Tính nguy hiểm cho xã hội của tội phạm không chỉ là căn cứ để phân biệt tội phạm với các vi phạm pháp luật khác mà còn là cơ sở để đánh giá tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạ
Trang 1LUẬT HÌNH SỰ VÀ TỐ TỤNG HÌNH SỰ
A LÝ THUYẾT Câu 1: Phân tích đặc điểm của các dấu hiệu trong cấu thành tội phạm?
a Tính nguy hiểm cho xã hội:
Tính nguy hiểm cho xã hội có nghĩa là nó gây ra hoặc đe dọa gây ra thiệt hại đáng kể cho các quan hệ xã hội là khách thể được luật hình sự bảo vệ
Khoản 1 Điều 8 BLHS: "Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội " Đây dấu hiệu quan trọng nhất quyết định một tội phạm, nó được thể hiện thông qua hành vi nguy hiểm cho xã hội của con người
Khoản 2 Điều 8 BLHS: "Căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội " Như vậy dấu hiệu này được coi là dấu hiệu cơ bản, quyết định các dấu hiệu khác Một hành vi có đủ 3 dấu hiệu của tội phạm nhưng tính nguy hiểm cho xã hội của nó là không đáng kế thì không bị coi là tội phạm
Tính nguy hiểm cho xã hội của tội phạm không chỉ là căn cứ để phân biệt tội phạm với các vi phạm pháp luật khác mà còn là cơ sở để đánh giá tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội làm cơ sở cho việc cá thể hóa trách nhiệm hình sự trong từng trường hợp cụ thể được xác định
b Tính có lỗi:
Lỗi là thái độ tâm lý của con người (được thể hiện dưới dạng cố ý hoặc vô ý) đối với hành vi nguy hiểm cho xã hội mà mình thực hiện và đối với hậu quả (thiệt hại) mà hành vi đó gây ra Một người chỉ bị coi là có lỗi khi thực hiện hành vi gây thiệt hại cho xã hội, nếu hành vi đó là kết quả của sự lựa chọn, quyết định và thực hiện cách
xử sự khi có đủ điều kiện để lựa chọn cách xử sự khác phù hợp với yêu cầu của xã hội
c Tính trái pháp luật hình sự:
Được thể hiện thông qua Điều 8 BLHS: "Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội
… được quy định trong BLHS.” Như vậy, tính "được quy định trong BLHS” hay
"tính trái pháp luật hình sự” là dấu hiệu bắt buộc của hành vi bị coi là tội phạm Hai dấu hiệu này có mối quan hệ biện chứng với nhau, tính trái pháp luật hình sự là dấu
Trang 2hiệu về mặt hình thức pháp lí phản ánh tính nguy hiểm cho xã hội Tính trái pháp luật
là căn cứ để đảm bảo quyền lợi của công dân, tránh việc xử lý tùy tiện
d Tính phải chịu hình phạt:
Tính chịu hình phạt được xác định bởi chính các thuộc tính khách quan bên trong (tính nguy hiểm cho xã hội và tính trái pháp luật hình sự) của tôi phạm nên nó được coi là dấu hiệu đi kèm của hai dấu hiệu trên Bất cứ hành vi phạm tội nào, do tính nguy hiểm cho xã hội cũng đều bị đe dọa phải chịu hình phạt, tính nguy hiểm xã hội càng lớn thì hình phạt càng cao
Câu 2: Khái niệm đối tượng tác động của tội phạm và một số đối tượng tác động của tội phạm?
1 Khái niệm: Đối tượng tác động của tội phạm là bộ phận hợp thành của khách thể
mà khi tác động lên nó, người phạm tội gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại cho các QHXH được LHS bảo vệ
2 Một số loại đối tượng tác động của tội phạm:
a Con người
Con người vừa là thực thể tự nhiên vừa là thực thể xã hội, là chủ thể của nhiều QHXH, trong đó có những QHXH chỉ có thể bị gây thiệt hại khi có sự biến đổi tình trạng bình thường của con người – quan hệ nhân thân Đối tượng tác động của tội phạm có thể là con người đối với tội phạm tước đoạt tính mạng, gây tổn hại sức khỏe, xúc phạm nhân phẩm, danh dự
c Sự hoạt động bình thường của cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội:
LHS cũng bảo vệ những quan hệ xã hội nhất định qua việc đảm bảo hoạt động bình thường của chủ thể với ý nghĩa là nội dung của quan hệ xã hội đó Trong những
Trang 3trường hợp này, hoạt động bình thường của chủ thể được coi là đối tượng của tội phạm
Sự là biến đối tình trạng của đối tượng tác động ở đây chính là sự cản trở hoạt động bình thường của các chủ thể hoặc dưới hình thức làm biến dạng xử sự của người khác hoặc dưới hình thức tự làm biến dạng xử sự của chính mình Ví dụ: Hành vi đưa hối
lộ là hành vi nhằm biến dạng xử sự của người có chức vụ, quyền hạn Hành vi trốn tránh nghĩa cụ quân sự là hành vi tự làm biến dạng xử sự của chính mình
Câu 3: Phân tích các hình thức thể hiện của hành vi khách quan của tội phạm?
Hành vi khách quan của tội phạm có thể được thực hiện qua “hành động” hoặc qua
“không hành động”
- “Hành động” là hình thức của hành vi khách quan làm biến đổi tình trạng bình thường của đối tượng tác động của tội phạm, gây thiệt hại cho khách thể của tội phạm qua việc chủ thể làm một việc bị pháp luật cấm
“Hành động” có thể chỉ là động tác đơn giản xảy ra một lần trong thời gian ngắn hoặc
có thể là tổng hợp nhiều động tác khác nhau hoặc có thể lặp đi lặp lại liên tục trong thời gian dài “Hành động” có thể tác động trực tiếp vào đối tượng tác động của tội phạm hoặc có thể thông qua công cụ, phương tiện “Hành động” có thể được thực hiện thông qua lời nói hoặc việc làm
- “Không hành động” là hình thức của hành vi khách quan làm biến đổi tình trạng bình thường của đối tượng tác động của tội phạm, gây thiệt hại cho khách thể của tội phạm thông qua việc chủ thể không làm một việc mà pháp luật yêu cầu phải làm mặc
dù có đủ điều kiện để làm
“Hành động” và “không hành động” đều là những biểu hiện của con người ra ngoài thế giới khách quan, được ý thức kiểm soát, ý chí điều khiển và đều có khả năng làm biến đổi tình trạng bình thường của đối tượng tác động của tội phạm, gây thiệt hại cho xã hội cần được LHS bảo vệ Tính gây thiệt hại này là mặt khách quan của tính nguy hiểm cho xã hội của tội phạm, có ý nghĩa quyết định tính trái pháp luật hình sự của tội phạm nói chung cũng như của hành vi khách quan nói riêng
Đối với “hành động”, tính trái pháp luật hình sự của hành vi được thể hiện ở chỗ
việc đã là bị LHS ngăn cấm, không kể chủ thể thực hiện là ai
Trang 4Đối với “không hành động”, tính trái pháp luật hình sự được thể hiện ở chỗ việc
phải làm mà chủ thể đã không làm (mặc dù có đủ điều kiện để làm) là nghĩa vụ pháp
lý của chủ thể Nghĩa vụ pháp lý này có thể phát sinh do những căn cứ sau:
Câu 4: Phân tích dấu hiệu pháp lý bắt buộc của chủ thể của tội phạm?
Chủ thể của tội phạm là người có năng lực TNHS, đạt độ tuổi luật định và đã thực hiện hành vi phạm tội cụ thể
1 Năng lực TNHS
Năng lực TNHS là khả năng của một người nhận thức được tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi do mình thực hiện và điều khiển được hành vi đó tại thời điểm thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội
Người có sự phát triển bình thường về tâm – sinh lý sẽ có năng lực TNHS khi đã đạt
độ tuổi nhất định – tuổi chịu TNHS và không thuộc trường hợp ở trong tình trạng không có năng lực TNHS
Có 2 dấu hiệu để xác định tình trạng không có năng lực TNHS: Dấu hiệu y học (mắc bệnh) và dấu hiệu tâm lý (mất năng lực nhận thức hoặc năng lực điều khiển hành vi) Chỉ được coi là trong tình trạng không có năng lực TNHs khi đồng thời thỏa mãn cả 2 dấu hiệu Việc xác định 2 dấu hiệu này đều thuộc nội dung của giám định tâm thần tư pháp
Người phạm tội trong tình trạng say do dùng rượu hoặc chất kích thích mạnh khác thì vẫn phải chịu TNHS
2 Tuổi chịu TNHS
Trang 5Năng lực TNHS chỉ được hình thành khi con người đã đạt độ tuổi nhất định và năng lực đó sẽ tiếp tục phát triển hoàn thiện trong thời gian nhất định tiếp theo Theo điều
12 BLHS quy định: “Người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu TNHS về mọi tội phạm Người từ đủ 14 tuổi trở lên nhưng chưa đủ 16 tuổi phải chịu TNHS về tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng.”
Việc xác định độ tuổi được căn cứ vào giấy khai sinh, sổ hộ khẩu Trường hợp không xác định được độ tuổi thì phải tiến hành giám định độ tuổi
Ngoài ra, có những tội phạm phải do chủ thể có điều kiện đặc biệt mới thực hiện được Những chủ thể có dấu hiệu ấy được gọi là chủ thể đặc biệt, bao gồm dấu hiệu
về chức vụ, quyền hạn; dấu hiệu nghề nghiệp, tính chất công việc; dấu hiệu giới tính, dấu hiệu quan hệ gia đinh, họ hàng
Câu 5: Phân tích lỗi cố ý trong mặt chủ quan của tội phạm?
Lỗi cố ý trực tiếp Lỗi cố ý gián tiếp
Định
nghĩa
Là lỗi của con người khi thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội, nhận thức rõ hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, thấy trước hậu quả của hành vi đó và mong muốn hậu quả xảy ra (Điều 9 Khoản 1 BLHS)
Là lỗi của con người khi thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội, nhận thức rõ hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, thấy trước được hậu quả của hành vi đó, tuy không mong muốn nhưng có ý thức
để mặc cho hậu quả xảy ra (Điều 9 Khoản 2 BLHS)
Về lý trí - Nhận thức được hành vi nguy hiểm cho xã hội: nhận thức rõ được
mặt thực tế của hành vi; đặc điểm của đối tượng tác động của tội phạm; điều kiện khách quan như công cụ, thủ đoạn, thời gian, địa điểm phạm tội
Thấy trước được hậu quả: Dự kiến được hành vi tất nhiên hoặc có thể sẽ gây ra hậu quả nguy hiểm cho xã hội
Về ý chí Người phạm tội mong muốn hậu
quả phát sinh, hậu quả đó phù hợp với mục đích, sự mong muốn của
Người phạm tội không mong muốn hậu quả nguy hiểm cho xã hội xảy
ra, hậu quả đó không phù hợp với
Trang 6người đó mục đích của họ Nhưng vì để đạt
được mục đích khác mà đã chấp nhận hậu quả nguy hiểm cho xã hội
do hành vi của mình có thể gây ra
Câu 6: Sai lầm và ảnh hưởng của sai lầm đối với trách nhiệm hình sự?
Không phải chịu
TNHS
Người có hành vi cho rằng hành vi của mình không phải là tội phạm nhưng trên thực tế luật quy định
hành vi đó là tội phạm
vẫn phải chịu TNHS nếu họ nhận thức được tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi của
Sai lầm của chủ thể
về tính chất của QHXH là đối tượng của hành vi
của mình
Người phạm tội có hành vi nhằm xâm hại khách thể nhất định được LHS bảo vệ nhưng đã không xâm hại được vì đã tác động (nhầm) vào đối tượng không thuộc khách thể
về tội phạm cố ý
mà họ định phạm
Người phạm tội có hành vi nhằm xâm hại khách thể nhất định được LHS bảo vệ nhưng đã không xâm hại được vì tác động (nhầm) vào đối tượng tác động thuộc khách thể khác
Trang 7Người có hành vi phạm tội không định xâm hại khách thể được LHS bảo vệ nhưng thực tế đã xâm hại vì
đã tác động (nhầm) vào đối tượng
thuộc khách thể được LHS bảo vệ
- Không ảnh hưởng gì đến TNHS của người phạm tội
Sai lầm về quan hệ
họ đã gây ra do sai lầm (nếu có lỗi vô ý)
Sai lầm về công cụ, phương
tiện
Sai lầm của chủ thể về tính chất của công cụ, phương tiện sử dụng khi thực hiện hành vi
Vẫn phải chịu TNHS về tội cố ý
mà họ định thực hiện
Sai lầm vì tưởng công cụ, phương tiện có khả năng gây ra hậu quả của tội phạm là không có khả năng đó nên đã sử dụng và gây ra hậu quả
Phải chịu TNHS về tội vô ý khi thoả mãn các dấu hiệu của lỗi vô ý
Câu 7: Thế nào là tự ý nửa chừng chấm dứt hành vi vi phạm và trách nhiệm hình sự trong trường hợp tự ý nửa chừng chấm dứt hành vi vi phạm?
Điều 19 BLHS: “Tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội là tự mình không thực hiện tội phạm đến cùng, tuy không có gì ngăn cản.”
Trang 81 Các dấu hiệu của trường hợp tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội
- Việc chấm dứt không thực hiện tiếp tội phạm phải xảy ra khi tội phạm đang ở giai đoạn chuẩn bị hoặc ở giai đoạn chưa đạt chưa hoàn thành
- Việc chấm dứt không thực hiện tiếp tội phạm phải là tự nguyện và dứt khoát, hoàn toàn do động lực bên trong chứ không phải do trở ngại khách quan chi phối, khi dừng lại, người phạm tội vẫn tin rằng, hiện tại không có gì ngăn cản và vẫn có thể thực hiện tiếp được tội phạm Việc dừng lại không thực hiện tiếp hành vi phải là sự thể hiện của việc từ bỏ hẳn ý định phạm tội chứ không phải là thử đoạn để tiếp tục thực hiện tội phạm
2 TNHS trong trường hợp tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội
- Người tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội được miễn TNHS về tội định phạm
- Trong trường hợp tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội, người phạm tội về mặt chủ quan đã hoàn toàn tự nguyện từ bỏ hẳn ý định phạm tội của mình, không còn mong muốn thực hiện tội phạm đến cùng như ở trường hợp phạm tội chưa hoàn thành Xét về mặt khách quan, hành vi đã thực hiện của người tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội chưa có tính nguy hiểm đầy đủ của loại tội định phạm vì chưa thỏa mãn hết các dấu hiệu của CTTP Trong sự thống nhất giữa mặt khách quan và chủ quan, hành vi đã thực hiện được coi như đã mất tính nguy hiểm của loại tội định thực hiện => đây là căn cứ để miễn TNHS về tội định phạm cho người tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội
- Người tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội chỉ được miễn TNHS về tội định phạm Điều đó có nghĩa là nếu hành vi thực tế đã thực hiện có đủ các yếu tố của tội khác thì người đó phải chịu TNHS về tội này
Câu 8: Phân tích các điều kiện của phòng vệ chính đáng?
a Cơ sở phát sinh quyền phòng vệ chính đáng
Theo quy định tại Điều 15 BLHS, cơ sở làm phát sinh quyền phòng vệ chính đáng là
sự tấn công đang hiện hữu, xâm phạm lợi ích của Nhà nước, lợi ích của tập thể, quyền hoặc lợi ích chính đáng của công dân
Hành vi tấn công của con người là cơ sở của quyền phòng vệ chính đáng nhưng nó chỉ là cơ sở chừng nào xảy ra hoặc đe dọa sẽ xảy ra ngay tức khắc
Trang 9Chỉ có thể nói đến phòng vệ chính đáng khi có hành vi của con người đang gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại cho xã hội; Quyền và lợi ích chính đáng bị xâm phạm có thể là quyền nhân thân, quyền sở hữu
b Nội dung và phạm vi của quyền phòng về chính đáng
Khi đã có cơ sở cho phép phòng vệ, người phòng vệ có quyền chống trả một cách cần thiết người đang có hành vi tấn công ngay cả trong những trường hợp có biện pháp khác tránh được sự tấn công
- Sự chống trả của người phòng vệ chính đáng phải nhằm vào chính người tấn công, vào chính người đang gây nguy hiểm cho xã hội
- Phòng vệ chính đáng đòi hỏi biện pháp chống trả nói chung (bao gồm phương tiện, phương pháp và thiệt hại) là biện pháp cần thiết, phù hợp với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi tấn công đặt trong hoàn cảnh cụ thể
Để đánh giá sự cần thiết, cần phải dựa vào một số yếu tố sau:
- Tính chất của quan hệ xã hội bị đe dọa xâm hại;
- Mức độ thiệt hại bị đe dọa gây ra;
- Sức mạnh và sức mãnh liệt của hành vi tấn công;
- Tính chất và mức độ nguy hiểm của phương pháp và phương tiện hay công cụ mà người tấn công sử dụng;
- Sức mạnh và khả năng phòng vệ của người phòng vệ đặt trong hoàn cảnh cụ thể…
Sự đánh giá này trên thực tế là hết sức phức tạp, do vậy sự cần thiết này chỉ đòi hỏi
là sự cần thiết tương đối
Câu 9: Phân tích những nguyên tắc xử lý người chưa thành niên phạm tội?
1 Việc xử lý người chưa thành niên phạm tội chủ yếu nhằm giáo dục, giúp đỡ họ sửa
chữa sai lầm, phát triển lành mạnh và trở thành công dân có ích cho xã hội
Khi người chưa thành niên phạm tội, các cơ quan nhà nước có thẩm quyền phải xác định chính xác tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội (giúp họ nhận thức được sai lầm để sửa chữa sai lầm) và nguyên nhân, điều kiện gây ra tội phạm (có các biện pháp cụ thẻ đấu tranh ngăn ngừa hiện tượng phạm tội ở người chưa thành niên)
Trang 102 Người chưa thành niên phạm tội có thể được miễn trách nhiệm hình sự, nếu người
đó phạm tội ít nghiêm trọng hoặc tội nghiêm trọng, gây hại không lớn, có nhiều tình tiết giảm nhẹ và được gia đình hoặc cơ quan, tổ chức nhận giám sát, giáo dục
3 Việc truy cứu trách nhiệm hình sự người chưa thành niên phạm tội và áp dụng hình
phạt đối với họ được thực hiện chỉ trong trường hợp cần thiết và phải căn cứ vào tính chất của hành vi phạm tội, vào những đặc điểm về nhân thân và yêu cầu của việc phòng ngừa tội phạm
Nguyên tắc này thể hiện tính nhân đạo sâu sắc Kể cả khi người chưa thành niên phạm tội và bị truy cứu TNHS thì họ vẫn có khả năng không bị áp dụng hình phạt mà
có thể được áp dụng các biện pháp tư pháp nếu các biện pháp này đủ tác dụng cải tạo
họ thành công dân có ích cho xã hội
4 Không xử phạt tù chung thân hoặc tử hình đối với người chưa thành niên phạm tội
Hạn thế áp dụng hình phạt tù, không áp dụng hình phạt bổ sung đối với người chưa thành niên phạm tội Không áp dụng hình phạt tiền đối với người chưa thành niên ở
dộ tuổi từ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi Khi xử phạt tù có thời hạn, tòa án cho người chưa thành niên phạm tội được hưởng mức án nhẹ hơn mức án áp dụng đối với người đã thành niên phạm tội tương ứng
Tử hình và chung thân là những hình phạt có tính nghiêm khắc cao, chỉ áp dụng trong trường hợp phạm tội đặc biệt nghiêm trọng Việc xử lý người chưa thành niên phạm tội chủ yếu nhằm giáo dục, cải tạo => Không áp dụng những hình phạt nghiêm khắc này
5 Án đã tuyên đối với người chưa thành niên phạm tội khi chưa đủ 16 tuổi, thì
không tính để xác định tái phạm hoặc tái phạm nguy hiểm
Câu 10: Phân tích dấu hiệu pháp lý của các nhóm tội xâm phạm tính mạng con người?
1 Khách thể của tội phạm
- Khách thể của nhóm tội này là một trong những khách thể quan trọng nhất được LHS bảo vệ, đó là quyền sống, quyền được tôn trọng và bảo vệ tính mạng
Trang 11- Đối tượng của nhóm tội này là những chủ thể có quyền được tôn trọng và bảo vệ
về tính mạng Đó là những người đang sống, đang tồn tại trong thế giới khách quan với tư cách là con người – thực thể tự nhiên và xã hội
2 Mặt khách quan của tội phạm
- Hành vi khách quan của nhóm tội này tuy khác nhau ở hình thức thể hiện cụ thể nhưng có cùng tính chất là đều có thể trực tiếp hoặc gián tiếp gây ra thiệt hại về tính mạng hoặc đe dọa gây ra thiệt hại đó Có những hành vi có thể được thực hiện cả bằng hình thức “hành động” và “không hành động”, có những hành vi chỉ có thể được thực hiện bằng hình thức “hành động” hoặc “không hành động”
- Hậu quả mà những hành vi nói trên có thể trực tiếp hoặc gián tiếp gây ra là thiệt hại đến quyền sống của con người, thể hiện dưới dạng thiệt hại về thể chất là chết người Tuy nhiên dấu hiệu hậu quả chết người chỉ là dấu hiệu bắt buộc của 1 số CTTP Ở các CTTP còn lại hậu quả chết người không phải là dấu hiệu bắt buộc nhưng trong đó có CTTP đòi hỏi phải có dấu hiệu hậu quả là hành vi tự sát của nạn nhân
3 Chủ thể của tội phạm
- Chủ thể của hầu hết các nhóm tội này không phải là chủ thể đặc biệt Những người
có năng lực TNHS và đạt độ tuổi luật định đều có khả năng trở thành chủ thể của nhiều tội thuộc nhóm tội này
- Có 2 tội đòi hỏi chủ thể đặc biệt là tội làm chết người trong khi thi hành công vụ và tội bức tử
4 Mặt chủ quan của tội phạm
- Lỗi của người phạm tội có thể là lỗi cố ý hoặc lỗi vô ý
- Hầu hết các CTTP không có dấu hiệu động cơ phạm tội
Câu 11: Phân tích khái niệm chứng cứ và các thuộc tính của chứng cứ?
1 Khái niệm
Chứng cứ là những gì có thật, được thu thập theo trình tự, thủ tục do Bộ luật tố tụng hình sự quy định mà cơ quan điều tra, viện kiểm sát, tòa án dùng làm căn cứ để xác
Trang 12định có hay không có hành vi phạm tội, người thực hiện hành vi phạm tội cũng như những tình tiết khác cần thiết cho việc giải quyết đúng đắn vụ án
2 Thuộc tính của chứng cứ
a Tính khách quan: còn được gọi là tính xác thực của chứng cứ, là một trong những thuộc tính quan trọng nhất của chứng cứ, giúp chứng minh chính xác sự thật khách quan
- Chứng cứ là những thông tin, tài liệu, đồ vật khách quan, tồn tại độc lập không phụ thuộc vào ý thức chủ quan của con người Các thông tin, tài liệu, đồ vật đó phù hợp với các tình tiết của vụ án đang được chứng minh
- Các thông tin mà cơ quan tiến hành tố tụng nhận được mà không khách quan vì bất
kì lý do gì thì đều không được coi là chứng cứ
- Các thông tin, tài liệu, đồ vật dù tồn tại trên thực tế nhưng bị xuyên tạc, bóp méo hay bị làm giả theo ý chí chủ quan thì không còn mang tính khách quan
b Tính liên quan: thể hiện ở mối liên hệ khách quan của các thông tin tài liệu với các tình tiết của vụ án cần được xác định Mối quan hệ này thể hiện ở 2 mức độ:
- Ở mức độ thứ nhất, mối quan hệ của chứng cứ với đối tượng chứng minh Đây là mối quan hệ cơ bản, chủ yếu, chứng cứ được dùng làm căn cứ để giải quyết thực chất
c Tính hợp pháp: là sự phù hợp của nó với các quy định của pháp luật tố tụng hình
sự Được thể hiện trong các mặt sau đây:
- Chứng cứ được xác định bằng nguồn nhất định theo quy định của pháp luật
- Mỗi loại chứng cứ phải được xác định bằng nguồn tương ứng xác định
- Phải được thu thập theo trình tự, thủ tục do Bộ Luật TTHS quy định
Trang 13Những gì được coi là chứng cứ phải thỏa mãn đầy đủ ba thuộc tính trên Nếu xét mối quan hệ nội tại giữa các thuộc tính của chứng cứ thì tính khách quan và tính liên quan
là nội dung của chứng cứ còn tính hợp pháp là hình thức của chứng cứ
Câu 12: Phân tích các nguồn của chứng cứ?
1 Vật chứng là vật thể được thu nhập theo thủ tục pháp luật TTHS quy định chứa
đựng các thông tin có ý nghĩa đối với việc giải quyết vụ án, bao gồm:
- Vật được cùng làm công cụ, phương tiện phạm tội;
- Vật mang dấu vết tội phạm;
- Vật là đối tượng của tội phạm mà thông qua việc tác động vào vật đó người phạm tội gây thiệt hại cho QHXH nhất định;
- Tiền bạc và vật khác không thuộc các loại trên nhưng có giá trị chứng minh tội phạm và người phạm tội
Đặc điểm cơ bản của vật chứng thể hiện ở chỗ đây là những vật ở dạng vật chất, được nhận thấy qua cac giác quan của con người Vì vậy tính khách quan của vật chứng rất cao nhưng cũng dễ bị tác động của các điều kiện tự nhiên làm thay đổi, dễ bị làm giả, làm sai lệch
2 Lời khai
- Bao gồm lời khai của người làm chứng, người bị hại, nguyên đơn/bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đế vụ án, người bị bắt, bị tam giữ, bị can, bị cáo
- Đặc điểm chung của lời khai thể hiện các thông tin về vụ án được lưu giữ trong ý thức của người tham gia tố tụng Do được lưu giữ trong ý thức chủ quan của con người cho nên tính khách quan của lời khai dễ bị ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố: Khả năng khách quan hoặc năng lực tâm, sinh lý chủ quan của con người khi tiếp nhận, lưu giữ thông tin hoặc cung cấp lời khai; Ảnh hưởng bởi lợi ích, mối quan hệ của người tham gia tố tụng trong vụ án hình sự
3 Kết luận giám định
- Là đánh giá cụ thể bằng văn bản của người có trình độ chuyên môn về vấn đề khoa học, kỹ thuật tương ứng liên quan đến vụ án hình sự được cơ quan tiến hành tố tụng trưng cầu
Trang 14- Việc giám định có thể do 1 người hoặc 1 nhóm người tiến hành Nếu do 1 nhóm người tiến hành thì kết luận giám định là văn bản kết luận chung, nhưng nếu có ý kiến khác nhau thì mỗi người ghi ý kiến kết luận riêng vào văn bản kết luận chung
4 Biên bản hoạt động điều tra, xét xử và các tài liệu, đồ vật khác
- Để được coi là chứng cứ, biên bản hoạt động tố tụng phải được thực hiện một cách khách quan, thể hiện toàn bộ diễn biến của hoạt động tố tụng, theo đúng các hình thức, thủ tục được pháp luật quy định
- Trong quá trình tố tụng, cơ quan, tổ chức, cá nhân có thể cung cấp các tài liệu, đồ vật cho cơ quan tiến hành tố tụng, các tình tiết được ghi nhận, thể hiện trong các tài liệu đồ vật đó nếu liên quan đến vụ án, được thu thập theo quy định của pháp luật có thể được coi là chứng cứ
Câu 13 Phân tích các cơ sở để khởi tố vụ án hình sự?
1 Tố giác công dân
- Tố giác về tội phạm là việc công dân tố cáo hành vi VPPL của một người nào đó
mà họ cho rằng đó là tội phạm
- Công dân có quyền và nghĩa vụ tố giác các hành vi VPPL hình đến bất cứ cơ quan,
tổ chức nào nếu thấy thuận tiện
- Tố giác của công dân có thể bằng miệng, bằng văn bản hoặc qua điện thoại Nếu người bị hại làm đơn trình báo về sự việc phạm tội gây ra thiệt hại cho họ thì cũng được coi là tố giác của công dân
2 Tin báo của cơ quan, tổ chức
- Tin báo của cơ quan, tổ chức là những thông tin về tội phạm do cơ quan, tổ chức phát hiện hoặc nhận được tố giác của công dân và báo cáo bằng văn bản với cơ quan điều tra
- Tố giác và tin báo có chung mục đích giúp cơ quan có thẩm quyền nhanh chóng phát hiện ra tội phạm và người phạm tội để xử lý nghiêm minh, giữ vững kỉ cương, pháp luật
- Tố giác và tin báo khác nhau ở chỗ: Tố giác là việc báo tin của công dân (Cá nhân)
về tội phạm với bất kì 1 cơ quan, tổ chức nào và có thể trực tiếp báo bằng miệng, qua
Trang 15điện thoại; Tin báo là việc báo tin về tội phạm của 1 tổ chức, cơ quan với tư cách pháp nhân với cơ quan điều tra có thẩm quyền và chỉ với hình thức bằng văn bản
3 Tin báo trên các phương tiện thông tin đại chúng
- Khi có tin báo về tội phạm trên các phương tin thông tin đại chúng, cơ quan có thẩm quyền trong phạm vi trách nhiệm của mình phải tiến hành xem xét, xác minh tin báo đó, nếu thấy có dấu hiệu của tội phạm thì ra quyết định khởi tố vụ án hình sự để điều tra phát hiện tội phạm
- Khi cơ quan thông tin đại chúng đề nghị cơ quan có thẩm quyền có ý kiến để trả lời bạn đọc thì cơ quan được yêu cầu phải có văn bản trả lời cơ quan thông tin, báo chí đã đưa tin
4 Cơ quan điều tra, VKS, TA, bộ đội biên phòng, hải quân, kiểm lâm, lực lượng cảnh sát biển và các cơ quan khác của CAND, QĐND được giao nhiệm vụ tiến
hành 1 số hoạt động điều tra trực tiếp phát hiện dấu hiệu của tội phạm
- Tất cả các tài liệu, thông tin do các cơ quan trên thu thập theo đúng thủ tục tố tụng xác định dấu hiệu tội phạm là cơ sở khởi tố vụ án hình sự
Câu 14: Phân tích phần nội dung của cáo trạng trong tố tụng hình sự?
Dựa vào kết quả điều tra và quá trình nghiên cứ hồ sơ, phần nội dung của cáo trạng là phần chính, cơ bản nhất nên trong đó phải trình bày tóm tắt nội dung vụ án về các vấn
đề sau:
- Thời gian, địa điểm phạm tội của bị can: Đây là phần có ý nghĩa quan trọng, nó đảm bảo cho việc phản ánh các tình tiết diễn biến thực tế của vụ án có cơ sở và khách quan
- Các tình tiết diễn biến của hành vi phạm tội: Đoạn này cáo trạng tập trung làm rõ những hành vi cụ thể của bị can 1 cách khách quan cho dù hành vi phạm tội được thực hiện bằng hành động hay không hành động
Trang 16- Các chứng cứ buộc tội đối với bị can: Đây là các tình tiết được sử dụng để xác định hành vi mà bị can (hoặc các bị ban) đã thực hiện có đủ yếu tố cấu thành tội phạm nào, phạm tội thuộc khung hình phạt nào, khung có cấu thành cơ bản hay tăng nặng, giảm nhẹ
- Các tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ TNHS của bị can: Đây là phần trình bày về các tình tiết ảnh nhưởng đến TNHS và hình phạt của người bị truy tố, có ý nghĩa quan trọng trong việc đánh giá tính chất của tội phạm, quyết định mức chế tài mà bị can phải chịu, làm cơ sở đề xuất hướng xử lý tại tòa án khi xét xử Vì vậy cần nêu thật đầy đủ và cụ thể
Trường hợp bị can phạm nhiều tội thì phải nêu và phân tích, chứng minh về từng tội phạm của bị can Nếu vụ án có nhiều bị can thì phải xác định rõ hành vi phạm tội của từng bị can, vai trò cũng như mức độ trách nhiệm của mỗi bị can trong vụ án
Câu 15: Phân tích thủ tục xét hỏi tại phiên tòa trong tố tụng hình sự?
1 Trước khi tiến hành xét hỏi, Kiểm sát viên đọc bản cáo trạng và trình bày ý kiến bổ sung, nếu có Sau đó việc xét hỏi được tiến hành theo thứ tự xét hỏi hợp lý
- Khi xét hỏi từng người, chủ tọa phiên tòa hỏi trước rồi đến các Hội thẩm, sau đó đến Kiểm sát viên, người bào chữa, người bảo vệ quyền lợi của đương sự
- Khi xét hỏi, HĐXX xem xét những vật chứng có liên quan trong vụ án
2 Công bố những lời khai tại Cơ quan điều tra
- Nếu người được xét hỏi có mặt tại phiên tòa thì HĐXX và Kiểm sát viên không được nhắc hoặc công bố lời khai của họ tại Cơ quan điều tra trước khi họ khai tại phiên tòa về những tình tiết của vụ án trừ 1 số trường hợp nhất định
3 Hỏi bị cáo
- HĐXX phải hỏi riêng từng bị cáo
- Bị cáo trình bày ý kiến về bản cáo trạng và những tình tiết của vụ án HĐXX hỏi thêm về những điểm mà bị cáo trình bày chưa đầy đủ hoặc có mâu thuẫn
- Nếu bị cáo không trả lời các câu hỏi thì HĐXX, Kiểm sát viên, người bào chữa, người bảo vệ quyền lợi của đương sự tiếp tục hỏi những người khác và xem xét vật chứng, tài liệu có liên quan đến vụ án
Trang 174 Hỏi người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án hoặc người đại diện hợp pháp của họ
Người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án hoặc người đại diện hợp pháp của những người đó trình bày về những tình tiết của vụ án có liên quan đến họ Sau đó, HĐXX, Kiểm sát viên, người bào chữa và người bảo vệ quyền lợi của đương sự hỏi thêm về những điểm mà họ trình bày chưa đầy đủ hoặc có mâu thuẫn
8 Việc trình bày, công bố các tài liệu của vụ án và nhận xét, báo cáo của cơ quan, tổ chức
Nhận xét, báo cáo của cơ quan, tổ chức về những tình tiết của vụ án do đại diện của
cơ quan, tổ chức đó trình bày; trong trường hợp không có đại diện của cơ quan, tổ chức đó tham dự thì HĐXX công bố nhận xét, báo cáo tại phiên tòa
Các tài liệu đã có trong hồ sơ vụ án hoặc mới đưa ra khi xét hỏi đều phải được công
bố tại phiên tòa
9 Hỏi người giám định
Người giám định trình bày kết luận của mình về vấn đề được giao giám định và có quyền giải thích bổ sung trên cơ sở kết luận giám định
10 Kết thúc xét hỏi
Khi nhận thấy các tình tiết của vụ án đã được xem xét đầy đủ thì chủ tọa phiên tòa hỏi Kiểm sát viên, bị cáo, người bào chữa và những người khác tham gia phiên tòa