1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thiết kế và tổ chức dạy học chủ đề “Các định luật chất khí” – vật lý 10

124 144 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 124
Dung lượng 2,57 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nguyên nhân là do chương trình hiện hành được thiết kế theo kiểu xoáy ốc nhiều vòng nên trong nội bộ mỗi môn học, có những nội dung kiến thức được chia ra khác nhau để học ở các cấp học

Trang 1

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

Trang 2

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

Người hướng dẫn: TS PHÙNG VIỆT HẢI

Đà Nẵng, 2018

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Trong thời gian thực hiện đề tài khóa luận tốt nghiệp, dưới sự hướng dẫn tận tình của GV hướng dẫn và được phía nhà trường tạo điều kiện thuận lợi, tôi đã có một quá trình nghiên cứu, tìm hiểu và học tập nghiêm túc để hoàn thành đề tài Kết quả thu được không chỉ do nỗ lực của riêng cá nhân tôi mà còn có sự giúp đỡ của quý thầy cô, gia đình và các bạn Với lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc, tôi xin được bày tỏ lời cảm ơn chân thành tới:

Quý thầy cô trong khoa Vật lý – Trường Đại học Sư phạm – ĐHĐN đã tận tình dạy dỗ, giúp tôi trang bị những kiến thức cần thiết, quý báu của một người giáo viên để bước vào đời

T.S Phùng Việt Hải – người thầy đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo tôi trong suốt thời gian qua để tôi hoàn thành khóa luận của mình

Ban giám hiệu và quý thầy cô trường THPT Nguyễn Hiền đã giúp đỡ, tạo điều kiện cho tôi tiến hành thực nghiệm sư phạm tại trường

Cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn đến gia đình, người thân và bạn bè đã động viên, ủng hộ và giúp đỡ tôi trong những tháng ngày tôi học tập tại trường Sư phạm cũng như thời gian tôi hoàn thành khóa luận này

Mặc dù tôi đã cố gắng trong khả năng và phạm vi cho phép của mình để hoàn thành khóa luận này nhưng không thể tránh khỏi những thiếu sót Tôi mong nhận được sự thông cảm và góp ý tận tình của quý thầy cô và bạn bè

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Đà nẵng, tháng 05 năm 2018 Sinh viên thực hiện

Nguyễn Thị Quỳnh Trang

Trang 4

MỤC LỤC

LỜI CẢM ƠN I DANH MỤC VIẾT TẮT IV DANH MỤC CÁC HÌNH ẢNH V DANH MỤC BẢNG BIỂU VII

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA DẠY HỌC THEO CHỦ ĐỀ 5

1.1 Dạy học theo chủ đề 5

1.1.1 Khái niệm dạy học theo chủ đề 5

1.1.2 Ưu điểm của dạy học theo chủ đề [8], [9] 5

1.1.3 Đặc trưng của dạy học theo chủ đề [5] 6

1.1.4 Các bước chuẩn bị và thực hiện dạy học theo chủ đề [5] 8

1.1.5 Các phương pháp và k thuật dạy học trong dạy học chủ đề 10

1.2 Năng lực tự học 10

1.2.1 Năng lực 10

1.2.2 Tự học [2] 13

1.2.3 Năng lực tự học 24

CHƯƠNG 2: THIẾT KẾ CHỦ ĐỀ DẠY HỌC CÁC Đ NH LUẬT CHẤT KHÍ – VẬT LÍ 10 29

2.1 Đề xuất quy trình thiết kế tiến trình dạy học theo chủ đề 29

2.2 Thiết kế chủ đề dạy học Các định luật chất khí vật lý 10 29

2.2.1 Lí do xây dựng chủ đề 29

2.2.2 Xác định mạch phát triển nội dung trong chủ đề 30

2.2.3 Xác định chuỗi các hoạt động dạy học và thời gian dự kiến 31

2.2.4 Xác định mục tiêu dạy học 32

2.2.5 Xây dựng nội dung các hoạt động dạy học cụ thể và đánh giá 33

2.2.6 Lập kế hoạch dạy học cụ thể 49

CHƯƠNG 3: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 63

Trang 5

3.1 Mục đích của thực nghiệm sƣ phạm 63

3.2 Nhiệm vụ của thực nghiệm sƣ phạm 63

3.3 Đối tƣợng và phạm vi, thời gian thực nghiệm sƣ phạm 63

3.4 Đánh giá kết quả thực nghiệm sƣ phạm 63

3.4.1 Phân tích diễn biến giờ học 63

3.4.2.Kết quả TNSP 74

3.4.3 Kết luận thực nghiệm sƣ phạm 84

KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGH 86

TÀI LIỆU THAM KHẢO 88

PHỤ LỤC 89

Trang 7

DANH MỤC CÁC HÌNH ẢNH

Trang 8

17 Hình 3.14 Sự tập trung, cẩn thận của các em trong

20 Hình 3.17.a Mức độ cảm xúc khi học các tiết học trong chủ đề: Các định luật chất khí 84

21 Hình 3.17.b Mức độ mong muốn tất cả các kiến thức vật lí được dạy theo chủ đề như ở

chương Chất khí

84

Trang 9

đánh giá ứng với các giai đoạn học tập

13

Bảng 3.7 Khó khăn mà các em gặp phải trong quá trình

thực hiện các nhiệm vụ của chủ đề: Các định luật chất

khí

88

Trang 10

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Nền giáo dục Việt Nam đang hướng tới mục tiêu sau năm 2018 chương trình giáo dục của nước ta sẽ đổi mới mạnh mẽ phương pháp dạy và học phù hợp ở cả 3 cấp học, phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của HS; tập trung dạy cách học và rèn luyện năng lực tự học, tạo cơ sở để học tập suốt đời, tự cập nhật và đổi mới tri thức, kỹ năng, phát triển năng lực Để làm được điều đó, hầu hết các GV hiện nay đều được trang bị lí luận về các phương pháp và k thuật dạy học tích cực trong quá trình đào tạo tại các trường sư phạm cũng như quá trình bồi dưỡng tập huấn hằng năm Tuy nhiên, việc thực hiện các phương pháp dạy học tích cực trong thực tiễn còn chưa thường xuyên và chưa hiệu quả Nguyên nhân là do chương trình hiện hành được thiết kế theo kiểu xoáy ốc nhiều vòng nên trong nội bộ mỗi môn học, có những nội dung kiến thức được chia ra khác nhau để học ở các cấp học khác nhau; việc trình bày kiến thức trong sách giáo khoa theo định hướng nội dung, nặng nề lập luận, suy luận, diễn giải kiến thức; cùng một chủ đề/ vấn đề nhưng kiến thức lại được chia ra nhiều bài/ tiết để dạy học trong 45 phút gây khó khăn trong việc vận dụng các phương pháp dạy học tích cực do không đủ thời gian Mặt khác, việc hình thành kiến thức bằng cách chia nhỏ theo từng tiết làm cho HS hiểu kiến thức đó một cách đơn lẻ, mà chưa nhìn ra được tính chỉnh thể, tính hệ thống của các kiến thức, trong khi đó các hiện tượng quá trình tự nhiên lại luôn là một chỉnh thể phức hợp Lúc này việc xây dựng các bài học theo chủ đề là việc cần thiết!

ning)

10]

Trang 11

T các nhiệm vụ học tập được giao cho HS, các em

chủ động tìm hướng giải quyết vấn đề Kiến thức không bị dạy riêng lẻ mà được cấu trúc lại theo một hệ thống nên kiến thức các em tiếp thu được là những khái niệm trong một mạng lưới quan hệ chặt chẽ Mức độ hiểu biết của

các em sau phần học không chỉ là mà còn biết

T Trong dạy học chủ đề, GV không chỉ dạy kiến thức

mà còn tổ chức để HS vận dụng các kiến thức đó thông qua các nhiệm vụ gắn thực tiễn Bên cạnh đó, trong dạy học theo chủ đề, việc áp dụng các phương pháp dạy học tích cực trong tiết học chủ đề sẽ không bị hạn chế về thời gian

Theo sách vật lí 10 CB, các định luật chất khí được trình bày trong 4 tiết riêng biệt: Quá trình đẳng nhiệt Định luật Bôilơ - Mariốt (Boyle- Mariotte) (1 tiết); Quá trình đẳng tích Định luật Sác-lơ (Charles) (1 tiết); Phương trình trạng thái của khí lí tưởng (2 tiết) Nội dung 4 tiết học đều giải quyết một vấn đề khái quát là mối quan hệ giữa các thông số trạng thái của một lượng khí nhất định Do đó, các nội dung này là rất thuận lợi để vận dụng dạy học chủ đề

2 Mục tiêu nghiên cứu

- Xây dựng chủ đề dạy học Các định luật chất khí – Vật lí lớp 10 THPT theo hướng phát triển năng lực tự học

- Tiến hành thực nghiệm sư phạm để đánh giá tính khả thi của tiến trình dạy học đã soạn thảo đối với việc l nh hội kiến thức mới và phát triển năng lực tự học của học sinh Từ đó, tiến hành bổ sung và sửa đổi tiến trình dạy học cho phù hợp

3 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Nghiên cứu cơ sở lí luận về dạy học chủ đề

- Nghiên cứu các nội dung kiến thức trong chương Chất khí

- Thiết kế tiến trình hoạt động dạy học theo tiến trình đã xây dựng chủ đề Các định luật chất khí

- Tiến hành thực nghiệm sư phạm để đánh giá khả thi của tiến trình dạy học đã soạn thảo đối với việc l nh hội kiến thức mới và phát triển năng lực

tự học của học sinh Từ đó, tiến hành bổ sung và sửa đổi tiến trình dạy học cho phù hợp

Trang 12

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

- Hoạt động dạy học chủ đề Các định luật chất khí - Vật lý 10 CB THPT theo hướng phát triển năng lực tự học của học sinh

5 Phương pháp nghiên cứu

5.1 Phương pháp nghiên cứu lí luận

- Nghiên cứu chương trình, nội dung sách giáo khoa, sách giáo viên và các tài liệu có liên quan để xác định kiến thức, k năng, thái độ mà học sinh cần nắm vững

- Nghiên cứu và nắm vững mục tiêu chung trong giáo dục, mục tiêu giáo dục của môn Vật lý ở trường phổ thông hiện nay

- Nghiên cứu tài liệu liên quan đến dạy học theo chủ đề

5.2 Phương pháp thực nghiệm sư phạm

- Tiến hành dạy học chủ đề theo tiến trình dạy học đã soạn thảo

- Phát phiếu điều tra, bài kiểm tra về mặt nắm vững kiến thức và thái độ của các em sau khi dạy

- Phát phiếu điều tra để hỏi ý kiến của các giáo viên khác về tiến trình dạy học

5.3 Thống kê toán học

- Sử dụng phương pháp thống kê toán học nhằm xử lý số liệu và trình bày kết quả thực nghiệm sư phạm

6 Tổng quan vấn đề nghiên cứu

- Nhiều bài viết, luận văn thạc s lựa chọn dạy học chủ đề trong dạy học Vật lí như: Luận văn thạc s của Trần Văn Hữu về : Dạy học theo chủ đề và

sự vận dụng nó vào giảng dạy phần kiến thứ: Các định luật bảo toàn Vật lí

10 THPT với sự hỗ trợ của Công nghệ thông tin ; Luận văn thạc s của Nguyễn Thị Thùy Dung về: Vận dụng dạy học theo chủ đề trong dạy học chương Chất khí Lớp 10 THPT ban Cơ bản ; Luận văn thạc s của Nguyễn

Uy Đức về: Vận dụng dạy học chủ đề trong dạy học chương từ vi mô đến v

mô lớp 12 THPT ban nâng cao ;…

Trang 13

- Bộ Giáo dục & Đào tạo biên soạn Tài liệu tập huấn cán bộ quản lý, giáo viên cốt cán về phương pháp dạy học và phương pháp hướng dân học sinh tự học

Trang 14

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA DẠY HỌC THEO CHỦ ĐỀ 1.1 Dạy học theo chủ đề

1.1.1 Khái niệm dạy học theo chủ đề

Dạy học theo chủ đề (themses based leraning) là hình thức tìm tòi những khái

niệm, tư tưởng, đơn vị kiến thức, nội dung bài học, chủ đề,… có sự giao thoa, tương đồng lẫn nhau, dựa trên cơ sở các mối liên hệ về lí luận và thực tiễn được đề cập đến trong các môn học hoặc các hợp phần của môn học đó (tức là con đường tích hợp những nội dung từ một số đơn vị, bài học, môn học có liên hệ với nhau) làm thành nội dung học trong một chủ đề có ý ngh a hơn, thực tế hơn, nhờ đó học sinh

có thể tự hoạt động nhiều hơn để tìm ra kiến thức và vận dụng vào thực tiễn [10]

1.1.2 Ưu điểm của dạy học theo chủ đề [8], [9]

Dạy học theo cách tiếp cận truyền

thống hiện nay

Dạy học theo chủ đề

1 Tiến trình giải quyết vấn đề tuân theo

chiến lược giải quyết vấn đề trong sách

khoa học vật lý: logic, chặt chẽ, khoa

tới mức nhiều mục tiêu của môn học

hiện nay: chiếm l nh kiến thức mới

thông qua hoạt động, bồi dưỡng các

phương thức tư duy khoa học và các

phương pháp nhận thức khoa học (PP

thực nghiệm, PP tương tự, PP mô hình,

suy luận khoa học…)

4 Dạy theo từng bài riêng lẽ với một

thời lượng cố định

5 Kiến thức thu được rời rạc, hoặc chỉ

có mối liên hệ tuyến tính (một chiều

theo thiết kế chương trình học)

6 Trình độ nhận thức sau quá trình học

tập thường theo trình tự và thường dừng

1 Các nhiệm vụ học tập được giao, HS quyết định chiến lược học tập với sự chủ động hổ trợ, hợp tác của GV (HS là trung tâm)

2 Phù hợp với nhiều đối tượng HS vì mỗi HS có một phương pháp học tập phù hợp riêng

3 Hướng tới các mục tiêu: chiếm l nh nội dung kiến thức khoa học, hiểu biết tiến trình khoa học và rèn luyện các k năng tiến trình khoa học như: quan sát, thu thập thông tin, dự liệu; xử lý (so sánh, sắp xếp, phân loại, liên hệ… thông tin); suy luận, áp dụng thực tiễn

4 Dạy theo một chủ đề thống nhất được

tổ chức lại theo hướng tích hợp từ một phần trong chương trình học

5 Kiến thức thu được là các khái niệm trong một mối liên hệ mạng lưới với nhau

6 Trình độ nhận thức có thể đạt được ở mức độ cáo: Phân tích, tổng hợp, đánh

Trang 15

lại ở trình độ biết, hiểu và vận dụng (giải

bài tập)

7 Kết thức một chương học, HS không

có một tổng thể kiến thức mới mà có

kiến thức từng phần riêng biệt hoặc có

hệ thống kiến thức liên hệ tuyến tính

theo trật tự các bài học

8 Kiến thức còn xa rời thực tiễn mà

người học đang sống do sự chậm cập

nhật của nội dung SGK

9 Kiến thức thu được sau khi học

thường là hạn hẹp trong chương trình,

nội dung học

10 Không thể hướng tới nhiều mục tiêu

nhân văn quan trọng như: rèn luyện các

k năng sống và làm việc: giao tiếp, hợp

tác, quản lí, điều hành, ra quyết định…

giá

7 Kết thúc một chủ đề HS có một tổng thể kiến thức mới, tinh giản, chặt chẽ và khác với nội dung trong SGK

8 Kiến thức gần gũi với thực tiễn mà

HS đang sống do yêu cầu cập nhật thông tin khi thực hiện chủ đề

9 Hiểu biết có được sau khi kết thúc chủ

đề thường vượt ra ngoài khuôn khổ nội dung cần học do quá trình tìm kiếm, xử

lí thông tin ngoài nguồn tài liệu chính thức của HS

10 Có thể hướng tới, bồi dưỡng các k năng làm việc với các thông tin, giao tiếp, ngôn ngữ, hợp tác

ả 1 1 S

1.1.3 Đặc trưng của dạy học theo chủ đề [5]

1.1.3.1 Mục tiêu của dạy học theo chủ đề

Dạy học theo chủ đề cũng như các mô hình dạy học tích cực khác đều nhằm đáp ứng những yêu cầu về đổi mới PPDH và qua đó cũng thực hiện đầy đủ các mục tiêu giáo dục môn học trong giai đoạn hiện nay Ngoài ra cũng như các chiến lược dạy học hiện đại khác, dạy học theo chủ đề còn đặt mối quan tâm nhiều hơn đến sự phát triển của HS có các phong cách học tập khác nhau, quan tâm đến sự chuẩn bị cho

HS đương đầu một cách thành công với sự phát triển không ngừng của thực tiễn Do

Trang 16

1.1.3.2 Vai trò của GV

Trong dạy học theo chủ đề, GV tổ chức và hướng dẫn quá trình dạy- tự học Thầy không còn là nơi độc quyền cung cấp kiến thức cho người học mà thầy luôn tạo ra cơ hội cho phép người học tự do theo đuổi những tư tưởng, khái niệm, kỹ năng, dưới sự tư vấn của thầy và thầy là người luôn tin cậy và tôn trọng họ, dạy họ cách tìm ra chân lí

Thầy không nhất thiết phải dạy toàn bộ nội dung trên lớp mà cố gắng khai thác tối đa kiến thức, kinh nghiệm, kỹ năng sẵn có của HS, giúp họ tự mình l nh hội kiến thức Ngoài ra, GV trong chiến lược dạy học này không phải là người quyết định toàn bộ chiến lược học tập của HS, vì nhiều nhiệm vụ học tập được giao cho HS mà

HS phải tự quyết định cách thức thực hiện nhiệm vụ đó Trong dạy học theo chủ

đề, HS giữ vị trí trung tâm, nhưng không vì thế mà vai trò của GV bị giảm sút, nó chỉ thay đổi ý ngh a: GV trở thành người cộng tác, tổ chức, hướng dẫn HS, là người trọng tài sáng suốt giúp HS xác định được chân lí, phát triển nhân cách và biết mình phải làm gì và tự giải quyết những vấn đề trong cuộc sống

1.1.3.3 Vai trò của HS

Người học là một chủ thể tích cực, chủ động tự mình tìm ra kiến thức bằng hành động của chính mình, tự thể hiện mình và hợp tác với các bạn, học bạn, học thầy, học mọi người Trong dạy học theo chủ đề cũng như các chiến lược dạy học tích cực khác, quan niệm lấy người học làm trung tâm không chỉ thể hiện ở chỗ

họ được quan tâm, giúp đỡ, được tạo mọi điều kiện thuận lợi cho việc học tập, phát triển mà còn thể hiện ở chỗ: HS được quyết định một phần (hay toàn bộ) chiến lược học tập, đồng thời HS cũng phải chịu trách nhiệm một phần với kết quả học tập của mình (trách nhiệm với sự phát triển hiểu biết, phát triển của chính mình)

1.1.3.4 Hình thức tổ chức dạy học

Dạy học theo chủ đề vẫn là sự kết hợp cách tổ chức học theo lớp truyền thống với học theo nhóm hợp tác, nhưng chủ yếu là theo nhóm Dạy học theo nhóm với đặc trưng là HS hợp tác, cùng nhau khám phá lại tri thức của nhân loại, HS có cơ hội chia sẻ những suy ngh của mình với bạn học; với phương thức học thầy, học bạn sẽ phát huy tính năng động, tư duy sáng tạo của HS, đồng thời khắc phục được hoạt động độc diễn của thầy trong lớp đông HS Không gian học không bó hẹp trong lớp học mà mở ra ngoài thực tiễn (cả không gian ảo: thế giới online) Thời gian học một chủ đề không nhất thiết trong một, hai tiết học mà có thể kéo dài trong một, vài tuần tùy ý ngh a, mức độ quan trọng và khó khăn của chủ đề

Trang 17

1.1.3.5 Phương tiện dạy học

Sử dụng kết hợp các phương tiện dạy học như: phấn, bảng, thiết bị, dụng cụ thí nghiệm, máy vi tính, máy chiếu, băng hình, các phần mềm hỗ trợ dạy học,… hay những vật dụng trong cuộc sống hàng ngày đáp ứng được yêu cầu về mặt dạy học Tích hợp công nghệ vào dạy và học, các nguồn thông tin và phương tiện hỗ trợ khai thác, xử lý, lưu giữ, chuyển tải thông tin được coi là phương tiện dạy và học đặc biệt và quan trọng của các mô hình dạy học hiện đại (đây cũng là những kỹ năng cơ bản, cần thiết cho sự thành công của tất cả mọi người sống và làm việc trong thế kỷ XXI mà HS cần được rèn luyện ngay trong nhà trường phổ thông)

1.1.3.5 Kiểm tra đánh giá

Kết hợp giữa kiểu đánh giá cuối cùng theo kiểu dạy học truyền thống (các mục tiêu truyền thống của chương trình học) với đánh giá quá trình (đánh giá chất lượng

và hiệu quả công việc của HS trong quá trình làm việc theo nhóm qua các phiếu học tập thông qua đó đánh giá quá trình phát triển của HS: đánh giá các mục tiêu nhân văn của chương trình học)

Kết hợp đánh giá của GV và tự đánh giá của HS

1.1.4 Các bước chuẩn bị và thực hiện dạy học theo chủ đề [5]

1.1.4.1 Chọn nội dung có thể tổ chức theo dạy học theo chủ đề

Không phải tất cả nội dung trong chương trình học hiện nay của chúng ta đều

có thể phù hợp với kiểu dạy học chủ đề Cách làm là tùy theo từng phần nội dung, đối chiếu nó với mục tiêu của dạy học theo chủ đề, nếu có sự phù hợp thì có thể tổ chức lại nội dung cho phù hợp với dạy học theo chủ đề

1.1.4.2 Tổ chức lại nội dung học phù hợp với dạy học theo chủ đề

Dạy học theo chủ đề có mục tiêu quan trọng là hướng tới phát triển tư duy bậc cao thể hiện ở việc yêu cầu HS trả lời những câu hỏi có mức độ khái quát nhất định,

mà để trả lời được những câu hỏi đó kiến thức phải được tổ chức sao cho thuận lợi cho quá trình học tập Việc tổ chức lại nội dung học có thể dẫn đến sự xóa nhòa ranh giới giữa các bài trong chương trình học được biên soạn như hiện nay

1.1.4.3 Xây dựng bộ câu hỏi định hướng

Sau khi chọn được nội dung trong chương trình phù hợp với mục tiêu dạy học theo chủ đề và tổ chức lại hệ thống kiến thức của chủ đề học tập GV bắt đầu xây dựng bộ câu hỏi định hướng cho việc dạy và học một chủ đề Đây là một nhiệm vụ quan trọng của dạy học theo chủ đề, các câu hỏi này sẽ là kim chỉ nam dẫn dắt nội dung và phương pháp cho toàn bộ chủ đề học tập Bộ câu hỏi định hướng bao gồm: Câu hỏi khái quát, câu hỏi nội dung, câu hỏi bài học

Trang 18

1.1.4.4 Thiết kế tài liệu hỗ trợ

Dạy học chủ đề đặt quan tâm chủ yếu đến việc sử dụng kiến thức vào thực hiện các nhiệm vụ học tập để l nh hội hệ thống kiến thức có sự tích hợp cao, tinh giản và

có tính công cụ cao, đồng thời hướng tới nhiều mục tiêu giáo dục tích cực khác (mục tiêu tự học ) Do đó, GV không dạy toàn bộ nội dung học mà HS phải tự tìm hiểu qua SGK, tài liệu, sách báo,… GV có thể tạo ra các tài liệu hỗ trợ hoặc công cụ

tổ chức để hướng dẫn học tập cho HS, giúp HS tránh đi quá xa so với câu hỏi đặt ra khi tìm thấy sự thật về một vấn đề nào đó Các tài liệu hỗ trợ nên được sử dụng như một cơ cấu tạm thời để giúp HS hiểu về một quá trình hoặc một khái niệm Đầu tiên HS sẽ sử dụng các tài liệu hỗ trợ do GV cung cấp Sau đó các em có thể chỉnh sửa các tài liệu này cho phù hợp với nhu cầu của mình và cuối cùng sẽ học cách tự tạo ra tài liệu hỗ trợ cho riêng mình để có thể trở thành một người học độc lập Các tài liệu hỗ trợ có thể giúp đỡ cho HS và cả GV trong quá trình thực hiện chủ đề Các tài liệu này bao gồm:

- Tài liệu hỗ trợ cho HS: Tuỳ theo từng chủ đề cụ thể mà GV cung cấp cho HS các tài liệu hỗ trợ như: tài liệu hoặc các nguồn tư liệu do GV cung cấp, các công cụ

tự đánh giá bản thân, thiết kế các Website hỗ trợ dạy học, hướng dẫn HS tìm tài liệu trên mạng (cung cấp cho HS các địa chỉ Website), tìm tài liệu trong các sách báo ở thư viện, nhà sách, …

Trong tài liệu hỗ trợ HS, thì bài trình bày nội dung tổng quan về chủ đề học tập

có vai trò quan trọng, giúp HS hình dung sơ bộ nội dung của cả chủ đề, định hướng cho HS tự đọc tài liệu giúp HS không bị áp lực của việc tự đọc sách, tìm kiếm thông tin

- Bộ công cụ đánh giá: đó là những tiêu chí đưa ra giúp GV và HS đánh giá việc thực hiện các nhiệm vụ học tập của HS một cách tương đối chính xác, khách quan và công bằng Kết quả đánh giá sẽ được thể hiện qua điểm số đạt được tương ứng với các yêu cầu, tiêu chí đặt ra đối với các nhiệm vụ học tập Các tiêu chí được đưa ra trước khi HS bắt đầu thực hiện chủ đề học tập Sau khi thực hiện xong chủ đề thì GV và HS sẽ điểm lại các tiêu chí này để cùng đánh giá kết quả mà HS đã thực hiện Bộ công cụ đánh giá bao gồm:

- Bộ công cụ để quan sát, kiểm soát được quá trình học tập của HS có thể gồm các loại sau: phiếu giao nhiệm vụ, phiếu theo dõi quá trình thảo luận các CHND, CHBH, phiếu theo dõi kiểm tra, đánh giá quá trình học tập, thảo luận nhóm Các phiếu này được thiết kế thích hợp cho từng nhiệm vụ học tập và với các chủ đề khác nhau bộ phiếu này có thể khác nhau tùy theo quan niệm của GV và các điều kiện có thể của quá trình học tập

Trang 19

- Bộ công cụ để đánh giá kết quả học tập theo chủ đề của HS bao gồm: các bài kiểm tra nhỏ sau mỗi buổi học để GV kịp thời nắm bắt được kết quả học tập của HS

và bài kiểm tra đánh giá tổng hợp cuối chủ đề

- Kế hoạch bài dạy: giúp GV định hình được toàn bộ công việc phải làm Trong

kế hoạch bài dạy, GV trình bày về bộ câu hỏi định hướng cho chủ đề học tập và nêu

rõ vai trò của HS khi tham gia vào chủ đề Đồng thời liệt kê được các trợ giúp cần thiết khi HS thực hiện chủ đề

- Kế hoạch thực hiện bài dạy: là bản kế hoạch chi tiết về thời gian mà GV và

HS phải thực hiện để chủ đề học tập đi đúng tiến độ mà không bị chậm trễ

- Tài liệu trợ giúp GV: bao gồm các kế hoạch thực hiện chủ đề học tập, các Website, các phần mềm, tranh ảnh liên quan đến chủ đề học tập, các phiếu giao nhiệm vụ, phiếu theo dõi học tập, các bài kiểm tra Tóm lại, yêu cầu tự tìm hiểu thông tin không đòi hỏi HS phải thực hiện hoàn hảo vì thông tin cần tìm hiểu là mới, chỉ cần HS có quan tâm và cố gắng thực hiện trong điều kiện có thể, nhưng nếu HS không thực hiện được các nhiệm vụ để tìm hiểu nội dung học thì GV không

có cơ sở để triển khai dạy học theo kiểu này Do đó, GV cần có kế hoạch chuẩn bị tài liệu hỗ trợ cho HS (tài liệu in, thiết kế các Website…) phù hợp với chủ đề học tập nhằm giúp đỡ, khuyến khích và kiểm soát được việc tự lực thực hiện các nhiệm

vụ học tập của HS

1.1.5 Các phương pháp và k thuật dạy học trong dạy học chủ đề

Một số phương pháp và k thuật dạy học có thể đưa vào dạy học trong dạy học chủ đề như: Dạy học theo nhóm, dạy học theo Góc, dạy học giải quyết vấn đề, dạy học theo dự án,…

1.2 Năng lực tự học

1.2.1 Năng lực

1.2.1.1 Khái niệm về năng lực [4]

Có rất nhiều định ngh a về năng lực và khái niệm này đang thu hút sự quan tâm của rất nhiều nhà nghiên cứu Theo cách hiểu thông thường, năng lực là sự kết hợp của tư duy, k năng và thái độ có sẵn hoặc ở dạng tiềm năng có thể học hỏi được của một cá nhân hoặc tổ chức để thực hiện thành công nhiệm vụ Mức độ và chất lượng hoàn thành công việc sẽ phản ứng mức độ năng lực của người đó Chính vì thế, thuật ngữ năng lực khó mà định ngh a được một cách chính xác Năng lực hay khả năng, k năng trong tiếng Việt có thể xem tương đương với các thuật ngữ competence , ability , capability , … trong tiếng Anh

Do các nhiệm vụ cần phải giải quyết trong cuộc sống cũng như công việc và học tập hàng ngày là các nhiệm vụ đòi hỏi phải có sự kết hợp của các thành tố phức hợp về tư duy, cảm xúc, thái độ, k năng vì thế có thể nói năng lực của một cá nhân

Trang 20

là hệ thống các khả năng và sự thành thạo giúp cho người đó hoàn thành một công việc hay yêu cầu trong những tình huống học tập, công việc hoặc cuộc sống, hay nói một cách khác năng lực là khả năng vận dụng những kiến thức, kinh nghiệm, k năng, thái độ và sự đam mê để hành động một cách phù hợp và có hiệu quả trong các tình huống đa dạng của cuộc sống

Ở một nghiên cứu khác về phương pháp dạy học tích hợp, Nguyễn Anh Tuấn (Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Thành phố Hồ Chí Minh) đã nêu một cách khá khái quát rằng năng lực là một thuộc tính tâm lí phức hợp, là điểm hội tụ của nhiều yếu tố như tri thức, kỹ năng, k xảo, kinh nghiệm, sự sẵn sàng hành động và trách nhiệm Như vậy, cho dù là khó định ngh a năng lực một cách chính xác nhất nhưng các nhà nghiên cứu của Việt Nam và thế giới đã có cách hiểu tương tự nhau về khái niệm này

Tựu chung lại, năng lực được coi là sự kết hợp của các khả năng, phẩm chất, thái độ của một cá nhân hoặc tổ chức để thực hiện một nhiệm vụ có hiệu quả

1.2.1.2 Năng lực tự chủ và tự học cần hình thành của học sinh Việt Nam

theo chương trình GDPT mới [1]

Biết chủ động, tích cực thực hiện những công việc của bản thân trong học tập và trong cuộc sống; không đồng tình với những hành vi sống dựa dẫm, ỷ lại

Biết giúp đỡ người sống ỷ lại vươn lên để

và thực hiện một số quyền lợi và nhu cầu chính đáng

Hiểu biết về quyền, nhu cầu cá nhân; biết phân biệt quyền, nhu cầu chính đáng và không chính đáng

Biết khẳng định và bảo vệ quyền, nhu cầu

cá nhân phù hợp với đạo đức và pháp luật

- Nhận biết tình cảm, cảm xúc của bản thân

và hiểu được ảnh hưởng của tình cảm, cảm xúc đến hành vi

- Biết làm chủ tình

- Đánh giá được những ưu điểm và hạn chế về tình cảm, cảm xúc của bản thân; tự tin, lạc quan

- Biết tự điều chỉnh

Trang 21

người khác

- Hòa nhã với mọi người; không nói hoặc làm những điều xúc phạm người khác

- Thực hiện đúng kế hoạch học tập, lao động; không mải chơi, làm ảnh hưởng đến việc học hành

và các việc khác

cảm, cảm xúc để có hành vi phù hợp trong học tập và đời sống;

không đua đòi ăn diện lãng phí, nghịch ngợm, càn quấy; không làm những việc xấu

- Biết thực hiện kiên trì

kế hoạch học tập, lao động

tình cảm, thái độ, hành vi của bản thân; luôn bình t nh và có cách cư xử đúng

- Sẵn sàng đón nhận

và quyết tâm vượt qua thử thách trong học tập và đời sống

- Biết tên, hoạt động chính và vai trò của một số nghề nghiệp; liên hệ được những hiểu biết đó với nghề nghiệp của người thân trong gia đình

- Nhận thức được sở thích, khả năng của bản thân

- Hiểu được vai trò của các hoạt động kinh tế trong đời sống xã hội

- Nắm được một số thông tin chính về các ngành nghề ở địa phương, ngành nghề thuộc các l nh vực sản xuất chủ yếu; lựa chọn được hướng phát triển phù hợp sau trung học

cơ sở

- Nhận thức được cá tính và giá trị sống của bản thân

- Nắm được những thông tin chính về thị trường lao động, về yêu cầu và triển vọng của các ngành nghề

- Xác định được hướng phát triển phù hợp sau trung học phổ thông; lập được kế hoạch, lựa chọn học các môn học phù hợp với định hướng nghề nghiệp của bản thân

đã học

- Nhận ra và sửa chữa sai sót trong bài kiểm tra qua lời nhận xét của thầy

- Có ý thức học hỏi thầy cô, bạn bè và người khác để củng

cố và mở rộng hiểu biết

- Có ý thức học tập

và làm theo những gương người tốt

- Tự đặt được mục tiêu học tập để nỗ lực phấn đấu thực hiện

- Biết lập và thực hiện

kế hoạch học tập; lựa chọn được các nguồn tài liệu học tập phù hợp; lưu giữ thông tin

có chọn lọc bằng ghi tóm tắt, bằng bản đồ khái niệm, bảng, các từ khoá; ghi chú bài giảng của giáo viên theo các

ý chính

- Nhận ra và điều chỉnh được những sai sót, hạn chế của bản thân

- Xác định được nhiệm

vụ học tập dựa trên kết quả đã đạt được; biết đặt mục tiêu học tập chi tiết,

cụ thể, khắc phục những hạn chế

- Đánh giá và điều chỉnh được kế hoạch học tập; hình thành cách học riêng của bản thân; tìm kiếm, đánh giá và lựa chọn được nguồn tài liệu phù hợp với mục đích, nhiệm vụ học tập khác nhau; ghi chép thông tin bằng các hình thức phù hợp, thuận lợi

Trang 22

khi được giáo viên, bạn

bè góp ý; chủ động tìm kiếm sự hỗ trợ của người khác khi gặp khó khăn trong học tập

- Biết rèn luyện, khắc phục những hạn chế của bản thân hướng tới các giá trị xã hội

cho việc ghi nhớ, sử dụng, bổ sung khi cần thiết

- Tự nhận ra và điều chỉnh được những sai sót, hạn chế của bản thân trong quá trình học tập; suy ngẫm cách học của mình, rút kinh nghiệm để có thể vận dụng vào các tình huống khác; biết tự điều chỉnh cách học

- Biết thường xuyên tu dưỡng theo mục tiêu phấn đấu cá nhân và các giá trị công dân

Có thể nói là con người ai cũng phải tự học, do vậy trong cuộc đời của mỗi người bao giờ cũng có hoạt động tự học, song vấn đề quan trọng là tự học ở mức độ nào và tự học như thế nào, hướng tới học suốt đời

Đặc điểm cơ bản quan trọng không thể thiếu của tự học là sự tự giác và kiên trì cao, sự tích cực, độc lập và sáng tạo của HS tự mình thực hiện việc học Như vậy, tự học là sự tích cực, tự lực, chủ động của chủ thể nhận thức trong hoạt động học, quá trình tự học do người học tự thực hiện (mang sắc thái cá nhân) Tuy nhiên, cần chú

ý rằng với HS phổ thông để việc tự học đạt hiệu quả thường cần phải có sự hướng dẫn, trợ giúp của GV hay người trợ giúp Theo đó, GV cần tạo ra môi trường để HS phát huy nội lực của mình trong quá trình khám phá kiến thức

Trang 23

Xét về có hay không có sự trợ giúp từ các yếu tố bên ngoài, tự học có hai mức độ: tự học hoàn toàn và tự học có hướng dẫn Tự học có hướng dẫn là hình thức tự học để chiếm l nh tri thức và hình thành k năng tương ứng với sự hướng dẫn tổ chức chỉ đạo của GV hay người hướng dẫn, thông qua bài giảng hoặc tài liệu hướng dẫn học Tự học có hướng dẫn là việc học cá nhân và tự chủ, được sự giúp đỡ và tăng cường của một số yếu tố như GV hay người hướng dẫn hay công nghệ giáo dục hiện đại Khi đó, người học là chủ thể, trung tâm, tự mình chiếm l nh tri thức, chân

lí bằng hành động của mình Người thầy là tác nhân hướng dẫn, tổ chức, đạo diễn cho trò tự học trong sự hợp tác với bạn, với thầy, với học liệu,…

Như vậy, tự học là tự mình thực hiện việc học Tự học không thể thiếu trong hoạt động học, trong đó HS phải biết huy động hết khả năng trí tuệ, tình cảm và ý chí của mình để l nh hội một cách sáng tạo tri thức k năng và hoàn thiện nhân cách của mình dưới sự hướng dẫn của GV Kết quả tự học cao hay thấp phụ thuộc vào k năng tự học của mỗi cá nhân và đặc biệt với HS THPT thì còn phải phụ thuộc rất lớn đến sự hướng dẫn của GV hay học liệu, phương tiện hỗ trợ,

Xét theo con đường và không gian học tập thì tự học có thể diễn ra theo các hình thức sau:

- Tự học không theo con đường nhà trường, học thông qua thực tế, hình thức này phổ biến ngoài đời sống xã hội, học qua giao tiếp, học qua lao động, học qua các thông tin đại chúng, Với hình thức này, việc hình thành kiến thức, k năng, thái độ mới là do người học tự trải nghiệm, qua hoạt động thực tiễn Hình thức tự học này thường do người học tự mò mẫm, thực hiện, thử và sai, thường không có thầy hướng dẫn một cách tường minh và có chủ định, thường không có kế hoạch và mục đích định trước Hình thức này thường mang tính tự nhiên, trong cuộc sống hằng ngày: Đi một ngày đàng, học một sàng khôn , học bất cứ lúc nào, ở đâu, trong lao động cũng như vui chơi, giải trí,…

- Tự học ở trường lớp, có các hình thức: Tự học ngoài giờ trên lớp (có GV hay tài liệu hướng dẫn, hoặc không); Tự học trên lớp (có sự trợ giúp trực tiếp của GV hay người hướng dẫn, hoặc qua tài liệu hướng dẫn) Ngoài ra, tự học ở nhà có một vai trò quan trọng đối với thành tích học tập của HS.Trong quá trình tự học của mình, HS tự học từng phần của bài học, tự học cả bài hay thậm chí tự học cả chủ đề Quá trình tự học thường được diễn ra theo các giai đoạn: tự nghiên cứu, tự thể hiện, tự điều chỉnh và vận dụng Mỗi giai đoạn vừa nêu trên có các bước cơ bản để thực hiện, có thể mô tả chúng như phần dưới đây

- Giai đoạn I

+ Bước 1 Xác định mục tiêu học tập, nội dung cần học, lên kế hoạch tự học Đây là khâu đầu tiên của quá trình học một nội dung hay một chủ đề Kết quả giai

Trang 24

đoạn này là nhận ra các đặc điểm của từng nội dung hay chủ đề Dựa vào đó xây dựng được kế hoạch tự học

+ Bước 2 Xác định kiến thức, k năng cơ bản thuộc mỗi nội dung hay chủ đề Sau khi nhận ra nội dung, đặc điểm của từng nội dung (bước 1), HS phải tiếp tục xác định trong mỗi nội dung đó, kiến thức nào cần thu nhận? kiến thức nào là chủ yếu, cốt lõi? (tức là, nếu thiếu kiến thức này thì nội dung bị thay đổi, hoặc HS gặp khó khăn khi học tiếp)

+ Bước 3 Hệ thống hoá kiến thức Xác định quan hệ giữa kiến thức, k năng mới thu nhận với nhau và với kiến thức, k năng đã có Kinh nghiệm cho thấy, trong quá trình học tập, khi thu nhận được kiến thức, k năng mới, người học phải tìm quan hệ giữa các kiến thức, k năng mới thu nhận với nhau và với kiến thức, k năng

đã có

Như vậy, kiến thức mới thu nhận và kiến thức đã có hợp thành một thể thống nhất biến thành vốn riêng của chủ thể, tạo thuận lợi cho việc huy động khi cần sử dụng

- Giai đoạn II Tự thể hiện và hợp tác

Tự học theo cách đã nêu ở giai đoạn I tuy kiến thức có hệ thống, nhưng còn mang tính chủ quan, những nhầm lẫn, thiếu sót nếu có sẽ không dễ gì được tự phát hiện ra Vì thế cần phải qua giai đoạn II, nhằm chuyển sản phẩm (kiến thức, k năng,…) chủ quan thành khách quan Tức là cần phải xã hội hoá sản phẩm học tập Giai đoạn này được thực hiện qua các bước:

+ Bước 4 Tự thể hiện, chỉ có thể nhận xét, đánh giá được sản phẩm học ở giai đoạn học cá nhân, khi được HS thể hiện (diễn đạt) lại theo mức độ nắm vững kiến thức Từ sản phẩm có tính cá nhân, trong tư duy được thể hiện ra hình thức cụ thể

để mỗi HS và GV có thể quan sát, phân tích từ đó bổ sung, chỉnh sửa làm cho sản phẩm được chính xác, mang tính khách quan Tuỳ theo nội dung và nhiệm vụ học tập mà HS có thể diễn đạt bằng nhiều cách khác nhau như: tóm tắt, lập dàn ý, lập sơ

đồ hệ thống, báo cáo, bài nói, bài tập, dự án, phiếu học tập,…

+ Bước 5 Thảo luận, sau khi biểu đạt như ở bước 4, dưới sự giúp đỡ của GV hay người có hiểu biết (như ông, bà, cha, mẹ hay anh, chị,…), HS thảo luận, tranh luận về các điều mới học được của mình Người thể hiện phải giải thích, bảo vệ sản phẩm của mình, các thành viên trong nhóm và GV (hay người trợ giúp) lắng nghe, phân tích, bổ sung, sửa chữa nhằm hoàn thiện, làm cho sản phẩm đảm bảo độ tinh khiết, chính xác, tiệm cận tới chân lí

- Giai đoạn III Tự điều chỉnh

+ Bước 6 Tự đánh giá Lúc này HS cần tự đánh giá việc học, dựa vào các hướng dẫn đã có Tất nhiên việc tự đánh giá này luôn mang tính chủ quan, độ chính

Trang 25

xác có thể chưa cao Vì thế, để hiệu quả, ban đầu GV cần hướng dẫn HS cách đánh giá, sau đó cho HS tự đánh giá, hoặc đánh giá lẫn nhau (giữa các thành viên trong nhóm) Cứ như thế, dần dần qua luyện tập mà HS biết cách tự đánh giá, sau khi tự học mỗi nội dung hay mỗi phần trong chương trình

+ Bước 7: Tự điều chỉnh Sau khi tự đánh giá người học tự đối chiếu, tự nhận

ra những chỗ sai sót, xác định nguyên nhân, rồi từ đó tự sửa lại nội dung kiến thức,

k năng và tự điều chỉnh cách học sao cho ngày càng phù hợp

Tuy nhiên, đến đây vẫn chưa trả lời được câu hỏi: Mục đích học để làm gì? ,

mà chỉ trả lời được khi HS sử dụng kiến thức vào các tình huống học tập và đời sống Vì vậy, cần có thêm giai đoạn vận dụng

- Giai đoạn IV Vận dụng kiến thức

+ Bước 8 Vận dụng kiến thức:

Trên cơ sở đã nắm vững kiến thức, HS phải tự nhận ra được ý ngh a, giá trị của từng kiến thức, k năng đó và sử dụng được vào những tình huống khác nhau Vận dụng tốt kiến thức, k năng là bước cuối cùng của quá trình học hay tự học

Tự học được xem là một mục tiêu cơ bản của quá trình dạy học Từ lâu các nhà

sư phạm đã nhận thức rõ ý ngh a của phương pháp dạy tự học Trong quá trình dạy học GV không chỉ dừng lại ở việc truyền thụ những kiến thức có sẵn, yêu cầu HS ghi nhớ,… mà quan trọng hơn là phải định hướng, tổ chức cho HS tự khám phá ra những quy luật, thuộc tính mới của các kiến thức hay các vấn đề khoa học Qua đó, giúp HS không chỉ nắm bắt được kiến thức mà còn biết cách tìm ra những kiến thức

ấy Thực tiễn cũng như phương pháp dạy học hiện đại còn xác định rõ: càng ở trình

độ cao thì tự học càng cần được coi trọng.Nói tới phương pháp dạy học thì cốt lõi

là dạy tự học Phương pháp tự học là cầu nối giữa học tập và nghiên cứu khoa học

Vì thế, muốn thành công trên bước đường học tập và nghiên cứu thì người học phải

có khả năng tự phát hiện và tự giải quyết những vấn đề mà cuộc sống hay khoa học đặt ra

Trang 26

Rèn luyện k năng tự học là phương cách tốt nhất để tạo ra động lực cho HS trong quá trình học tập: Một trong những phẩm chất quan trọng của mỗi cá nhân là tính tích cực, sự chủ động sáng tạo trong mọi hoàn cảnh Một trong những nhiệm vụ quan trọng của giáo dục là phải hình thành được phẩm chất đó cho người học Khi

đó giáo dục mới có thể đào tạo ra những lớp người năng động, sáng tạo, thích ứng với thị trường lao động, góp phần phát triển cộng đồng Có thể xem tính tích cực (có nguồn gốc từ năng lực tự học) như một điều kiện, kết quả của sự phát triển nhân cách thế hệ trẻ trong xã hội hiện đại Trong đó hoạt động tự học là những biểu hiện

sự gắng sức cao về nhiều mặt của từng cá nhân trong quá trình nhận thức thông qua

sự hưng phấn tích cực Mà hưng phấn chính là tiền đề cho mọi hứng thú trong học tập Có hứng thú, người học mới có được sự tự giác, say mê tìm tòi nghiên cứu khám phá Hứng thú là động lực dẫn tới tự giác Tính tích cực của con người chỉ được hình thành trên cơ sở sự phối hợp giữa hứng thú với tự giác Nó bảo đảm cho

sự định hình tính độc lập trong học tập

Tự học giúp cho mọi người có thể chủ động học tập suốt đời, học tập để khẳng định năng lực phẩm chất và để cống hiến Tự học giúp con người thích ứng với những biến đổi của sự phát triển kinh tế – xã hội Bằng con đường tự học mỗi người

sẽ không cảm thấy bị lạc hậu so với thời cuộc, thích ứng và bắt nhịp nhanh với những tình huống mới lạ mà cuộc sống hiện đại mang đến, kể cả những thách thức

to lớn từ môi trường, nghề nghiệp Nếu rèn luyện cho người học có được phương pháp, k năng tự học, biết linh hoạt vận dụng những điều đã học vào thực tiễn thì sẽ tạo cho họ lòng ham học, nhờ đó kết quả học tập sẽ ngày càng được nâng cao, tạo

đà cho tự học trong cuộc sống hay trong thực tiễn

- Các động cơ trách nhiệm trong học tập

Thông thường các động cơ hứng thú nhận thức hình thành và đến được với người học một cách tự nhiên khi bài học có nội dung hấp dẫn, mới lạ, thú vị, bất ngờ và chứa nhiều những yếu tố kích thích, gợi sự tò mò Động cơ này sẽ xuất hiện thường xuyên khi nguồn học liệu hay GV tăng cường tổ chức các trò chơi nhận thức, các cuộc thảo luận hay các biện pháp kích thích tính tự giác tích cực từ người học,

Một khi đã có động cơ, hiểu nhiệm vụ và có trách nhiệm thì bắt buộc người học phải liên hệ với ý ngh a xã hội của sự học Giống như ngh a vụ đối với Tổ quốc,

Trang 27

trách nhiệm đối với gia đình, thầy cô, uy tín danh dự trước bạn bè,… Từ đó, các em mới có ý thức kỉ luật trong học tập, nghiêm túc tự giác thực hiện mọi nhiệm vụ học tập, những yêu cầu từ GV, phụ huynh, tôn trọng mọi chế định của xã hội

Khơi gợi hứng thú học tập để trên cơ sở đó ý thức tốt về nhu cầu học tập chính

là tự xây dựng cho mình động cơ học tập đúng đắn Bởi vì, động cơ học tập đúng đắn sẽ khiến người ta luôn tự giác, say mê học tập và học tập với những mục tiêu cụ thể rõ ràng, với niềm vui sáng tạo bất tận Ngoài việc tạo động cơ cho HS, ta cần khích lệ sự cố gắng của HS

b

Việc học, tự học thật sự có hiệu quả khi mục tiêu, nhiệm vụ và kế hoạch học tập được xây dựng cụ thể, rõ ràng và có tính hướng đích cao, sao cho phù hợp với điều kiện hoàn cảnh cá nhân

Mục tiêu học tập là những gì người học đặt ra để phấn đấu trong học tập và có khả năng đạt được nó trong quá trình học tập của mình Để có được mục tiêu khả thi

và hữu ích, HS cần xác định mục tiêu học tập của mình theo năm yếu tố sau đây:

- Cụ thể và rõ ràng: Càng chi tiết càng dễ thực hiện

- Đo lường được: Mục tiêu có thể đo lường và đánh giá được một cách rõ ràng

- Có thách thức: Mục tiêu phải cho thấy người học cần phải nỗ lực và có kỉ luật mới có thể đạt được

- Thực tế: Có khả năng đạt được đối với HS đó

- Có thời gian để hoàn thành: Mục tiêu phải có thời hạn hoàn thành cụ thể Nếu

là mục tiêu lâu dài, cần chia mục tiêu thành nhiều mục tiêu nhỏ và xác định thời hạn hoàn thành đối với từng mục tiêu

Người có k năng tự học là người xác định được kế hoạch học tập ngắn hạn, trung hạn và dài hạn của mình Thậm chí, các kế hoạch phải được tạo lập theo từng môn học, từng phần trong môn học theo từng thời điểm, giai đoạn học tập cụ thể Trong lập kế hoạch phải chọn đúng vấn đề trọng tâm, cốt lõi, quan trọng để ưu tiên tác động trực tiếp và dành thời gian công sức cho nó Nếu việc học dàn trải thiếu tập trung thì chắc chắn hiệu quả sẽ không cao

Sau khi đã xác định được các vấn đề trọng tâm, phải sắp xếp các phần việc trong kế hoạch chung một cách hợp lí, logic về cả nội dung lẫn thời gian, đặc biệt cần tập trung hoàn thành dứt điểm từng phần, từng hạng mục theo thứ tự được thể hiện chi tiết trong kế hoạch Điều đó sẽ giúp quá trình tiến hành việc học được trôi chảy thuận lợi Tuy nhiên, theo khoa học về nhận thức, cần lưu ý một số điểm sau đây:

Trang 28

- Học ở đâu: quan trọng nhất là học ở nơi thuận lợi cho tiếp thu, không làm phân tán sự tập trung và là nơi học thích hợp với thói quen, phong cách học tập của bạn

- Khi nào nên học tập: chỉ nên học lúc thoải mái, minh mẫn, vào đúng khoảng thời gian trong kế hoạch để học Không nên học cố trong vòng 15 phút ngay trước

và sau khi ăn hoặc không học cố khi đã quá mệt mỏi, buồn ngủ; không học cố vào giờ chót trước khi đến lớp

- Học cho giờ lí thuyết: cần đọc tất cả những tài liệu, đọc trước và ghi chú những điểm chưa hiểu để chuẩn bị cho giờ học trên lớp Nếu bạn học sau giờ lên lớp của GV, cần chú ý xem lại những thông tin đã ghi chép được

- Học cho giờ cần phát biểu, trả bài: nên dùng khoảng thời gian trống, ngay trước các giờ học này để luyện tập k năng phát biểu

- Sửa đổi kế hoạch học tập: có thể sửa đổi khi kế hoạch không hiệu quả, hoặc khi có việc đột xuất, làm đảo lộn, khi đó việc lập kế hoạch sẽ trở nên linh hoạt, dễ dàng hơn

d T

Đây là giai đoạn quyết định và chiếm nhiều thời gian công sức nhất Khối lượng kiến thức và các k năng được hình thành nhanh hay chậm, nắm bắt vấn đề nông hay sâu, rộng hay hẹp, có bền vững không,… tuỳ thuộc vào chính bản thân người học trong bước mang tính đột phá này Theo đó, nó thường bao gồm các hoạt động như:

- Tiếp nhận/thu thập thông tin: Lựa chọn và chủ động tiếp nhận thông tin từ nhiều nguồn khác nhau và từ những hoạt động đã được xác định, như: đọc sách, nghe giảng, xem truyền hình, tra cứu từ internet, xemina, hội thảo, làm thí nghiệm, quan sát, điều tra,… Thu thập thông tin nhằm tập hợp những thông tin liên quan đến vấn đề mà người học đang tìm hiểu, giải quyết Để hình thành k năng này, người học thường phải tiến hành các thao tác như:

+ Tìm kiếm thông tin: Phải xác định rõ chủ đề cần tìm kiếm thông tin là gì; xác định các loại thông tin chính cần phải tìm kiếm; xác định các nguồn/các địa chỉ tin cậy có thể cung cấp các loại thông tin đó (như: sách, báo, internet, các tổ chức có liên quan,…)

+ Tiến hành thu thập thông tin: bằng cách đọc và chọn lọc thông minh và linh hoạt để ghi chép các thông tin, qua các tài liệu đã thu thập được Theo đó cần: đọc mục lục, đọc lời giới thiệu, lời kết luận (nếu có), đọc một vài đoạn, đọc sâu văn bản; ghi chép theo những hình thức khác nhau tuỳ thuộc mục đích của việc đọc như đã

đề ra

+ Sắp xếp thông tin đã chọn lọc một cách hệ thống, theo từng nội dung

Trang 29

- Xử lí thông tin: Cần tìm hiểu, tóm lược, tổng hợp, phân tích, so sánh, đối chiếu, lí giải, đánh giá các thông tin thu thập được; xem xét một cách toàn diện, thấu đáo, có hệ thống các thông tin đó để giải quyết vấn đề Để hình thành k năng này, người học thường phải tiến hành các thao tác như:

+ Tóm tắt, phân loại thông tin: cần tóm lược ngắn gọn các thông tin đã thu được; phân chúng ra thành các loại thông tin khác nhau để tiện cho việc tìm hiểu, sử dụng

+ Phân tích thông tin: cần tìm ra ý ngh a của các thông tin có được xem chúng nói điều gì, bằng cách đọc, so sánh, đối chiếu các thông tin đã tổng hợp được

+ Tổng hợp, hệ thống hoá thông tin: cần sắp xếp những thông tin cùng một loại vào cùng một nhóm với nhau, đưa ra được nhận định chung Mục đích của tổng hợp

là để có bức tranh chung về vấn đề đang tìm hiểu, dễ xem xét, đối chiếu trong bước

kế tiếp

- Vận dụng tri thức, thông tin: Trong việc vận dụng thông tin tri thức khoa học

để giải quyết các vấn đề liên quan như thực hành bài tập, thảo luận, xử lí các tình huống, viết bài thu hoạch,… ta thường gặp rất nhiều khó khăn Nhiều khi, tìm được một khối lượng lớn tư liệu, thông tin nhưng việc tập hợp phân loại nội dung để kiến giải một vấn đề lại khó thực hiện được Lúc này cần khoanh vùng vấn đề theo một giới hạn hay phạm vi đừng quá rộng Chỉ cần tập trung đào sâu một vấn đề nào đó nhằm phát hiện ra cái mới có giá trị là đáp ứng yêu cầu Trong khâu này việc lựa chọn và thay đổi hình thức tư duy để tìm ra cách thức tối ưu nhất cho đối tượng nghiên cứu cũng rất cần thiết

- Trao đổi, phổ biến thông tin: Trao đổi kinh nghiệm, chia sẻ thông tin, tri thức thông qua các hình thức như thảo luận, thuyết trình, tranh luận,… việc này thường

là khâu cuối cùng trong quá trình tự học, tiếp nhận kiến thức Hoạt động này giúp người học hình thành và phát triển k năng trình bày (bằng lời nói hay văn bản), chủ động, tự tin trong giao tiếp ứng xử, phát triển k năng hợp tác và quan trọng hơn giúp khách quan hoá và chính xác hoá kết quả tự học

Để hình thành và ngày càng hoàn thiện k năng này, người học thường phải thực hiện có hiệu quả các hành động như:

+ Hợp tác với bạn, với thầy: Người học cùng chung sức, giúp đỡ, hỗ trợ và bổ sung cho nhau để giải quyết các nhiệm vụ học tập Còn thầy hỗ trợ trò trình bày, thảo luận

+ Trình bày vấn đề bằng ngôn ngữ nói hoặc viết: Người học có thể trình bày kết quả tự học, hoặc nêu lên những thắc mắc, băn khoăn mà mình chưa giải quyết được hay nêu ra các vấn đề nảy sinh trong quá trình thu thập và xử lí thông tin, để nhận phản hồi từ phía bạn và thầy hay người hướng dẫn

Trang 30

+ Tham gia tranh luận, trao đổi, chia sẻ thông tin: Người học không chỉ biết trình bày ý kiến mà còn phải biết bảo vệ ý kiến, chính kiến của mình; không chỉ biết tiếp nhận thông tin một chiều mà còn phải có tư duy phê phán, để tranh luận, trao đổi với bạn, với thầy, nhằm hiểu vấn đề chính xác hơn, cặn kẽ và sâu sắc hơn

Trong hợp tác trao đổi thông tin, HS không chỉ được đo lường về mức độ hiểu kiến thức của mình mà còn được hình thành và nâng cao dần những k năng xã hội cần thiết như: k năng trình bày, k năng tranh luận,…

Thực ra, trong quá trình thu thập và xử lí thông tin đã diễn ra một cuộc giao tiếp ngầm giữa người học (với tư cách là người tiếp nhận thông tin) và người đưa ra thông tin (lời của GV hay thông qua học liệu,…) Nhưng sự giao tiếp này vẫn mang tính cá nhân diễn ra bên trong của người học Khi HS hợp tác, trao đổi, chia sẻ thông tin, bên cạnh việc thu thập, xử lí thông tin qua trao đổi, ý kiến, quan điểm, cách hiểu và cách biểu cảm của người khác, thì HS còn tập hợp, sàng lọc, xử lí thông tin, để tiếp thu hoặc phản biện,… chuyển thành các hoạt động mang tính xã hội

e T q ả :

Trong bất kì hoạt động nào đánh giá kết quả cũng đều quan trọng, vì nó giúp cho chủ thể kịp thời phát hiện ưu điểm hay thiếu sót, hạn chế và điều chỉnh các hoạt động, phù hợp với mục đích đề ra Trong tự học, tự kiểm tra, tự đánh giá có một ý ngh a quan trọng, đảm bảo kết quả, chất lượng của tự học Tự kiểm tra, đánh giá nhằm tự điều chỉnh, có thể thực hiện theo trình tự sau:

- So sánh đối chiếu kết luận của thầy hay người trợ giúp và ý kiến của các bạn với sản phẩm ban đầu của mình để biết được sự: đúng – sai, hay – dở, đủ – thiếu,…

- Kiểm tra lí lẽ, tìm kiếm luận cứ,… để có cơ sở chứng minh cho sự đúng – sai

- Tổng hợp, bổ sung thêm lí lẽ, chốt lại vấn đề

- Sửa chữa những chỗ sai sót, hoàn thiện sản phẩm

- Rút kinh nghiệm về cách học, cách xử lí tình huống, cách giải quyết vấn đề Việc tự đánh giá, điều chỉnh kết quả học tập được thực hiện bằng nhiều hình thức, như: Dùng các thang đo mức độ đáp ứng yêu cầu mà GV đề xuất hay các bảng kiểm; tự đánh giá, điều chỉnh; sự đánh giá nhận xét của tập thể, thông qua thảo luận,

tự đối chiếu so sánh với mục tiêu đặt ra ban đầu,… Tất cả cách làm đó đều mang một ý ngh a tích cực, cần được quan tâm thường xuyên Thông qua đó, người học tự đối thoại để thẩm định, hiểu được cái gì làm được, điều gì chưa đáp ứng nhu cầu học tập, nghiên cứu, để từ đó có hướng khắc phục nhược điểm hay phát huy ưu điểm

Tự học rõ ràng là vấn đề không hề đơn giản Muốn học tập có hiệu quả, nhất thiết HS phải chủ động tự giác, học bất cứ lúc nào có thể, bằng chính nội lực, vì nội

Trang 31

lực chính là nhân tố quyết định cho sự phát triển Ngoài ra, còn rất cần tới vai trò của người thầy hay người trợ giúp với tư cách là ngoại lực trong việc giúp cho HS

có được một hệ thống kiến thức, k năng, thái độ,… cùng với phương pháp tự học

cụ thể, khoa học, nhờ vào kinh nghiệm của thầy Nhờ đó, hoạt động tự học của HS ngày càng đi vào chiều sâu, thực chất

1.2.2.4 Hướng dẫn học sinh tự học

Để HS tự học có hiệu quả, ngoài việc tạo động cơ, hứng thú cho các em, cũng như hướng dẫn các em lập kế hoạch học tập hay tự kiểm tra đánh giá còn cần sử dụng một số phương pháp và k thuật tự học thông dụng.Một vài phương pháp và k thuật tự học thông dụng được đề cập như phần dưới đây

a Đọc hiệu quả

- Đọc hiệu quả là đọc một cách tập trung và k lưỡng để hiểu được chính xác những gì đọc được Ta biết rằng một từ, một cụm từ hay một chữ, thường có hai phần là âm và ngh a Đứng về mặt k thuật, đọc là một quá trình kết hợp lướt mắt qua các con chữ và nhập ngh a của các con chữ đó vào đầu

Khâu thứ nhất – xem như khâu nhận mặt chữ hay biết âm – chỉ bao gồm việc nhận dạng kí tự, đọc thầm, phân tích ngữ pháp của câu để chuẩn bị cho việc hiểu ngh a

Khâu thứ hai – xem như khâu nhập ngh a vào trong đầu – là quá trình chuyển các

kí tự đọc được thành ngh a Nó thường xảy ra theo hướng so sánh khái niệm hoặc ý ngh a vừa đọc với nhận thức cũ của mình Khi đó, nếu có sự phù hợp hay quen thuộc, thì việc hiểu này mang ngh a củng cố kiến thức; còn nếu nó xa lạ hay trái với những gì mình đã biết thì việc nhập kiến thức sẽ mang ngh a tiếp nhận, nạp cái mới Một số điều nên làm khi đọc hiểu:

+ Trau dồi vốn từ: Nên hiểu rõ các sắc thái ngh a của từ, chú ý cách dùng từ của người khác và biết lựa chọn, sử dụng từ, ngữ một cách chính xác, uyển chuyển và cẩn trọng trong viết và nói

+ Khi đọc các sách có tính chuyên sâu hay mang tính học thuật thì trước hết phải hiểu đúng các khái niệm đồng thời biết trân trọng cách dùng từng từ của người viết

Trang 32

+ Đọc k khái niệm và từ nhưng cần xem xét ngh a của nó trong tổng thể

b Ghi nhớ thông tin hiệu quả

Ghi nhớ là quá trình tiếp nhận thông tin và lưu giữ thông tin ấy trong đầu, để sau

đó có thể nhắc lại, dùng lại được Ghi nhớ đòi hỏi yêu cầu cao với người học Để có thể ghi nhớ thông tin nhanh và lâu, cần lưu ý các bước sau:

- Đọc đi đọc lại: Đọc lại những gì đã ghi chép sau buổi học sẽ giúp nhớ bài tốt hơn Có thể đọc một tài liệu nhiều lần, mỗi lần với một mục tiêu khác nhau và đọc theo đúng mục tiêu đó

- Nắm ý chính: Nắm được ý chính trong mỗi đoạn văn và hiểu nó theo cách của mình là điều cốt lõi của việc đọc có hiệu quả

- Trích lược những chi tiết quan trọng: Mỗi ý chính trong một bài đều có liên quan đến một chi tiết quan trọng, vì thế, nếu càng nhớ và dẫn được càng nhiều chi tiết quan trọng hay các liên hệ giữa các chi tiết và các ý, hoặc giữa các ý với nhau, thì càng liên hệ được các ý tưởng với kiến thức nền tảng Nhờ đó, ta dễ dàng huy động, sử dụng khi cần

- Ghi thành dàn bài:bằng cách chia nội dung toàn bài thành các phần chính (Ví

dụ là A, B hay C,…) Trong mỗi phần lại có thể chia thành một số mục nhỏ, bạn có thể sắp xếp các mục nhỏ ấy bằng những chữ số, như: 1, 2, 3, và đặt những tiêu đề riêng; có thể gạch dưới hoặc viết đậm các phần quan trọng để dễ nhớ

- Nhẩm trong óc: Là cách hệ thống lại và ôn từng phần một của bài, chỗ nào quên thì dừng lại và lật bài đã có ra xem Tiếp đó nhẩm sang phần khác, chú ý các phần quan trọng cần ghi nhớ Sau đó, tìm những nội dung còn sót để học lại cho thuộc và đặt thành câu hỏi rồi tự giải quyết trong óc câu hỏi ấy

- Ghi ra giấy: Có thể ghi riêng ra giấy những từ mới, công thức, những định lí, tính chất,… sau đó đóng hay cất những tờ giấy này vào nơi dễ nhìn thấhái ty, có thể

mở ra xem để ghi nhớ Khi ghi chỉ nên tóm tắt phần quan trọng, chính yếu nhất, tránh ghi rườm rà

- Hỏi và tự trả lời: Tự đặt cho mình những câu hỏi và trả lời các câu hỏi để ghi nhớ được các thông tin cần tìm hiểu Các loại câu hỏi như: Cái gì? Ở đâu? Khi nào? Tại sao? Như thế nào?Ai? Cách này vừa giúp ta nhớ kiến thức, vừa tăng cường tính chủ động, tích cực trong học tập

c Liên tưởng trong tự học

Trang 33

Liên tưởng giúp các em phát huy tính khám phá,tính sáng tạo bằng cách kết nối một vấn đề đang học, một vấn đề đang gặp phải, cần được ghi nhớ, một vấn đề chưa thật quen thuộc, chưa thật hiểu rõ, với cái mà mình đã biết Nhờ đó, ta sẽ dễ nhớ và

dễ truy cập, sử dụng một vấn đề nào đó khi cần

a Sử dụng bản đồ tư duy trong tự học

Trong việc học và đặc biệt là khi ôn tập, hệ thống hoá kiến thức, HS đã được làm quen với việc kẻ bảng, biểu, vẽ sơ đồ, biểu đồ,… và thường HS có chung cách ghi chép giống GV hay người trợ giúp, hoặc mẫu trong tài liệu, nên việc ghi nhớ thường bị động, khó khăn, khó khắc sâu, khó nhớ

Trong dạy học vật lí ở trường phổ thông, ứng với mỗi giai đoạn của quá trình học tập, các hoạt động của học sinh có thể dùng để đánh giá được liệt kê theo bảng đưới đây:

Các giai

đoạn học tập Các hoạt động được đánh giá

Tiếp cận vấn

đề

- Trả lời các câu hỏi, giải các bài tập ngắn

- Thực hiện nhiệm vụ học tập, các bài trắc nghiệm ngắn

- Trình bày nhận xét hoặc đánh giá về sự kiện, hiện tượng, quá trình trong bối cảnh do giáo viên hoặc bạn học đưa ra

- Xây dựng phương án và tiến hành thí nghiệm đơn giản theo yêu cầu

- Tham gia đóng vai được phân công trong các hoạt cảnh

- Tìm kiếm thông tin về sự kiện, hiện tượng vật lí từ các nguồn khác nhau

- Nêu ra mâu thuẫn, mong muốn tìm hiểu sự kiện, hiện tượng, các mối tương quan…và phát biểu vấn đề nghiên cứu dưới dạng câu hỏi

Trang 34

hay bài toán hợp lí

vấn đề

- Lựa chọn giải pháp giải quyết vấn đề với các lập luận có lí

- Đưa ra giả thuyết cho sự kiện, hiện tượng, quá trình được mô tả

- Đưa ra sự lựa chọn các kiến thức, thông tin đã có cho việc giải bài toán

- Thiết lập các tương quan nhờ các phép biến đổi, lập luận logic toán

- Tham gia xây dựng phương án thí nghiệm để khảo sát để kiểm tra

dự đoán hoặc kiểm nghiệm các kết quả suy luận

- Tham gia điều tra để thu thập các thông tin từ thực tế cho việc thực hiện các nhiệm vụ được giao

- Thực hiện các thí nghiệm: lắp ráp dụng cụ hợp lí, tiến hành, thu thập và xử lí số liệu theo kế hoạch

- Giúp đỡ bạn học, tiếp thu nhận các góp ý cho việc hoạt động với thái độ cầu thị

Kết luận vấn

đề

- Phân tích, đánh giá kết quả thí nghiệm và khái quát nên quy luật, nhận định, cách thức kết hợp của các đại lượng trong sự kiện, hiện tượng vật lí được khảo sát

- Trình bày kết luận về quy luật, nhận định, mối liên hệ bằng nhiều

mô hình biểu diễn khác nhau

- Diễn đạt, công bố kết luận về quá trình nghiên cứu

kiến thức

- Đề xuất các khả năng, giải pháp vận dụng kiến thức vào đời sống

- Tuyên truyền, quảng bá, giới thiệu việc sử dụng kiến thức vào đời sống một cách hiệu quả, hợp lí và cho nhiều người

- Thời gian học tập; sau dạy học một chủ đề, một phần, một chương, một học

kì, một năm học hay một khóa học

- Quy mô thực hiện ở các mức độ như trên lớp học, trên khối lớp, trong toàn trường, trên toàn khu vực hoặc cả nước thông qua các đề kiểm tra

c Q ả

Định hướng dạy học theo mục tiêu năng lực và đánh giá người học liên tục cần đòi hỏi có các hệ thống lưu trữ hồ sơ tốt

- Chủ đề học tập

Trang 35

Các chủ đề được liên kết với nhau để hình thành một chuỗi chương trình gắn kết Các chủ đề được lưu trữ trong một hệ thống lưu trữ hồ sơ được tổ chức tốt

Các giáo viên nên đảm bảo rằng chương trình sẽ theo với các đầu ra của chương trình giảng dạy và giáo án mà Bộ Giáo dục & Đào tạo đã đưa ra

Các chủ đề học tập cần được hoàn thiện theo một mẫu chuẩn hóa và được lưu giữ bởi quản lý của nhà trường

Các tài liệu lưu trữ này sẽ khả dụng cho các giáo viên bộ môn khác và cho các giáo viên cùng bộ môn trong tương lai Sau đó các tài liệu này sẽ được tiếp tục chỉnh sửa và cải thiện

- Việc xác định điểm số để đánh giá

Các căn cứ, minh chứng là sản phẩm của các hoạt động học tập của học sinh nên được quy ra điểm số (có thể theo thang điểm 10 hoặc một loại thang điểm khác) Ta gọi điểm đánh giá quá trình, sau khi đã quy theo thang điểm 10, là điểm đánh giá 1 và điểm của bài kiểm tra kiến thức, khả năng vận dụng kiến thức gọi là điểm đánh giá 2

Hai loại điểm thu được có thể gộp chung thành điểm trung bình với hệ số 2 tính cho điểm đánh giá 1 hoặc để tách thành 2 loại điểm đánh giá cho việc hoạt động học tập của học sinh

1.2.3.3 Biện pháp phát triển năng lực tự học cho học sinh.[3]

Thứ nhất, muốn học sinh có ý thức tự học thì trước hết học sinh phải yêu thích môn học đó Vì vậy GV cần tạo cho HS niềm say mê môn học GV có thể dùng tiết dạy để giới thiệu về môn học, về những giá trị của môn học trong thực tiễn bằng những ví dụ minh họa cụ thể nhằm kích thích động cơ học tập ở các em Ví dụ ở môn Vật lý, GV có thể làm được điều này thông qua cách đặt vấn đề bằng những câu chuyện hay đơn giản chỉ là những câu hỏi thú vị như: Tại sao nước làm tắt lửa? Câu hỏi vừa đặt ra tưởng chừng rất đơn giản nhưng để trả lời được câu hỏi này đòi hỏi HS cần phải kiến thức vật lý về nhiệt học Hay như câu hỏi: Băng phẳng và băng mấp mô, thứ nào trơn hơn? Trên thực tế, đa số HS khi được hỏi thường trả lời là băng phẳng trơn hơn, nhưng sự thật lại không phải như vậy Đó chính là điểm hấp dẫn, thú vị khi GV đưa ra câu trả lời và giải thích

Trang 36

Thứ hai, GV cần hướng dẫn cho HS cách xây dựng kế hoạch học tập từ ban đầu Ngay từ tiết học đầu tiên của môn học, GV không cần phải dạy ngay mà cần giới thiệu sơ lược về chương trình, nội dung và phương pháp học một cách khái quát nhất để HS hiểu và từ đó, tự xây dựng cho mình kế hoạch học tập phù hợp GV phải làm cho HS hiểu rõ: mọi kế hoạch phải được xây dựng dựa trên mục tiêu chung

và mục tiêu cụ thể và HS hoàn toàn có thể phấn đấu thực hiện được từng mục tiêu nếu có kế hoạch thời gian được xây dựng chi tiết Chẳng hạn, trong quá trình giảng dạy mỗi chương, GV sẽ cung cấp nội dung và thời gian học và kiểm tra để HS nắm

rõ Đồng thời, GV có thể cho HS đánh dấu vào trong sách bài nào học ngày nào, đến tiết nào sẽ kiểm tra Muốn HS tự xây dựng kế hoạch học tập thì GV phải là người cung cấp đầy đủ kế hoạch dạy và học của bộ môn

Thứ ba, GV hướng dẫn cho HS cách tìm và đọc sách hoặc tài liệu liên quan đến môn học GV cần nhấn mạnh cho HS thấy rằng, kiến thức môn học không chỉ gói gọn trong nội dung SGK, trong bài giảng của GV mà đến từ nhiều nguồn khác nhau

Do đó, GV cần giới thiệu cho HS những cuốn sách hay, những tài liệu bổ ích liên quan đến môn học và khuyến khích các em tự tìm kiếm, tự phân tích và tổng hợp kiến thức GV cũng có thể giới thiệu địa chỉ một số trang web chuyên ngành, hoặc các trang diễn đàn trao đổi kinh nghiệm học tập để HS tham khảo thêm

Thứ tư, GV nên dạy cho HS cách ghi chép và nghe giảng vì đây là những kỹ năng học tập vô cùng quan trọng, ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình học tập của HS Trình độ nghe và ghi chép của người học ở mỗi môn học khác nhau là khác nhau, tùy thuộc vào đặc thù của từng môn học và phương pháp giảng dạy của từng giáo viên HS thường mang lối học thụ động, quen tách việc nghe và ghi chép ra khỏi nhau, thậm chí nhiều HS chỉ chờ GV đọc mới có thể ghi chép được nội dung bài học, nếu ngược lại thì bỏ trống vở Điều này khiến HS có tâm lí ức chế, ảnh hưởng đến quá trình tiếp nhận kiến thức.Để khắc phục vấn đề này này, GV nên xây dựng

bộ giáo trình mẫu, bên cạnh nội dung của bài học có chừa khoảng trắng cho HS ghi chép những vấn đề mà GV mở rộng Đối với các vấn đề mà HS còn chưa rõ, có thể đánh dấu để hỏi lại GV hoặc tìm hiểu thêm GV phải rèn luyện cho HS cách ghi chép nhanh bằng các hình thức gạch chân, tóm lược bằng sơ đồ hình vẽ những ý chính Đối với các vấn đề quan trọng, GV cần nhấn mạnh, lặp lại nhiều lần để HS tiếp thu dễ dàng hơn

Thứ năm, GV hướng dẫn cách học bài GV nên giới thiệu và hướng dẫn cho HS

tự học theo mô hình các nấc thang nhận thức của Benjamin S.Bloom Theo cách phân chia trong thang nhận thức của Bloom, HS có thể học cách phân tích, tổng hợp, vận dụng tri thức vào từng tình huống thực tiễn, học cách nhận xét, đánh giá,

so sánh đối chiếu các kiến thức khác… Cách tự học theo mô hình các nấc thang

Trang 37

nhận thức của Bloom sẽ giúp cho HS có thể học được cách rèn luyện được năng lực

tư duy logic, tư duy trừu tượng và phát triển tư duy sáng tạo trong việc tìm ra những hướng tiếp cận mới đối với các vấn đề khoa học

Thứ sáu, GV cần giao nhiệm vụ cụ thể cho HS ở tiết học tiếp theo Để phát huy tối đa năng lực tự học và thúc đẩy HS tận dụng hết thời gian tự học, GV cần giao nhiệm vụ cụ thể cho HS Có như thế, các em mới định hướng được cụ thể các nhiệm

vụ mình cần làm tiếp theo Sau khi đã tiếp nhận được kiến thức cũ, các em có thể tìm hiểu kiến thức mới Khi có sự chuẩn bị trước ở nhà, việc học trên lớp sẽ trở nên

có hiệu quả hơn rất nhiều

Trang 38

CHƯƠNG 2: THIẾT KẾ CHỦ ĐỀ DẠY HỌC “CÁC ĐỊNH LUẬT

CHẤT KHÍ”– VẬT LÍ 10

2.1 Đề xuất quy trình thiết kế tiến trình dạy học theo chủ đề

Căn cứ vào mục 1.1.4.1, và quy trình tổ chức dạy học tích hợp [6], chúng tôi đề xuất quy trình thiết kế dạy học một chủ đề gồm các bước sau:

Bước 1: Lí do xây dựng chủ

đề

Bước 2: Xác định mạch phát triển nội dung trong chủ đề

Bước 3: Xây dựng chuỗi hoạt động dạy học và thời gian dự

kiến

Bước 4: Xác định mục tiêu dạy học của chủ đề

Bước 5: Xây dựng nội dung

các hoạt động dạy học cụ thể

và đánh giá Bước 6: Lập kế hoạch dạy

học cụ thể

Trang 39

lập và đều bằng con đường thực nghiệm? Mặt khác, Nội dung của 4 tiết học đều giải quyết một vấn đề chung là mối quan hệ giữa các thông số trạng thái của một khối lượng khí nhất định Vì vậy, nếu tổ chức dạy học xây dựng 3 định luật chất khí

và từ đó khái quát lên phương trình trạng thái của khí lí tưởng theo con đường nghiên cứu đồng thời, độc lập 3 quá trình đẳng thì sẽ có nhiều cơ hội phát huy tính tích cực nhận thức và năng lực sáng tạo của học sinh trong học tập; Thời gian để các em vận dụng định luật để giải thích các hiện tượng trong cuộc sống được nhiều hơn Đó cũng là lí do cần phải xây dựng chủ đề Các định luật chất khí

Để thực hiện được ý tưởng dạy học trên (dạy học định luật Gay-luy-xắc) theo con đường thực nghiệm, GV cần phải chế tạo được bộ TN (vì trong chương trình hiện nay ở các trường THPT Việt Nam chưa được trang bị thí nghiệm này)

2.2.2 Xác định mạch phát triển nội dung trong chủ đề

N “C ấ ” q 2.2

Hình 2.2 S : “C ấ

Trang 40

2.2.3 Xác định chuỗi các hoạt động dạy học và thời gian dự kiến

độ (p,V); (p,T); (V,T)

100 phút

Tiết 1: GV hướng dẫn HS làm thí nghiệm cả 3 định luật và HS tiến hành làm vòng 1) Tiết 2: GV nhắc lại một số lưu ý

và HS làm 2 vòng tiếp theo Tiết 3: Cho HS báo cáo kết quả Hoạt động

Hệ thống hóa kiến thức bằng sơ

đồ khái niệm Bài tập về các định luật chất khí

Ngày đăng: 19/05/2019, 15:52

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w