Kết quả cần đạt - Về nội dung: giúp học sinh cảm nhận được vẻ đẹp làng mạn hào hùng của tâm hồn nhà chí sĩ cách mạng đầu thế kỷ XX và giọng thơ tâm huyết sôi trào của Phan Bội Châu.. Tác
Trang 1GIÁO ÁN NGỮ VĂN LỚP 11 Tiết 73: XUẤT DƯƠNG LƯU BIỆT Phan Bội Châu
A Kết quả cần đạt
- Về nội dung: giúp học sinh cảm nhận được vẻ đẹp làng mạn hào hùng của tâm hồn nhà chí sĩ cách mạng đầu thế kỷ XX và giọng thơ tâm huyết sôi trào của Phan Bội Châu
- Về kỹ năng: giúp học sinh tìm hiểu và phân tích được những nét đặc sắc
về mặt nghệ thuật của bài thơ
- Về tư tưởng: bồi dưỡng cho học sinh những tình cảm cao đẹp: lòng yêu nước, chí làm trai
B Chuẩn bị của giáo viên và học sinh
- Sách giáo khoa Ngữ văn 10, tập I, ban cơ bản
- Sách giáo viên, sách thiết kế bài giảng Ngữ văn 10, tập I, ban cơ bản
- Một vài tranh ảnh Phan Bội Châu
C Các bước lên lớp
1 Ổn định tổ chức, kiểm tra sĩ số
2 Kiểm tra bài cũ
3 Dẫn vào bài mới
Ông đã được Nguyễn Ái Quốc ca ngợi là “vị anh hùng, vị thiên sứ, đấng xả
thân vì độc lập, được hàng triệu con người trong vòng nô lệ tôn sùng” và
những vần thơ của ông đã được Tố Hữu tôn xưng là những vẫn thơ “dậy sóng”.
Ông chính là nhà yêu nước Phan Bội Châu Hôm nay chúng ta sẽ cùng tìm hiểu
hùng tâm tráng chí và nhiệt huyết sục sôi của ông qua bài thơ: “Xuất dương lưu
biệt”.
Trang 24 Hướng dẫn đọc – hiểu văn bản
Hoạt động của giáo viên và
học sinh
Nội dung kiến thức cần đạt
I – Tìm hiểu chung
1 Tác giả
+ GV gọi HS đọc phần Tiểu
dẫn (SGK/3) và yêu cầu HS
nêu những nét chính về tác
giả Phan Bội Châu
+ HS đọc SGK, suy nghĩ, lựa
chọn những chi tiết tiêu biểu
và trả lời
I – Tìm hiểu chung
1 Tác giả
Phan Bội Châu (1867 – 1940):
- Tên thuở nhỏ là Phan Văn San, hiệu Sào Nam.
- Quê: làng Đan Nhiễm, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ
An
- Cuộc đời hoạt động có thể chia thành 3 giai đoạn:
+ Trước 1905: hoạt động trong nước, lăn lộn từ Nam chí Bắc
+ Từ 1905 – 1925: bôn ba hoạt động ở nước ngoài (Nhật Bản, Trung Quốc, Thái Lan), lập ra nhiều tổ chức yêu nước như Duy Tân hội, Đông Du
+ Từ 1925 đến 1940: bị thực dân Pháp bắt, giam lỏng ở Huế
và mất tại đây
- Con người:
+ Từ nhỏ đã nổi tiếng thần đồng với tư duy sắc sảo, nhạy bén, không ngừng đổi mới, tài năng phong phú, đa dạng + Là nhà Nho đầu tiên có tư tưởng tìm đường cứu nước, cũng là người lập ra tổ chức Cách mạng theo con đường dân chủ tư sản đầu tiên ở nước ta
Phan Bội Châu là người khởi xướng, là ngọn cờ đầu của phong trào yêu nước và cách mạng Việt Nam, trong khoảng
20 năm đầu của thế kỉ XX
Trang 3- Sự nghiệp văn chương:
+ Là một nhà văn, nhà thơ lớn với sự nghiệp văn chương đồ
sộ Các tác phẩm chính: Việt Nam vong quốc sử, Hải ngoại
huyết thư, Trùng Quang tâm sử, Phan Bội Châu niên biểu, Phan Sào Nam văn tập, Phan Sào Nam tiên sinh quốc văn thi tập.
+ Quan niệm văn chương là vũ khí tuyên truyền yêu nước và Cách mạng; khơi dòng cho loại văn trữ tình chính trị - một trong những mũi tiến công kẻ thù và vận động Cách mạng
Phan Bội Châu là cây bút xuất sắc nhất của văn thơ Cách mạng Việt Nam mấy chục năm đầu thế kỷ XX
2 Văn bản tác phẩm
+ GV đặt câu hỏi: dựa vào
phần Tiểu dẫn (SGK/3) em
hãy cho biết:
a Hoàn cảnh ra đời tác
phẩm.
b Thể loại
c Đề tài
d Bố cục tác phẩm (yêu
cầu HS đọc văn bản
tác phẩm trước khi
tìm hiểu bố cục)
+ HS suy nghĩ, trả lời
2 Văn bản tác phẩm
a Hoàn cảnh ra đời
Năm 1905, trước lúc lên đường sang Nhật Bản, ông làm bài thơ này để từ giã bạn bè, đồng chí Lúc này, đất nước đã mất chủ quyền, tiếng mõ Cần Vương đã tắt
b Thể loại
Bài thơ được viết bằng chữ Hán, theo thể thất ngôn bát cú Đường luật
c Đề tài
Bài thơ mang đề tài “lưu biệt” – một đề tài quen thuộc
trong thơ cổ trung đại nhưng lại mang nét mới mẻ ở chỗ đây không phải là lời người ở lại tiễn người ra đi mà lại là lời người ra đi gửi người ở lại với giọng thơ rắn rỏi, mực thước
d Bố cục
Bài thơ mang bố cục đặc trưng của thể thất ngôn bát cú Đường luật, gồm 4 phần: đề - thực – luận – kết
Trang 4II – Tìm hiểu chi tiết
1 Hai câu đề
+ GV gọi HS đọc lại hai câu
đề và đặt câu hỏi: câu thơ đầu
nói về vấn đề gì? Phan Bội
Châu có phải là người đầu
tiên nói về vấn đề ấy không?
Điểm mới mẻ của tác giả ở
đây là gì?
+ HS đọc hai câu đề, suy
nghĩ và trả lời
II – Tìm hiểu chi tiết
1 Hai câu đề
- Nội dung: tuyên ngôn về chí làm trai: làm trai phải lạ
ở trên đời lạ tức là phải biết sống cho phi thường,
hiển hách, dám mưu đồ những việc kinh thiên động địa, xoay chuyển càn khôn chứ không sống tầm thường, tẻ nhạt, buông xuôi theo số phận, để mặc cho con tạo xoay vần đây là một lẽ sống đẹp, cao cả, gần gũi với lý tưởng nhân sinh của các nhà Nho truyền thống nhưng mạnh mẽ và táo bạo hơn
- Trước PBC đã có nhiều người nói về chí làm trai, về
“nam nhi trái” như: Nguyễn Công Trứ (Làm trai
đứng ở trong trời đất/ Phải có danh gì với núi sông; Chí làm trai nam, bắc, đông, tây/ Cho phỉ sức vẫy vùng trong bốn bể), Nguyễn Gia Thiều (Chí làm trai dặm nghìn da ngựa/ Gieo Thái Sơn nhẹ tựa hồng mao)
- Điểm mới mẻ của PBC: vượt lên giấc mộng công
danh thường gắn liền với hai chữ trung quân để vươn
tới những lý tưởng nhân quần, xã hội rộng lớn cao cả
(bởi đời ở đây chính là cuộc đời, cũng chính là xã
hội)
+ GV: Tầm vóc của con
người hiện lên như thế nào
qua câu thơ thứ hai?
+ HS: trả lời
- Con người dám đối mặt với cả đất trời, vũ trụ để tự khẳng định mình
- Phải tự mình xoay chuyển đất trời, xoay chuyển tình thế, quyết định thời cuộc, thực hiện khát vọng lớn lao, không chịu khuất phục trước thực tại, trước số phận, trước hoàn cảnh
Lý tưởng sống này tạo cho con người một tầm vóc, một
Trang 5tư thế mới: khỏe khoắn, ngang tàng, dám ngạo nghễ thách thức với càn khôn
+ GV: Nhận xét về giọng thơ
và nhịp thơ của hai câu đề?
+ HS: trả lời
Giọng thơ rắn rỏi + nhịp 2/4 rồi 4/2 ý tưởng táo bạo bạo, một quyết tâm cao và niềm tự hào của đông nam nhi
2 Hai câu thực
+ GV yêu cầu HS đọc lại hai
câu thực và đặt câu hỏi: ở hai
câu thực này, cái tôi của tác
giả đã xuất hiện trực tiếp qua
từ nào? So sánh nguyên tác
với dịch thơ
+ HS đọc, suy nghĩ và trả lời
2 Hai câu thực
- Cái tôi của tác giả xuất hiện qua từ “ngã” – được dịch thoát ý là “tớ” trong bản dịch thơ.
- Nguyên tác: “hữu ngã” “có ta”, bản dịch: “tớ” tuy
làm thay đổi âm điệu câu thơ nhưng lại mang đến sự trẻ trung, hóm hỉnh thái độ hăm hở của nhân vật trữ tình ra
đi tìm đường cứu nước
GV bình: cái tôi xuất hiện ở đây không phải là cái tôi riêng tư nhỏ bé mà là cái tôi công dân đầy tinh thần trách nhiệm với cuộc đời Cuộc đời cần có ta không phải để hưởng lạc thú mà để cống hiến cho đời, sao cho đáng mặt nam nhi đại trượng phu tung hoành thiên hạ Đây là lời khẳng định dứt khoát, chắc nịch, dựa trên một niềm tin sắt
đá vào tài trí bản thân
+ GV: câu thơ thứ tư có kết
cấu là một câu hỏi tu từ Em
hãy cho biết tác dụng của
việc sử dụng biện pháp nghệ
thuật này trong mạch thơ?
+ HS: suy nghĩ và trả lời
- Câu hỏi tu từ mang ý phủ định mà thực chất là khẳng định cương quyết hơn khát vọng sống hiển hách, phi thường, phát huy hết tài năng để cống hiến cho đời
- Cụ Phan không hề khẳng định mình và phủ nhận mai sau, mà muốn nói lịch sử là một dòng chảy liên tục,
có sự góp mặt và tham gia gánh vác công việc của nhiều thế hệ có niềm tin sắt đá vào bản thân và các thế hệ mai hậu
GV liên hệ mở rộng: đặt trong hoàn cảnh mấy năm đầu
Trang 6thế kỷ XX, sau những thất bại liên tiếp của phong trào Cần Vương chống Pháp – tâm lý buông xuôi, chán nản, an phận, cam chịu cảnh cá chậu chim lồng có nguy cơ phát triển, đó
là cái vạ chết lòng – thì hai câu thơ thực như hồi chuông thức tỉnh có tác dụng rất mạnh
+ GV: nhận xét về giọng thơ
hai câu thực?
+ HS suy nghĩ, trả lời
Giọng thơ đĩnh đặc, rắn rỏi thể hiện một cái “tô”“ tích cực, một cái “tôi” trách nhiệm cao cả với khát vọng và quyết tâm
cao trong buổi lên đường cứu nước
3 Hai câu luận
+ GV yêu cầu HS đọc hai câu
luận và đặt câu hỏi: thái độ
quyết liệt của tác giả đối với
hoàn cảnh thực tại của đất
nước và những tín điều xưa
cũ được thể hiện trong những
cụm từ đáng chú ý nào? So
sánh nguyên tác với bản dịch
thơ?
+ HS đọc văn bản, suy nghĩ
và trả lời
3 Hai câu luận
- “Non sông đã chết” : Đất nước mất chủ quyền thì con
người cũng không yên ổn Nỗi nhục lớn xuất phát từ chỗ con người trở thành nô lệ lẽ nhục - vinh gắn bó chặt chẽ với ý thức về sự tồn vong của đất nước, dân tộc
PBC thức tỉnh, cổ vũ lòng yêu nước của nhân dân
- “Hiền thánh còn đâu, học cũng hoài”: buổi nước mất nhà
tan, sách vở thánh hiền cũng chẳng có ích gì, có nấu sử sôi kinh cũng trở nên vô nghĩa, lạc hậu
kêu gọi xếp bút nghiên, cầm lấy gươm súng dành lại nước nhà và từ bỏ lối học cũ
- So sánh: so với nguyên tác, các cụm từ đồ nhuế (nhơ nhuốc) được dịch là nhục, tụng diệc si (học cũng chỉ ngu thôi) được dịch là học cũng hoài chỉ thể hiện được ý phủ
nhận mà chưa thể hiện rõ cái tư thế, khí phách ngang tàng, dứt khoát của tác giả
+ GV đặt câu hỏi nâng cao
dành cho HS khá giỏi: có
phải tác giả phủ nhận thánh
hiền một cách hoàn toàn
- Phan Bội Châu chưa đến mức phủ nhận hoàn toàn cả nền học vấn Nho giáo mà chính tác giả là đại diện xuất sắc Nhưng ở đây ông đã dám đối mặt với cả nền học vấn cũ để nhận thức chân lý: sách vở Nho
Trang 7trong khi bản thân là đại diện
tiêu biểu cho nền giáo dục
Nho giáo? Từ đây em thấy
được điều gì ở con người
Phan Bội Châu?
+ HS suy nghĩ và trả lời
gia thánh hiền từng là rường cột tư tưởng đạo lý, văn hóa cho nhà nước phong kiến Việt Nam hàng ngàn năm lịch sử thì giờ đây chẳng giúp ích được gì trong buổi nước mất nhà tan Nếu cứ khư khư nệ cổ, trung
quân mù quáng thì chỉ làm cho mình ngu mà thôi.
- Đây là tư tưởng hết sức mới mẻ và táo bạo của Phan Bội Châu Có được dũng khí và nhận thức sáng suốt
đó trước hết phải kể đến tấm lòng yêu nước cháy bỏng của ông quyết đổi mới tư duy để tìm con đường đưa nước nhà thoát khỏi vòng nô lệ tối tăm
4 Hai câu kết
+ GV yêu cầu HS đọc hai
câu kết và đặt câu hỏi: Hai
câu kết thể hiện khát vọng
hành động và tư thế của
người ra đi như thế nào?
(Chú ý không gian được
nói đến, hình tượng thơ có
gì đặc biệt, biện pháp tu từ
và so sánh phần dịch thơ
với nguyên tác ở câu 8)
+ HS đọc, suy nghĩ, tìm
dẫn chứng và trả lời
4 Hai câu kết
- Không gian : biển Đông rộng lớn - chí lớn của nhà cách
mạng
Câu thơ là sự hăm hở của người ra đi qua khát vọng muốn vượt theo cánh gió dài trên biển rộng để thực hiện lí tưởng cách mạng
- Hình tượng thơ vừa kỳ vĩ, lớn lao vừa lãng mạn, thơ mộng
(trường phong, Đông hải, thiên trùng, bạch lãng) hòa nhập
với con người trong tư thế cùng bay lên chất sử thi cuộn trào trong từng câu chữ
- Lối nói nhân hóa “ thiên trùng bạch lãng nhất tề phi” được dịch là “muôn trùng sóng bạc tiễn ra khơi” tuy chưa
khắc họa được tư thế và khí thế hùng mạnh, bay bổng như nguyên tác nhưng cũng cho thấy nhân vật trữ tình trong niềm hứng khởi đã nhìn muôn trùng sóng bạc không phải như những trở ngại đáng sợ mà như một yếu tố kích thích Chúng là bạn đồng hành trong một cuộc ra đi hùng tráng + GV: em có nhận xét gì về
âm điệu của hai câu thơ cuối?
- Câu 7: Âm điệu rắn rỏi, thể hiện lời nguyện thề dứt khoát, thiêng liêng với chính mình, trước bạn bè, đồng chí và đồng
Trang 8+ HS suy nghĩ và trả lời bào.
- Câu 8: Âm điệu nhịp nhàng, bay bổng, cao dần, xa dần làm cho lời nguyện biến thành hành động, dạt dào niềm lạc quan, phơi phới niềm tin
III – Tổng kết
+ GV: bài thơ mang những
giá trị nội dung và đặc sắc
nghệ thuật nào?
+ HS: tổng hợp kiến thức,
suy nghĩ và trả lời
III – Tổng kết
1 Nội dung
- Bài thơ chứa đựng nội dung tư tưởng lớn lao: có ý chí làm trai, có khát vọng xoay chuyển thời thế, có ý thức cá nhân,
có trách nhiệm cao cả
- “Lưu biệt khi xuất dương” là một tác phẩm có giá trị giáo
dục to lớn đối với thanh niên nhiều thế hệ
2 Nghệ thuật
- Thể thơ thất ngôn bát cú luật bằng truyền đạt trọn vẹn hoài bão, khát vọng của con người có chí lớn PBC
- Bài thơ mang một giọng điệu rất riêng: hăm hở, đầy nhiệt huyết
- Ngôn ngữ thơ bình dị mà có sức lay động mạnh mẽ
D Củng cố, dặn dò
- Học thuộc lòng bài thơ và phần Ghi nhớ (SGK/5)
- Cảm nhận được vẻ đẹp hào hùng lãng mạn của nhà chí sỹ yêu nước Phan Bội Châu cùng những đặc săc nghệ thuật của bài thơ
- Chuẩn bị bài: Nghĩa của câu.