1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Xây dựng mô hình quản lý điều hành giao thông công cộng đô thị Quảng Ngãi

26 104 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 26
Dung lượng 743,24 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong chiến lược phát triển thành phố Quảng Ngãi đến năm 2020 tầm nhìn đến năm 2030 đã chỉ rõ hiện đại hóa kết cấu hạ tầng giao thông, quản lý chặt chẽ nhu cầu giao thông và đẩy nhanh ti

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA

NGUYỄN VĂN THIỆN

XÂY DỰNG MÔ HÌNH QUẢN LÝ ĐIỀU HÀNH GIAO THÔNG CÔNG CỘNG ĐÔ THỊ QUẢNG NGÃI

Chuyên ngành: Kỹ thuật xây dựng công trình giao thông

Mã số: 85.80.205

TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ KỸ THUẬT

Kỹ thuật xây dựng công trình giao thông

Đà Nẵng - Năm 2018

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS PHAN CAO THỌ

Phản biện 1: GS.TS VŨ ĐÌNH PHỤNG

Phản biện 2: TS PHAN LÊ VŨ

Luận văn được bảo vệ trước Hội đồng chấm Luận văn tốt nghiệp thạc sĩ kỹ thuật, Kỹ thuật xây dựng công trình giao thông họp tại Trường Đại học Bách khoa Đà Nẵng vào ngày 25 tháng 11 năm

2018

* Có thể tìm hiểu luận văn tại:

- Trung tâm Học liệu, Đại học Đà Nẵng tại Trường Đại học Bách khoa

-Thư viện Khoa kỹ thuật xây dựng công trình giao thông, Trường Đại học Bách khoa - ĐHĐN

Trang 3

MỞ ĐẦU

1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI

Thành phố Quảng Ngãi là đơn vị hành chính trực thuộc tỉnh Quảng Ngãi, là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa, khoa học kỹ thuật và an ninh - quốc phòng của tỉnh Quảng Ngãi; thành phố Quảng Ngãi nằm vị trí gần trung độ của tỉnh; cách thành phố Đà Nẵng 123 km; cách thành phố Quy Nhơn 170 km; cách thành phố Hồ Chí Minh 821 Km và cách Thủ đô Hà Nội 889 Km

Thành phố Quảng Ngãi nằm ở trung đoạn giữa thủ đô Hà nội

và thành phố Hồ Chí Minh, là đầu mối giao thông của khu vực Trung trung bộ và Tây nguyên; nằm trên các trục giao thông đường bộ, đường sắt của quốc gia như: Quốc lộ 1A, Quốc lộ 24, đường sắt thống nhất Bắc Nam gắn với sân bay Quốc tế Chu Lai và cảng biển nước sâu Dung Quất nên thuận lợi trong việc giao với các tỉnh, thành phố trong cả nước và Quốc tế Có đường tỉnh lộ 623B đi Thạch Nham liên hệ các huyện phía Tây; đường Quốc lộ 24 nối liền thành phố Quảng Ngãi với các huyện Minh Long, Ba Tơ và tỉnh Kom Tum, tỉnh Gia Lai; đường tỉnh lộ 623C và Quốc lộ 24B thành phố Quảng Ngãi đi Cổ Lũy liên hệ phần phía Đông ra biển và nối liền với đường chiến lược vùng ven biển Dung Quất – Sa Huỳnh

Hiện nay, theo thống kê số lưu lượng phương tiện giao thông tại thành phố Quảng Ngãi năm 2017 tăng khoảng 12%, đặc biệt số xe

ô tô tăng khoảng 25% so với năm 2015 (theo Báo cáo tổng kết năm

2017 của Ban ATGT tỉnh) Trước nhu cầu đi lại và số lượng phương

tiện cá nhân ở thành phố sẽ tăng nhanh, áp lực dòng xe trong thành phố đang đương đầu với những vấn đề lớn về cơ sở hạ tầng giao thông Đồng thời, xu thế người dân chuyển sang ô tô sẽ tăng nhanh trong thời gian đến sẽ làm tăng sự lưu thông trong thành phố Quảng Ngãi Nhu cầu đi lại ngày càng tăng, trong khi cơ sở hạ tầng khó đáp ứng kịp thời và bắt đầu xuất hiện ùn tắc giao thông trên một số nút giao thông khu vực Trung tâm Trong chiến lược phát triển thành phố Quảng Ngãi đến năm 2020 tầm nhìn đến năm 2030 đã chỉ rõ hiện đại hóa kết cấu hạ tầng giao thông, quản lý chặt chẽ nhu cầu giao thông và đẩy nhanh tiến độ phát triển hệ thống GTCC đô thị liên

Trang 4

kết với mạng lưới tuyến xe buýt liên huyện trong tỉnh Do vậy đề tài

nghiên cứu “Xây dựng mô hình quản lý điều hành giao thông cộng

cộng đô thị Quảng Ngãi” là cần thiết nhằm giúp cho việc quản lý

giao thông đô thị nói chung và nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống GTCC thành phố nói riêng hướng đến mục tiêu xây dựng thành phố thông minh trong tương lai

2 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU

Hệ thống giao thông công cộng và mô hình quản lý điều hành ứng dụng vào giao thông đô thị Quảng Ngãi

b) Mục tiêu cụ thể:

Giới thiệu tổng quan về GTCC và hệ thống GTCC; nghiên cứu

mô hình quản lý của các nước trên thế giới và của Việt Nam; sự phối hợp các cơ quan chức năng, áp dụng bài toán tổ chức, giải pháp công nghệ và phương thức quản lý điều hành, khai thác hệ thống giao thông công cộng;

Đánh giá thực trạng các điều kiện đường, điều kiện giao thông,

tổ chức và điều khiển giao thông công cộng và hệ thống GTCC tại Thành phố Quảng Ngãi;

Từ đó, xây dựng và lựa chọn mô hình quản lý, điều hành GTCC phù hợp đô thị Quảng Ngãi cho hiện nay và tương lai; Ứng dụng các bài toán để tính toán, tổ chức vận hành mô hình quản lý GTCC

5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:

Nghiên cứu lý thuyết: phương pháp phân tích và tổng hợp lý

Trang 5

thuyết

Nghiên cứu thực nghiệm:

- Thu thập số liệu về hiện trạng giao thông, các nút giao thông, các tuyến đường trục chính đô thị và khu vực;

- Tìm hiểu hoạt động GTCC: Hành trình các tuyến vận chuyển, số lượng xe, cự ly, khoảng thời gian hoàn thành chuyến đi, Phương pháp xử lý dữ liệu của thông tin lữ hành hiện nay

6 BỐ CỤC CỦA LUẬN VĂN

Bố cục của luận văn được tổ chức thành 3 chương:

Chương 1 Giới thiệu tổng quan về hệ thống giao thông công cộng trong đô thị

Chương 2 Thực trạng hạ tầng giao thông và xu hướng phát triển giao thông tại đô thị thành phố Quảng Ngãi

Chương 3 Xây dựng các bài toán và mô hình điều hành giao thông công cộng cho thành phố Quảng Ngãi

CHƯƠNG I GIỚI THIỆU TỔNG QUAN VỀ HỆ THỐNG GIAO THÔNG

CÔNG CỘNG TRONG ĐÔ THỊ

1.1 TỔNG QUAN VỀ HỆ THỐNG QUẢN LÝ GIAO THÔNG CÔNG CỘNG HIỆN NAY

1.1.1 Giao thông công cộng và hệ thống quản lý GTCC là gì?

Giao thông công cộng là hệ thống giao thông trong đó người tham gia giao thông không sử dụng các phương tiện giao thông thuộc

sở hữu cá nhân Các dạng giao thông công cộng thường gặp bao gồm: Xe kéo tay,Xe ngựa, xe thổ mộ, Xe xích lô, Đò ngang, Ghe, thuyền, Xuồng, tắc ráng, vỏ lải, Xe buýt, Tàu điện, Tàu hỏa,Tàu thuỷ, Máy bay,Taxi, Phà,…

Hệ thống quản lý giao thông công cộng là cơ quan quản lý nhà nước về giao thông công cộng, trực thuộc Sở GTVT của địa phương gọi tắt là cơ quan tổ chức giao thông (AOT), thực hiện xây dựng quy hoạch, nghiên cứu khoa học và quản lý điều hành VTHKCC Hiện nay ở Việt Nam VTHKCC chủ yếu là bằng xe buýt

Trang 6

1.1.2 Khái niệm giao thông công cộng trong hệ thống giao thông vận tải đô thị

Vận tải hành khách công cộng (VTHKCC) là hình thức tham gia giao thông bằng các phương tiện có khả năng chuyên chở lớn, thường chạy theo tuyến cố định, quy hoạch từ trước để phục vụ chung cho toàn đô thị như xe buýt, tàu điện ngầm, tàu điện trên cao,

Vận tải hành khách cá nhân là hình thức tham gia giao thông bằng các phương tiện cá nhân sử dụng cho riêng mình như xe máy, oto, xe đạp,

1.1.3 Vai trò giao thông công cộng trong hệ thống giao thông vận tải đô thị

1.1.4 Đặc điểm và phân loại hình phương tiện tham gia giao thông công cộng

1.1.5 Đánh giá loại hình VTHKCC bằng xe buýt so với các phương tiện giao thông công cộng

1.2 XU HƯỚNG TOÀN CẦU VỀ HỆ THỐNG GIAO THÔNG CÔNG CỘNG TRONG TƯƠNG LAI

1.2.1 Định hướng giao thông công cộng

1.2.2 Quá trình phát triển loại hình VTHKCC bằng xe buýt

ở các thành phố lớn ở Việt Nam

a) Hệ thống GTCC bằng xe buýt thường ở Hà Nội

b) Hệ thống GTCC bằng xe buýt thường ở TP.HCM

c) Hệ thống GTCC bằng xe buýt thường TP Quảng Ngãi

1.2.3 Một số mô hình quản lý điều hành giao thông công cộng trên thế giới và ở Việt Nam

Tham khảo mô hình quản lý GTCC đô thị trên thế giới, tác giả tóm tắt một số mô hình điển hình như sau:

- Mô hình cơ quan quản lý GTCC ở Singapore: Singapore là quốc gia rất thành công với mô hình quản lý giao thông tích hợp, toàn

bộ các hoạt động về giao thông và sử dụng đất được quản lý trực tiếp dưới quyền cơ quan LTA (Land Transport Authority), trong đó bao gồm nhiều đơn vị chức năng thực hiện quản lý cả mạng lưới đường bộ

Trang 7

(gồm cả đường cao tốc và đường đô thị) và hệ thống VTHKCC, cũng như cung cấp các thông tin và dịch vụ giao thông

- Mô hình cơ quan quản lý GTCC ở TP Đài Bắc, Đài Loan: Được quản lý tập trung dưới quyền chỉ đạo của Sở GTVT và được chia nhỏ chức năng quản lý cho 4 đơn vị trực thuộc

- Mô hình cơ quan quản lý GTCC ở TP Seoul, Hàn Quốc: Trung tâm quản lý giao thông tập trung trực thuộc chính quyền TP Seoul được chia thành 4 tổ kỹ thuật chính

- Mô hình chung của cơ quan quản lý GTCC ở Việt Nam hiện nay:

Tại Thành phố Hồ Chí Minh: cơ quan quản lý hoạt động vận tải hành khách công cộng được thành lập ngày 26/1/2018, là cơ quan trực thuộc và chịu điều hành trực tiếp từ Sở GTVT

Bảng 1.3 So sánh mô hình một số nước trên thế giới

* Nhận xét: Qua tham khảo các mô hình quản lý GTCC trên

thế giới hiện nay, tại đây nhu cầu đi lại của người dân rất lớn, mật độ dòng xe rất cao, nhưng việc xảy ra UTGT là rất hiếm khi xảy ra Do

đó, việc giải quyết bài toán UTGT, nhu cầu đi lại luôn kèm với nó là một mô hình quản lý chuyên nghiệp, hiệu quả và phù hợp với từng địa

phương và đô thị áp dụng

1.2.4 Một số bài học kinh nghiệm và giải pháp cho phát triển mô hình quản lý điều hành VTHKCC cho các thành phố ở Việt Nam

a) Bài học kinh nghiệm rút ra từ thực tiễn phát triển xe buýt

Một là, sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị và ý chí quyết tâm của lãnh đạo Thành phố cùng với việc lựa chọn mô hình phát triển, bước đi phù hợp là nhân tố quyết định sự thành công của xe buýt Hà Nội trong các năm qua Đầu tư của Thành phố chỉ để tạo cú hích ban đầu sau đó là từng bước xã hội hoá nhưng vẫn giữ vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước

Hai là, muốn phát triển VTHKCC, ngoài đầu tư về phương tiện,

cơ sở hạ tầng, cơ sở hậu cần, BDSC cũng như hệ thống thiết bị quản

lý, điều hành tiên tiến, còn phải phát triển cơ sở hạ tầng phục vụ xe

Trang 8

buýt như: Làn ưu tiên, dành riêng, điểm đầu, điểm cuối, điểm trung chuyển…

Ba là, người dân ở các đô thị lớn nước ta hiện không thiếu phương tiện đi lại nên muốn hạn chế phương tiện cá nhân và tăng cường sử dụng xe buýt công cộng thì việc đổi mới toàn diện, nâng cao chất lượng dịch vụ theo nguyên tắc “cung cấp dẫn đầu”là nhân tố mang tính quyết định

Bốn là, Thành phố có cơ chế chính sách phát triển phù hợp với từng giai đoạn, chính sách về cơ sở hạ tầng VTHKCC nói chung và xe buýt nói riêng Chính sách về trợ giá lâu dài là nhân tố đảm bảo cho sự phát triển bền vững của xe buýt công cộng

b) Giải pháp phát triển VTHKCC ở các Thành phố Việt Nam

Giải pháp cơ bản để giải quyết tận gốc bài toán về GTĐT ở các Thành phố là phát triển theo định hướng giao thông công cộng (TOD):

- Coi GTĐT là chủ thể của qui hoạch phát triển đô thị và qui hoạch sử dụng đất Lấy VTHKCC khối lớn làm xương sống cho phát triển đô thị;

- Qui hoạch phương tiện đi lại phải đi trước qui hoạch hạ tầng giao thông;

- Khuyến khích người dân đi lại bằng phương tiện công cộng và kiểm soát tốt việc sở hữu và sử dụng phương tiện cá nhân, đặc biệt là ô

tô con

Bổ sung các tiêu chuẩn, quy định về dành hạ tầng cho VTHKCC trong các dự án đầu tư nâng cấp, cải tạo và xây dựng các khu đô thị mới Đường tiếp cận các khu dân cư đảm bảo tối thiểu là có

2 làn xe ô tô tiêu chuẩn (từ 7,5m trở lên) Các khu tập trung dân cư từ

5000 người trở lên phải dành diện tích đất cho điểm đầu cuối xe buýt không dưới 1.000m2

Đẩy nhanh ứng dụng công nghệ và hiện đại hóa hệ thống điều hành mạng lưới nhất là hệ thống vé xe buýt

Tập trung đẩy nhanh tiến độ đầu tư các tuyến VTHKCC nhanh khối lớn như: BRT, Metro… vì năng lực của xe buýt chỉ có giới hạn

Để phát huy hiệu quả của các phương thức VTHKCC khối lớn (BRT,

Trang 9

Metro) thì hệ thống xe buýt phải là công cụ tạo sự tích hợp và kết nối của cả hệ thống, cụ thể là:

- Về giao thông: Tạo sự kết nối của tuyến BRT, Metro với các tuyến buýt thông thường và tạo ra các điểm trung chuyển đa phương thức giữa BRT, Metro với xe buýt, taxi cùng với việc bố trí nơi trông giữ phương tiện cá nhân (xe con, xe máy, xe đạp) cho hành khách

- Về vận tải: Có sự phối hợp biểu đồ vận hành hợp lý giữa BRT, Metro và xe buýt ở các điểm trung chuyển để hành khách không phải chờ đợi lâu khi chuyển tuyến và một hệ thống điều hành, giám sát chất lượng dịch vụ thống nhất (cần xây dựng tiêu chuẩn chất lượng dịch vụ của từng phương thức vận tải và chung cho cả hệ thống)

- Về thể chế: Cần phải có một cơ quan quản lý điều hành chung thống nhất và đặc biệt là một hệ thống vé điện tử liên thông chung cho BRT, Metro với xe buýt và các dịch vụ GTCC khác trong Thành phố

Có cơ chế khuyến khích người dân sử dụng VTHKCC; hạn chế phương tiện cá nhân cùng với chính sách trợ giá lâu dài và ổn định cho

2 Trên cơ sở mô hình quản lý đã được ứng dụng rộng rãi của các nước trên thế giới và một số thành phố lớn ở Việt Nam, trong đó nhấn mạnh để phát triển hệ thống GTCC và giảm UTGT chúng ta cần

ưu tiên phát triển hệ thống CSHT hiện đại đồng thời phải xây dựng mô hình quản lý GTCC chuyên nghiệp và hiệu quả

Trang 10

Từ những kết luận trên, thành phố Quảng Ngãi cần tập trung xây dựng phương thức, mô hình quản lý phương tiện GTCC bằng xe buýt

CHƯƠNG II THỰC TRẠNG HẠ TẦNG GIAO THÔNG VÀ XU HƯỚNG PHÁT TRIỂN GIAO THÔNG CÔNG CỘNG TẠI THÀNH

PHỐ QUẢNG NGÃI 2.1 MẠNG LƯỚI GIAO THÔNG CÔNG CỘNG TRONG ĐÔ THỊ THÀNH PHỐ QUẢNG NGÃİ

2.1.1 Thực trạng về hạ tầng giao thông và giao thông công cộng

2.1.2 Hệ thống giao thông công cộng

2.1.3 Đánh giá thông số khai thác của các tuyến đường trong đô thị

2.1.3.1 Vận tốc dòng xe trên đường, vận tốc lưu thông của

xe buýt

2.1.3.2 Khả năng thông hành của đường và tỷ lệ chiếm dụng đường khi có xe buýt

2.1.3.2 Tần suất giao thông

2.2 HỆ THỐNG TỔ CHỨC GIAO THÔNG CÔNG CỘNG, THÔNG TIN LỮ HÀNH VÀ BÃI ĐẬU XE CÔNG CỘNG 2.2.1 Hệ thống điểm dừng đổ, trạm chờ xe buýt

2.2.2 Biểu đồ tiến độ chạy xe

2.3.1 Mô hình quản lý điều hành GTCC hiện nay

Sở GTVT là đơn vị quản lý nhà nước về vận tải nói chung và VTHKCC bằng xe buýt nói riêng trên địa bàn thành phố, là cơ quan tham mưu cho UBND Tỉnh ra các quyết định về hoạt động VTHKCC đường bộ trên địa bàn như quyết định công bố mở tuyến, biểu đồ chạy xe Những nhiệm vụ của Sở GTVT đó là: quản lý

Trang 11

luồng tuyến xe buýt, thẩm định giá vé; kiểm tra theo dõi hoạt động

xe buýt đảm bảo an toàn, trật tự trong vận tải; tổ chức triển khai và hướng dẫn các đơn vị vận tải thực hiện các quy định của Nhà nước

về lĩnh vực vận tải xe buýt; theo dõi, đề xuất giải quyết các vướng mắc trong hoạt động xe buýt; và tổng hợp báo cáo tình tình hoạt động xe buýt của thành phố

2.3.2 Phương thức quản lý điều hành của Chính quyền đô thị

2.3.3 Phương thức tổ chức, vận hành của doanh nghiệp xe buýt:

2.4 SỰ PHÁT TRIỂN CÁC PHƯƠNG TIỆN GIAO THÔNG TRONG NHỮNG NĂM GẦN ĐÂY VÀ DỰ BÁO SỰ GIA TĂNG PHƯƠNG TIỆN TRONG TƯƠNG LAI

2.4.1 Các phương tiện giao thông trên địa bàn thành phố

2.4.2 Dự báo sự phát triển giao thông trong tương lai

Một số hình ảnh hiện trạng hệ thống xe buýt tại Quảng Ngãi

(Quản lý

về cơ sở

hạ tầng, phương tiện vận tải,…)

Công

an tỉnh

(Quản lý pháp chế,…)

Sở, Ban ATGT

… UBND Tỉnh Quảng Ngãi

Tổ chức lựa chọn đơn vị cung ứng dịch vụ

Trang 12

2.5 KẾT LUẬN

Từ những nội dung nêu trên, tác giả nêu hiện trạng hệ thống GTCC và phương thức quản lý GTCC tại Thành phố Quảng Ngãi, trong đó đưa ra nhận xét như sau:

Hình 2.4 Điểm dừng xe buýt kết

hợp vạch sơn Hình 2.5 Trạm chờ xe buýt hiện

nay

Bãi đỗ xe buýt kết hợp Bến xe dùng chung

Ùn tắt xe ở nội đô TP.Quảng Ngãi và trên các tuyến đường tỉnh

Trang 13

Muốn hạn chế xe máy, xe thô sơ tại các thành phố lớn nói chung và Quảng Ngãi nói riêng đều xem việc phát triển loại hình GTCC bằng xe buýt là chủ đạo và trước tiên bên cạnh nghiên cứu tích hợp nhiều loại phương tiện trong tương lai như: Tàu điện ngầm (MRT), Buýt nhanh (BRT), buýt đường sông,…; tuy nhiên ở Quảng Ngãi hiện nay do CSHT và đường xá chưa hoàn thiện nên tác giả chỉ phát triển 1 loại hình xe buýt trong tương lai gần mà thôi

Trên cơ sở đánh giá thực trạng hệ thống GTCC tại Quảng Ngãi hiện nay, việc tổ chức vận hành khai thác xe buýt và phát triển VTHKCC còn nhiều bất cập, lõng lẻo, nhiều cơ quan cùng quản lý liên quan đến hệ thống xe buýt, tuy nhiên chất lượng dịch vụ giảm dần về xe buýt và mức độ phục vụ,…về cơ sở vật chất và hạ tầng giao thông, phương tiện phục vụ,… đều đang dần xuống cấp, hiện tại

xe buýt không mang tính hấp dẫn cho người dân từ bỏ xe máy đi bằng GTCC, không có thông tin lữ hành các chuyến đi, người dân tiếp cận phương tiện khó khăn; bên cạnh đó phương thức quản lý GTCC lỗi thời không hướng đến chất lượng phục vụ và thiếu ý tưởng một khi phát triển mạng lưới lớn hơn

Vì vậy, cũng như các hệ thống GTCC khác để phát triển xe buýt và giải bài toán UTGT khi tốc độ đô thị hóa nhanh, Thành phố Quảng Ngãi cần nghiên cứu xây dựng ngay mô hình quản lý điều hành giao thông công cộng phù hợp với thực tế hiện nay, có tính chuyên môn cao từng bước làm chủ công nghệ quản lý, điều hành trong lĩnh vực GTCC; tiến đến là hoàn thiện quy hoạch và lộ trình đầu tư hệ thống các CSHT cho xe buýt tích hợp đa phương tiện trong tương lai

CHƯƠNG III XÂY DỰNG MÔ HÌNH QUẢN LÝ ĐIỀU HÀNH GIAO THÔNG CÔNG CỘNG CHO THÀNH PHỐ QUẢNG NGÃI

Để có thể đề xuất các giải pháp hợp lý cho mô hình quản lý GTCC trong hệ thống GTĐT thành phố Quảng Ngãi thì xuất phát từ nhu cầu của hành khách, dựa trên hiện trạng của mạng lưới GTCC và

cơ sở hạ tầng đồng thời căn cứ vào các văn bản pháp luật (Quyết định, quy hoạch hệ thống GTCC của địa phương…) và tham chiếu

Ngày đăng: 19/05/2019, 15:31

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w