng là dấu hiệu báo trước những khả năng tiềm ẩn về tài chính mà doanhnghiệp có thể gặp phải trong việc trả nợ
Nếu hệ số này mà cao thì cho thấy doanh nghiệp có khả năng cao trong việc sẵnsàng thanh toán các khoản nợ đến hạn Nếu trong trường hợp hệ số này mà quá caochưa chắc là tốt vì có thể doanh nghiệp có một lượng hàng tồn kho lớn gây ứ đọngvốn hoặc vốn bị chiếm dụng ở các khoản phải thu quá lớn Để đánh giá sát hơn cầnphải xem xét kết hợp với các chỉ tiêu khác hoặc đi sâu xem xét chi tiết hơn
Trang 16* Hệ số khả năng thanh toán nhanh.
Hệ số khả năng thanh toán nhanh =
TSLĐ - vật tư hàng hóa tồnkho
Nợ ngắn hạn
Các tài sản lưu động trước khi mang đi thanh toán cho chủ nợ đều phải chuyểnđổi thành tiền Trong tài sản lưu động hiện có thì vật tư hàng hóa tồn kho chưa thểchuyển đổi ngay thành tiền, do đó nó có khả năng thanh toán kém nhất Và vì vậy
hệ số khả năng thanh toán nhanh là thước đo khả năng trả nợ ngay các khoản nợngắn hạn của doanh nghiệp trong kỳ không dựa vào việc phải bán các loại vật tư,hàng hóa
Nhìn chung hệ số này càng cao càng tốt nhưng nếu quá cao thì cần phải xem xétlại vì trong tổng tài sản lưu động thì bộ phận các khoản phải thu là khó thu hồi nhất
và nếu khoản phải thu lớn thì nó ảnh hưởng đến khả năng thanh toán nhanh củadoanh nghiệp
Hệ số khả năng thanh toán tức thời.
Hệ số khả năng thanh toán tức thời =
Tiền và tương đươngtiền
Nợ ngắn hạn
Hệ số này phản ánh mối quan hệ giữa các khoản tiền mặt và coi như tiền mặt(tiền gửi ngân hàng, ngân phiếu, chứng khoán ) với số nợ ngắn hạn của doanhnghiệp Còn hệ số này mà quá cao là không tốt vì các khoản tiền mặt và coi nhưtiền mặt quá nhiều làm vòng quay tiền chậm lại, gây ứ đọng vốn
* Hệ số khả năng thanh toán nợ dài hạn
Hệ số khả năng thanh toán nợ dài hạn =
Giá trị còn lại của TSCĐđược hình thành bằng nợ vay
Nợ dài hạn
Trang 17Nợ dài hạn là những khoản nợ có thời hạn đáo hạn trên 1 năm, doanh nghiệp đivay dài hạn để hình thành tài sản cố định Số dư nợ dài hạn thể hiện thể hiện số nợdài hạn doanh nghiệp còn phải trả cho chủ nợ Nguồn để trả nợ dài hạn chính là giátrị tài sản cố định được hình thành bằng vốn vay chưa được thu hồi Vì vậy người tathường so sánh giữa giá trị còn lại của tài sản cố định được hình thành bằng vốn vayvới số dư nợ dài hạn để xác định khả năng thanh toán nợ dài hạn.
* Hệ số thanh toán lãi vay.
Lãi vay phải trả là một khoản chi phí cố định Nguồn để trả lãi vay là lợi nhuậnsau khi đã trừ đi chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp So sánh giữanguồn để trả lãi vay và lãi vay phải trả sẽ cho chúng ta biết doanh nghiệp đã sẵnsàng trả lãi vay đến mức nào
lãi vay phải trả
Hệ số này dùng để đo lường mức độ lợi nhuận có được do sử dụng vốn để đảmbảo trả lãi cho chủ nợ Nói cách khác, hệ số thanh toán lãi vay cho chúng ta biếtđược số vốn đi vay đã sử dụng tốt đến mức độ nào và đem lại một khoản lợi nhuận
là bao nhiêu, có đủ bù đắp lãi vay phải trả hay không
Hệ số này nhỏ hơn 1 thì số lãi vay của doanh nghiệp không đủ để trả lãi tiềnvay trong trường hợp này doanh nghiệp bị lỗ Tất nhiên trong phân tích, đánh giákhông thể so sánh chỉ tiêu này một cách đơn giản vì nó phụ thuộc trực tiếp vào khảnăng độc lập về tài chính của doanh nghiệp
1.3.3.2 Các chỉ tiêu về cơ cấu tài chính và tình hình đầu tư.
Trong công tác quản trị tài chính doanh nghiệp thì các nhà quản lý thườngmong muốn đạt tới cơ cấu vốn và nguồn vốn tối ưu để sử dụng vốn và nguồn vốn
có hiệu quả nhất Nhưng trong quá trình phát triển của doanh nghiệp thì cơ cấu nàyluôn bị thay đổi, phá vỡ do tình hình đầu tư Vì vậy nghiên cứu các hệ số nợ, hệ số
Trang 18tự tài trợ, tỷ suất đầu tư sẽ cung cấp cho các nhà quản trị tài chính doanh nghiệp cómột cái nhìn tổng quát về sự phát triển lâu dài của doanh nghiệp.
vì khi đó họ chỉ cần bỏ một lượng vốn ít hơn mà lại được sử dụng một lượng tàisản lớn Khi doanh lợi vốn chủ sở hữu cao hơn hệ số nợ thì chủ sở hữu doanhnghiệp càng có điều kiện gia tăng lợi nhuận Hệ số nợ cao đồng nghĩa với rủi romất khả năng thanh toán cao nếu hoạt động sản xuất kinh doanh không có hiệuquả
* Tỷ suất tự tài trợ.
Tỷ suất tự tài trợ = NVCSHTổng NV
Tỷ suất tự tài trợ là một chỉ tiêu tài chính đo lường sự góp vốn của chủ sở hữutrong tổng số vốn hiện có của doanh nghiệp Tỷ suất này càng cao càng chứng tỏmức độ độc lập, tự chủ về mặt tài chính của doanh nghiệp Bởi vì hầu hết tài sản
mà doanh nghiệp hiện có đều được đầu tư bằng số vốn của chủ doanh nghiệp
* Tỷ suất đầu tư.
Tỷ suất đầu tư = Giá trị còn lại của TSCĐ và ĐTDHTổng tài sản Chỉ tiêu này phản ánh tình trạng cơ sở vật chất kỹ thuật, năng lực sản xuất và
xu hướng phát triển lâu dài cũng như khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp Nếu
Trang 19số đầu năm nhỏ hơn cuối năm thì chứng tỏ doanh nghiệp đã quan tâm đầu tư đổimới tài sản cố định, tăng năng lực sản xuất cho tương lai và ngược lại nếu số đầunăm lớn hơn số cuối năm thì chứng tỏ doanh nghiệp chưa quan tâm đầu tư vào tàisản cố định Tuy nhiên chỉ tiêu này có ảnh hưởng tốt hay xấu đến doanh nghiệp thìcòn phụ thuộc vào ngành nghề kinh doanh của từng doanh nghiệp trong một thờigian cụ thể.
Tỷ suất tự tài trợ tài sản cố định.
Nguyên giá TSCĐChỉ tiêu này phản ánh vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp đầu tư vào tài sản cốđịnh là bao nhiêu Nếu tỷ số này lớn hơn 1 chứng tỏ khả năng vững vàng về tàichính của doanh nghiệp, còn tỷ số này mà nhỏ hơn 1 chứng tỏ một phần tài sản cốđịnh của doanh nghiệp được tài trợ bằng nguồn vốn tín dụng và đặc biệt là mạohiểm khi vốn vay đó là vay ngắn hạn
1.3.3.3 Các chỉ tiêu về khả năng hoạt động
Các chỉ tiêu này dùng để đo lường hiệu quả sử dụng vốn, tài sản của một doanhnghiệp bằng cách so sánh doanh thu với việc bỏ vốn vào kinh doanh dưới các tàisản khác nhau
* Số vòng quay hàng tồn kho.
Hàng tồn kho bình quân
Số vòng quay hàng tồn kho phản ánh số lần mà hàng tồn kho luân chuyển trong
kỳ Số vòng quay hàng tồn kho càng cao thì việc kinh doanh được đánh gía là tốtbởi vì doanh nghiệp chỉ đầu tư cho hàng tồn kho thấp nhưng vẫn đạt được doanh
số cao Tuy nhiên vòng quay hàng tồn kho cao hay thấp còn phụ thuộc vào đặcđiểm của ngành kinh doanh
* Số ngày một vòng quay hàng tồn kho.
Số ngày trong kỳ(360)
Trang 20Số ngày một vòng quay hàng tồn kho
=
Số vòng quay HTK
Số ngày một vòng quay hàng tồn kho phản ánh số ngày bình quân 1 vòng quayhàng tồn kho Số ngày này càng nhỏ thì vòng quay hàng tồn kho càng nhanh Sốngày này nhỏ thì vốn vật tư, hàng hóa của doanh nghiệp luân chuyển càng nhanh,không bị ứ đọng
* Vòng quay các khoản phải thu.
Vòng quay các khoản phải thu = Doanh thu có thuế gián thuCác khoản phải thu bq
Chỉ tiêu này phản ánh tốc độ chuyển đổi các khoản phải thu thành tiền mặt củadoanh nghiệp Chỉ tiêu này cao chứng tỏ nhanh thu hồi vốn Nếu chỉ tiêu này nhỏchứng tỏ doanh nghiệp bị chiếm dụng vốn lớn Tuy nhiên chỉ tiêu này cao hay thấpcòn phụ thuộc vào chính sách bán chịu của doanh nghiệp
* Kỳ thu tiền bình quân.
Kỳ thu tiền bình quân = Số ngày trong kỳVòng quay các khoản phải thu
Kỳ thu tiền bình quân phản ánh số ngày cần thiết để thu được các khoản phảithu Vòng quay các khoản phải thu càng lớn thì kỳ thu tiền bình quân càng nhỏ vàngược lại Nếu kỳ thu tiền bình quân càng dài thì doanh nghiệp bị chiếm dụng vốnlớn Tuy nhiên kỳ thu tiền bình quân cao hay thấp cũng chưa có kết luận chính xácđược vì nó phụ thuộc vào chính sách tín dụng của doanh nghiệp
* Vòng quay vốn lưu động.
Vòng quay vốn lưu động = Doanh thu thuầnVLĐ bq trong kỳChỉ tiêu này phản ánh trong kỳ vốn lưu động quay được mấy vòng hay mộtđồng vốn lưu động trong kỳ tạo ra được bao nhiêu đồng doanh thu Chỉ tiêu nàycàng lớn chứng tỏ doanh nghiệp sử dụng vốn lưu động càng có hiệu quả và ngược
Trang 21lại Tuy nhiên để đánh giá chính xác chỉ tiêu này cần phải so sánh với chuẩn mựccủa ngành.
* Số ngày một vòng quay vốn lưu động.
Vòng quay VLĐChỉ tiêu này phản ánh trung bình một vòng quay vốn lưu động hết bao nhiêungày và nó là chỉ tiêu nghịch đảo của chỉ tiêu vòng quay vốn lưu động Do đó nếuchỉ tiêu này thấp thì tốt vì vốn lưu động không bị ứ đọng, còn ngược lại nếu chỉtiêu này cao thì chứng tỏ vốn lưu động bị ứ đọng, bị chiếm dụng chứng tỏ hiệu quả
sử dụng vốn thấp
* Hiệu suất sử dụng vốn cố định.
VCĐ bqChỉ tiêu này phản ánh hiệu quả sử dụng vốn cố định, nó cho chúng ta biết đầu
tư một đồng vốn cố định tạo ra mấy đồng doanh thu thuần
Chỉ tiêu này muốn phân tích một cách rõ ràng thì ta phải đi sâu tìm hiểu cơ cấucác loại tài sản cố định đó Điều này gợi ý cho doanh nghiệp cân nhắc trước khiđầu tư vào tài sản cố định mới hoặc xem xét mức khấu hao của tài sản cố định cũ
đã hợp lý hay chưa
* Vòng quay toàn bộ vốn.
Vòng quay toàn bộ vốn = Doanh thu thuầnVốn SXKD bqChỉ tiêu này phản ánh vốn của doanh nghiệp trong kỳ quay được bao nhiêuvòng Qua chỉ tiêu này có thể đánh giá khả năng sử dụng tài sản của doanh nghiệpthể hiện qua doanh thu thuần được sinh ra từ tài sản mà doanh nghiệp đã đầu tư.Việc tăng nhanh vòng quay toàn bộ vốn của doanh nghiệp góp phần không nhỏ vàoviệc tăng lợi nhuận, tăng khả năng cạnh tranh và uy tín của doanh nghiệp
1.3.3.4 Chỉ tiêu về khả năng sinh lời
Trang 22Các chỉ số sinh lời luôn được các nhà quản trị tài chính quan tâm Chúng là cơ
sở quan trọng để đánh giá kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh trong một kỳ nhấtđịnh, là đáp số sau cùng của hiệu quả kinh doanh và còn là một luận cứ quan trọng
để các nhà hoạch định đưa ra các quyết định tài chính trong tương lai
* Tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu.
Tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu = LN thuầnDoanh thu thuần từ hđkd
Chỉ tiêu này để đánh gía hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp thịnh vượnghay suy thoái, ngoài việc xem xét doanh thu đạt được trong kỳ, các nhà tài chínhcòn xác định trong một đồng doanh thu có mấy đồng lợi nhuận Nhìn chung chỉ sốnày cao thì tốt vì nếu cao do giá thành sản phẩm giảm, nhưng nếu cao do gia bántăng thì chưa chắc đã tốt vì nó ảnh hưởng đến tính cạnh tranh của doanh nghiệplàm cho tiêu thụ sản phẩm giảm dẫn đến doanh thu và lợi nhuận giảm theo
* Tỷ suất lợi nhuận vốn kinh doanh.
Tỷ suất lợi nhuận vốn kinh doanh là chỉ tiêu đo lường mức sinh lời của tổngvốn Chỉ tiêu này phản ánh cứ một đồng vốn kinh doanh bình quân trong kỳ tạo ramấy đồng lợi nhuận Nếu tỷ suất này cao chứng tỏ doanh nghiệp làm ăn có lãi vàngược lại tỷ suất này thấp thì chứng tỏ doanh nghiệp hoạt động không có hiệu quả
* Tỷ suất lợi nhuận vốn chủ sở hữu.
Khả năng sinh lời của vốn chủ sở hữu là chỉ tiêu quan trọng, phản ánh khảnăng sinh lời của vốn chủ sở hữu nói riêng và khả năng sinh lời của toàn bộ vốnnói chung Chỉ tiêu này phản ánh cứ một đồng vốn chủ sở hữu đầu tư thì mang lạibao nhiêu đồng lợi nhuận sau thuế
Trang 23CHƯƠNG II ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG TÌNH HÌNH TÀI CHÍNH TẠI CÔNG TY
CỔ PHẦN NHỰA HƯNG YÊN 2.1 TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH CỦA CÔNG TY:
2.1.1 Tên doanh nghiệp: Công ty Cổ phần nhựa Hưng Yên
2.1.2 Địa chỉ: 115 Nguyễn Thiện Thuật – TP Hưng Yên – Hưng Yên
2.1.3 Website: http://hungyenplastic.com
2.1.4 Khái quát quá trình phát triển :
Công ty Cổ phần Hưng Yên là một trong những doanh nghiệp hoạt động lâunăm trong ngành Nhựa
Được thành lập từ 1/1/1974, theo quyết định 499/CNN-TCLĐ ngày 20/7/1973tiền thân là Công ty nhựa Hải Hưng, kế thừa và phát triển từ Công ty nhựa HưngYên
Năm 2005 được sự cho phép của nhà nước, Bộ công nghiệp Công ty đãchuyển đổi thành Công ty Cổ phần Nhựa Hưng Yên
Ngày 30/7/2005 công ty tiến hành Đại hội cổ đông lần đầu 19/8/2005 công tyđược cấp phép đăng ký kinh doanh các mặt hàng PVC, PE, mút xốp PU, đũa gỗxuất khẩu, túi lưới
Trải qua 5 năm hoạt động trong cơ chế mới, kế thừa kinh nghiệm nhiều năm hoạtđộng của Công ty nhựa Hưng Yên, Công ty Cổ Phần nhựa Hưng Yên không ngừngphát triển ngày càng mở rộng cả về quy mô sản xuất cũng như năng suất, chấtlượng
2.1.5 Tổ chức hoạt động kinh doanh của công ty:
2.1.5.1 Chức năng, ngành nghề kinh doanh, sản phẩm chủ yếu:
Trang 24 Chức năng, ngành nghề kinh doanh:
- Hoạt động chủ yếu của doanh nghiệp: sản xuất và kinh doanh các sản phẩmnhựa (bao bì nhựa, PVC, PE,PU), Màng mỏng PVC
- Sản xuất xuất khẩu túi PE
- Túi siêu thị PE và màng PE, PP
- Nhập khẩu các loại hạt nhựa, hoá chất, vật tư, phụ gia, thiết bị, máy móc, phụtùng, khuôn mẫu phục vụ cho ngành sản xuất các sản phẩm chất dẻo
- Sản phẩm được sản xuất bằng nguyên liệu nhập khẩu, trên dây truyền tiêntiến, công nghệ hiện đại của Nhật Bản
Sản phẩm chủ yếu:
- Túi PE xuất khẩu:
Túi T-shirt, túi Garbage, túi Grip, túi roll, túi Die cut v.v xuất khẩukhoảng trên 12.000 tấn chiếm khoảng hơn 55% tổng sản lượng túi PE nhậpkhẩu từ Việt Nam vào thị trường Nhật Bản (Theo thống kê của tập đoànMitsubishi) Dự tính năm 2011 Công ty sẽ xuất khẩu khoảng từ 15.000 đến20.000 tấn sản phẩm túi PE các loại có in từ 1 đến 4 mầu, có chất lượngcao
- Túi siêu thị PE
- Màng PE quấn pallet xuất khẩu: Sản lượng 1500 đến 2000 tấn/năm
- Đũa gỗ xuất khẩu: Sản lượng 20.000.000 đôi/năm
- Màng mỏng PVC
Trang 25- Xốp PU: Đệm ghế, giường, xốp phục vụ ngành da giầy và các ngành côngnghiệp khác.
Tất cả các sản phẩm của công ty được sản xuất trên dây truyền hiện đại, côngnghệ tiên tiến nhập khẩu đồng bộ từ Nhật Bản của các hãng chế tạo máy lớn:PLACO, TOMAX, NIPPON FLUTE
Ngoài ra Công ty còn kinh doanh các sản phẩm từ chất dẻo, xuất nhập khẩunguyên liệu nhựa các loại, hóa chất, vật tư, phụ gia, thiết bị, máy móc, phụ tùngphục vụ cho ngành sản xuất chất dẻo…
2.1.5.2 Tổ chức hoạt động kinh doanh
Hiện nay, Công ty đã phát triển mở rộng với 9 nhà máy tổng diện tích 57.000
m2 đảm bảo đủ cung cấp túi PE cho thị trường Trong đó có 1 nhà máy chuyên sảnxuất màng PE quấn pallet (Stretch wrap) xuất khẩu sang thị trường Nhật Bản,Đức, và 1 nhà máy chuyên sản xuất đũa gỗ xuất khẩu vào thị trường Nhật Bản
2.1.6 Tổ chức bộ máy quản lý sản xuất kinh doanh của công ty
Sơ đồ cơ cấu tổ chức của công ty Cổ phần Nhựa Hưng
Trang 26Đại hội đồng cổ đông Hội đồng quản trị Tổng giám đốc
Ban kiểm soát
Phòng Tổ chức
lao động Văn phòng Phòng kế hoạch chính kế toánPhòng Tài
Phòng quản lý chất lương
Phòng thị trường
GĐ NM1
1
Trang 27Trong đó:
- Đại hội đồng cổ đông: Là cơ quan quyết định cao nhất của Công ty gồm tất
cả các cổ đông có quyền biểu quyết, họp ít nhất mỗi năm một lần ĐHĐCĐquyết định những vấn đề được Luật pháp và Điều lệ Công ty quy định
- Hội đồng quản trị là cơ quan quản trị của Công ty, có toàn quyền nhândanh Công ty để quyết định, thực hiện các quyền và nghĩa vụ của Công tykhông thuộc thẩm quyền Đại hội đồng cổ đông Hội đồng quản trị của Công
ty có 05 thành viên, mỗi nhiệm kỳ tối đa của từng thành viên là 05 năm Chủtịch Hội đồng quản trị do HĐQT bầu ra
- Ban kiểm soát là cơ quan có chức năng hoạt động độc lập với Hội đồngquản trị và Ban giám đốc Ban kiểm soát do ĐHĐCĐ bầu ra và thay mặtĐHĐCĐ giám sát mọi mặt hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty, báocáo trực tiếp ĐHĐCĐ Ban kiểm soát của Công ty có 03 thành viên
- Tổng giám đốc: là người đại diện theo pháp luật, điều hành hoạt độnghàng ngày của công ty mẹ theo mục tiêu, kế hoạch, phù hợp điều lệ của công
ty và các nghị quyết, quyết định của Hội đồng quản trị
- Phòng tổ chức lao động: đảm nhận và chịu trách nhiệm trước công ty vềlĩnh vực tổ chức lao động
- Văn phòng: là bộ phận đảm nhận và chịu trách nhiệm trước công ty vềlĩnh vực văn phòng, công tác hành chính, thia đua khen thưởng
- Phòng kế hoạch : đảm nhận và chịu trách nhiệm về lĩnh vực kế hoạch kinhdoanh và lĩnh vực đầu tư của công ty
- Phòng tài chính kế toán: đảm nhận và chịu trách nhiệm trước công ty về lĩnhvực tài chính kế toán của công ty và tại các nhà máy.Phòng kế toán tài chính
Trang 28gồm 1 kế toán trưởng và 5 nhân viên tại văn phòng, tại mỗi nhà máy có 1 nhânviên kế toán.
- Phòng quản lý chất lượng: đảm nhận và chịu trách nhiệm về lĩnh vực quản
lý chất lượng sản phẩm của công ty
- Phòng thị trường: đảm nhận và chịu trách nhiệm về lĩnh vực quảng cáo,phát triển thị trường của công ty
- Giám đốc các nhà máy chịu trách nhiệm về hoạt động sản xuất kinh doanhcủa nhà máy dưới sự điều hành từ Tổng giám đốc
2.1.7 Đặc điểm hoạt động kinh doanh:
2.1.7.1 Cơ sở vật chất kỹ thuật:
Xác định được thị trường chủ yếu của công ty là xuất khẩu sang các thịtrường khó tính như Nhật Bản, Châu Âu, cũng như cung cấp các sản phẩmcao cấp cho thị trường Việt Nam, công ty đã chủ động đầu tư các dây truyền
các hãng chế tạo máy lớn: PLACO, TOMAX, NIPPON FLUTE
2.1.7.2.Thị trường các yếu tố đầu vào:
Nguyên liệu đầu vào chính để sản xuất các sản phẩm của công ty là hạtnhựa
Do thị trường Việt Nam chỉ có thể đáp ứng được một lượng rất nhỏ (khoảng20% nhu cầu trong nước – theo thống kê của Hiệp hội Nhựa Việt Nam) nênhầu hết nguyên liệu đầu vào của công ty (khoảng 90%) là nhập khẩu từ cácnước: Hàn Quốc, Thái Lan, Singapore, Trung Quốc, Hoa Kỳ
2.1.7.3 Thị trường tiêu thụ và lợi thế cạnh tranh của công ty
Trang 29Như đã giới thiệu ở trên, các sản phẩm chính của công ty là túi siêu thị PE,màng quấn PE pallet xuất khẩu, màng mỏng PVC, đũa gỗ xuất khẩu, xốp PUphục vụ cho các ngành công nghiệp khác… đây hầu hết là các sản phẩmđược sản xuất theo các đơn đặt hàng.
Theo đánh giá của Hiệp hội Nhựa Việt Nam, thời gian gần đây, nhựa đượcđánh giá là một trong những mặt hàng có tốc độ tăng trưởng XK nhanh nhất
cả nước (chỉ đứng thứ 4 sau cơ khí, hạt tiêu và cà phê) với những thị trường
XK còn hết sức rộng lớn và không quá khó để thâm nhập
Và công ty cổ phần Nhựa Hưng yên cũng là một trong những doanh nghiệphàng đầu trong ngành nhựa, với lợi thế cạnh tranh là chất lượng sản phẩm tốt
do được đầu tư dây truyền máy móc hiệ đại và lịch sử hình thành và pháttriển lâu dài, công ty xuất khẩu các sản phẩm của mình sang các thị trườngkhó tính như Nhật Bản, Eu, Hoa kỳ…
Ngoài ra, nhận thấy thị trường trong nướccũng có nhu cầu rất lớn với cácsản phẩm như túi siêu thị PE, xốp PU để phục vụ cho các ngành công nghiệpkhác, công ty đang nỗ lực cung cấp các sản phẩm của mình cho thị trườngViệt Nam
2.1.7.4 Lực lượng lao động:
Cùng với sự phát triển của công ty, hiện nay công ty có 603 lao động , trong
đó có 75 cán bộ thuộc khối văn phòng, kỹ thuật , còn lại là các lao động phổthông,cụ thể như sau: