Đề án “Đổi mới chương trình, SGK giáo dục phổ thông sau năm 2015” của Bộ GD & ĐT đã chỉ rõ các định hướng đổi mới chương trình, sách giáo khoa là: Tiếp cận theo hướng phát triển NL, xuất
Trang 1ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
Trang 2ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
Đà Nẵng, 2018
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành được khóa luận này, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành
và sâu sắc nhất đến cô giáo hướng dẫn Th.S Trần Thị Hương Xuân đã tận tình giảng dạy, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình nghiên cứu, mang lại những tri thức quý báu và tạo điều kiện thuận lợi nhất để tôi hoàn thành đề tài nghiên cứu này Xin chân thành cảm ơn Ban Giám Hiệu và GV trường THPT Phan Châu Trinh đã tạo điều kiện và giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện đề tài
Xin gửi lời cảm ơn đến các em HS trường THPT Phan Châu Trinh đã hợp tác và tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt thời gian TNSP
Xin cảm ơn chân thành đối với sự động viên, khích lệ không nhỏ của gia đình và bạn bè, những người đã luôn bên tôi, giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện đề tài
Mặc dù rất cố gắng nhưng khóa luận không tránh khỏi những hạn chế và thiếu sót, kính mong nhận được sự góp ý của quý thầy, cô và các bạn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Đà Nẵng, ngày 20 tháng 4 năm 2018
Tác giả khóa luận
Phạm Thị Thơm
Trang 4MỤC LỤC LỜI CẢM ƠN I DANH MỤC KÝ HIỆU VÀ CỤM TỪ VIẾT TẮT V DANH MỤC BẢNG BIỂU, DANH MỤC HÌNH VI
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 3
3 Nhiệm vụ nghiên cứu 3
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
5 Phương pháp nghiên cứu 4
5.1 Phương pháp nghiên cứu lý thuyết 4
5.2 Phương pháp thực nghiệm sư phạm 4
5.3 Phương pháp thống kê toán học 4
NỘI DUNG 6
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI 6
1.1.Năng lực 6
1.1.1 Khái niệm năng lực 6
1.1.2 Cấu trúc của năng lực [15] 7
1.1.3 Phát triển năng lực cho học sinh trung học phổ thông 8
1.1.4 Các phương pháp đánh giá năng lực 9
1.2.Năng lực giao tiếp 10
1.2.1 Khái niệm năng lực giao tiếp 10
1.2.2 Cấu trúc của năng lực giao tiếp 11
1.3.Dạy học và dạy học song ngữ 13
1.3.1 Khái niệm dạy học [4] 13
1.3.2 Khái niệm dạy học song ngữ 15
1.3.3 Đặc điểm của dạy học song ngữ 16
1.3.4 Các mức độ của dạy học song ngữ 16
1.3.5 Lợi ích của dạy học song ngữ Việt – Anh 17
Trang 5CHƯƠNG 2: THIẾT KẾ TIẾN TRÌNH DẠY HỌC SONG NGỮ MỘT SỐ NỘI DUNG KIẾN THỨC CHƯƠNG “DÒNG ĐIỆN KHÔNG ĐỔI” VẬT
LÝ 11 CƠ BẢN 19
2.1.Phân tích cấu trúc, nội dung chương “Dòng điện không đổi” Vật lý 11 CB 19
2.1.1 Đặc điểm của chương 19
2.1.2 Sơ đồ kiến thức chương 21
2.1.3 Chuẩn kiến thức, kỹ năng của chương 21
2.1.4 Mục tiêu dạy học khi áp dụng dạy học song ngữ 22
2.2.Quy trình sử dụng song ngữ trong dạy học 23
2.3.Thiết kế tiến trình dạy học song ngữ một số nội dung kiến thức chương “Dòng điện không đổi” Vật lý 11 CB 25
2.3.1.Tiến trình dạy học song ngữ bài “Dòng điện không đổi Nguồn điện” 25
2.3.2 Tiến trình dạy học song ngữ bài “Điện năng Công suất điện” 33
2.3.3.Tiến trình dạy học song ngữ bài “Định luật Ohm đối với toàn mạch” 40
2.3.4.Tiến trình dạy học song ngữ bài “Ghép các nguồn điện thành bộ” 47
2.3.5 Tiến trình dạy học song ngữ bài “Phương pháp giải một số bài toán về toàn mạch” 53
2.4.Đánh giá năng lực của học sinh 62
2.4.1 Đánh giá năng lực ngoại ngữ của học sinh 63
2.4.1.1 Đánh giá đồng đẳng 63
2.4.1.2 Giáo viên đánh giá 65
2.4.2 Đánh giá năng lực hoạt động nhóm của học sinh 66
2.4.3 Đánh giá năng lực sử dụng kiến thức Vật lý 67
2.4.4 Xếp loại năng lực học sinh 68
Trang 6CHƯƠNG 3: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 69
3.1.Mục đích và nhiệm vụ của TNSP 69
3.2.Đối tượng của TNSP 69
3.3.Phương pháp TNSP 69
3.4.Thời điểm TNSP 70
3.5.Đánh giá kết quả TNSP 70
3.5.1 Phân tích diễn biến quá trình thực nghiệm 70
3.5.2 Đánh giá về mặt định tính 72
3.5.3 Đánh giá về mặt định lượng 73
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 79
1 Kết luận 79
2 Khuyến nghị 80
TÀI LIỆU THAM KHẢO 81 PHỤ LỤC
Trang 7DANH MỤC KÝ HIỆU VÀ CỤM TỪ VIẾT TẮT
Trang 8DANH MỤC BẢNG BIỂU, DANH MỤC HÌNH
Bảng 2.1 Phân phối chương “Dòng điện không đổi” Vật lý 11 CB 19
Bảng 3.1 Số bài kiểm tra trong thực nghiệm sư phạm 74
Bảng 3.2 Bảng phân phối tần số điểm kiểm tra Xi 74
Bảng 3.3 Bảng phân phối tần suất điểm kiểm tra 75
Bảng 3.4 Bảng phân phối tần suất hội tụ tiến điểm kiểm tra 76
Bảng 3.5 Các thông số thống kê 76
Bảng 3.6 Bảng phân phối tần suất theo xếp loại kết quả học tập 77
Biểu đồ 3.1 Đồ thị tần số điểm kiểm tra Xi 75
Biểu đồ 3.2 Đường phân phối tần suất điểm 75
Biểu đồ 3.3 Đồ thị tần suất hội tụ tiến điểm kiểm tra 76
Biểu đồ 3.4 Đồ thị tần suất theo xếp loại kết quả học tập 77
Hình 1.1 Mô hình thành phần năng lực theo bốn trụ cột giáo dục UNESCO 8 Hình 1.2 Cấu trúc của năng lực giao tiếp 13
Hình 2.1 Sơ đồ kiến thức chương “Dòng điện không đổi” Vật lý 11 CB 21
Hình 2.2 Quy trình sử dụng song ngữ trong dạy học 23
Hình 2.3 Đánh giá năng lực học sinh 62
Hình 3.1 GV đặt vấn đề vào bài 70
Hình 3.2 Hỏi đáp nhanh về từ vựng 70
Hình 3.3 GV giới thiệu về thẻ từ 71
Hình 3.4 HS tích cực tham gia ráp mạch điện 71
Hình 3.5 HS hoạt động nhóm tích cực và nghiêm túc 71
Hình 3.6 GV kịp thời giải đáp thắc mắc cho HS 71
Hình 3.7 Đại diện các nhóm tự tin trình bày bằng tiếng Anh về kết quả hoạt động nhóm 72
Hình 3.8 Mai Phương tích cực phát biểu ý kiến 72
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Nguồn lực con người là nhân tố quyết định cơ bản trong các nguồn lực cần thiết cho sự phát triển của đất nước, đặc biệt trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế như hiện nay Do vậy, đào tạo con người của thời đại mới với đầy đủ NL và phẩm chất đáp ứng sự phát triển mạnh mẽ của
xã hội luôn là vấn đề quan trọng được ưu tiên hàng đầu của nền giáo dục Việt Nam Điều này đòi hỏi nền giáo dục nước ta phải có sự đổi mới căn bản và toàn diện, chuyển mạnh quá trình giáo dục từ chủ yếu trang bị kiến thức sang phát triển toàn diện NL và phẩm chất người học; học đi đôi với hành, lý luận gắn với thực tiễn Đề án “Đổi mới chương trình, SGK giáo dục phổ thông sau năm 2015” của Bộ GD & ĐT đã chỉ rõ các định hướng đổi mới chương trình, sách giáo khoa là: Tiếp cận theo hướng phát triển NL, xuất phát từ các NL mà mỗi
HS cần có trong cuộc sống như NL nhận thức, NL hành động, NL giải quyết vấn đề, NL sáng tạo, NL hợp tác, NL giao tiếp (tiếng mẹ đẻ và ngoại ngữ), NL công nghệ thông tin và truyền thông,… Theo dự kiến, từ năm 2018 – 2023 thì chương trình đổi mới sách giáo khoa ở cả ba cấp học sẽ lần lượt được thực hiện trên phạm vi toàn quốc Chính vì thế, phương pháp và hình thức tổ chức giáo dục cũng cần được đổi mới mạnh mẽ theo hướng phát triển phẩm chất và NL người học; tập trung dạy cách học và tự học, không nhồi nhét chạy theo khối lượng kiến thức nhằm phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo ở người học Thực trạng dạy học môn Vật lý ở các trường phổ thông hiện nay cho thấy, phần lớn GV đã và đang dạy học theo hướng phát triển NL của HS Kế hoạch dạy học thể hiện rất rõ các mục tiêu phát triển kỹ năng, NL Song, đa phần các
NL mà GV hướng tới cho HS là NL tự học, NL giải quyết vấn đề, NL hành động,…Riêng NL giao tiếp ngoại ngữ lại rất ít được chú trọng phát triển, hầu như chỉ được hình thành và phát triển thông qua môn Tiếng Anh Thực tế thì ngoài giờ học môn Tiếng Anh HS không được tiếp cận, giao tiếp bằng tiếng Anh nên việc giao tiếp bằng tiếng Anh của HS còn kém; GV chưa tiến hành
Trang 10lồng ghép tiếng Anh với nội dung môn học, cách đưa kiến thức vào chương trình học còn chưa sinh động, hấp dẫn và thực tế như của các nước phát triển Những năm học gần đây, Bộ GD & ĐT đã tiến hành thí điểm DHSN Việt - Anh môn Vật lý và các môn học tự nhiên khác, đây là một phương pháp dạy học giúp phát triển NLNN của HS trong suốt quá trình học tập Tuy nhiên dạy học Vật lý bằng song ngữ đã gặp rất nhiều khó khăn như thiếu GV, GV không đạt trình độ dạy song ngữ; GV chỉ đáp ứng được một yêu cầu, GV dạy môn Vật lý thì không giỏi tiếng Anh ngược lại GV giỏi tiếng Anh thì không dạy được Vật lý; quan trọng nhất là vốn từ của HS còn ít, đặc biệt là vốn từ Vật lý bằng tiếng Anh Ngoài ra còn có một số khó khăn nhất định khác như: cơ sở vật chất, nhận thức vai trò của tiếng Anh trong GV, phụ huynh và HS chưa cao
Hiện nay ở nước ta, mô hình dạy các môn tự nhiên bằng song ngữ đang được khuyến khích phát triển Một trong những môn học được ưu tiên thử nghiệm đó là Vật lý bởi hai lí do: thứ nhất, tiếng Anh là ngôn ngữ toàn cầu, ngôn ngữ phổ biến nhất để giao tiếp trên thế giới; thứ hai, Vật lý là môn khoa học TN, gắn kết một cách chặt chẽ với thực tế đời sống; là nền tảng cơ bản của khoa học công nghệ Nếu HS trau dồi được vốn từ vựng và kiến thức Vật lý bằng tiếng Anh thì đó sẽ là công cụ hữu hiệu trong việc tiếp cận với nền giáo dục quốc tế, khai thác thông tin, tiếp thu thành tựu khoa học kĩ thuật cao và học hỏi kinh nghiệm của các nước trên thế giới Học Vật lý (và các môn khác) bằng tiếng Anh là thực hiện nguyên tắc học ngoại ngữ “Learning English through usage” - học tiếng Anh qua sử dụng tiếng Cách học này nhằm khắc phục nhược điểm “học nhưng không sử dụng được” của một bộ phận lớn người học ở nước
ta, đưa tiếng Anh từ ngoại ngữ trở thành ngôn ngữ thứ hai Ngoài ra, học bằng song ngữ còn có rất nhiều lợi ích đối với sự phát triển của não bộ, giúp người học có trí nhớ tốt hơn, khả năng tập trung tốt hơn, biết cách loại bỏ những thông tin không liên quan ra ngoài bộ nhớ, có khả năng làm những bài kiểm tra về ngôn ngữ thứ nhất tốt hơn, và đặc biệt là đạt được độ thành thạo ở cả hai ngôn ngữ
Trang 11Với đề tài song ngữ, ở các khóa 12, 13 khoa Vật lý, trường ĐHSP – ĐHĐN cũng có một số tác giả nghiên cứu Tuy nhiên các nghiên cứu thiên về thiết kế các bài giảng điện tử bằng tiếng Anh hơn là lồng ghép tiếng Anh với các PPDH tích cực để hình thành kiến thức mới, tạo sự hứng thú, chủ động nhằm phát triển NLNN của HS trong toàn bộ quá trình học
Xuất phát từ tất cả những lí do trên, tôi quyết định lựa chọn đề tài: “Dạy
học song ngữ một số kiến thức chương “Dòng điện không đổi” Vật lý 11 nhằm phát triển năng lực ngoại ngữ cho học sinh” làm đề tài nghiên cứu của
mình
2 Mục tiêu nghiên cứu
Nghiên cứu, thiết kế tiến trình DHSN một số kiến thức chương “Dòng điện không đổi” chương trình Vật lý lớp 11 cơ bản để nâng cao NLNN cho HS trong quá trình học Từ đó góp phần nâng cao hiệu quả dạy học
3 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để thực hiện mục đích trên, nhiệm vụ nghiên cứu được đề ra như sau:
- Nghiên cứu cơ sở lý luận của đề tài: NL, NL giao tiếp, dạy học, DHSN
- Nghiên cứu nội dung, cấu trúc chương “Dòng điện không đổi” Vật lý 11
CB
- Xây dựng quy trình sử dụng song ngữ trong dạy học
- Thiết kế tiến trình DHSN một số kiến thức chương “Dòng điện không đổi” Vật lý 11 CB
- Xây dựng một số công cụ đánh giá NL của HS
- TNSP ở trường THPT để đánh giá tính khả thi và hiệu quả của các tiến trình dạy học đã thiết kế trong việc nâng cao NLNN cho HS
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Dạy học song ngữ một số kiến thức chương
“Dòng điện không đổi” Vật lý 11 CB
- Phạm vi nghiên cứu:
+ Nội dung: chương “Dòng điện không đổi”, Vật lý 11 CB
+ Đối tượng: HS lớp 11
Trang 125 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện đề tài này tôi sử dụng phối hợp các phương pháp sau:
5.1 Phương pháp nghiên cứu lý thuyết
Nghiên cứu tổng quan các tài liệu về NL, NL giao tiếp, các giáo trình Vật
lý, đặc biệt là các tài liệu về song ngữ và sử dụng song ngữ trong dạy học các môn tự nhiên làm cơ sở cho việc thiết kế và sử dụng song ngữ trong dạy học chương “Dòng điện không đổi”, Vật lý 11 THPT
Nghiên cứu cấu trúc, nội dung chương “Dòng điện không đổi”, Vật lý 11
CB
Nghiên cứu các luận văn, bài báo khoa học có liên quan đến đề tài
5.2 Phương pháp thực nghiệm sư phạm
TNSP ở trường phổ thông để đánh giá tính khả thi của việc áp dụng DHSN trong dạy học Vật lý chương “Dòng điện không đổi” nhằm phát triển NLNN cho HS
5.3 Phương pháp thống kê toán học
Sử dụng các phép thống kê để xử lí số liệu thu được trong TN
Lập bảng phân phối tần số, tần suất điểm kiểm tra, bảng xếp loại trình độ của HS của các lớp TN và ĐC, vẽ các đồ thị trực quan hóa các số liệu thu được Tính toán các tham số thống kê:
+ Trung bình cộng (𝑋̅): Đo độ trung bình của một tập hợp
𝑋̅ = 1
𝑛∑ 𝑋𝑖𝑛𝑖𝑘
𝑖=1
Trong đó: Xi là giá trị của từng điểm số nhất định
ni là số bài có điểm số đạt Xi n: tổng số bài làm
+ Phương sai (S2) và độ lệch chuẩn (S): là tham số đo mức độ phân tán của
số liệu quanh giá trị trung bình:
𝑆2 =∑𝑘𝑖=1𝑛𝑖(𝑋𝑖 − 𝑋̅)2
𝑛
Trang 13𝑆 = √𝑆2Giá trị S càng nhỏ chứng tỏ số liệu càng ít phân tán
+ Hệ số biến thiên V (%):
𝑉 = 𝑆𝑋̅100%
Nếu V < 30% thì độ dao động đáng tin cậy, giá trị của V nhỏ hơn thì trình độ HS đồng đều hơn
Nếu V > 30% thì độ dao động lớn, không đáng tin cậy
Các số liệu điều tra cơ bản được xử lí thống kê toán học bằng phần mềm Excel, tính số lượng, % số bài đạt các loại điểm và tổng số bài có điểm khá, giỏi làm cơ sở định lượng, đánh giá chất lượng lĩnh hội kiến thức Vật lý và hiệu quả của DHSN đối với việc nâng cao NLNN cho HS
Trang 14NỘI DUNG CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI
1.1 Năng lực
1.1.1 Khái niệm năng lực
NL hay khả năng, kĩ năng trong tiếng Việt có thể xem tương đương với các thuật ngữ “competence”, “ability”, “capability”,… trong tiếng Anh
Theo từ điển giáo khoa tiếng Việt: “NL là khả năng làm tốt công việc” Theo Howard Gardner (1999) thì “NL được quan niệm là sự kết hợp một cách linh hoạt và có tổ chức kiến thức, kỹ năng với thái độ, tình cảm, giá trị, động cơ cá nhân,… nhằm đáp ứng hiệu quả một yêu cầu phức hợp của hoạt động trong bối cảnh nhất định NL thể hiện sự vận dụng tổng hợp nhiều yếu tố (phẩm chất của người lao động, kiến thức và kỹ năng) được thể hiện thông qua các hoạt động của cá nhân nhằm thực hiện một loại công việc nào đó NL bao gồm các yếu tố cơ bản mà mọi người lao động, mọi công dân đều cần phải có,
OECD (Tổ chức các nước kinh tế phát triển) (2002) đã xác định “NL là khả năng cá nhân đáp ứng các yêu cầu phức hợp và thực hiện thành công nhiệm vụ trong một bối cảnh cụ thể” [6]
Ở Việt Nam, khái niệm NL cũng thu hút sự quan tâm của các nhà nghiên cứu Theo PGS.TS Trần Khánh Đức, trong “Nghiên cứu nhu cầu và xây dựng
mô hình đào tạo theo NL trong lĩnh vực giáo dục” đã nêu rõ NL là “khả năng tiếp nhận và vận dụng tổng hợp, có hiệu quả mọi tiềm năng của con người (tri thức, kĩ năng, thái độ, thể lực, niềm tin,…) để thực hiện công việc hoặc đối phó
Trang 15với một tình huống, trạng thái nào đó trong cuộc sống và lao động nghề nghiệp” Ở một nghiên cứu khác về PPDH tích hợp, Nguyễn Anh Tuấn (Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật TP Hồ Chí Minh) đã nêu một cách khá khái quát rằng NL là một thuộc tính tâm lí phức hợp, là điểm hội tụ của nhiều yếu tố như tri thức, kỹ năng, kĩ xảo, kinh nghiệm, sự sẵn sàng hành động và trách nhiệm [3]
Như vậy, NL có thể hiểu một cách ngắn gọn là khả năng vận dụng tất cả những tiềm năng của con người (có sẵn hoặc được hình thành qua học tập) để giải quyết các vấn đề trong học tập, công việc và cuộc sống
1.1.2 Cấu trúc của năng lực [15]
Để hình thành và phát triển NL cần xác định các thành phần và cấu trúc của chúng Có nhiều loại NL khác nhau Việc mô tả cấu trúc và các thành phần NL cũng khác nhau Cấu trúc chung của NL hành động được mô tả là sự kết hợp của 4 NL thành phần: NL chuyên môn, NL phương pháp, NL xã hội và NL cá thể
- NL chuyên môn (Professional competency): Là khả năng thực hiện các
nhiệm vụ chuyên môn cũng như khả năng đánh giá kết quả chuyên môn một cách độc lập, có phương pháp và chính xác về mặt chuyên môn Nó được tiếp nhận qua việc học nội dung – chuyên môn và chủ yếu gắn với khả năng nhận thức và tâm lý vận động
- NL phương pháp (Methodical competency): Là khả năng đối với những
hành động có kế hoạch, định hướng mục đích trong việc giải quyết các nhiệm
vụ và vấn đề NL phương pháp bao gồm NL phương pháp chung và phương pháp chuyên môn Trung tâm của phương pháp nhận thức là những khả năng tiếp nhận, xử lý, đánh giá, truyền thụ và trình bày tri thức Nó được tiếp nhận qua việc học phương pháp luận – giải quyết vấn đề
- NL xã hội (Social competency): Là khả năng đạt được mục đích trong
những tình huống giao tiếp ứng xử xã hội cũng như trong những nhiệm vụ khác nhau trong sự phối hợp chặt chẽ với những thành viên khác Nó được tiếp nhận qua việc học giao tiếp
Trang 16- NL cá thể (Induvidual competency): Là khả năng xác định, đánh giá được
những cơ hội phát triển cũng như những giới hạn của cá nhân, phát triển năng khiếu, xây dựng và thực hiện kế hoạch phát triển cá nhân, những quan điểm, chuẩn giá trị đạo đức và động cơ chi phối các thái độ và hành vi ứng xử Nó được tiếp nhận qua việc học cảm xúc – đạo đức và liên quan đến tư duy và hành động tự chịu trách nhiệm
Mô hình bốn thành phần NL trên phù hợp với bốn trụ cột giáo dục theo UNESCO:
Hình 1.1 Mô hình thành phần năng lực theo bốn trụ cột giáo dục UNESCO
Từ cấu trúc của khái niệm NL cho thấy giáo dục định hướng phát triển NL không chỉ nhằm mục tiêu phát triển NL chuyên môn bao gồm tri thức, kỹ năng chuyên môn mà còn phát triển NL phương pháp, NL xã hội và NL cá thể Những NL này không tách rời nhau mà có mối quan hệ chặt chẽ NL hành động được hình thành trên cơ sở có sự kết hợp các NL này
1.1.3 Phát triển năng lực cho học sinh trung học phổ thông
NL của HS là khả năng làm chủ những hệ thống kiến thức, kỹ năng, thái độ,… phù hợp với lứa tuổi và vận hành (kết nối) chúng một cách hợp lý vào thực hiện thành công nhiệm vụ học tập, giải quyết hiệu quả những vấn đề đặt
ra trong cuộc sống
Trang 17Trong Chương trình giáo dục phổ thông: chương trình tổng thể năm 2017 [2] đã nêu rõ đối với HS phổ thông Việt Nam cần phát triển một số phẩm chất,
NL cốt lõi như sau:
c) NL chuyên môn được hình thành, phát triển chủ yếu thông qua một số môn học và hoạt động giáo dục nhất định: NL ngôn ngữ, NL tính toán, NL tìm hiểu tự nhiên và xã hội, NL công nghệ, NL tin học, NL thẩm mỹ và NL thể chất
Bên cạnh việc hình thành, phát triển các NL cốt lõi, chương trình giáo dục phổ thông còn góp phần phát hiện, bồi dưỡng NL đặc biệt (năng khiếu) của HS
1.1.4 Các phương pháp đánh giá năng lực
Đặc trưng của đánh giá NL là sử dụng nhiều phương pháp khác nhau, tập trung đánh giá NL hành động, vận dụng thực tiễn, NL giải quyết vấn đề, NL tự học, NL giao tiếp, NL phát triển bản thân
Đánh giá NL người học theo một trong 2 cách sau:
- Cách 1: GV yêu cầu HS thực hiện một hoạt động trọn vẹn rồi đánh giá
NL qua mức độ thực hiện hoạt động đó
- Cách 2: Phân tích NL của chủ đề ra thành các kiến thức, kĩ năng rồi lựa chọn những kiến thức kĩ năng chủ yếu, trọng tâm để đánh giá
Trang 18Theo quan điểm phát triển NL, việc đánh giá kết quả học tập không lấy việc kiểm tra khả năng tái hiện kiến thức đã học làm trung tâm của việc đánh giá Đánh giá kết quả học tập theo NL cần chú trọng khả năng vận dụng sáng tạo tri thức trong những tình huống ứng dụng khác nhau Hay nói cách khác, đánh giá theo NL là đánh giá kiến thức, kỹ năng và thái độ trong bối cảnh có ý nghĩa Theo PGS.TS Nguyễn Công Khanh [5], đặc trưng của đánh giá NL là sử dụng nhiều phương pháp đánh giá khác nhau Phương pháp đánh giá càng đa dạng thì mức độ chính xác càng cao vì phản ánh khách quan tốt hơn Vì vậy, trong đánh giá NL ngoài phương pháp đánh giá truyền thống như đánh giá chuyên gia (GV đánh giá HS), đánh giá định kì bằng bài kiểm tra thì GV cần chú ý các hình thức đánh giá không truyền thống như:
- Đánh giá bằng quan sát
- Đánh giá bằng phỏng vấn sâu (vấn đáp)
- Đánh giá bằng hồ sơ học tập
- Đánh giá bằng sản phẩm học tập (powerpoint, tập san,…)
- Đánh giá bằng phiếu hỏi HS
Tuy nhiên tất cả các phương pháp đánh giá trên đều có yêu cầu phải chú trọng đánh giá khả năng vận dụng kiến thức để giải quyết các tình huống trong học tập, tình huống trong thực tế và chú trọng việc sáng tạo kiến thức của HS
1.2 Năng lực giao tiếp
1.2.1 Khái niệm năng lực giao tiếp
Mặc dù NL giao tiếp luôn là mục tiêu cơ bản của các chương trình DHSN hiện nay, song nó vẫn chưa được hiểu và lý giải một cách thống nhất
Khái niệm về NL giao tiếp lần đầu được xuất hiện trong những năm 1970 khi nhà ngôn ngữ học Hymes phân biệt hai loại NL: “NL ngữ pháp” và “NL sử dụng” Theo Hymes, “NL sử dụng” là khả năng vận dụng các “NL ngữ pháp” nhằm đảm bảo các phát ngôn phù hợp với các tình huống cụ thể Từ đó, khái niệm “NL giao tiếp” được hình thành để chỉ việc sử dụng hiệu quả ngôn ngữ trong một tình huống xã hội cụ thể [13]
Trang 19Widdowson có cùng quan điểm với Hymes về NL giao tiếp Theo ông, NL giao tiếp của người nói bao gồm cả sự hiểu biết về hệ thống các quy tắc ngữ pháp để tạo ra những câu đúng lẫn sự hiểu biết về những quy tắc mà tạo cho người nói có khả năng sử dụng chúng một cách phù hợp để thực hiện những hành vi tu từ phong cách trong những tình huống giao tiếp xã hội nhất định [8] Dưới góc nhìn ngôn ngữ học của mình, Beautier – Casting lại cho rằng NL giao tiếp là “NL vốn có của người nói để hiểu một tình huống trao đổi ngôn ngữ và trả lời một cách thích hợp, bằng ngôn ngữ hay không bằng ngôn ngữ Hiểu ở đây đồng nghĩa với việc đối chiếu một ngữ nghĩa không chỉ dưới hình thức quy chiếu, nghĩa học, nội dung của thông điệp, mà còn rất có thể là một hành vi, hoạt động tại lời và bởi lời có chủ đích” [13]
Tóm lại, có thể hiểu một cách ngắn gọn NL giao tiếp là khả năng vận dụng một cách hiệu quả ngôn ngữ để hiểu và trao đổi thông tin trong một tình huống
cụ thể
1.2.2 Cấu trúc của năng lực giao tiếp
Việc phân định các thành phần khác nhau của NL giao tiếp cũng rất đa dạng
ở các tác giả khác nhau
Theo Daniel Coste, NL giao tiếp bao gồm bốn thành phần:
- Thành phần làm chủ ngôn ngữ: gồm các kiến thức ngôn ngữ, các kỹ năng liên quan đến sự vận hành của ngôn ngữ với tư cách là một hệ thống cho phép thực hiện các phát ngôn
- Thành phần làm chủ văn bản: gồm các kiến thức ngôn ngữ, kỹ năng liên quan đến diễn ngôn, các thông điệp với tư cách là một chuỗi tổ chức phát ngôn
- Thành phần làm chủ các yếu tố về phong tục: gồm các kiến thức, kỹ năng liên quan đến tập quán, chiến lược, cách điều chỉnh trong trao đổi liên nhân theo đúng địa vị, vai vế và ý định của những người tham gia giao tiếp
- Thành phần làm chủ tình huống: bao gồm các kiến thức và kỹ năng liên quan đến các yếu tố khác nhau có thể ảnh hưởng đến cộng đồng và sự lựa chọn của người sử dụng ngôn ngữ trong một hoàn cảnh cụ thể
Trang 20Tuy nhiên, thiên về góc độ nội lực cá nhân cần vận dụng trong giao tiếp, A Abbou đã đề xuất cấu trúc năm yếu tố của NL giao tiếp, bao gồm: NL ngôn ngữ, NL văn hóa - xã hội, NL logic, NL lập luận và ký hiệu học Cụ thể như sau:
- NL ngôn ngữ, Abbou cho rằng nó bao gồm các NL bẩm sinh và khả năng
sử dụng ngôn ngữ mà chủ thể người nói có được để tiếp nhận và diễn đạt các phát ngôn của người khác và đưa ra các phát ngôn để người khác có thể tiếp nhận và diễn đạt lại được Như vậy, NL này bao gồm các mặt thuần túy ngôn ngữ, diễn ngôn (chuyển từ câu sang lời nói) và các tình thái (tu từ) NL này được thể hiện dưới nhiều cấp độ, tức là theo số lượng và sự phức tạp của các phát ngôn và các mẫu được tiếp nhận và phát ra
- NL văn hóa - xã hội bao gồm các NL bẩm sinh và khả năng sử dụng ngôn ngữ mà chủ thể người nói có được để kết nối các tình huống, sự kiện, hành vi, ứng xử với các mã hóa xã hội và hệ quy chiếu (hệ thống các quan niệm điều chỉnh việc tổ chức các tập quán về khoa học và xã hội) Giống như NL ngôn ngữ, năng lực này cũng được hình thành theo từng cấp độ
- NL logic chỉ các NL bẩm sinh và khả năng để tạo ra tập hợp các diễn ngôn có thể diễn đạt được, liên kết với các biểu trưng và phạm trù thực tế và phân biệt các cơ sở khái niệm, các phương thức nối kết và bước cụ thể để đảm bảo diễn ngôn được thống nhất, tiến triển và có hiệu lực
- NL lập luận bao gồm các NL bẩm sinh và khả năng cho phép tạo ra các thao tác diễn ngôn theo mối quan hệ giữa cá nhân với tổ chức, với tình huống, với nhu cầu, với dự định mang tính chiến lược và chiến thuật
- Cuối cùng là NL tín hiệu học bao gồm các NL bẩm sinh và khả năng giúp
cá nhân có được các phương tiện tiếp nhận các đặc tính võ đoán, đa hệ thống
và nhất là dễ thay đổi của tín hiệu diễn tả mang tính xã hội và các diễn đạt bằng ngôn ngữ Đặc biệt, NL này được cụ thể hóa bằng việc hiểu và thực hành các thao tác diễn đạt, giữ và tái hiện nghĩa hoặc là để phù hợp với thực tế hoặc là khi tưởng tượng có sử dụng ngôn ngữ để thể hiện được các dấu hiệu ảo ảnh hoặc ý muốn
Trang 21Cũng cùng quan điểm cấu trúc năm yếu tố, nhưng H Boyer lại tổ chức theo một hướng nhìn khác Theo học giả này, năm yếu tố đó bao gồm:
- NL về tín hiệu hay tín hiệu ngôn ngữ
- NL về quy chiếu
- NL về diễn ngôn – văn bản
- NL xã hội dụng học
- NL về tính bản sắc xã hội văn hóa
Như vậy, theo quan điểm này, tất cả các yếu tố cấu thành NL giao tiếp thể hiện tương đối hoàn chỉnh các yếu tố ảnh hưởng đến việc nắm bắt ngôn ngữ của một người dùng ngôn ngữ nói chung chứ không phải trên quan điểm của người học một ngôn ngữ [13]
Cuối cùng, các tác giả của Khung quy chiếu chung các ngôn ngữ châu Âu đưa ra quan điểm hợp lý hơn với cấu trúc ba yếu tố của NL giao tiếp, bao gồm:
NL ngôn ngữ, NL xã hội ngôn ngữ và NL dụng học
Hình 1.2 Cấu trúc của năng lực giao tiếp
1.3 Dạy học và dạy học song ngữ
1.3.1 Khái niệm dạy học [4]
Theo Newcomb, McCracken và Wormbord (1986) thì “Dạy là một quá trình chỉ đạo và hướng dẫn quá trình học để người học đạt được những kiến
NL tiếp nhận
Trang 22thức, kỹ năng hay thái độ mới; tăng cường lòng nhiệt tình của họ và phát triển hơn nữa các kỹ năng hiện có” Khi đưa ra định nghĩa về quá trình dạy học, các tác giả nhấn mạnh đến vai trò của người thầy trong quá trình dạy và học Brown và Atkins cho rằng “Dạy có thể là và nhìn chung là một nhiệm vụ đầy khó khăn, đòi hỏi khả năng trí tuệ, những thách thức về mặt xã hội, bao gồm tập hợp các kỹ năng có thể được hình thành, củng cố và nâng cao, ở người dạy nhằm cung cấp các cơ hội, điều kiện thuận lợi cho quá trình học”
Do vậy, để tiến hành được một hoạt động dạy, người dạy cần phải có một sự chuẩn bị, đầu tư rất lớn không chỉ về mặt kiến thức chuyên môn mà còn chú trọng đến các kỹ năng cụ thể; có khả năng đối phó với những khó khăn; có sự cam kết về mặt xã hội,
Bruner (1966) cho rằng: “Dạy là một sự nỗ lực để giúp đỡ hay tạo ra sự phát triển ở người học” Sự phát triển ở đây bao gồm cả về thể chất lẫn tình thần, về thái độ lẫn hành vi, về kiến thức lẫn kỹ năng,
Theo cách tiếp cận thông tin, GS TSKH Lâm Quang Thiệp quan niệm “Dạy
là việc giúp cho người học tự mình chiếm lĩnh những kiến thức, kỹ năng và hình thành hoặc thay đổi những tình cảm, thái độ” Theo quan niệm này, dạy không phải là truyền thụ kiến thức một chiều, càng không phải cung cấp thông tin đơn thuần, mà chủ yếu là giúp cho người học tự mình chiếm lĩnh kiến thức,
kỹ năng, bồi dưỡng cảm xúc và hình thành thái độ
Từ việc phân tích các định nghĩa nêu trên, thì dạy là một hoạt động đặc trưng của người dạy nhằm tổ chức, điều khiển, tạo ra nhiều điều kiện và cơ hội cho quá trình học diễn ra một cách thuận lợi và đạt mục đích Hoạt động dạy không có nghĩa là người dạy rót những kiến thức sẵn có của mình vào đầu người học, mà phải tổ chức, sắp xếp các điều kiện, tạo ra các cơ hội thuận lợi và điều khiển, kiểm soát quá trình học nhằm làm tăng thêm lượng kiến thức, kỹ năng
và thay đổi thái độ, cách đánh giá hiện có của người học Kết quả cuối cùng của quá trình dạy là tạo điều kiện và thúc đẩy quá trình học diễn ra trong một môi trường thuận lợi nhất Hoạt động dạy là tạo ra những quy trình, thao tác chỉ đạo hoạt động học nhằm hình thành ở người học các nhu cầu thường xuyên
Trang 23học tập, tìm tòi tri thức, rèn luyện kỹ năng, kích thích NL tư duy sáng tạo Hoạt động dạy định hướng cho người học trong việc tìm tòi, đào sâu kiến thức từ lượng thông tin phong phú và rộng lớn của xã hội; hình thành thói quen tự kiểm tra, đánh giá hoạt động học của mình Hay nói khác hơn, dạy học là một quá trình tổ chức, điều khiển hoạt động học nhằm hình thành cho họ có thái độ, NL, phương pháp học tập và ý chí học tập để họ tự khai phá những tri thức phong phú của nhân loại Điều đó cũng có nghĩa: dạy là dạy cách học, cách tiếp nhận
và xử lý thông tin, vận dụng chúng vào việc giải quyết các vấn đề trong cuộc sống
1.3.2 Khái niệm dạy học song ngữ
Vào đầu thế kỷ 21, sự thành thạo chỉ trong một ngôn ngữ là không đủ, đòi hỏi con người của thời đại mới phải có khả năng hoạt động bằng nhiều thứ tiếng
Trong từ điển tiếng Ý của Garzanti (1965), định nghĩa về song ngữ là: “Khả
năng của một cá nhân hoặc một cộng đồng sử dụng hai ngôn ngữ một cách tự nhiên” [9]
“Song ngữ là khả năng sử dụng nhiều ngôn ngữ để giao tiếp, tham gia vào các hoạt động liên văn hóa, thành thạo 2 ngôn ngữ trở lên ở nhiều mức độ khác
nhau và trải nghiệm nhiều nên văn hóa” [16]
Giáo dục song ngữ (Bilingual Education) hiểu theo nghĩa chung nhất là sử dụng hai hoặc hơn hai ngôn ngữ trong học tập Giáo dục song ngữ - là dạy tất
cả các môn học ở trường bằng hai ngôn ngữ khác nhau Tuy nhiên, ngày nay giáo dục song ngữ được sử dụng với nhiều nghĩa rất khác nhau, là một tên gọi đơn giản của một hiện tượng phức tạp Đặc điểm cơ bản của những khác nhau
đó là sự khác biệt của nhu cầu giữa việc giáo dục với mục đích phát huy hai ngôn ngữ hay là giáo dục đơn ngữ cho HS thuộc nhóm cộng đồng thiểu số hoặc học ngôn ngữ thứ hai Mackey (1970) là người đầu tiên đưa ra sự phân loại giáo dục song ngữ Theo phân loại này có tới 90 hình thức giáo dục song ngữ khác nhau: ngôn ngữ ở nhà, ngôn ngữ trong chương trình, ngôn ngữ cộng đồng theo địa điểm của nhà trường, hiện trạng ngôn ngữ vùng và ngôn ngữ quốc tế
Trang 24Theo Duverger (2009), “Một quá trình dạy học gọi là song ngữ khi hai ngôn ngữ là hiện diện một cách chính thức, được cấu trúc hóa, tồn tại một cách song song để giao tiếp và nhất là để học” Ngôn ngữ thứ nhất là ngôn ngữ quốc gia được sử dụng trong hành chính và trong giảng dạy Ngôn ngữ thứ nhất có thể không phải là tiếng mẹ đẻ của một số HS Ngôn ngữ thứ hai thường được gọi
là tiếng nước ngoài (ngoại ngữ) có thể ở những cấp độ khác nhau: ngôn ngữ thứ hai ở một số quốc gia như Bỉ, Ca na đa hay Ca-mơ-run
Johnstones (2010) cho rằng DHSN được hiểu là việc sử dụng tiếng Anh cùng tiếng mẹ đẻ hoặc ngôn ngữ quốc gia để giảng dạy trong nhà trường nhằm mục đích “tiếp thu kiến thức, học các môn trong chương trình giáo dục, phát triển kỹ năng, hình thành thái độ, phát triển bản thân theo nhiều cách không hoàn toàn chỉ là ngôn ngữ” [7]
Như vậy, có thể hiểu một cách đơn giản DHSN là sử dụng ngôn ngữ mẹ đẻ
và ngôn ngữ thứ hai làm phương tiện giảng dạy
1.3.3 Đặc điểm của dạy học song ngữ
Song ngữ là nghiên cứu về các ngôn ngữ giao tiếp Song ngữ được phân tích thành bốn mức: mức độ cá nhân, gia đình, xã hội và trường học Giáo dục song ngữ là song ngữ ở cấp trường [14]
Đặc trưng cơ bản của DHSN là ngôn ngữ thứ hai tồn tại song song với ngôn ngữ thứ nhất (ngôn ngữ mẹ đẻ) như là một ngôn ngữ và công cụ học tập [7] Mục tiêu của DHSN là để cho người học nắm vững kiến thức chuyên môn, tăng cường khả năng sử dụng đồng thời tiếng mẹ đẻ và ngôn ngữ thứ hai Giáo dục song ngữ cung cấp các nơi thực hành tiếng Anh, và vai trò chính của nó là tăng cường khả năng tiếng Anh của HS, như là khả năng đọc, nghe
và viết Do đó, giáo dục song ngữ chắc chắn sẽ nâng cao hiệu quả của việc học tiếng Anh, đào tạo ra các chuyên gia giỏi cả hai ngôn ngữ
1.3.4 Các mức độ của dạy học song ngữ
DHSN đã trở thành một trong những xu thế dạy và học ngoại ngữ chủ đạo của các nước trên thế giới Mô hình DHSN hiện nay về cơ bản thuộc “chế độ chuyển tiếp” [10] Ở Việt Nam, để từng bước hình thành việc sử dụng tiếng
Trang 25Anh trong học tập của HS, hướng đến phát triển lâu dài và bền vững, việc giảng dạy song ngữ Việt - Anh có thể thực hiện nâng dần theo các mức độ sử dụng tiếng Anh trong giảng dạy như sau:
- Cấp độ 1: GV dạy trên lớp sử dụng tiếng Việt là chủ yếu, giao bài tập về nhà, bài tập nhóm để HS thực hành bằng tiếng Anh, GV chữa bài tập bằng tiếng Anh (Đối với GV không thông thạo tiếng Anh, HS dùng sách để nghiên cứu, tham khảo, bổ sung thêm khiến thức về toán, khoa học)
- Cấp độ 2: GV giảng dạy trên lớp sử dụng tiếng Anh là chủ yếu, chữa bài tập bằng tiếng Anh, HS trao đổi bằng tiếng Anh (Đối với GV có thể sử dụng được tiếng Anh thì dùng như tài liệu bổ trợ để giảng dạy một số khái niệm cho
HS, giải thích bằng tiếng Anh để giúp HS tiếp cận, hiểu và vận dụng được các thuật ngữ liên quan đến toán và các môn khoa học bằng tiếng Anh)
- Cấp độ 3: Bước cao nhất là tổ chức dạy học hoàn toàn bằng tiếng Anh (Nếu GV có trình độ đạt chuẩn thì dùng sách giáo khoa để dạy các môn Toán, Khoa học một phần hoặc toàn bộ bằng tiếng Anh giúp HS tiếp cận với chương trình phổ thông quốc tế, đọc được sách, tài liệu của nước ngoài bằng tiếng Anh) [1]
1.3.5 Lợi ích của dạy học song ngữ Việt – Anh
Cùng với sự toàn cầu hóa nền kinh tế thế giới, văn hoá và công nghệ, trao đổi quốc tế đang ngày càng sâu rộng Tiếng Anh trở thành ngôn ngữ được sử dụng rộng rãi trên thế giới Việc sử dụng thành thạo hai ngôn ngữ (tiếng Việt
và tiếng Anh) mang lại những lợi ích không hề nhỏ:
- Lợi ích về khía cạnh ngôn ngữ: ngôn ngữ thứ hai sẽ được học tốt hơn Đây là một lí do được nhiều nhà nghiên cứu thống nhất Thậm chí cũng chính
vì lí do này mà chương trình DHSN đã được xây dựng và thiết lập Hơn nữa DHSN cũng có lợi ích cho việc học ngôn ngữ thứ nhất
- Lợi ích về khía cạnh văn hóa: việc học song ngữ, cũng như học ngoại ngữ là một cơ hội tốt để làm quen với một nền văn hóa khác cũng như là một
cơ hội tốt để cứu các ngôn ngữ có nguy cơ biến mất
- Lợi ích về kinh tế và xã hội: việc học song ngữ sẽ giúp phát triển cơ hội
Trang 26phát triển và chuyển dịch nghề nghiệp và có thể dẫn đến những cơ hội nghề nghiệp tốt
- Lợi ích phát triển nhận thức: phát triển NL liên ngành, trí tuệ, tăng cường khả năng học tập, NL viết, đọc hiểu [7]
Ngoài ra, còn rất nhiều lợi ích đối với sự phát triển của não bộ Như là:
- Gia tăng khả năng xử lí của hệ thần kinh: điều này có nghĩa rằng con người có thể đảm đương nhiều nhiệm vụ cùng lúc và hoàn thành công việc một cách nhanh chóng Khả năng này giúp mở ra nhiều hướng suy nghĩ và khả năng giải quyết vấn đề tốt hơn
- Kiểm soát xử lí thông tin tốt hơn: những người sử dụng hai ngôn ngữ có thể chọn lọc được thông tin liên quan đến nhau từ những thông tin không liên quan tốt hơn Điều này có nghĩa rằng họ có khả năng tập trung cao hơn và là những người có khả năng suy nghĩ và đưa ra quyết định hiệu quả hơn
- Cải thiện trí nhớ: điều này cho phép con người làm việc với một lượng thông tin lớn hơn giúp họ mở rộng hiểu biết và kiến thức căn bản
- Gia tăng sự linh hoạt trí óc: điều này có nghĩa rằng con người có thể nhìn thấy rộng hơn nhiều mảng thông tin và nhìn thế giới từ nhiều góc độ khác nhau
- Nhận thức ngôn ngữ tốt hơn: khả năng này hỗ trợ sự cảm nhận tốt hơn trong giao tiếp cá nhân
- Cải thiện sức khỏe của trí óc: bằng chứng khoa học chứng minh rằng sử dụng hai ngôn ngữ làm chậm sự suy giảm của trí óc trong vòng từ 2 đến 4 năm [12]
Tóm lại, DHSN là một cách tiếp cận giáo dục không chỉ cho phép người học làm chủ các tài liệu nội dung học tập, trở nên thông thạo hai ngôn ngữ - một kỹ năng ngày càng có giá trị vào đầu thế kỷ XXI, mà còn tăng cường sức khỏe tinh thần và NL, nâng cao thành tích học tập và củng cố năng khiếu xã hội
Trang 27CHƯƠNG 2: THIẾT KẾ TIẾN TRÌNH DẠY HỌC SONG NGỮ MỘT SỐ NỘI DUNG KIẾN THỨC CHƯƠNG “DÒNG
ĐIỆN KHÔNG ĐỔI” VẬT LÝ 11 CƠ BẢN 2.1 Phân tích cấu trúc, nội dung chương “Dòng điện không đổi” Vật
lý 11 CB
2.1.1 Đặc điểm của chương
Chương “Dòng điện không đổi” là chương thứ hai trong chương trình Vật
lý 11 CB.Chương này gồm 13 tiết được phân phối như sau:
Tổng số tiết Lý thuyết Thực hành Bài tập, ôn tập Kiểm tra
Tiết 17 Định luật Ôm đối với toàn mạch (Mục I Thí nghiệm: không dạy
Mục II Định luật Ôm đối với toàn mạch: Chỉ cần nêu công thức (9.5) và kết luận)
Tiết 18 Bài tập
Tiết 19 Đoạn mạch chứa nguồn điện Ghép các nguồn điện thành bộ
( Mục I Đoạn mạch chứa nguồn điện( nguồn phát điện) và mục II.3: Bộ nguồn hỗn hợp đối xứng: đọc thêm)
Tiết 20 Phương pháp giải một số bài toán về mạch điện
Tiết 21 Bài tập
Tiết 22 Thực hành: Xác định suất điện động và điện trở trong của một pin
điện hóa Tiết 23 Ôn tập
Tiết 24 Kiểm tra 1 tiết
Bảng 2.1 Phân phối chương “Dòng điện không đổi” Vật lý 11 CB
Trang 28Nhìn chung, các kiến thức của chương được xây dựng trên cơ sở kế thừa và phát triển từ chương trình Vật lý trung học cơ sở Các khái niệm về dòng điện, cường độ dòng điện, nguồn điện, điện năng tiêu thụ, công suất điện…; các định luật: định luật Ohm đối với đoạn mạch chỉ chứa điện trở thuần, định luật Joule
- Lentz HS đã được học ở chương trình Vật lý lớp 7 và lớp 9 nhưng ở mức độ nhận thức đơn giản, chưa yêu cầu cao về kiến thức cũng như kỹ năng cần đạt Tuy nhiên đó cũng là những kiến thức nền, giúp HS có thể học tốt chương
“Dòng điện không đổi” ở chương trình Vật lý 11 Ở chương này, các kiến thức nêu trên được mở rộng, nâng cao hơn, đặt ra những yêu cầu cao hơn về kiến thức cũng như kĩ năng, thái độ của HS như các kiến thức về định luật Ohm đối với toàn mạch, mắc nguồn điện thành bộ, kĩ năng vận dụng được định luật Ohm
để giải các bài tập về đoạn mạch có chứa nguồn điện,…
Đây là chương nối tiếp kiến thức chương “Điện tích – Điện trường”, đồng thời là nền tảng để nghiên cứu các phần khác trong chương trình Vật lý phổ thông như: dòng điện trong các môi trường, từ trường, dòng điện xoay chiều Phần lớn các kiến thức của chương rất gần gũi và có nhiều ứng dụng trong đời sống và kỹ thuật Dòng điện một chiều có thể dùng để thắp sáng, các nguồn điện một chiều cũng được sử dụng rộng rãi Trong các trường hợp dùng đến dòng điện không đổi ở hiệu điện thế nhỏ, nguồn điện đóng vai trò quan trọng, chẳng hạn đèn pin cầm tay, trên ô tô, xe máy… đều dùng các bình acquy để thực hiện việc “đề máy”, thắp sáng hệ thống đèn chiếu sáng, đèn tín hiệu Điện năng có thể dễ dàng chuyển hóa thành các dạng năng lượng khác Đó là một đặc tính có tầm quan trọng đặc biệt, nhờ đó năng lượng điện được sử dụng rộng rãi trong đời sống và kỹ thuật Các mạch điện dùng trong thực tế là tương đối phức tạp, hầu hết các thiết bị điện đều có sự chuyển hóa năng lượng điện thành nhiều dạng năng lượng khác nhau Kiến thức về định luật Ohm cho mạch kín
và cho các loại đoạn mạch giúp ta tính chính xác khi thiết kế và lắp ráp mạch điện Việc sử dụng các nguồn điện thích hợp và mắc chúng thành bộ một cách hợp lí sẽ nâng cao được hiệu suất sử dụng
Trang 29Hệ thống bài tập của chương rất đa dạng và phong phú, phù hợp với những trình độ khác nhau của HS
2.1.2 Sơ đồ kiến thức chương
Căn cứ vào nội dung chương trình và sự phân bố kiến thức trong SGK, có thể xây dựng sơ đồ logic kiến thức chương này như sau:
Hình 2.1 Sơ đồ kiến thức chương “Dòng điện không đổi” Vật lý 11 CB
2.1.3 Chuẩn kiến thức, kỹ năng của chương
a) Dòng điện Dòng điện
không đổi
b) Nguồn điện Suất điện
động của nguồn điện
Pin, acquy
Kiến thức
- Trình bày được khái niệm dòng điện không đổi
- Trình bày được khái niệm suất điện động của nguồn điện
- Trình bày được cấu tạo chung của các nguồn điện hoá học (pin, acquy)
- Viết được công thức tính công của nguồn điện:
Ang = Eq = EIt
Trang 30c) Công suất của nguồn
- Viết được công thức tính suất điện động và điện
trở trong của bộ nguồn mắc nối tiếp, mắc song song
Kỹ năng
- Vận dụng được hệ thức I = E
RN+r hoặc U = E – Ir
để giải các bài tập đối với toàn mạch, trong đó
mạch ngoài gồm nhiều nhất là ba điện trở
- Vận dụng được công thức Ang = EIt và Png = EI
- Tính được hiệu suất của nguồn điện
- Nhận biết được trên sơ đồ và trong thực tế, bộ nguồn mắc nối tiếp hoặc mắc song song
- Tính được suất điện động và điện trở trong của các loại bộ nguồn mắc nối tiếp hoặc mắc song
song
- Tiến hành được thí nghiệm đo suất điện động và xác định điện trở trong của một pin
2.1.4 Mục tiêu dạy học khi áp dụng dạy học song ngữ
Ngoài những mục tiêu cần đạt về chuẩn kiến thức, kỹ năng của chương
“Dòng điện không đổi” thì một số mục tiêu dạy học khi áp dụng DHSN được
bổ sung như sau: Đối với một bài học:
- Đọc, viết được các từ vựng chuyên ngành bằng tiếng Anh
- Đọc hiểu đề bài tập hoàn toàn bằng tiếng Anh và giải được bằng tiếng Anh
- Nghe hiểu các đoạn phim, video tiếng Anh sử dụng trong tiết học
- Phát âm chuẩn các từ vựng đã học
Trang 31- Vận dụng được các từ vựng và cấu trúc câu để trả lời
2.2 Quy trình sử dụng song ngữ trong dạy học
Hình 2.2 Quy trình sử dụng song ngữ trong dạy học
*Giải thích quy trình:
Bước 1: Lựa chọn mức độ dạy học song ngữ phù hợp
DHSN bao gồm 3 cấp độ giảng dạy:
- Cấp độ 1: GV dạy trên lớp sử dụng tiếng Việt là chủ yếu, giao bài tập về nhà, bài tập nhóm để HS thực hành bằng tiếng Anh, GV chữa bài tập bằng tiếng Anh
- Cấp độ 2: GV giảng dạy trên lớp sử dụng tiếng Anh là chủ yếu, chữa bài tập bằng tiếng Anh, HS trao đổi bằng tiếng Anh
- Cấp độ 3: Tổ chức dạy học hoàn toàn bằng tiếng Anh
Khó khăn lớn nhất khi áp dụng DHSN là sự không đồng đều về trình độ tiếng Anh giữa các HS trong cùng một lớp học hoặc giữa các lớp học với nhau
Sự lựa chọn cấp độ DHSN không chính xác sẽ làm giảm hiệu quả tiếp thu bài của HS, giảm hứng thú học tập và làm cho HS cảm thấy nặng nề với chương trình học Do vậy, việc lựa chọn cấp độ DHSN phù hợp với đối tượng dạy học
là rất quan trọng Đối với một lớp học mà mặt bằng chung về khả năng tiếng Anh của lớp ở mức độ thấp thì cấp độ song ngữ phù hợp là cấp độ 1, còn đối với lớp khá về trình độ tiếng Anh thì có thể áp dụng cấp độ 2, hơn nữa là cấp
độ 3
2 Nghiên cứu nội dung bài học và xác định mục tiêu dạy học
4 Lựa chọn các phương pháp dạy học phù hợp để xây dựng các hoạt động dạy học song ngữ tương ứng
3 Xây dựng hệ thống câu hỏi, bài tập bằng tiếng Anh
1 Lựa chọn mức độ dạy học song ngữ phù hợp
Trang 32Bước 2: Nghiên cứu nội dung bài và xác định mục tiêu dạy học
Nhiệm vụ của quá trình học tập được cụ thể hóa thành mục tiêu của từng chương, từng bài trong chương trình học Mục tiêu là cái đích đạt tới sau mỗi bài học, mỗi phần, mỗi chương do người dạy đặt ra để định hoạt động dạy học Cần phải phân tích mục tiêu để xác định nhiệm vụ nhận thức cho HS ở mỗi bài học Mục tiêu dạy học đó bao gồm: kiến thức, kỹ năng và thái độ Do vậy, trước khi sử dụng song ngữ trong dạy học, người dạy cần xác định mục tiêu cần đạt được sau khi áp dụng DHSN Khi xác định đúng mục tiêu dạy học sẽ định hướng được nội dung, phương pháp và hình thức tổ chức dạy học được hiệu quả
Bước 3: Xây dựng hệ thống từ vựng, cấu trúc, câu hỏi và bài tập tiếng Anh
Mục đích cuối cùng của DHSN là nhằm phát triển NLNN cho HS, bao gồm các kỹ năng nghe, nói, đọc, viết Do đó, trước hết cần phải xây dựng một hệ thống từ vựng, cấu trúc tiếng Anh sử dụng trong bài học Từ vựng và cấu trúc nên giao cho HS nghiên cứu trước khi tiến hành dạy học Tiếp theo, nên xây dựng hệ thống câu hỏi, bài tập liên quan đến nội dung bài học nhưng được biên soạn bằng tiếng Anh Hệ thống câu hỏi, bài tập này được sử dụng xuyên suốt trong quá trình dạy học, tạo điều kiện cho HS nghiên cứu, thực hành, trao đổi, giao tiếp, từ đó giúp phát triển các kỹ năng ngoại ngữ cần thiết Hệ thống câu hỏi, bài tập cần phải được xây dựng một cách phong phú, đa dạng Có thể áp dụng các dạng bài tập như trắc nghiệm, tự luận, điền khuyết, nối, trò chơi ô chữ, tìm chữ,…để kích thích hứng thú, tò mò, ham học hỏi của HS, giúp cho hiệu quả dạy học được nâng cao
Bước 4: Lựa chọn các PPDH phù hợp để xây dựng các hoạt động dạy học song ngữ tương ứng
Tổ chức DHSN đơn thuần là dạy học sử dụng lồng ghép tiếng Việt và tiếng Anh làm phương tiện dạy học, vận dụng có hiệu quả hệ thống câu hỏi, bài tập tiếng Anh đã xây dựng trong suốt quá trình học Tuy nhiên, để tiết học trở nên sinh động, hấp dẫn và hiệu quả thì người dạy nên lựa chọn các PPDH phù hợp,
Trang 33đặc biệt là các PPDH tích cực để xây dựng các hoạt động DHSN tương ứng Điều này không chỉ kích thích hứng thú học tập, tính chủ động mà còn giúp người học phát triển các NL cần thiết khác thông qua các phương pháp dạy như
- Trình bày được điều kiện để có dòng điện
- Trình bày được khái niệm suất điện động của nguồn điện
- Có ý thức vận dụng kiến thức đã học vào đời sống
- Có ý thức tự tìm hiểu, dịch thuật sách, báo, tài liệu bằng tiếng Anh
4 Năng lực ngoại ngữ
- Nắm được một số từ vựng, cấu trúc sử dụng trong bài học
- Đọc hiểu tài liệu, bài tập
- Nghe hiểu video về dòng điện
- Vận dụng được các từ vựng và cấu trúc câu để thực hiện các nhiệm vụ học tập
Trang 34- Ôn lại các kiến thức về dòng điện đã học ở THCS
- Học từ vựng, cấu trúc đã được cung cấp trước tiết học
- Chuẩn bị bài mới
3 Phương pháp dạy học
Phương pháp nhóm kết hợp với trực quan hóa và trò chơi
III Tổ chức hoạt động dạy
*Hoạt động 1: Đặt vấn đề
Hoạt động của GV Hoạt động của HS Từ vựng, cấu trúc
- HS quan sát video về
dòng điện và đặt vấn đề: Các
thiết bị điện trong gia đình
như tivi, quạt, tủ lạnh,…đều
hoạt động nhờ có nguồn điện
cung cấp dòng điện Vậy tại
sao nguồn điện có thể tạo ra
dòng điện chạy khá lâu trong
mạch như vậy? Và dòng
điện không đổi là gì? Bài
học hôm nay sẽ giúp chúng
- Electric current: dòng điện
- Power supply: nguồn điện
- Steady current: dòng điện không đổi
Trang 35*Hoạt động 2: Nhắc lại kiến thức về dòng điện
*Hoạt động 3: Tìm hiểu về cường độ dòng điện Dòng điện không đổi
Hoạt động của GV Hoạt động của HS Từ vựng, cấu trúc
- GV hỏi đáp nhanh về từ
vựng
- Chiếu slide có sẵn nội
dung các câu hỏi 1 – 5/SGK
- Electric current: dòng điện
- Metal (n): kim loại
- The drift flow: dòng dịch chuyển
- Direction (n): chiều, hướng
- Convention (n): quy ước
- Charge (n): điện tích
- Particle (n): hạt
- Quantity (n): đại lượng
- Current intensity (n): cường
độ dòng điện
- Specific (adj): đặc trưng
- Characterize (n): đặc trưng
- Impact (n): tác dụng
Trang 36- Yêu cầu đại diện nhóm
làm phiếu học tập 1 và 2 lần
lượt trình bày
- Đại diện nhóm trình bày
Handout 1:
1.The intensity of current is a specific quantity for the strength
or weakness impact of current It is
characterized by the quotient of capacity ∆𝑞 moving through the straight section of conductor in a time ∆𝑡 and that period of time
2.Formula:
𝐼 = ∆𝑞
∆𝑡
Handout 2:
1.The steady current is
an electric current whose direction and intensity are unchanged over time
𝐼 = 𝑞𝑡2.The unit of current intensity is ampe (A)
3.The unit of capacity is coulomb (C)
- Quotient (n): thương số
- Capacity (n): điện lượng
- Change: thay đổi # unchange
- Formula (n): công thức
Trang 37*Hoạt động 4: Tìm hiểu về nguồn điện
- Yêu cầu 2 nhóm còn lại
nhận xét
- GV nhận xét và yêu cầu
HS sửa bài
- Lắng nghe và nhận xét bài của các nhóm
- Lắng nghe và sửa bài
Hoạt động của GV Hoạt động của HS Từ vựng, cấu trúc
- Yêu cầu HS nêu tác dụng
của nguồn điện
- Hiệu điện thế giữa 2 cực
của nguồn điện được duy trì
hay sự tích điện khác nhau ở
các cực của nguồn điện
- Thực hiện nhiệm vụ học tập
- Suy nghĩ và trả lời:
The power supply has impact maintaining the voltage between two terminals of it
- Power supply: nguồn điện
- Condition (n): điều kiện
- Voltage (n): hiệu điện thế
- End (n): cực, đầu
- Conductor (n): vật dẫn điện
- Maintain (v): duy trì
- Terminal (n): cực
- Strange (adj):
lạ
- Force (n): lực
Trang 38*Hoạt động 5: Tìm hiểu suất điện động của nguồn điện
Hoạt động của GV Hoạt động của HS Từ vựng, cấu trúc
electron hay ion dương ra
khỏi mỗi cực của nguồn
điện Khi đó sẽ tạo ra sự
chênh lệch điện tích giữa
- Nghiên cứu và trả lời:
Strange forces in power supply make two terminals of power supply charged differently and therefore maintaining the voltage between its two terminals
- Lắng nghe và ghi bài
Trang 39- Yêu cầu HS nêu định
nghĩa công của nguồn điện
và điền vào phiếu học tập
- Yêu cầu HS hoạt động
- Hoạt động nhóm và trình bày:
2.The electromotive force (Emf) of power supply
- Definiton: The electromotive force of power supply is a specific quantity for the work production ability
of the power supply and
is measured by the quotient between work
A done by strange forces when moving a positive charge q in opposite direction with that of the electric field in the power supply and the magnitude of that charge
q
- Formula E = 𝐴𝑞
- The unit: Volt (V)
- Positive (n): dương
- Electric field: điện trường
- Magnitude (n):
độ lớn
- Resistance (n): điện trở
- Internal resistance: điện trở trong
Trang 40- GV nhận xét và yêu cầu
HS sửa bài
- Each power supply is characterized by two quantity which are Emf
E and its internal resistance r
- When the external circuit is open, the relation between Emf E and the voltage between two terminals of power supply is E = U
*Hoạt động 6: Củng cố, dặn dò
Hoạt động của GV Hoạt động của HS Từ vựng, cấu trúc
- Yêu cầu các nhóm thảo
luận nhóm và tham gia trò
chơi “Tìm từ che khuất”
theo cột dọc và cột ngang
với các gợi ý đã cho
- GV giải mã các ô chữ
- Cung cấp cho HS từ
vựng và cấu trúc tiếng Anh
liên quan đến bài học sau
Yêu cầu HS về nhà nghiên
cứu và chuẩn bị bài 8 Điện
năng Công suất điện
- Thảo luận nhóm và tìm từ
- Lắng nghe và sửa chữa
- Nhận nhiệm vụ học
tập về nhà