1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Thực thi pháp luật bảo vệ môi trường trong khu công nghiệp qua thực tiễn tại tỉnh bến tre

66 126 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 66
Dung lượng 1,07 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nếu như khuôn khổ pháp luật về bảo vệ môi trường trong khu công nghiệp tạo lập khuôn khổ pháp lý cho các chủ thể triển khai thực hiện trách nhiệm của mình thì Ban quản lý khu công nghiệp

Trang 2

VÕ THANH TÙNG

THỰC THI PHÁP LUẬT BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG TRONG KHU CÔNG NGHIỆP QUA THỰC TIỄN

TẠI TỈNH BẾN TRE

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Chuyên ngành: Luật kinh tế

Mã số: 8380107

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS.VIÊN THẾ GIANG

TP HỒ CHÍ MINH, NĂM 2018

Trang 3

Tôi tên là Võ Thanh Tùng – mã số học viên: 7701270104A, là học viên lớp Cao học Luật Bến Tre Khóa chuyên ngành Luật kinh tế, Khoa Luật, Trường Đại học Kinh tế TP Hồ Chí Minh, là tác giả của Luận văn thạc sĩ luật học với đề tài " Thực thi pháp luật bảo vệ môi trường trong khu công nghiệp qua thực tiễn tại tỉnh Bến Tre " (Sau đây gọi tắt là “Luận văn”)

Tôi xin cam đoan tất cả các nội dung được trình bày trong Luận văn này là kết quả nghiên cứu độc lập của cá nhân tôi dưới sự hướng dẫn của người hướng dẫn khoa học Trong Luận văn có sử dụng, trích dẫn một số ý kiến, quan điểm khoa học của một số tác giả Các thông tin này đều được trích dẫn nguồn cụ thể, chính xác và

có thể kiểm chứng Các số liệu, thông tin được sử dụng trong Luận văn là hoàn toàn khách quan và trung thực

Học viên thực hiện

Võ Thanh Tùng

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài nghiên cứu 1

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài nghiên cứu 2

3 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu 4

3.1 Mục tiêu nghiên cứu 4

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4

4.1 Đối tượng nghiên cứu của Luận văn 4

4.2 Phạm vi nghiên cứu 5

5 Phương pháp nghiên cứu 5

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài 5

7 Kết cấu của Luận văn 6

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ THỰC THI PHÁP LUẬT VỀ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG TRONG KHU CÔNG NGHIỆP 7

1.1 Khái quát chung về khu công nghiệp và vai trò của khu công nghiệp trong phát triển kinh tế xã hội 7

1.1.1 Quan niệm về khu công nghiệp 7

1.1.2 Vai trò của khu công nghiệp trong phát triển kinh tế xã hội 9

1.2 Một số vấn đề lý luận về thực thi pháp luật bảo vệ môi trường trong khu công nghiệp 11

1.2.1 Bản chất của thực thi pháp luật bảo vệ môi trường trong khu công nghiệp 11

1.2.2 Các bộ phận hợp thành cơ chế thực thi pháp luật bảo vệ môi trường trong khu công nghiệp 14

1.2.2.1 Khuôn khổ pháp luật liên quan đến việc bảo vệ môi trường trong khu công nghiệp 14

Trang 5

môi trường tại khu công nghiệp 17 1.2.2.4 Cơ chế phối hợp giữa cơ quan quản lý nhà nước về môi trường với Ban quản lý khu công nghiệp trong việc triển khai các quy định về bảo vệ môi trường ở các khu công nghiệp Việt Nam 19 1.2.2.5 Vai trò của các tổ chức chính trị, chính trị xã hội trong giám sát thực hiện pháp luật bảo vệ môi trường tại khu công nghiệp 21

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 23 CHƯƠNG 2 ĐÁNH GIÁ THỰC TIỄN THI HÀNH PHÁP LUẬT BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG TRONG KHU CÔNG NGHIỆP Ở TỈNH BẾN TRE 24

2.1 Tình hình phát triển khu công nghiệp ở tỉnh Bến Tre 24

2.1.1 Một số nét khái quát về đặc điểm tự nhiên, kinh tế xã hội của tỉnh Bến Tre 24 2.1.2 Tình hình phát triển khu công nghiệp tại tỉnh Bến Tre 25

2.2 Thực tiễn thực thi pháp luật bảo vệ môi trường trong khu công nghiệp ở tỉnh Bến Tre 31

2.2.1 Triển khai pháp luật về bảo vệ môi trường trong khu công nghiệp 31 2.2.2 Cơ chế phối hợp giữa Ban quản lý khu công nghiệp với các cơ quan hữu quan để thực hiện chức năng bảo vệ môi trường trong khu công nghiệp 34 2.2.3 Mức độ tuân thủ pháp luật bảo vệ môi trường trong khu công nghiệp của

cá nhân, doanh nghiệp của tỉnh Bến Tre 42 2.2.4 Sự tham gia của các tổ chức chính trị, chính trị xã hội trong bảo vệ môi trường tại khu công nghiệp 45

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 47 CHƯƠNG 3 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ CHÍNH SÁCH GÓP PHẦN NÂNG CAO HIỆU QUẢ THỰC THI PHÁP LUẬT BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG

TRONG KHU CÔNG NGHIỆP TẠI TỈNH BẾN TRE 48

Trang 6

3.3 Bảo đảm sự tham gia rộng rãi của cộng đồng dân cư, tổ chức xã hội trong giám sát thực thi pháp luật bảo vệ môi trường trong khu công nghiệp ở tỉnh Bến Tre 53

KẾT LUẬN 55 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

DANH MỤC VĂN BẢN PHÁP LUẬT

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài nghiên cứu

Quá trình cải cách mở cửa nền kinh tế trong suốt hơn 30 năm đổi mới cho thấy, số lượng doanh nghiệp nước ta không ngừng tăng lên Giai đoạn 2005 – 2014

là giai đoạn phát triển mạnh mẽ nhất của doanh nghiệp trong nước, đặc biệt là doanh nghiệp ngoài doanh nghiệp ngoài nhà nước Số lượng doanh nghiệp giai đoạn

2005 – 2014 tăng bình quân 16%/năm, cao hơn mức tăng chung của toàn doanh nghiệp (15,9%) và khu vực doanh nghiệp ngoài nhà nước tăng 32115 doanh nghiệp, doanh nghiệp nhà nước giảm 115 doanh nghiệp.1 Tính đến thời điểm tháng 10/2014

số lượng cơ sở cá thể và lao động tăng so với năm 2013; số cơ sở tăng gần 3% (tương đương trên 135 nghìn cơ sở) Năm 2014 bình quân 19,2 người dân có một cơ

sở cá thể.2 Đến nay, số lượng doanh nghiệp đăng ký thành lập mới vẫn tiếp tục tăng lên

Cùng với chiến lược phát triển quốc gia theo hướng công nghiệp, các tỉnh cũng phải “chuyển mình” theo định hướng công nghiệp để góp phần vào việc hiện thực hóa mục tiêu này Nếu như ở giai đoạn đầu của việc phát triển khu công nghiệp

đã thấy có cuộc chạy đua thành lập các khu công nghiệp tại Việt Nam Báo cáo môi trường quốc gia năm 2009 đã đánh giá khá chi tiết về hiện trạng môi trường khu công nghiệp Việt Nam3 Những tác hại do hành vi vi phạm pháp luật bảo vệ môi trường tại khu công nghiệp cũng đã được chứng minh4 Báo cáo số 39/BC-UBTVQH13 ngày 20/10/2011 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về việc thực hiện chính sách, pháp luật về môi trường tại các khu kinh tế, làng nghề cho thấy tình trạng ô nhiễm môi trường tại các khu kinh tế, làng nghề đã ở mức báo động Nhiều

3 Xem cụ thể: Chương 2 “Hiện trạng môi trường khu công nghiệp” trong Báo cáo môi trường quốc gia: Môi

trường khu công nghiệp Việt Nam, Hà Nội 2009

4 Xem cụ thể: Chương 3 “Tác hại của ô nhiễm môi trường khu côn nghiệp” trong Báo cáo môi trường quốc

gia: Môi trường khu công nghiệp Việt Nam, Hà Nội 2009

Trang 8

“dòng sông chết”, làng ung thư, mắc bệnh về hô hấp… ngày càng trở nên phổ biến cho thấy mặt trái của việc phát triển quốc gia theo hướng công nghiệp mà thiếu kiểm soát hoặc coi nhẹ vấn đề bảo vệ môi trường

Tại tỉnh Bến Tre, Quyết định số 83/QĐ-TTg ngày 13/01/2011 của Thủ tướng Chính phủ Phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Bến Tre đến năm 2020 và Quyết định số 974/QĐ-UBND ngày 27/04/2011 của Ủy ban nhân dân tỉnh Bến Tre Phê duyệt Quy hoạch phát triển công nghiệp tỉnh Bến Tre đến năm

2020 Cho thấy tỉnh cũng đang chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp nên việc tiếp tục thành lập mới hoặc đẩy mạnh các biện pháp tăng cường thực thi pháp luật bảo vệ môi trường trong khu công nghiệp để bảo đảm phát triển bền vững

trong khu công nghiệp tại tỉnh Bến Tre Do vậy, tác giả lựa chọn chủ để “Thực thi

pháp luật bảo vệ môi trường trong khu công nghiệp qua thực tiễn tại tỉnh Bến Tre” làm nội dung nghiên cứu cho luận văn tốt nghiệp thạc sĩ luật học, chuyên

ngành Luật Kinh tế

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài nghiên cứu

Bảo vệ môi trường nói chung, bảo vệ môi trường trong hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và trong khu công nghiệp nói riêng là chủ đề thu hút được sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu Hầu hết các nghiên cứu đều đề cập đến tính cấp thiết, nội dung, yêu cầu, phương thức thực hiện việc bảo vệ môi trường phù hợp với từng đối tượng Có thể kể đến một số nghiên cứu như:

- Ban soạn thảo Luật Đơn vị hành chính kinh tế đặc biệt, Báo cáo tổng kết hoạt động các mô hình khu công nghiệp, khu kinh tế và các mô hình tương tự khác,

Trang 9

- Nguyễn Thị Thu Thủy, Quản lý phát triển bền vững các khu công nghiệp tại thành phố Hải Phòng, Luận án tiến sĩ kinh tế, Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế

trung ương, Hà Nội, 2018

- Vũ Nhung, Cần có chính sách khuyến khích, hỗ trợ doanh nghiệp đầu tư trong lĩnh vực bảo vệ môi trường, bài phỏng vấn ông Nguyễn Quang Vinh - Phó Tổng Thư ký Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) kiêm Tổng

Thư ký Hội đồng Doanh nghiệp vì sự Phát triển bền vững Việt Nam, Tạp chí Môi trường số 9/2015

- Võ Thị Mỹ Hương, Thực thi pháp luật bảo vệ môi trường trong hoạt động sản xuất, kinh doanh dịch vụ khi Việt Nam là thành viên của TPP, in trong Kỷ yếu

Hội thảo khoa học “Những vấn đề pháp lý của doanh nghiệp Việt Nam trong hội nhập TPP” do Trường Đại học Ngân hàng TP.HCM tổ chức,Nxb Kinh tế TP.HCM, 2016…

Bên cạnh các nghiên cứu về bảo vệ môi trường trong khu công nghiệp có có khá nhiều nghiên cứu đề cập đến các vấn đề lý luận và thực tiễn về thực thi pháp luật về bảo vệ môi trường trong khu công nghiệp tại tỉnh Bến Tre ở cả khía cạnh tích cực cũng như tồn tại hạn chế Hầu hết các nghiên cứu tập trung làm rõ điều kiện hình thành, phát triển khu công nghiệp như một định hướng quan trọng để Bến Tre chuyển mình theo hướng công nghiệp Các nghiên cứu tiêu biểu là:

- Thanh Huyền, các khu công nghiệp ở Bến Tre: Dân khổ vì quy hoạch “treo” quá lâu Nguồn < https://laodong.vn/trang-dbscl/cac-khu-cong-nghiep-o-ben-tre-dan-kho-vi-quy-hoach-treo-qua-lau-591904.bld> [Ngày truy cập 13/09/2016]

- Minh Phúc, Tràn lan doanh nghiệp xả thải gây ô nhiễm, truy cập ngày 2/8/2016, http://www.nhandan.com.vn/bandoc/item/30300702-tran-lan-doanh-nghiep-xa-thai-gay-o-nhiem.html

- PV, Các khu công nghiệp tỉnh Bến Tre: Thực trạng và một số bài học trong

<http://khucongnghiep.com.vn/nghiencuu/tabid/69/articleType/ArticleView/articleId/671/Default.aspx>, [Ngày truy cập: 15/01/2013]

Trang 10

- Sở Công thương tỉnh Bến Tre, Tổng quan về Bến Tre, http://congthuongbentre.gov.vn/home/tong-quan-ve-ben-tre-W29.htm

Từ những vấn đề lý luận và thực tiễn nêu trên, vệ hệ thống hóa các vấn đề lý luận, đánh giá thực trạng thi hành pháp luật bảo vệ môi trường trong khu công nghiệp hướng tới bảo đảm sự phát triển bền vững khu công nghiệp ở Bến Tre chưa được nhiều nghiên cứu quan tâm đề cập Đây cũng là nội dung chủ yếu được tác giả luận văn tập trung nghiên cứu, làm rõ

3 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục tiêu nghiên cứu

Luận văn tập trung làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn về bảo vệ môi trường trong khu công nghiệp tại tỉnh Bến Tre Từ kết quả nghiên cứu, Tác giả đề xuất một số giải pháp chính sách hướng tới mục tiêu phát triển bền vững khu công nghiệp ở tỉnh Bến Tre thông qua bằng cách tăng cường các biện pháp bảo vệ môi trường trong khu công nghiệp của các chủ thể có liên quan

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Hệ thống các vấn đề lý luận về khu công ngiệp và vai trò của khu công nghiệp trong phát triển kinh tế xã hội

- Luận giải cơ sở lý luận, thực tiễn và pháp luật về bảo vệ môi trường trong khu công nghiệp

- Đánh giá điều kiện, thực trạng phát triển khu công nghiệp, thực trạng bảo vệ môi trường trong khu công nghiệp ở tỉnh Bến Tre của các chủ thể có liên quan Từ kết quả đánh giá sẽ tập trung làm rõ những tồn tại, hạn chế trong thực tiễn thi hành pháp luật bảo vệ môi trường trong khu công nghiệp ở tỉnh Bến Tre

- Đề xuất một số giải pháp góp phần tăng cường thực thi pháp luật bảo vệ môi trường trong khu công nghiệp ở tỉnh Bến Tre đáp ứng yêu cầu phát triển công nghiệp của tỉnh đến năm 2020

4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu của Luận văn

Đối tượng nghiên cứu của Luận văn là:

Trang 11

- Khuôn khổ pháp luật điều chỉnh quan hệ bảo vệ môi trường trong khu công nghiệp

- Thực tiễn thi hành pháp luật bảo vệ môi trường trong khu công nghiệp ở tỉnh Bến Tre

- Các chủ trương, chính sách, pháp luật bảo vệ môi trường trong khu công nghiệp ở tỉnh Bến Tre

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Luận văn nghiên cứu vấn đề bảo vệ môi trường và thực thi pháp luật bảo vệ môi trường trong khu công nghiệp ở tỉnh Bến Tre từ năm 2010 đến nay

5 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn được thực hiện dựa trên các phương pháp nghiên cứu:

- Phương pháp phân tích, tổng hợp, quy nạp, diễn dịch được sử dụng linh hoạt

và xuyên suốt trong toàn bộ luận văn để làm rõ các luận điểm khoa học được đề cập

- Phương pháp phân tích logic được sử dụng để phân tích ở Chương 2 và kiến nghị khoa học ở Chương 3

- Phương pháp kết hợp giữa lịch sử và kinh tế để làm rõ quá trình phát triển và

hệ quả của tình trạng ô nhiễm môi trường với chi phí khắc phục hậu quả của ô nhiễm môi trường

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài

- Làm rõ được ở khía cạnh lý luận vấn đề thực thi pháp luật bảo vệ môi trường trong khu công nghiệp

- Phân tích, đánh giá và chỉ ra được một số bất cập, hạn chế trong thực tiễn thực thi pháp luật bảo vệ môi trường trong khu công nghiệp ở tỉnh Bến Tre

- Kiến nghị được một số giải pháp có tỉnh khả thi, phù hợp để tăng cường thực thi pháp luật bảo vệ môi trường trong khu công nghiệp ở tỉnh Bến Tre đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững

Trang 12

7 Kết cấu của Luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, Luận văn được kết cấu làm 03 chương như sau:

Chương 1 Cơ sở lý luận và thực tiễn về thực thi pháp luật về bảo vệ môi

trường trong khu công nghiệp

Chương 2 Đánh giá thực tiễn thi hành pháp luật bảo vệ môi trường trong khu

công nghiệp ở tỉnh Bến Tre

Chương 3 Kết luận và kiến nghị chính sách góp phần nâng cao hiệu quả thực

thi pháp luật bảo vệ môi trường trong khu công nghiệp ở tỉnh Bến Tre

Trang 13

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ THỰC THI PHÁP LUẬT VỀ BẢO

VỆ MÔI TRƯỜNG TRONG KHU CÔNG NGHIỆP

1.1 Khái quát chung về khu công nghiệp và vai trò của khu công nghiệp trong phát triển kinh tế xã hội

1.1.1 Quan niệm về khu công nghiệp

Trên thế giới hiện nay có hai mô hình phát triển khu công nghiệp, từ đó cũng hình thành hai quan điểm khác nhau về khu công nghiệp:5

Quan điểm 1: cho rằng khu công nghiệp là khu vực lãnh thổ rộng lớn, có ranh giới địa lý xác định, trong đó chủ yếu là hoạt động sản xuất công nghiệp và có đan xen với nhiều hoạt động dịch vụ đa dạng, có dân cư sinh sống trong khu công nghiệp Ngoài chức năng quản lý kinh tế, bộ máy quản lý các khu này còn có chức năng quản lý hành chính, quản lý lãnh thổ Khu công nghiệp theo quan điểm này thực chất là khu hành chính-kinh tế đặc biệt như các công viên công nghiệp ở Đài Loan, Thái Lan và một số nước Tây Âu

Quan điểm 2: cho rằng khu công nghiệp là khu vực lãnh thổ có giới hạn nhất định, ở đó tập trung các doanh nghiệp công nghiệp và dịch vụ sản xuất công nghiệp, không có dân cư sinh sống và được tổ chức hoạt động theo cơ chế ưu đãi cao hơn so với các khu vực lãnh thổ khác Theo quan điểm này, một số nước và vùng lãnh thổ như Malaysia, Indonesia, Việt Nam đã hình thành nhiều khu công nghiệp với quy

mô khác nhau và Việt Nam cũng đang áp dụng mô hình này trong phát triển các khu công nghiệp

Tại Việt Nam, quan niệm về khu công nghiệp đã hình thành từ khi Việt Nam chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường, là một trong những nội dung quan trọng trong chiến lược công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Tư tưởng, chính sách, pháp luật về phát triển khu công nghiệp đã góp phần quan trọng vào việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Quy định

5 Nguyễn Thị Thu Thủy, Quản lý phát triển bền vững các khu công nghiệp tại thành phố Hải Phòng, Luận án

tiến sĩ kinh tế, Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế trung ương, Hà Nội, 2018, tr.31

Trang 14

về khu công nghiệp đã được ghi nhận trong nhiều văn bản pháp luật khác nhau Quá trình ghi nhận quy định về khu công nghiệp thể hiện cái nhìn đúng, rõ hơn bản chất của khu công nghiệp Có thể khái quát một số quy định của pháp luật Việt Nam về khu công nghiệp như sau:

- Nghị định 192-CP ngày 28/12/1994 về ban hành Quy chế Khu công nghiệp quy định: khu công nghiệp là khu công nghiệp tập trung do Chính phủ quyết định thành lập, có ranh giới địa lý xác định, chuyên sản xuất công nghiệp và thực hiện các dịch vụ hỗ trợ sản xuất công nghiệp, không có dân cư sinh sống (Điều 2)

- Nghị định 36/CP ngày 24/04/1997 của Chính phủ về ban hành Quy chế khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao quy định khu công nghiệp là khu tập trung các doanh nghiệp khu công nghiệp chuyên sản xuất hàng công nghiệp và thực hiện các dịch vụ cho sản xuất công nghiệp, có ranh giới địa lý xác định, không có dân cư sinh sống; do Chính phủ hoặc Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập, trong khu công nghiệp có thể có doanh nghiệp chế xuất (Khoản 1 Điều 2)

- Nghị định số 29/2008/NĐ-CP ngày 14/03/2008 của Chính phủ quy định về

khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao quan niệm khu công nghiệp là

khu chuyên sản xuất hàng công nghiệp và thực hiện các dịch vụ cho sản xuất công nghiệp, có ranh giới địa lý xác định, được thành lập theo điều kiện, trình tự và thủ tục do pháp luật quy định (Khoản 1 Điều 2)

Quy định pháp luật hiện hành về khu công nghiệp được quy định tại Nghị định 82/2018/NĐ-CP ngày 22/5/2018 của Chính phủ quy định về quản lý khu công nghiệp và khu kinh tế xác định khu công nghiệp là khu vực có ranh giới địa lý xác định, chuyên sản xuất hàng công nghiệp và thực hiện dịch vụ cho sản xuất công nghiệp, được thành lập theo điều kiện, trình tự và thủ tục do pháp luật quy định (Khoản 1 Điều 2) Bên cạnh quy định nội dung của khu công nghiệp còn có quy định thêm các loại khu công nghiệp như khu chế xuất,6 khu công nghiệp hỗ trợ,7

6

Khu chế xuất là khu công nghiệp chuyên sản xuất hàng xuất khẩu, thực hiện dịch vụ cho sản xuất hàng xuất khẩu và hoạt động xuất khẩu, được thành lập theo điều kiện, trình tự và thủ tục áp dụng đối với khu công nghiệp Khu chế xuất được ngăn cách với khu vực bên ngoài theo các quy định áp dụng đối với khu phi thuế quan quy định tại pháp luật về thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu (Điểm a Khoản 1 Điều 2 nghị định 82/2018/NĐ-CP ngày 22/5/2018 của Chính phủ quy định về quản lý khu công nghiệp và khu kinh tế)

Trang 15

khu công nghiệp sinh thái.8 Điểm khác biệt trong quy định của pháp luật hiện hành

về khu công nghiệp là ở chỗ tập trung làm rõ điểm khác biệt của khu công nghiệp là

ở một khu vực địa lý nhất định có chức năng “chuyên sản xuất hàng công nghiệp và thực hiện dịch vụ cho sản xuất công nghiệp” Có thể khẳng định cách tiếp cận này

là phù hợp với xu hướng chung của các nước, đồng thời phân biệt khu công nghiệp với các khu, cụm công nghiệp tập trung khác

1.1.2 Vai trò của khu công nghiệp trong phát triển kinh tế xã hội

Thứ nhất, tạo lập không gian phát triển công nghiệp tập trung, tránh phát triển

manh mún, thiếu tập trung Hiện 220 khu công nghiệp đã đi vào hoạt động, 105 khu công nghiệp đang trong giai đoạn đền bù giải phóng mặt bằng Tỷ lệ lấp đầy chung các khu công nghiệp đạt 51%, riêng các khu công nghiệp đã đi vào hoạt động, tỷ lệ lấp đầy đạt 73% Vùng Đông Nam Bộ có số khu công nghiệp được thành lập nhiều nhất với 111 khu công nghiệp (chiếm 34%); vùng đồng bằng sông Hồng có 85 và

và Tây Nam Bộ có 52 khu công nghiệp.9

Thứ hai, có thể hình thành nhóm/cụm doanh nghiệp có cùng ngành nghề, lĩnh

vực kinh doanh, từ đó các doanh nghiệp có thể tận dụng hoặc chia sẻ các lợi thế của mình cho các doanh nghiệp trong cùng không gian hoạt động tập trung Một trong những vai trò quan trọng của khu công nghiệp là việc hình thành được hệ thống các doanh nghiệp (trong một không gian, vùng địa lý nhất định) mà ở đó, các doanh nghiệp tận dụng lợi thế của các doanh nghiệp khác trong cùng một không gian, từ

đó góp phần tiết kiệm chi phí kinh doanh và rút ngắn hơn các quy trình/khâu kinh

7

Khu công nghiệp hỗ trợ là khu công nghiệp chuyên sản xuất các sản phẩm công nghiệp hỗ trợ, thực hiện dịch vụ cho sản xuất các sản phẩm công nghiệp hỗ trợ Tỷ lệ diện tích đất cho các dự án đầu tư vào ngành nghề công nghiệp hỗ trợ thuê, thuê lại tối thiểu đạt 60% diện tích đất công nghiệp có thể cho thuê của khu công nghiệp (Điểm b Khoản 1 Điều 2 nghị định 82/2018/NĐ-CP ngày 22/5/2018 của Chính phủ quy định về quản lý khu công nghiệp và khu kinh tế)

8 Khu công nghiệp sinh thái là khu công nghiệp, trong đó có các doanh nghiệp trong khu công nghiệp tham gia vào hoạt động sản xuất sạch hơn và sử dụng hiệu quả tài nguyên, có sự liên kết, hợp tác trong sản xuất để thực hiện hoạt động cộng sinh công nghiệp nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế, môi trường, xã hội của các doanh nghiệp (Điểm c Khoản 1 Điều 2 nghị định 82/2018/NĐ-CP ngày 22/5/2018 của Chính phủ quy định về quản lý khu công nghiệp và khu kinh tế)

9 Nguyễn Minh Phong, Những đột phá cần có trong phát triển các khu kinh tế và khu công nghiệp Nguồn:

khu-kinh-te-va-khu-cong-nghiep.html>, [Ngày truy cập ngày 27/03/2017]

Trang 16

<http://www.nhandan.com.vn/kinhte/thoi_su/item/32430902-nhung-dot-pha-can-co-trong-phat-trien-cac-doanh, từ đó giúp thúc đẩy hoạt động kinh doanh của từng doanh nghiệp cũng như của các hệ thống doanh nghiệp cùng ngành nghề kinh doanh trong khu công nghiệp

Thứ ba, khu công nghiệp giúp khai thác tối đa nguồn tài nguyên đất đai – loại

tài sản bị giới hạn bởi không gian và là loại tài nguyên khan hiếm Nếu các doanh nghiệp phát triển trải rộng ở nhiều không gian địa điểm khác nhau sẽ gây ra tình trạng lãng phí nguồn tài nguyên đất đai do phải đầu tư hệ thống hạ tầng kỹ thuật riêng biệt Khi phát triển hệ thống khu công nghiệp, các doanh nghiệp trong khu công nghiệp được sử dụng hệ thống hạ tầng phục vụ cho các doanh nghiệp hoạt động Nói cách khác, trên cùng diện tích đất và một hệ thống hạ tầng, các doanh nghiệp trong khu công nghiệp tận dụng, khai thác tối đa nguồn lực đất đai của quốc gia cũng như của từng địa phương

Thứ tư, khu công nghiệp sẽ thu hút nguồn lực kinh tế (vốn của các doanh

nghiệp trong nền kinh tế thị trường), nhân lực tập trung, từ đó góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế (thông qua đóng góp thuế cho ngân sách địa phương) và phát triển

xã hội (thông qua thu hút các lực lượng xã hội, trong đó có trí thức, lao động có tay nghề cao, từ đó từng bước hình thành lối sống công nghiệp hoặc các khu đô thị tập trung) Các khu công nghiệp, khu chế xuất đã phát huy được lợi thế về kết cấu hạ tầng đồng bộ, thuận lợi cho sản xuất kinh doanh, theo đó, thu hút được nguồn vốn đầu tư lớn cả trong nước và đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) Hàng năm, số lượng vốn FDI đầu tư vào khu công nghiệp chiếm khoảng từ 60-70% tổng vốn đầu tư FDI thu hút được của cả nước Trung bình trong giai đoạn 2011-2015, các khu công nghiệp thu hút được khoảng 40.000 tỷ đồng vốn đầu tư từ các nhà đầu tư trong nước Năm 2016, tổng diện tích đất công nghiệp đã cho thuê của các khu công nghiệp đạt 31,8 nghìn ha, tỷ lệ lấp đầy các khu công nghiệp đạt 51%, cao hơn 2% so với cuối năm 2015, riêng các khu công nghiệp đã đi vào hoạt động, tỷ lệ lấp đầy đạt 73%, cao hơn 6% so với cuối năm 2015.10

10 Ban soạn thảo Luật Đơn vị hành chính kinh tế đặc biệt, Báo cáo tổng kết hoạt động các mô hình khu công

nghiệp, khu kinh tế và các mô hình tương tự khác, Hà Nội,ngày 30/08/2017, tr.5

Trang 17

1.2 Một số vấn đề lý luận về thực thi pháp luật bảo vệ môi trường trong khu công nghiệp

1.2.1 Bản chất của thực thi pháp luật bảo vệ môi trường trong khu công nghiệp

Xây dựng và thực thi/thực hiện pháp luật là một quá trình thống nhất, liên quan đến thẩm quyền và hành vi pháp lý của nhiều chủ pháp luật khác nhau Thực thi pháp luật được hiểu chung nhất là hoạt động thực hiện và thi hành pháp luật Theo nghĩa hẹp thực thi pháp luật chỉ là hoạt động của riêng cơ quan quản lý nhà nước trong việc áp dụng, thi hành pháp luật Nhưng cách hiểu đó là phiến diện và chưa đầy đủ vì pháp luật là những chuẩn mực chung và bất cứ ai trong xã hội đều phải tuân theo Vì vậy, thực thi pháp luật phải là hoạt động thực hiện và tuân theo pháp luật của tất cả mọi người.11

Khi bàn về thực thi pháp luật, Chủ tịch Hồ Chí Minh đòi hỏi tất cả mọi tổ chức

và cá nhân phải chấp hành pháp luật, không ai được đứng trên và đứng ngoài pháp luật Ngay từ những ngày đầu thành lập nước, Người đã ban hành Quốc lệnh ngày 26/1/1946 Trong Quốc lệnh này, gồm 10 điều khen thưởng và 10 điều phạt, kể cả hình phạt xử tử Trong thực tế, Người đã cho thi hành những án nghiêm khắc nhất ngay cả những cán bộ, đảng viên vi phạm Nhưng tư tưởng pháp trị lại thống nhất rất biện chứng với tư tưởng đức trị.12

Theo quan điểm của tác giả Hoàng Thế Liên thì pháp luật chỉ trở thành sức mạnh vật chất khi được thi hành một cách nghiêm chỉnh, chừng nào thi hành pháp luật không tốt thì sức mạnh của pháp luật chỉ mang tính răn đe và do đó, chừng nào pháp luật vẫn chưa được thực thi nghiêm minh thì chứng đó Nhà nước pháp quyền vẫn chỉ là hình thức.13 Hầu hết quan niệm về thực thi pháp luật ở Việt Nam có nhiều

11

Trịnh Anh Tuấn, 2015, Giải pháp nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật cạnh tranh của Việt Nam, Luận án

tiến sĩ Kinh tế, Viện Nghiên cứu Thương mại – Bộ Công Thương, Hà Nội, 2015, tr.27

12 Diệp Văn Sơn, 2006, Tư tưởng Hồ Chí Minh về lập pháp và thực thi pháp luật, Nguồn:

<http://www.sggp.org.vn/tu-tuong-ho-chi-minh-ve-lap-phap-va-thuc-thi-phap-luat-101102.html>, [Ngày truy cập: 23 tháng 03 năm 2016]

13 Dương Thu Hương, Tin Hội thảo “Cơ chế tổ chức thi hành pháp luật, những vấn đề lý luận và thực tiễn”

trong khuôn khổ nhiệm vụ nghiên cứu khoa học cấp Bộ năm 2016-2017do Viện Khoa học pháp lý, Bộ Tư pháp tổ chức ngày 2-6-2017, Nguồn: <http://khpl.moj.gov.vn/qt/tintuc/Pages/hoat-dong-khoa- hoc.aspx?ItemID=193>, [Ngày truy cập: 23 tháng 03 năm 2016]

Trang 18

nội dung tương đồng với thuật ngữ “thực hiện pháp luật” được thừa nhận phổ biến trong khoa học lý luận chung về nhà nước và pháp luật tại hầu hết các cơ sở giáo dục đại học ngành luật ở Việt Nam, đồng thời trong các lĩnh vực pháp luật chuyên ngành, việc thực thi pháp luật là điều kiện quan trọng để các quy định pháp luật đi vào trong đời sống thực tiễn bằng các hành vi pháp lý tích cực của các chủ thể pháp luật

Môi trường trong lành là một yếu tố vô cùng quan trọng và thực sự cần thiết đối với mỗi con người, mỗi quốc gia Nhân loại ngày nay càng ngày càng ý thức một cách sâu sắc hơn về mối quan hệ tương hỗ giữa các hoạt động nhằm phát triển kinh tế cộng đồng và môi trường thiên nhiên Một quốc gia, một khu vực không thể phát triển cường thịnh nếu không quan tâm đến vấn đề bảo vệ môi trường không coi bảo vệ môi trường là nền tảng cho sự phát triển bền vững của mình Do đó, hoạt động bảo vệ môi trường nói chung, bảo vệ môi trường trong khu công nghiệp nói riêng luôn được các quốc gia quan tâm trong quá trình phát triển Pháp luật bảo vệ môi trường là một bộ phận cấu thành hệ thống pháp luật Việt Nam được quan tâm xây dựng ngay từ khi Việt Nam đi vào con đường đổi mới Nói như thế cũng có nghĩa, vấn đề bảo vệ môi trường cũng “đã được” các nhà lập pháp Việt Nam quan tâm để tránh những hậu quả do hoạt động kinh tế - hoạt động có nhiều tác động tiêu cực đến môi trường Tư tưởng xuyên suốt của pháp luật bảo vệ môi trường ở Việt Nam là ở chỗ xem bảo vệ môi trường là trách nhiệm của toàn xã hội.14

Khi bàn về cơ chế thực thi pháp luật về bảo vệ môi trường trong khu công nghiệp vấn đề chính và trọng tâm là cần xác định chính xác, rõ ràng trách nhiệm, nghĩa vụ của các chủ thể có liên quan đến việc triển khai các quy định này trong thực tiễn Nếu như khuôn khổ pháp luật về bảo vệ môi trường trong khu công nghiệp tạo lập khuôn khổ pháp lý cho các chủ thể triển khai thực hiện trách nhiệm của mình thì Ban quản lý khu công nghiệp, các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước có hoạt động trong khu công nghiệp bằng những hành vi pháp lý cụ thể của

14 Theo quy định tại Khoản 1 Điều 4 Luật Bảo vệ môi trường 2014 thì “Bảo vệ môi trường là trách nhiệm và nghĩa vụ của mọi cơ quan, tổ chức, hộ gia đình và cá nhân” là một trong những nguyên tắc bảo vệ môi trường

Trang 19

mình sẽ hiện thực hóa trách nhiệm bảo vệ môi trường Ở khía cạnh rộng hơn, cần nhìn nhận việc thực hiện trách nhiệm bảo vệ môi trường trong khu công nghiệp không chỉ là trách nhiệm pháp lý mà còn là trách nhiệm xã hội của Ban quản lý khu công nghiệp, các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước có hoạt động trong khu công nghiệp

Từ nguyên tắc “Tổ chức, hộ gia đình, cá nhân gây ô nhiễm, sự cố và suy thoái môi trường phải khắc phục, bồi thường thiệt hại và trách nhiệm khác theo quy định của pháp luật” (Khoản 8 Điều 4 Luật Bảo vệ môi trường 2014), tức là người nào gây ô nhiễm, suy thoái môi trường phải có trách nhiệm khắc phục, bồi

thường thiệt hại tác giả luận văn quan niệm: Thực thi pháp luật bảo vệ môi trường trong khu công nghiệp là các hành vi tích cực, hợp pháp của các chủ thể có liên quan đến việc xây dựng, triển khai, theo dõi, giám sát mức độ chấp hành, tuân thủ quy định pháp luật bảo vệ môi trường của các chủ thể trong khu công nghiệp nhằm phát huy tính tích cực, chủ động trong thực hiện pháp luật về bảo vệ môi trường ở các khu công nghiệp, phòng ngừa và xử lý nghiêm minh các vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường đảm bảo quyền con người được sống trong môi trường trong lành và bảo đảm sự phát triển bền vững Như vậy, thực hiện trách nhiệm bảo vệ

môi trường của các chủ thể có liên quan đến bảo vệ môi trường sẽ góp phần hiện thực hóa nhiều chính sách nhằm nâng cao hiệu suất cũng như lợi nhuận của các khoản đầu tư trong lĩnh vực bảo vệ môi trường như chính sách bắt buộc phân loại rác thải nguồn và chính sách đánh phí chất thải theo khối lượng xả thải, nhằm nâng cao tỷ suất tái chế chất thải; thúc đẩy các hệ thống gián nhãn sinh thái/môi trường cho các sản phẩm/dịch vụ, mua sắm xanh và lối sống xanh… nhằm thúc đẩy và khuyến khích các nhóm cộng đồng và các tầng lớp xã hội khác nhau thực hiện sản xuất sạch, tiết kiệm năng lượng và bảo vệ môi trường

Trang 20

1.2.2 Các bộ phận hợp thành cơ chế thực thi pháp luật bảo vệ môi trường trong khu công nghiệp

1.2.2.1 Khuôn khổ pháp luật liên quan đến việc bảo vệ môi trường trong khu công nghiệp

Một trong những đặc trưng của khu công nghiệp là có mức độ tập trung lớn các doanh nghiệp chuyên sản xuất hàng công nghiệp và thực hiện các dịch vụ cho sản xuất công nghiệp và do đó, những tác động đối với môi trường ở khu vực này bao giờ cũng lớn hơn so với các khu vực khác Mặt khác, so với vi phạm pháp luật trong những lĩnh vực khác, vi phạm pháp luật trong lĩnh vực bảo vệ môi trường có khả năng lan tỏa, ảnh hưởng trên phạm vi không gian lãnh thổ rộng lớn, mức độ thể hiện rất lâu dài, khi chứng minh, làm rõ tính chất mức độ của hành vi vi phạm pháp luật bảo vệ môi trường cần có ý kiến của các chuyên gia, nhà khoa học Do đó, để ngăn ngừa sớm và dễ dàng cho các chủ thể thực hiện trách nhiệm bảo vệ môi trường trong khu công nghiệp phải càng cụ thể, rõ ràng bao nhiêu càng tốt Tuy nhiên, trong nghiên cứu của tác giả Võ Thị Mỹ Hương cho thấy,15 Luật Bảo vệ môi trường

2014 dành 15 điều Chương VII từ Điều 65 đến Điều 79 quy định về bảo vệ môi trường trong hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ nhưng có tới 08 Điều có nội dung được giao cho các cơ quan nhà nước ban hành hoặc phối hợp ban hành, trong

đó có quy định về bảo vệ môi trường trong khu công nghiệp, khu kinh tế, khu công nghệ cao Nội dung quy định về bảo vệ môi trường trong khu công nghiệp theo pháp luật hiện hành bao gồm:16

Một là, quy định trách nhiệm và thẩm quyền của Ban quản lý khu công

nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao trong việc phối hợp với cơ quan quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường trên địa bàn tổ chức kiểm tra hoạt động về bảo vệ môi trường; báo cáo về hoạt động bảo vệ môi trường tại khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao theo quy định của pháp luật Ban quản lý khu công nghiệp,

15

Võ Thị Mỹ Hương, Thực thi pháp luật bảo vệ môi trường trong hoạt động sản xuất, kinh doanh dịch vụ khi

Việt Nam là thành viên của TPP, in trong Kỷ yếu Hội thảo khoa học “Những vấn đề pháp lý của doanh

nghiệp Việt Nam trong hội nhập TPP” do Trường Đại học Ngân hàng TP.HCM tổ chức,Nxb Kinh tế TP.HCM, 2016, tr.373 – 374

16

Điều 66 Luật Bảo vệ môi trường 2014

Trang 21

khu chế xuất, khu công nghệ cao phải có bộ phận chuyên trách về bảo vệ môi trường

Hai là, quy định về trách nhiệm của chủ đầu tư xây dựng và kinh doanh hạ

tầng khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao phải bảo đảm các yêu cầu sau:

- Quy hoạch các khu chức năng, các loại hình hoạt động phải phù hợp với các hoạt động bảo vệ môi trường;

- Đầu tư hệ thống thu gom và xử lý nước thải tập trung đạt quy chuẩn kỹ thuật môi trường và có hệ thống quan trắc nước thải tự động, liên tục; có thiết bị đo lưu lượng nước thải;

- Bố trí bộ phận chuyên môn phù hợp để thực hiện nhiệm vụ bảo vệ môi trường

Ba là, Luật Bảo vệ môi trường 2014 giao cho Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và

Môi trường quy định chi tiết nội dung bảo vệ môi trường trong khu công nghiệp, khu kinh tế, khu công nghệ cao Thực hiện nhiệm vụ được giao, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã ban hành Thông tư số 35/2015/TT-BTNMT ngày 30/6/2015 quy định về bảo vệ môi trường khu kinh tế, khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao quy định chi tiết Điều 65, Điều 66 Luật Bảo vệ môi trường năm 2014; Điểm e Khoản 1 và Điểm e Khoản 2 Điều 7, Điểm c Khoản 1 Điều 11, Khoản 1 và Khoản 3 Điều 29, Khoản 1 Điều 34 Nghị định số 29/2008/NĐ-CP ngày 14/3/2008 quy định về khu công nghiệp, khu chế xuất và khu kinh tế; các quy định về bảo vệ môi trường đối với khu kinh tế, khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao quy định tại Điểm a và Điểm c Khoản 1 Điều 43 Nghị định số 38/2015/NĐ-CP ngày 24/4/2015 về quản lý chất thải và phế liệu

1.2.2.2 Trách nhiệm của Ban quản lý khu công nghiệp, các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước có hoạt động trong khu công nghiệp

Về phương diện lịch sử, chủ đề “trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp” mới chỉ xuất hiện tại châu Âu trong vài năm gần đây Trong quá trình phát triển, sự quan tâm về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp không dừng ở kết quả kinh tế của các

Trang 22

doanh nghiệp, mà là chính các doanh nghiệp, với tư cách là tác nhân chính của hoạt động kinh tế, cùng với hệ thống ứng xử và hành vi của họ đối với cá nhân, xã hội loài người và đối với môi trường tự nhiên của chúng ta.17

Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp được thể hiện một cách cụ thể trên các yếu tố, các mặt, như: 1 Bảo vệ môi trường; 2 Đóng góp cho cộng đồng xã hội; 3 Thực hiện tốt trách nhiệm với nhà cung cấp; 4 Bảo đảm lợi ích và an toàn cho người tiêu dùng; 5 Quan hệ tốt với người lao động; và 6 Đảm bảo lợi ích cho cổ đông và người lao đông trong doanh nghiệp.18

Trách nhiệm xã hội được coi là một phạm trù của đạo đức kinh doanh (Business Ethics), có liên quan đến mọi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp có thể thấy, ít nhất đã có bốn nhóm đối tượng mà doanh nghiệp phải có trách nhiệm trong ứng xử đối với các đối tượng sau đây: Thị trường và người tiêu dùng, bao gồm cả nhà đầu tư, ngân hàng, nhà cung ứng và hợp tác; Người lao động; Cộng đồng trong khu vực và trong xã hội trong nước và thế giới (như vụ sữa nhiễm độc melamine của công ty Tam Lộc ở Trung Quốc); Môi trường sống.19

Từ các quan niệm phổ biến về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp cho thấy, bảo vệ môi trường là một nội dung của trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp Thực hiện trách nhiệm xã hội, các doanh nghiệp sẽ đối xử có trách nhiệm với môi trường,

từ đó tạo ra cơ sở cho phát triển bền vững, thông qua các hoạt động như tuân thủ pháp luật về bảo vệ môi trường; kiểm soát ô nhiễm; tái chế chất thải; tiết kiệm tài nguyên… là địa điểm, không gian địa lý cho các doanh nghiệp hoạt động, đòi hỏi và thực hiện trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp trong bảo vệ môi trường tại khu công nghiệp chỉ có thể đạt được khi Ban quản lý khu công nghiệp, các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước có hoạt động trong khu công nghiệp ý thức và chủ động triển khai thực hiện trách nhiệm bảo vệ môi trường bằng những hành động hợp pháp,tích cực, chủ động như không xả thải ra môi trường, xây dựng hệ thống quản

17 Michel Capron và Françoise Quairel-Lanoizelée, Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp (Lê Minh Tiến,

Phạm Như Hồ dịch), Nxb Tri thức, Hà Nội, tr.9-10

18 Phạm Văn Đức, Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp một số vấn đề lý luận và thực tiễn cấp bách, Tạp chí

Triết học, (2)/2009, tr.16-23

19 Lê Đăng Doanh , Một số vấn đề về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp ở Việt Nam, Tạp chí Triết học,

(3)/2009, tr.29-34

Trang 23

lý, xử lý chất thải công nghiệp trước khi xả thải ra môi trường, phối hợp xây dựng

hệ thống thông tin môi trường…

Tại khu công nghiệp Đại An của tỉnh Hải Dương, địa phương này cũng như Ban quản lý khu công nghiệp đã có những cách làm riêng, tương đối hiệu quả để một mặt vừa thu hút được đầu tư, vừa bảo đảm môi trường sinh thái Ban quản lý khu công nghiệp Đại An đã đầu tư dây chuyền, công nghệ tương đối hiện đại để xây dựng nhà máy xử lý nước thải ở cuối khu công nghiệp với công suất xử lý 1.700

m3/ngày đêm Mặt khác, ở mỗi doanh nghiệp đều có hệ thống xử lý nước thải riêng

và bắt buộc phải xử lý trước khi đưa vào hệ thống chung của khu công nghiệp Toàn

bộ nước thải này sau khi được nhà máy của khu công nghiệp xử lý, đạt chuẩn về yêu cầu mới được thải ra ngoài Ban quản lý khu công nghiệp phải lựa chọn nhà đầu

tư phù hợp Các nhà máy sản xuất được sắp xếp ra rìa sông, tránh các hướng gió thổi về khu dân cư Ban quản lý khu công nghiệp cũng yêu cầu tất cả các nhà máy phải ký hợp đồng xử lý rác thải với Công ty Cổ phần Môi trường đô thị Hải Dương Riêng nước thải sản xuất, chất thải rắn phải được doanh nghiệp về môi trường thu gom và xử lý Để cải thiện môi trường do khí thải từ các nhà máy, Ban quản lý khu công nghiệp Đại An yêu cầu các doanh nghiệp phải trồng cây xanh Hằng tháng, hằng quý đều có tổ kiểm tra của Ban quản lý đến kiểm tra nghiêm ngặt.20

Như vậy, sự chủ động, tích cực của Ban quản lý khu công nghiệp, các tổ chức,

cá nhân trong và ngoài nước có hoạt động trong khu công nghiệp đòi hỏi không chỉ

ở ý thức pháp luật cao mà còn cần đề cao trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp trong thực tiễn hoạt động

1.2.2.3 Các biện pháp chế tài xử lý vi phạm pháp luật trong hoạt động bảo vệ môi trường tại khu công nghiệp

Các biện pháp chế tài xử lý vi phạm pháp luật trong hoạt động bảo vệ môi trường tại khu công nghiệp làm sao đảm bảo hài hòa lợi ích giữa tuân thủ pháp luật bảo vệ môi trường với tối đa hóa mục tiêu lợi nhuận của doanh nghiệp

20 Minh Hạnh, Khu công nghiệp Đại An Hải Dương Giải quyết hài hòa vấn đề môi trường và lợi ích doanh nghiệp Nguồn <http://www.qdnd.vn/kinh-te/chinh-sach/giai-quyet-hai-hoa-van-de-moi-truong-va-loi-ich- doanh-nghiep-490040>, [Ngày truy cập 14/10/2016]

Trang 24

Vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường trong khu công nghiệp là sự thể hiện trong thực tiễn việc không chấp hành tốt nghĩa vụ, trách nhiệm bảo vệ môi trường của các chủ thể có liên quan Việc xử lý vi phạm pháp luật trong lĩnh vực bảo vệ môi trường nói chung, xử lý vi phạm pháp luật bảo vệ môi trường trong khu công nghiệp nói riêng nên nhìn nhận là “giải pháp cuối cùng” mà không nên nhìn nhận như một giải pháp nâng cao triển khai hiệu quả pháp luật bảo vệ môi trường, đành rằng, để triển khai thực thi hiệu quả pháp luật bảo vệ môi trường không thể không nói đến biện pháp chế tài xử lý vi phạm Cơ sở của nhận định nên nhìn nhận xử lý

vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường trong khu công nghiệp nên là giải pháp cuối cùng ở nội dung phòng ngừa vi phạm pháp luật bảo vệ môi trường Điều này được minh chứng ở chỗ phòng ngừa, ứng phó và khắc phục sự cố môi trường là một chế định quan trọng được quy định ở Mục 3, Chương X của Luật bảo vệ môi trường năm 2014 và nhiều điều khoản khác như các quy định về quy hoạch bảo vệ môi trường, đánh giá môi trường chiến lược, đánh giá tác động môi trường, phương án bảo vệ môi trường, quản lý chất thải, quan trắc môi trường, đánh giá sức chịu tải của môi trường, với mục tiêu ngăn ngừa ô nhiễm và phòng ngừa sự cố môi trường - những quy định quan trọng chi phối toàn bộ các quy định của Luật bảo vệ môi trường năm 2014

Mặt khác, thực hiện trách nhiệm bảo vệ môi trường trong khu công nghiệp có liên quan trực tiếp đến các chi phí của doanh nghiệp nên có thể ảnh hưởng trực tiếp đến mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận của doanh nghiệp Đây là vấn đề khó nhất trong việc triển khai các quy định pháp luật về bảo vệ môi trường trong khu công nghiệp, nghĩa là giải quyết mâu thuẫn khi một mặt “trải thảm đỏ” thu hút các nhà đầu tư, nhưng mặt khác phải bảo vệ môi trường, sinh thái trong phát triển các khu công nghiệp Trong Luật Bảo vệ môi trường 2014 có nhiều quy định về các biện pháp bảo vệ môi trường được khuyến khích, song các lợi ích mà doanh nghiệp trong khu công nghiệp thực hiện tốt pháp luật bảo vệ môi trường và doanh nghiệp không thực hiện pháp luật môi trường không có gì khác biệt nên khó có thể khuyến khích doanh nghiệp thực hiện tốt pháp luật bảo vệ môi trường, bởi lẽ, khi đó, doanh nghiệp có

Trang 25

thể “đánh đổi” giữa bị xử phạt vi phạm pháp luật bảo vệ môi và tuân thủ pháp luật bảo vệ môi trường, bởi lẽ với mức xử phạt như hiện nay chưa đủ mạnh và chưa có sức răn đe đối với doanh nghiệp

1.2.2.4 Cơ chế phối hợp giữa cơ quan quản lý nhà nước về môi trường với Ban quản lý khu công nghiệp trong việc triển khai các quy định về bảo vệ môi trường ở các khu công nghiệp Việt Nam

Ở khía cạnh lý luận, quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường là việc sử dụng tổng hợp các biện pháp công cụ như pháp luật, chính sách, kinh tế, hành chính, kỹ thuật… của cơ quan quản lý nhà nước về môi trường một cách thích hợp và đồng bộ

để tác động, hướng dẫn, điều chỉnh và giám sát các hoạt động của những tác nhân

có khả năng tác động đến môi trường để bảo đám sự phát triển thống nhất, hài hòa giữa phát triển kinh tế với bảo vệ môi trường, từ đó góp phần hiện thực hóa mục tiêu phát triển bền vững quốc gia

Trách nhiệm bảo vệ môi trường của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đã được quy định chi tiết trong Luật Bảo vệ môi trường 2014 bao gồm: Nội dung quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường21

; trách nhiệm quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường của Chính phủ22

; trách nhiệm quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường23; trách nhiệm quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ24

; trách nhiệm quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường của Ủy ban nhân dân các cấp25

Các cơ quan quản lý nhà nước về môi trường ở nước ta không ngừng được hoàn thiện ở trung ương, ở địa phương và cả cấp độ liên vùng

- Ở Trung ương, công tác kiện toàn Tổng cục Môi trường trực thuộc Bộ Tài nguyên và Môi trường đã được hoàn thiện với 18 đơn vị trực thuộc: Văn phòng, 04

Vụ Tổng hợp, 07 Cục quản lý chuyên ngành (tăng 03 Cục so với trước đây, trong

đó có 02 cục vùng: Cục Môi trường miền Trung - Tây Nguyên và Cục Môi trường

21

Xem: Điều 139 Luật Bảo vệ môi trường 2014

22 Xem: Điều 140 Luật Bảo vệ môi trường 2014

23 Xem: Điều 141 Luật Bảo vệ môi trường 2014

24 Xem: Điều 142 Luật Bảo vệ môi trường 2014

25

Xem: Điều 143 Luật Bảo vệ môi trường 2014

Trang 26

miền Nam); 06 đơn vị sự nghiệp và thêm 02 Chi cục Bảo vệ môi trường lưu vực sông Cầu, lưu vực sông Nhuệ - sông Đáy Các Cục, Vụ chuyên môn về môi trường thuộc các Bộ quản lý ngành tiếp tục được kiện toàn để phù hợp với chức năng, nhiệm vụ được giao, bao gồm: Cục Quản lý môi trường y tế (Bộ Y tế), Vụ Môi trường (Bộ Giao thông vận tải), Cục Kỹ thuật an toàn và Môi trường công nghiệp (Bộ Công Thương), Cục Khoa học quân sự (Bộ Quốc phòng), Cục Khoa học, Công nghệ và Môi trường thuộc Tổng cục IV, C49 (Bộ Công an), Vụ Khoa học, Giáo dục, Tài nguyên và Môi trường (Bộ Kế hoạch và Đầu tư), Vụ Khoa học, Công nghệ

và Môi trường (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn), Vụ Khoa học và Công nghệ (Bộ Xây dựng)

- Ở địa phương, cơ cấu tổ chức quản lý môi trường cũng tiếp tục được kiện toàn từ cấp tỉnh đến cấp xã, đến tháng 6 năm 2015 đã có 63 Chi cục Bảo vệ môi trường, 62 Trung tâm Quan trắc môi trường; 708 Phòng Tài nguyên và Môi trường cấp huyện và 11.148 cán bộ địa chính - xây dựng và môi trường cấp xã

- Ở cấp độ liên vùng, một số tổ chức/Ủy ban lưu vực sông đã được thành lập

và tiếp tục được kiện toàn như: Ủy ban bảo vệ môi trường các lưu vực sông Cầu, Nhuệ - Đáy và lưu vực hệ thống sông Đồng Nai

Theo Điều 139, Luật bảo vệ môi trường 2014 thì nội dung quản lý nhà nước

về bảo vệ môi trường bao gồm: Xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật về bảo vệ môi trường, ban hành hệ thống tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật môi trường; xây dựng, chỉ đạo thực hiện chiến lược, kế hoạch về bảo vệ môi trường; quy hoạch bảo vệ môi trường; thẩm định báo cáo đánh giá môi trường chiến lược; thẩm định, phê duyệt báo cáo đánh giá tác động môi trường; quản lý chất thải; kiểm soát ô nhiễm; cải thiện và phục hồi môi trường; thanh tra, kiểm tra việc chấp hành pháp luật về bảo vệ môi trường; thanh tra trách nhiệm quản lý nhà nước; xử lý vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường; tổ chức nghiên cứu, áp dụng tiến bộ khoa học; đánh giá việc thực hiện ngân sách nhà nước cho các hoạt động bảo vệ môi trường; hợp tác quốc tế trong lĩnh vực bảo vệ môi trường

Trang 27

Trong lĩnh vực bảo vệ môi trường trong khu công nghiệp, trọng tâm là thiết lập cơ chế phối hợp giữa cơ quan quản lý nhà nước về môi trường với Ban quản lý các khu công nghiệp trong việc theo dõi, kiểm tra, giám sát, xử lý vi phạm, xử lý hậu quả của vi phạm pháp luật bảo vệ môi trường trong khu công nghiệp Đây được xem là nhân tố quan trọng thúc đẩy việc hiện thực hóa nội dung trách nhiệm bảo vệ môi trường trong khu công nghiệp

1.2.2.5 Vai trò của các tổ chức chính trị, chính trị xã hội trong giám sát thực hiện pháp luật bảo vệ môi trường tại khu công nghiệp

Điều 4 Luật bảo vệ môi trường 2014 quy định bảo vệ môi trường là trách nhiệm và nghĩa vụ của mọi cơ quan, tổ chức, hộ gia đình và cá nhân nên mọi chủ thể trong xã hội phải có nghĩa vụ bảo vệ môi trường Với tư cách là chủ thể có trách nhiệm bảo vệ môi trường, các tổ chức chính trị - xã hội, xã hội - nghề nghiệp tham gia vào hoạt động bảo vệ môi trường dưới các hình thức:

- Đối với Mặt trận tổ quốc Việt Nam có trách nhiệm tuyên truyền, vận động các tổ chức thành viên và nhân dân tham gia hoạt động bảo vệ môi trường; thực hiện tư vấn, phản biện, giám sát việc thực hiện chính sách, pháp luật về bảo vệ môi trường theo quy định của pháp luật Cơ quan quản lý nhà nước các cấp có trách nhiệm tạo điều kiện để Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tham gia bảo vệ môi trường.26

- Một trong những quyền của tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp là “Tham gia hoạt động kiểm tra về bảo vệ môi trường tại cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ có liên quan đến chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình.”27

- Đại diện cộng đồng dân cư trên địa bàn chịu tác động môi trường của cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ có quyền: i) yêu cầu chủ cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ cung cấp thông tin về bảo vệ môi trường thông qua đối thoại trực tiếp hoặc bằng văn bản; tổ chức tìm hiểu thực tế về công tác bảo vệ môi trường của cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ; thu thập, cung cấp thông tin cho cơ quan có thẩm quyền

và chịu trách nhiệm về thông tin cung cấp; ii) yêu cầu cơ quan quản lý nhà nước có liên quan cung cấp kết quả thanh tra, kiểm tra, xử lý đối với cơ sở; iii) tham gia

26 Điều 144 Luật Bảo vệ môi trường 2014

27

Điểm d Khoản 2 Điều 145 Luật Bảo vệ môi trường 2014

Trang 28

đánh giá kết quả bảo vệ môi trường của cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ; thực hiện các biện pháp để bảo vệ quyền và lợi ích của cộng đồng dân cư theo quy định của pháp luật.28 Khi có yêu cầu của cộng đồng dân cư, chủ cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ phải thực hiện các yêu cầu này.29

Từ quy định của Luật Bảo vệ môi trường 2014 về sự tham gia của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị xã hội tham gia vào hoạt động bảo vệ môi trường cho thấy, các tổ chức này có quyền biết, quyền làm, quyền kiểm tra việc thực hiện pháp luật bảo vệ môi trường trong hoạt động kinh doanh của chủ cơ sở sản xuất, kinh doanh dịch vụ.30 Vì vậy, để phát huy tính tích cực, chủ động của các tổ chức này trong thực thi pháp luật bảo vệ môi trường tại khu công nghiệp cần thiết lập cơ chế phối hợp, chia sẻ thông tin về hiện trạng môi trường để tạo cơ sở thực tiễn cho các

tổ chức này “vào cuộc” nhanh chóng, kịp thời để tránh những thiệt hại do hành vi vi phạm pháp luật môi trường của các tổ chức, cá nhân trong khu công nghiệp gây ra

28 Điều 146 Luật Bảo vệ môi trường 2014

29

Khoản 4 Điều 146 Luật Bảo vệ môi trường 2014

30 Nguyễn Văn Phương, Vai trò của tổ chức xã hội trong bảo vệ môi trường, Tạp chí Môi trường, số 3/2015, truy cập tại địa chỉ: http://tapchimoitruong.vn/pages/article.aspx?item=Vai-tr%C3%B2-c%E1%BB%A7a- t%E1%BB%95-ch%E1%BB%A9c-x%C3%A3-h%E1%BB%99i-trong-b%E1%BA%A3o-v%E1%BB%87- m%C3%B4i-tr%C6%B0%E1%BB%9Dng-38922

Trang 29

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

Khu công nghiệp là khu vực có ranh giới địa lý xác định, chuyên sản xuất hàng công nghiệp và thực hiện dịch vụ cho sản xuất công nghiệp Là địa điểm tập trung nhiều hoạt động sản xuất hàng công nghiệp hoặc thực hiện dịch vụ cho sản xuất công nghiệp nên đây cũng là khu vực có nguy cơ gây ra nhiều tác động tiêu cực đối với môi trường và đây cũng là cơ sở lý luận về bảo vệ môi trường trong khu công nghiệp

Hoạt động bảo vệ môi trường trong khu công nghiệp được nhìn nhận là tổng thể các hiện pháp nhằm giảm thiểu/loại trừ các tác nhân gây thiệt hại cho môi trường nên Luật bảo vệ môi trường 2014 quy định là trách nhiệm của mọi tổ chức,

cá nhân trong xã hội Trong khu công nghiệp, trách nhiệm bảo vệ môi trường không chỉ là của các doanh nghiệp đang có hoạt động sản xuất công nghiệp trong đó mà còn của các chủ thể khác có liên quan như Ban Quản lý khu công nghiệp, các cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác Chính vì vậy, để thực hiện tốt trách nhiệm bảo

vệ môi trường trong khu công nghiệp đòi hỏi phải thiết lập một cơ chế phối hợp chặt chẽ giữa các chủ thể có liên quan đến hoạt động bảo vệ môi trường trong khu công nghiệp từ sự phối hợp giữa các cơ quan nhà nước có thẩm quyền đến sự phối hợp giữa cơ quan nhà nước với các tổ chức chính trị, chính trị xã hội cũng như với các doanh nghiệp trong khu công nghiệp Thông qua cơ chế phối hợp này, các chủ thể có liên quan đến thực thi pháp luật bảo vệ môi trường trong khu công nghiệp có thể theo dõi, giám sát việc thực hiện trách nhiệm bảo vệ môi trường của các chủ thể

có liên quan, đồng thời có thể phát hiện sớm, xử lý kịp thời những hành vi vi phạm pháp luật bảo vệ môi trường, nhất là việc xả thải gây ô nhiễm môi trường, từ đó góp phần giảm thiểu những thiệt hại lâu dài, trên phạm vi rộng của các hành vi gây ô nhiễm môi trường ở khu công nghiệp như đã từng xảy ra

Trang 30

CHƯƠNG 2 ĐÁNH GIÁ THỰC TIỄN THI HÀNH PHÁP LUẬT BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG

TRONG KHU CÔNG NGHIỆP Ở TỈNH BẾN TRE

2.1 Tình hình phát triển khu công nghiệp ở tỉnh Bến Tre

2.1.1 Một số nét khái quát về đặc điểm tự nhiên, kinh tế xã hội của tỉnh

Bến Tre là một trong 13 tỉnh đồng bằng sông Cửu Long, có diện tích tự nhiên

là 2.360 km2, dân số 1.262.206 người, được hình thành bởi cù lao An Hoá, cù lao Bảo, cù lao Minh, và do phù sa của 4 nhánh sông Cửu Long bồi tụ mà thành (gồm sông Tiền dài 83 km, sông Ba Lai 59 km, sông Hàm Luông 71 km, sông Cổ Chiên

82 km) Địa hình của Bến Tre bằng phẳng, rải rác những giồng cát xen kẽ với ruộng, vườn, không có rừng cây lớn, chỉ có một số rừng chồi và những dải rừng ngập mặn ở ven biển và các cửa sông Nhìn từ trên cao xuống, Bến Tre có hình giẻ quạt, đầu nhọn nằm ở thượng nguồn, các nhánh sông lớn như hình nan quạt xoè rộng về phía đông Phía bắc giáp tỉnh Tiền Giang, có ranh giới chung là sông Tiền, phía nam giáp tỉnh Trà Vinh, phía tây giáp tỉnh Vĩnh Long, có ranh giới chung là sông Cổ Chiên, phía đông giáp biển Đông, với chiều dài bờ biển là 65 km Những con sông lớn nối từ biển Đông qua các cửa sông chính (cửa Đại, cửa Ba Lai, cửa Hàm Luông, cửa Cổ Chiên), ngược về phía thượng nguồn đến tận Campuchia Từ Bến Tre, tàu bè có thể đến Thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh miền Tây Ngược lại, tàu bè từ Thành phố Hồ Chí Minh về các tỉnh miền Tây đều phải qua Bến Tre Bến Tre có hệ thống kênh rạch chằng chịt khoảng 6.000 km đan vào nhau chở nặng phù sa chảy khắp ba dải cù lao, tạo thành một lợi thế trong phát triển giao thông thuỷ, hệ thống thuỷ lợi, phát triển kinh tế biển, kinh tế vườn, trao đổi hàng hoá với các tỉnh lân cận Song song với giao thông thuỷ, ở Bến Tre, hệ thống giao thông đường bộ cũng có một vị trí rất đặc biệt Thành phố Bến Tre nối liền với Thành phố

Hồ Chí Minh (qua các tỉnh Tiền Giang, Long An) dài 86 km Quốc lộ 60 từ cầu

31 Sở Công thương tỉnh Bến Tre, Tổng quan về Bến Tre, ben-tre-W29.htm

Trang 31

http://congthuongbentre.gov.vn/home/tong-quan-ve-Rạch Miễu đi qua thành phố Bến Tre, qua cầu Hàm Luông, thị trấn Mỏ Cày, đến cầu Cổ Chiên, sang tỉnh Trà Vinh Quốc lộ 57 điểm cuối từ xã Thạnh Phong, huyện Thạnh Phú qua thị trấn Mỏ Cày, thị trấn Chợ Lách đến phà Đình Khao sang tỉnh Vĩnh Long Nguồn tài nguyên chủ yếu và quan trọng của tỉnh là tài nguyên đất nông nghiệp Năm 2010, diện tích đất nông nghiệp của tỉnh là 179.672 ha, chiếm 76,11% diện tích đất tự nhiên, trong đó diên tích trồng cây ăn trái là 32.023 ha, sản lượng là 318.469 tấn, diện tích trồng mía là 5.865 ha, sản lượng đạt 460.056 tấn, diện tích trồng cây dừa là 51.560 ha, sản lượng đạt 420 triệu trái/năm và lớn nhất nước Từ dừa có thể làm ra nhiều sản phẩm hết sức đa dạng và phong phú, được thị trường trong nước và quốc tế ưa chuộng Bến Tre có thế mạnh về kinh tế thủy sản, với 65

km chiều dài bờ biển và diện tích các huyện ven biển nên thuận lợi cho đánh bắt và nuôi trồng thủy hải sản, tạo ra nguồn tài nguyên biển phong phú với các loại tôm, cua, cá, mực, nhuyễn thể hai mảnh vỏ tự nhiên Năm 2010, sản lượng đánh bắt là 122.608 tấn, sản lượng nuôi trồng 168148 tấn Lực lượng thương nghiệp phát triển khá nhanh, toàn tỉnh hiện có 3.912 doanh nghiệp và 45.000 hộ kinh doanh cá thể đăng ký hoạt động trên các lĩnh vực, thu hút trên 100.000 ngàn lao động với thu nhập ổn định

2.1.2 Tình hình phát triển khu công nghiệp tại tỉnh Bến Tre

Theo Quyết định số 83/QĐ-TTg ngày 13/01/2011 của Thủ tướng Chính phủ Phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Bến Tre đến năm 2020 thì tổng diện tích các khu, cụm công nghiệp đến năm 2020 dao động trong khoảng 2.200 - 2.600 ha, tùy vào khả năng thu hút đầu tư và các điều kiện phát triển công nghiệp trên địa bàn, trong đó các khu công nghiệp tập trung trong khoảng 1.800 - 2.200 ha Về thực tiễn phát triển các khu công nghiệp ở tỉnh Bến Tre, hiện nay toàn tỉnh Bến Tre có các khu công nghiệp là:

- Khu công nghiệp Giao Long: Khu công nghiệp Giao Long có địa chỉ tại xã

An Phước, huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre, được thành lập theo Quyết định số 515/TTg-CN ngày 04 tháng 04 năm 2008 của Thủ tướng Chính phủ và Quyết định

số 933/2005/QĐ-UBND ngày 31 tháng 03 năm 2005 của Uỷ ban nhân dân tỉnh Bến

Trang 32

Tre về việc thành lập Khu công nghiệp Giao Long; khu công nghiệp Giao Long đi vào hoạt động năm 2006, có quy mô dự án là 164,34 ha (trong đó KCN Giao Long

là 96,3 ha; khu công nghiệp Giao Long giao đoạn II là 68,04 ha) Khu công nghiệp hiện có 35 dự án đầu tư (tỷ lệ lấp đầy đạt 100%) trong đó có 02 dự án đang triển khai xây dựng, 29 dự án đã đi vào hoạt động, 04 dự án chưa triển khai xây dựng 100% các doanh nghiệp đang hoạt động đã thực hiện đấu nối nước thải vào hệ thống thu gom và xử lý nước thải tập trung của khu công nghiệp Hóa chất sử dụng cho Nhà máy xử lý nước thải tập trung của khu công nghiệp, bao gồm: rĩ đường, Polyme Cation, PAC, Clorine, với khối lượng trung bình 33 tấn/tháng Loại hình được thu hút đầu tư vào khu công nghiệp gồm: công nghiệp chế biến nông sản, lâm sản, thủy sản, sản xuất thức ăn gia súc, sản xuất sơn công nghiệp, sản xuất vật liệu xây dựng, chế biến thực phẩm, sản xuất bao bì, thu hút khoảng 29.000 lao động trong khu công nghiệp Nguồn cung cấp nước cho các cơ sở trong khu công nghiệp khoảng 4.700 m3/ngày.đêm, mua của Công ty cổ phần cấp thoát nước Bến Tre

Dự án “Đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng khu công nghiệp Giao Long” đã được

Uỷ ban nhân dân tỉnh Bến Tre phê duyệt tại Quyết định số 5052/QĐ-UB ngày 24 tháng 12 năm 2004; Quyết định về việc sữa đổi, bổ sung một số điều Quyết định số 5052/QĐ-UB ngày 24 tháng 12 năm 2004 của UBND tỉnh về việc phê chuẩn báo cáo đánh giá tác động môi trường dự án “Đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng khu công nghiệp Giao Long” và Quyết định số 557/QĐ-UBND về việc sữa đổi, bổ sung một

số nội dung báo cáo đánh giá tác động môi trường dự án “Đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng khu công nghiệp Giao Long” đã được phê duyệt; dự án “Đầu tư xây dựng cơ

sở hạ tầng khu công nghiệp Giao Long (giai đoạn II)” đã được Uỷ ban nhân dân tỉnh Bến Tre phê duyệt tại Quyết định số 231/QĐ-UBUB ngày 01 tháng 01 năm 2010; Quyết định về việc sữa đổi, bổ sung một số điều Quyết định số 231/QĐ-UBND ngày 01 tháng 01 năm 2010 của UBND tỉnh về việc phê duyệt báo cáo đánh giá tác động môi trường dự án “Đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng khu công nghiệp Giao Long (giai đoạn II)” và Quyết định số 597/QĐ-UBND về việc sữa đổi, bổ sung một số nội dung báo cáo đánh giá tác động môi trường dự án “Đầu tư xây

Trang 33

dựng cơ sở hạ tầng khu công nghiệp Giao Long (giai đoạn II)” đã được phê duyệt;

đã được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Bến Tre cấp Giấy xác nhận hoàn thành công trình bảo vệ môi trường hạng mục Nhà máy nước thải công suất 5.000

m3/ngày đêm của dự án “Đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng khu công nghiệp Giao Long (giai đoạn II)” tại Văn bản số 2028/GXN-STNMT ngày 08 tháng 08 năm 2017; đã kê khai và nộp phí bảo vệ môi trường đối với nước thải công nghiệp; đã thực hiện chương trình quan trắc, giám sát môi trường theo quy định

- Khu công nghiệp An Hiệp: Khu công nghiệp An Hiệp có địa chỉ tại xã An Hiệp, huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre, được thành lập theo Quyết định số 1934/QĐ-UBND ngày 06 tháng 10 năm 2008 của Uỷ ban nhân dân tỉnh Bến Tre về việc thành lập Khu công nghiệp An Hiệp Khu công nghiệp An Hiệp đi vào hoạt động năm 2007, có quy mô dự án là 70 ha Khu công nghiệp hiện có 15 dự án đầu

tư và đã đi vào hoạt động (tỷ lệ lấp đầy đạt 100%) Có 06 doanh nghiệp đang hoạt động đã thực hiện đấu nối vào hệ thống thu gom và xử lý nước thải tập trung của KCN, 09 doanh nghiệp được xả trực tiếp ra môi trường Hóa chất sử dụng cho Nhà máy xử lý nước thải tập trung của khu công nghiệp, bao gồm: rĩ đường, Polyme Cation, PAC, Clorine, với khối lượng trung bình khoảng 11 tấn/tháng Loại hình được thu hút đầu tư vào khu công nghiệp gồm: công nghiệp chế biến nông sản, lâm sản, thủy sản, sản xuất thức ăn gia súc, sản xuất mía đường, chế biến thực phẩm, chế biến dừa, thu hút khoảng 5.700 lao động trong KCN Nguồn cung cấp nước cho các cơ sở trong KCN trung bình khoảng 7.500 m3/ngày.đêm, mua của Công ty

Cổ phần cấp thoát nước Bến Tre

Dự án “Đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng khu công nghiệp An Hiệp” đã được Uỷ ban nhân dân tỉnh Bến Tre phê duyệt tại Quyết định số 1975/QĐ-UBND ngày 20 tháng 8 năm 2009; đã được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Bến Tre cấp Giấy xác nhận hoàn thành công trình bảo vệ môi trường của dự án “Đầu tư xây dựng cơ

sở hạ tầng khu công nghiệp An Hiệp” tại Văn bản số 3482/GXN-STNMT ngày 21 tháng 12 năm 2017; đã kê khai và nộp phí bảo vệ môi trường đối với nước thải công nghiệp; đã thực hiện chương trình quan trắc, giám sát môi trường theo quy định; đã

Ngày đăng: 20/05/2019, 00:28

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
4. Cao Văn Trọng, Phát huy thành tựu năm “hành động”, tạo đà “tăng tốc” phát triển năm 2018, Nguồn&lt;http://www.bentre.gov.vn/Pages/TinTucSuKien.aspx?ID=22312&amp;CategoryId=Ho%u1ea1t+%u0111%u1ed9ng+c%u1ee7a+L%u00e3nh+%u0111%u1ea1o&amp;InitialTabId=Ribbon.Read&gt;, [Ngày truy cập, 08/02/2018] Sách, tạp chí
Tiêu đề: hành động”, tạo đà “tăng tốc
6. Dương Thu Hương, Tin Hội thảo “Cơ chế tổ chức thi hành pháp luật, những vấn đề lý luận và thực tiễn” trong khuôn khổ nhiệm vụ nghiên cứu khoa học cấp Bộ năm 2016-2017do Viện Khoa học pháp lý, Bộ Tư pháp tổ chức ngày 2-6-2017, Nguồn: &lt;http://khpl.moj.gov.vn/qt/tintuc/Pages/hoat-dong-khoa-hoc.aspx?ItemID=193&gt;, [Ngày truy cập: 23 tháng 03 năm 2016] Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ chế tổ chức thi hành pháp luật, những vấn đề lý luận và thực tiễn
19. Thanh Huyền, ác khu công nghiệp ở Bến Tre: Dân khổ vì quy hoạch “treo” quá lâu. Nguồn &lt; https://laodong.vn/trang-dbscl/cac-khu-cong-nghiep-o-ben-tre-dan-kho-vi-quy-hoach-treo-qua-lau-591904.bld&gt;. [Ngày truy cập 13/09/2016] Sách, tạp chí
Tiêu đề: treo
24. Võ Thị Mỹ Hương, Thực thi pháp luật bảo vệ môi trường trong hoạt động sản xuất, kinh doanh dịch vụ khi Việt Nam là thành viên của TPP, in trong Kỷ yếu Hội thảo khoa học “Những vấn đề pháp lý của doanh nghiệp Việt Nam trong hội nhập TPP” do Trường Đại học Ngân hàng TP.HCM tổ chức,Nxb. Kinh tế TP.HCM, 2016 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề pháp lý của doanh nghiệp Việt Nam trong hội nhập TPP
Nhà XB: Nxb. Kinh tế TP.HCM
2. Bến Tre: Phân công, phân cấp và phối hợp quản lý về BVMT, https://baomoi.com/ben-tre-phan-cong-phan-cap-va-phoi-hop-quan-ly-ve-bvmt/c/28195194.epi, ngày truy cập 17/10/2018 Link
11. Minh Phúc, Tràn lan doanh nghiệp xả thải gây ô nhiễm, truy cập ngày 2/8/2016, http://www.nhandan.com.vn/bandoc/item/30300702-tran-lan-doanh-nghiep-xa-thai-gay-o-nhiem.html Link
14. Nguyễn Văn Phương, Vai trò của tổ chức xã hội trong bảo vệ môi trường, Tạp chí Môi trường, số 3/2015, truy cập tại địa chỉ:http://tapchimoitruong.vn/pages/article.aspx?item=Vai-tr%C3%B2-c%E1%BB%A7a-t%E1%BB%95-ch%E1%BB%A9c-x%C3%A3-h%E1%BB%99i-trong-b%E1%BA%A3o-v%E1%BB%87-m%C3%B4i-tr%C6%B0%E1%BB%9Dng-38922 Link
18. Sở Công thương tỉnh Bến Tre, Tổng quan về Bến Tre, http://congthuongbentre.gov.vn/home/tong-quan-ve-ben-tre-W29.htm Link
25. VOV, Bến Tre: Khu công nghiệp gây ô nhiễm khu dân cư. Nguồn: &lt; https://baotainguyenmoitruong.vn/moi-truong/ben-tre-khu-cong-nghiep-gay-o-nhiem-khu-dan-cu-1235476.html&gt; [Ngày truy cập 12/11/2017] Link
1. Ban soạn thảo Luật Đơn vị hành chính kinh tế đặc biệt, Báo cáo tổng kết hoạt động các mô hình khu công nghiệp, khu kinh tế và các mô hình tương tự khác, Hà Nội,ngày 30/08/2017 Khác
3. Bộ Tài nguyên và Môi trường, Báo cáo môi trường quốc gia: Môi trường khu công nghiệp Việt Nam, Hà Nội 2009 Khác
5. Diệp Văn Sơn, 2006, Tư tưởng Hồ Chí Minh về lập pháp và thực thi pháp luật, Nguồn: &lt;http://www.sggp.org.vn/tu-tuong-ho-chi-minh-ve-lap-phap-va-thuc-thi-phap-luat-101102.html&gt;, [Ngày truy cập: 23 tháng 03 năm 2016] Khác
7. Hoàng Văn Cương, Phạm Phú Minh, Văn Thiên Hào, Một số giải pháp phát triển bền vững các khu công nghiệp trong thời gian tới , Nguồn&lt;http://khucongnghiep.com.vn/nghiencuu/tabid/69/articleType/ArticleView/articleId/1651/Default.aspx &gt;, [Ngày truy cập 01/08/2016] Khác
8. Lê Đăng Doanh , Một số vấn đề về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp ở Việt Nam, Tạp chí Triết học, (3)/2009 Khác
9. Michel Capron và Franỗoise Quairel-Lanoizelộe, Trỏch nhiệm xó hội của doanh nghiệp (Lê Minh Tiến, Phạm Như Hồ dịch), Nxb. Tri thức, Hà Nội Khác
10. Minh Hạnh, Khu công nghiệp Đại An Hải Dương Giải quyết hài hòa vấn đề môi trường và lợi ích doanh nghiệp. Nguồn &lt;http://www.qdnd.vn/kinh-te/chinh-sach/giai-quyet-hai-hoa-van-de-moi-truong-va-loi-ich-doanh-nghiep-490040&gt;,[Ngày truy cập 14/10/2016] Khác
12. Nguyễn Minh Phong, Những đột phá cần có trong phát triển các khu kinh tế và khu công nghiệp. Nguồn:&lt;http://www.nhandan.com.vn/kinhte/thoi_su/item/32430902-nhung-dot-pha-can-co-trong-phat-trien-cac-khu-kinh-te-va-khu-cong-nghiep.html&gt;, [Ngày truy cập ngày 27/03/2017] Khác
13. Nguyễn Thị Thu Thủy, Quản lý phát triển bền vững các khu công nghiệp tại thành phố Hải Phòng, Luận án tiến sĩ kinh tế, Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế trung ương, Hà Nội, 2018 Khác
15. Phạm Ngọc Đăng, Phát huy thế mạnh tư vấn xã hội trong bảo vệ môi trường và phát triển bền vững, Tạp chí Môi trường, số chuyên đề II/2013 Khác
16. Phạm Văn Đức, Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp một số vấn đề lý luận và thực tiễn cấp bách, Tạp chí Triết học, (2)/2009 Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm