Trong những năm gần đây, những nghiên cứu về sử dụng cây thuốc chomục đích chữa bệnh của người dân bản địa ở các khu vực, các quốc gia đượccác nhà khoa học thực hiện trên khắp các châu l
Trang 1- -NÔNG THÁI HÒA
NGHIÊN CỨU CÂY THUỐC VÀ ĐÁNH GIÁ HOẠT TÍNH KHÁNG KHUẨN CỦA MỘT SỐ LOÀI CÂY THUỐC TẠI XÃ HOÀNG NÔNG,
HUYỆN ĐẠI TỪ, TỈNH THÁI NGUYÊN
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo : Chính qui Chuyên ngành/Ngành : Quản lý tài nguyên rừng Lớp: K46QLTNR Khoa: Lâm nghiệp
Giảng viên hướng dẫn: TS Nguyễn Thị Thu Hiền
THÁI NGUYÊN - 2018
Trang 2- -NÔNG THÁI HÒA
NGHIÊN CỨU CÂY THUỐC VÀ ĐÁNH GIÁ HOẠT TÍNH KHÁNG KHUẨN CỦA MỘT SỐ LOÀI CÂY THUỐC TẠI XÃ HOÀNG NÔNG,
HUYỆN ĐẠI TỪ, TỈNH THÁI NGUYÊN
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo : Chính qui Chuyên ngành : Quản lý tài nguyên rừng
Khóa học : 2014 - 2018 Giảng viên hướng dẫn : TS Nguyễn Thị Thu Hiền
THÁI NGUYÊN - 2018
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của bản thântôi Các số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là quá trình điều tratrên thực địa hoàn toàn trung thực, khách quan, chưa công bố trên tài liệu nào.Tôi cũng xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này
đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đã được chỉ rõnguồn gốc
Một lần nữa, tôi xin khẳng định về sự trung thực của lời cam kết trên
Thái Nguyên, 17 tháng 6 năm 2018
XÁC NHẬN CỦA GVHD NGƯỜI VIẾT CAM ĐOAN
Xác nhận của giáo viên chấm phản biện
Giáo viên chấm phản biện xác nhận sinh viên đã sửa sai sót
sau khi hội đồng chấm yêu cầu
(Ký, ghi rõ họ tên)
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Được sự phân công của Nhà trường, Khoa Lâm Nghiệp, Trường Đại họcNông Lâm Thái Nguyên, sau 5 tháng thực tập em đã hoàn thành khóa luận tốt
nghiệp “Nghiên cứu cây thuốc và đánh giá hoạt tính kháng khuẩn của một
số loại cây thuốc tại xã Hoàng Nông, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên”.
Để hoàn thành nhiệm vụ được giao, ngoài sự nỗ lực học hỏi của bản thâncòn có sự hướng dẫn tận tình của thầy cô, bạn bè, cô chú, anh chị tại địa bàn
xã Hoàng Nông, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên
Xin cảm ơn cô giáo – TS Nguyễn Thị Thu Hiền, người đã hướng dẫncho em trong suốt thời gian thực tập đã chỉ dẫn, định hướng đi cho em để emhoàn thành tốt nhiệm vụ Xin cảm ơn sự giúp đỡ của cán bộ Ủy ban Nhân dân
xã Hoàng Nông, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên và cán bộ Chi cục Kiểmlâm huyện Đại Từ, cùng sự chỉ bảo tận tình của các thầy lang, bà mế thuộc xãHoàng Nông
Đồng thời xin cảm ơn thầy cô giáo Khoa Lâm nghiệp, các bộ phận liênquan thuộc Trường và người thân trong gia đình cùng bạn bè thân thiết đãgiúp đỡ tôi trong quá trình hoàn thành khóa luận tốt nghiệp
Mặc dù đã nỗ lực cố gắng, tuy nhiên do hạn chế về kinh nghiệm cũngnhư về thời gian và trình độ nghiên cứu nên khóa luận tốt nghiệp không thểtránh khỏi thiếu sót Tôi rất mong nhận được những ý kiến góp ý, chỉ bảo củathầy cô cũng như các bạn đọc khác để khóa luận được hoàn thiện hơn nữa
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, ngày 17 tháng 6 năm 2018
Trang 5DANH MỤC CÁC BẢN
Bảng 3.1 Mẫu bảng điều tra nguồn cây thuốc được cộng đồng một số dân tộc
thiểu số ở khu vực nghiên cứu sử dụng trong phòng và điều trị bệnh 29
Bảng 4.1 Số loài cây thuốc đã phát hiện ở khu vực nghiên cứu 33
Bảng 4.2 Sự phân bố số lượng loài cây thuốc trong các họ 34
Bảng 4.3 So sánh các họ có nhiều loài cây thuốc ở khu vực nghiên cứu (1) với số loài của từng họ trong hệ thực vật Việt Nam (2) 36
Bảng 4.4: Thống kê các chi có nhiều loài được sử dụng làm thuốc 37
Bảng 4.5 Đa dạng về dạng sống của nguồn cây thuốc ở 38
khu vực nghiên cứu 38
Bảng 4.6 Sự phân bố nguồn cây thuốc theo môi trường sống ở khu vực nghiên cứu 40
Bảng 4.7 Đa dạng của các bộ phận cây được sử dụng làm thuốc của trong cộng đồng dân tộc Dao và Nùng tại khu vực nghiên cứu 42
Bảng 4.8 Đa dạng tần số các bộ phận cây được sử dụng làm thuốc trong cộng đồng dân tộc Dao và Nùng ở khu vực nghiên cứu 43
Bảng 4.9 Tỷ lệ số loài có công dụng chữa các nhóm bệnh cụ thể 44
Bảng 4.10 Danh lục cây thuốc thuộc diện cần bảo tồn ghi nhận ở khu vực nghiên cứu 45
Bảng 4.11 Hoạt tính kháng khuẩn của cao chiết từ cây Râu mèo và cây Trứng quốc 47
Y
Trang 6DANH MỤC CÁC HÌNH, BIỂU Đ
Hình 3.1: Các dụng cụ sử dụng cho nghiên cứu trong đề tài 30 Biểu đồ 4.1 Tỷ lệ các dạng sống của nguồn cây ở khu vực nghiên cứu 39 Hình 4.2 Hình ảnh một số dạng sống của nguồn cây thuốc tại khu vực nghiên cứu 39 Biểu đồ 4.2 Sự phân bố cây thuốc theo môi trường sống của nguồn cây thuốc ở khu vực nghiên cứu 41 Hình 4.3 Hình ảnh hoạt tính kháng khuẩn của cao chiết 47 Y
Trang 7DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Chữ cái viết tắt/ký hiệu Cụm từ đầy đủ
HTKK Hoạt tính kháng khuẩn
KH&CN Khoa học & công nghệ
NCTN & MT Nghiên cứu tài nguyên & môi
trường
NĐ - CP Nghị định Chính phủ
ST & TNSV Sinh thái & tài nguyên sinh vật
MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN i
DANH MỤC CÁC BẢNG ii
DANH MỤC CÁC HÌNH, BIỂU ĐỒ iii
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT iv
Trang 8PHẦN 1: MỞ ĐẦU 1
1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1
1.2 Mục tiêu và yêu cầu của đề tài 2
1.3 Ý nghĩa của đề tài 3
1.3.1 Ý nghía khoa học 3
1.3.2 Ý nghĩa thực tiến 3
PHẦN 2: TỔNG QUAN VẪN ĐỀ NGHIÊN CỨU 4
2.1 Cơ sở khoa học của vấn đề nghiên cứu 4
2.2 Tình hình nghiên cứu trên Thế giới và trong nước 4
2.2.1 Tình hình nghiên cứu và sử dụng cây thuốc trên Thế giới 4
2.2.2 Tình hình nghiên cứu và sử dụng cây thuốc ở trong nước 12
2.3 Tổng quan khu vực nghiên cứu 20
2.3.1 Điều kiện tự nhiên khu vực nghiên cứu 20
2.3.2 Điều kiện kinh tế - xã hội khu vực nghiên cứu 23
PHẦN 3: ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 27
3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 27
3.2 Nội dung nghiên cứu 27
3.3 Phương pháp nghiên cứu 28
PHẦN 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 33
4.1 Đa dạng các bậc taxon nguồn tài nguyên cây thuốc được sử dụng trong cộng đồng một số dân tộc thiểu số tại xã Hoàng Nông, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên 33
4.1.1 Đa dạng về bậc ngành 33
4.1.2 Đa dạng bậc họ 34
4.1.3 Đa dạng bậc chi 37
4.2 Đa dạng về dạng sống của thực vật làm thuốc 38
4.3 Đa dạng về môi trường sống của thực vật làm thuốc 40
4.4 Vấn đề sử dụng cây thuốc của cộng đồng một số dân tộc thiểu số tại khu vực nghiên cứu 42
4.4.1 Đa dạng về bộ phận sử dụng của cây thuốc 42
Trang 94.4.2 Đa dạng về công dụng chữa bệnh của các loài cây thuốc 44
4.5 Những cây thuốc thuộc diện cần bảo tồn ở Việt Nam đã ghi nhận được ở khu vực nghiên cứu 45
4.6 Nghiên cứu khả năng kháng khuẩn của một số loài cây thuốc được sử dụng trong cộng đồng một số dân tộc thiểu số ở khu vực nghiên cứu 46
PHẦN 5: KẾT LUẬN và KIẾN NGHỊ 48
5.1 Kết luận 48
5.2 Kiến nghị 49
TÀI LIỆU THAM KHẢO 50
PHỤ LỤC
Trang 10PHẦN 1
MỞ ĐẦU 1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Việt Nam là một Quốc gia có 3/4 diện tích đồi núi, là nơi có nguồn tàinguyên cây thuốc đa dạng và là nơi cư trú của 54 dân tộc mà phần lớn là dân tộcthiểu số với khoảng 24 triệu người, chiếm hơn 1/3 dân số quốc gia (Trần Thúy
và cộng sự, 2005) [21] Chính sự đa dạng về tộc người cùng với sự khác biệt vềđiều kiện, thổ nhưỡng, khí hậu, phong tục tập quán, văn hóa trong từng cộngđồng dân tộc đã tạo nên sự đa dạng và phong phú trong vốn tri thức dân gian vềkinh nghiệm sử dụng cây cỏ xung quanh mình làm thuốc chữa bệnh
Bằng những kinh nghiệm dân gian của những người làm thuốc trong mỗidân tộc, những tri thức về cây thuốc được truyền miệng và lưu truyền cho concháu đời sau, từ thế hệ này qua thế hệ khác Trải qua thời gian, các bài thuốc
có tính độc đáo và trở nên thông dụng trong việc chăm sóc sức khỏe ngườidân của cộng đồng mình và những dân tộc xung quanh Vì vậy, đã có rấtnhiều công trình nghiên cứu và bảo tồn cây thuốc cũng như bảo tồn tri thức yhọc dân gian được tiến hành và mang lại giá trị khoa học và thực tiễn Tuynhiên, hiện nay nhiều loài cây thuốc quý phân bố chủ yếu ở miền núi, đang cónguy cơ bị tàn phá dẫn đến tuyệt chủng do lạm dụng khai thác quá nhiều vàvấn đề bảo tồn cây thuốc còn gặp rất nhiều khó khăn do nhiều nguyên nhânkhác nhau như: chiến tranh, quá trình đô thị hóa hay tác động của kinh tế thịtrường,… sự suy giảm nguồn tài nguyên cây thuốc là không thể tránh khỏi.Cùng với đó, những tri thức dân gian của các dân tộc dùng để chữa bệnh cũngđang bị mất dần, những ông lang, bà mế đã già và mất đi, họ mang theo cảnhững kiến thức về cây thuốc và những bài thuốc hay Thế hệ trẻ ít người tiếpthu những kiến thức mang tính bản địa mà học theo những cái mới, cái hiệnđại đã khiến cho những cây thuốc quý, bài thuốc hay bị quên lãng Vì vậy,
Trang 11cần phải có những biện pháp tiến hành điều tra, tư liệu hóa thực trạng sử dụngcây thuốc của các dân tộc và tri thức bản địa về cây cỏ làm thuốc để xây dựngcác giải pháp quản lý, bảo tồn nguồn tài nguyên cây thuốc và bảo tồn nhữngtri thức y học dân tộc
Thái Nguyên là một vùng đất giàu tài nguyên, khí hậu nhiệt đới ẩm, cóthảm thực vật rất đa dạng, phong phú và là nơi có nhiều đồng bào dân tộc sinhsống như: Tày, Nùng, Sán Chí, Sán Dìu, Dao,… Mỗi dân tộc lại mang bản sắc
và kinh nghiệm chữa bệnh bằng thực vật làm thuốc rất đa dạng
Xã Hoàng Nông, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên là một xã trung dumiền núi có diện tích rừng che phủ khá lớn, có một phần diện tích Vườn quốcgia Tam Đảo nằm trên địa bàn xã, nên hệ động thực vật phong phú, nhất làthực vật Tuy nhiên, diện tích rừng tự nhiên của xã hiện nay đã bị thu hẹpđáng kể, số lượng các loài cây thuốc bị cạn kiệt dần do khai thác quá nhiềuvới phương thức khai thác tận diệt, từ cắt cành, nhổ cây đến đào gốc rễ, dođốt nương làm rẫy trồng chè Để góp phần vào công tác bảo tồn vốn tri thứcdân gian và nguồn tài nguyên cây thuốc ở xã Hoàng Nông, tôi đã lựa chọn đề
tài: “Nghiên cứu cây thuốc và đánh giá hoạt tính kháng khuẩn của một số loại cây thuốc tại xã Hoàng Nông, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên”.
1.2 Mục tiêu và yêu cầu của đề tài
- Đánh giá được tính đa dạng nguồn tài nguyên cây thuốc và kinhnghiệm sử dụng cây thuốc của cộng đồng một số dân tộc thiểu số tại xãHoàng Nông, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên
- Đánh giá được hoạt tính kháng khuẩn của một số loài cây thuốc có giátrị cao được cộng đồng một số dân tộc thiểu số tại xã Hoàng Nông, huyện Đại
Từ, tỉnh Thái Nguyên sử dụng trong phòng và trị bệnh
- Xác định được những cây thuốc thuộc diện quý hiếm ở Việt Nam, hiện
có ở khu vực nghiên cứu
Trang 121.3 Ý nghĩa của đề tài
Trang 13PHẦN 2 TỔNG QUAN VẪN ĐỀ NGHIÊN CỨU 2.1 Cơ sở khoa học của vấn đề nghiên cứu
Phòng và chữa bệnh bằng các loài thảo dược đã được con người sử dụng
từ hàng ngàn năm nay Nó vấn đang tồn tại và ngày càng phát triển mạnh mẽ.Hàng năm, con người đã tìm ra được những hoạt chất quý trong các loài thảodược có thể phòng và chữa trị được những căn bệnh từ đơn giản hàng ngàynhư cảm cúm, ho sốt đến những căn bệnh nan y như ung thư, bệnh tim, suythận, hay những căn bệnh nhiệt đới nguy hiểm như dịch cúm A H5N1,H1N1, Các cây thuốc và bài thuốc có được nhờ kinh nghiệm tích lũy quanhiều thế hệ giờ đây đang dần mất đi theo thời gian Do đó việc gìn giữ vốnkiến thức quý báu trong việc sử dụng cây thuốc và bài thuốc từ thảo dược làviệc hết sức cần thiết Theo tổ chức y tế thế giới WHO, khoảng 80% dân sốhiện nay trên thế giới vẫn dựa vào thuốc có nguồn gốc tự nhiên trong chămsóc sức khỏe cộng đồng (Nguyễn Hoàng Sơn, 2014) [67] Trong tuyên ngônAlma Ata năm 1978 và “Hướng dẫn đánh giá y học cổ truyền” năm 1991,WHO luôn khuyến nghị dùng các thuốc cổ truyền vào chăm sóc sức khỏe banđầu (Nguyễn Hoàng Sơn, 2014) [67] Vậy, nghiên cứu về các loài cây thuốc
là hết sức cần thiết cho việc bảo tồn và phát triển các loài cây thuốc và bàithuốc cho thế hệ hôm nay và mai sau
2.2 Tình hình nghiên cứu trên thế giới và trong nước
2.2.1 Tình hình nghiên cứu và sử dụng cây thuốc trên thế giới
Tổ tiên loài người từ khi xuất hiện đã gắn bó với thiên nhiên, trải quaquá trình đấu tranh với thiên nhiên và bệnh tật để sinh tồn Trong quá trình
đó, tổ tiên chúng ta ngay từ khi còn là các tộc người đã sớm phát hiện ranhững cây cỏ trong tự nhiên có thể sử dụng làm thuốc, đồng thời trong cuộcsống lao động, đấu tranh với bệnh tật đã sáng tạo ra những bài thuốc vàphương pháp chữa bệnh
Trang 14Khoảng 60.000 năm trước đây, bằng chứng về sự tồn tại của các loài thựcvật được sử dụng cho mục đích chữa bệnh đã tìm thấy trong ngôi mộ cổ củangười Neanderthal có 8 loài cây thuốc (Bộ Nông nghiệp Hoa Kỳ, 2016) [65] Đóng góp quan trọng về mô tả cây thuốc đã được thực hiện bởiDioscorides, một bác sĩ trong quân đội La Mã đã viết “De materia medica”trong khoảng những năm tác giả 60 tuổi Bộ sách này được viết bằng tiếng HyLạp mô tả nguồn gốc, đặc điểm và công dụng của khoảng 500 loài thực vật vàquy trình sử dụng 1.000 loại thuốc đơn giản (Bộ Nông nghiệp Hoa Kỳ, 2016) [65] Trong những năm gần đây, những nghiên cứu về sử dụng cây thuốc chomục đích chữa bệnh của người dân bản địa ở các khu vực, các quốc gia đượccác nhà khoa học thực hiện trên khắp các châu lục trên thế giới:
Yanchun Liu và cộng sự (2009) [61], đã ghi nhận và thu thập 68 loài câythuốc trong 64 chi thuộc 40 họ được người Tây Tạng sử dụng để chữa cácbệnh khác nhau
Manju Panghal và cộng sự (2010) [45] khi nghiên cứu kiến thức bản địa
về cây thuốc được sử dụng ở cộng đồng Saperas của làng Khetawas, quậnJhajjar, Haryana, Ấn Độ đã tìm thấy 57 loài thực vật thuộc 51 chi và 35 họđược người dân sử dụng để điều trị các bệnh khác nhau, theo nghiên cứu này
Trang 15cây thuốc được cộng đồng Saperas sử dụng nhiều nhất là các cây thuộc họFabaceae.
Arshad Abbasi và cộng sự (2013) [30] khi thẩm định về thực vật học vàcác giá trị văn hóa của các loại rau ăn được hoang dã quan trọng trong y họccủa Lesser dãy Hymalaya đã ghi nhận 45 loại rau ăn được hoang dã thuộc 38chi và 24 họ đã được người dân sử dụng để điều trị các bệnh khác nhau vàtiêu thụ
Mi-Jang Song và cộng sự (2013) [49] khảo sát cây thuốc ở đảo Jeju, HànQuốc đã tìm thấy 171 loài thực vật thuộc 141 chi và 68 họ, 777 cách sử dụngcác loài cây thuốc của người dân bản địa được ghi lại
Auemporn Junsongduang và cộng sự (2013) [31] nghiên cứu về câythuốc từ nương rẫy và rừng thiêng của dân tộc Karen và Lawa ở Thái Lan đãchỉ ra 365 loài thực vật thuộc 244 chi và 82 họ được sử dụng làm thuốc, trong
đó các cây thuộc họ Euphorbiaceae và Lauraceae được người dân sử dụngnhiều nhất
Naveed Akhtar và cộng sự (2013) [53] nghiên cứu về đa dạng và sửdụng cây thuốc dân tộc trong khu vực Swat, Bắc Pakistan đã ghi nhận 106loài thực vật thuộc 54 họ được người dân bản địa sử dụng để điều trị bệnh.Homervergel G Ong và Young - Dong Kim (2014) [42] nghiên cứu vềthực vật học định lượng của các cây thuốc được sử dụng bởi các nhóm bảnđịa Ati Negrito ở đảo Guimaras, Philippin đã tìm thấy 142 loài cây dược liệuthuộc 55 họ được sử dụng trong 16 loại bệnh
Tahira Bibia và cộng sự (2014) [57] nghiên cứu thực vật dân tộc của câythuốc ở quận Mastung của tỉnh Balochistan, Pakistan đã chỉ ra 102 loài thựcvật thuộc 47 họ được người dân sử dụng cho mục đích điều trị các loại bệnhkhác nhau
Trang 16Mi-Jang Song và cộng sự (2014) [50] khi điều tra và phân tích các kiếnthức truyền thống về cây thuốc được sử dụng bởi các cư dân tại Vườn quốcgia (VQG) Gayasan, Hàn Quốc đã điều tra và thống kê 200 loài thực vậtthuộc 168 chi và 87 họ được các cư dân sử dụng để điều trị các loại bệnh khácnhau như: rối loạn cơ xương, đau nhức, rối loạn hệ hô hấp, bệnh gan và cácvết cắt vết thương.
Dol Luitel và cộng sự (2014) [37] khi nghiên cứu cây thuốc được sửdụng bởi cộng đồng người Tamang ở quận Makawanpur của Trung tâm Nepal
đã tìm thấy 161 loài thực vật thuộc 144 chi và 86 họ đã được người dân sửdụng để điều trị các loại bệnh khác nhau
Ở Châu Âu:
Y học dân gian châu Âu có một lịch sử lâu dài, những tri thức dân gianbản địa được truyền lại cho các thế hệ sau bằng việc ghi chép lại và thông quatruyền miệng qua nhiều thế kỉ (Evidence-Based Complementary và cộng sự,2012) [64] Những năm gần đây, đã có nhiều công trình nghiên cứu khoa học
về việc sử dụng các loài thực vật để điều trị các loại bệnh của người dân bảnđịa được thực hiện:
Joana Camejo – Rodrigues và cộng sự (2014) [44] khi nghiên cứu vềthực vật học của cây thuốc trong công viên tự nhiên của Sera de SaoxMamede, Bồ Đào Nha đã cung cấp thông tin của 165 loài thực vật được sửdụng để điều trị các bệnh khác nhau
Maria Leporatti và cộng sự (2007) [46] khi nghiên cứu về một số côngdụng của cây thuốc trong khu vực Alto Tirreno Cosentino, Calabria, miềnNam nước Ý đã chỉ ra 52 loài thực vật thuộc 35 họ được người dân sử dụng
để điều trị các loại bệnh chủ yếu như: bệnh ngoài da, bệnh về đường hô hấp,đau răng, sâu răng và đau thấp khớp
Trang 17Montse Parada và cộng sự (2009) [52] nghiên cứu thực vật dân tộc củakhu vực Alt Empordaf, Catalonia, bán đảo Iberia đã tìm thấy trên 518 loàithực vật thuộc 335 chi và 80 họ được người dân sử dụng để điều trị các bệnhkhác nhau.
Maria Leporatti và Kamel Gheddira (2009) [63] khi phân tích so sánhcác cây thuốc được sử dụng trong y học cổ truyền tại Ý và Tunisia đã ghinhận 153 loài thực vật thuộc 60 họ được người dân sử dụng trong việc điều trịcác bệnh khác nhau
Ugur Cakilcioglu và cộng sự (2011) [59] khi khảo sát cây thuốc ởMaden, Elazig, Thổ Nhĩ Kỳ đã tìm thấy 88 loài thực vật thuộc 41 họ được sửdụng cho mục đích điều trị bệnh
Behxhet Mustafa và cộng sự (2012) [33] nghiên cứu về các loài thực vậtđược sử dụng làm thuốc của dãy núi Alps Albania ở Kosovo đã ghi nhận 98loài thực vật thuộc 39 họ được người dân sử dụng để điều trị các loại bệnhkhác nhau, trong đó các cây được sử dụng nhiều nhất chủ yếu thuộc các họRosaceae, Asteraceae và Lamiaceae
Seyid Ahmet Sargin và cộng sự (2013) [62] nghiên cứu về các loài câythuốc được sử dụng bởi người dân địa phương của Alasehir, Manisa, Thổ Nhĩ
Kỳ đã thu thập được 137 loài thực vật được người dân bản địa sử dụng đểđiều trị các bệnh khác nhau
Gorka Menedez-Baceta và cộng sự (2014) [41] nghiên cứu về cây dượcliệu truyền thống được sử dụng ở phía Tây Bắc của xứ Basque, bán đảo Iberia
đã chỉ ra 139 loài thực vật thuộc 58 họ được người dân sử dụng để điều trịbệnh, trong đó các cây được sử sụng nhiều nhất thuộc họ Asteraceae
Ở Châu Mĩ:
Trang 18Việc nghiên cứu về việc sử dụng cây thuốc của người dân bản địa cũngđược thực hiện:
Rainer W Bussmann và Douglas Sharon năm (2006) [54] nghiên cứu về
sử dụng cây thuốc cổ truyền ở miền Bắc Peru đã ghi nhận 510 loài thực vậtđược người dân địa phương sử dụng để điều trị bệnh, các cây thuộc các họđược sử dụng nhiều nhất là: Asteraceae, Fabaceae, Lamiaceae, Solanaceae,Euphorbiaceae và Poaceae
Cecilia Almeida và cộng sự (2006) [35] nghiên cứu cây thuốc phổ biếnđược sử dụng trong các khu vực Xingo – một khu vực khô hạn ở Đông BắcBrazil đã tìm thấy 187 loài thực vật thuộc 128 chi và 64 họ được người dân sửdụng để điều trị các bệnh: cảm lạnh thông thường, viêm phế quản, bệnh timmạch, bệnh thận, viêm và an thần
Gabriele Volpato và cộng sự (2009) [39] nghiên cứu sử dụng cây thuốccủa người nhập cư Haiti và con cháu của họ ở tỉnh Camaguey, Cuba đã chỉ ra
123 loài thực vật thuộc 112 chi và 63 họ được người nhập cư Haiti sử dụng đểđiều trị các bệnh khác nhau
Gaia Luziatelli và cộng sự (2010) [40] nghiên cứu cây thuốc của cộngđồng Ashaninka (một nghiên cứu từ các cộng đồng bản địa của BajoQuimiriki, Junin, Peru đã tìm thấy 402 loài thực vật được cộng đồng sử dụng
để điều trị các loại bệnh, trong đó các cây được sử dụng nhiều nhất chủ yếuthuộc các họ: Asteraceae, Araceae, Rubiaceae, Euphorbiaceae, Solanaceae vàPiperaceae
Yadav Uprety và cộng sự (2012) [60] nghiên cứu sử dụng cây thuốctrong rừng phương Bắc của Canada đã điều tra và thống kê 546 loài cây thuốcđược sử dụng bởi những người thổ dân của rừng phương bắc Canada, các loại
Trang 19cây thuốc này được sử dụng để điều trị 28 bệnh và triệu chứng rối loạn khácnhau, trong đó các cây thuốc được sử dụng để chữa bệnh rối loạn dạ dày –ruột, rối loạn cơ xương là chủ yếu.
Theo nghiên cứu “Thực vật dân tộc của người dân Rayones, NuevoLeón, Mexico” năm 2014, đã ghi nhận 252 loài thực vật thuộc 228 chi và 91
họ được người dân Rayones sử dụng để điều trị các bệnh, trong đó các họđược sử dụng chủ yếu là: Asteraceae và Fabaceae (Eduardo Estrada-Castillón
và cộng sự, 2014) [38]
Nghiên cứu “Cây thuốc trong bối cảnh văn hóa của một cộng đồngMapuche – Tehuelche trong thảo nguyên Datagonia Argentina” đã chỉ ra 121loài thực vật được cộng đồng sử dụng để điều trị các bệnh liên quan đến tiêuhóa, hô hấp, tim mạch, giảm đau, chống viêm, sản khoa, phụ khoa và sinh dục(Soledad Molares và Ana Ladio, 2014) [56]
Ở Châu Phi:
Người dân Châu Phi đã sử dụng cây thuốc bản địa hàng nghìn năm nay
để bảo vệ sức khỏe của họ, những nghiên cứu gần đây cho thấy việc sử dụngcây thuốc của những người dân bản địa ở châu Phi rất đa dạng và phong phú(Cây thuốc Châu Phi, 2013) [28]:
Rainer W Bussmann (2006) [66] nghiên cứu về thực vật dân tộc củaSamburu ở Nam Turkana, Kenya đã thống kê được 448 loài thực vật màngười dân bản địa sử dụng để điều trị các bệnh khác nhau
Tilahun Teklehaymanot và Mirutse Giday (2007) [58] nghiên cứu vềthực vật học của cây thuốc được sử dụng bởi người dân ở Zegie Peninsula,Tây Bắc Ethiopia đã ghi nhận 67 loài cây thuốc thuộc 64 chi và 42 họ đượcngười dân sử dụng để điều trị các bệnh liên quan đến rối loạn tiên hóa, kí sinhtrùng và nhiễm trùng
Trang 20Woldu và Tilahun Teklehaymanot (2009) [51] nghiên cứu về kiến thứccây thuốc của dân tộc Bench ở Ethiopia đã tìm thấy 35 loài thực vật được sửdụng để làm thuốc, trong đó 32 loài được sử dụng để điều trị các bệnh chongười và 3 loài được sử dụng để điều trị các bệnh cho cả người và gia súc.Theo nghiên cứu của David J Simbo “Một cuộc khảo sát về các loài thựcvật được sử dụng làm thuốc trong Babungo, khu vực Tây Bắc, Cameroon”, đãxác định và ghi nhận 107 loài thực vật thuộc 98 chi và 54 họ được người dânđịa phương sử dụng để điều trị các bệnh, trong đó họ được sử dụng chủ yếu là
họ Asteraceae (David J Simbo, 2010) [36]
“Nghiên cứu về thực vật học và kiến thức bản địa về sử dụng cây thuốccủa các thầy lang trong khu vực Oshikoto, Namibia”, đã tìm thấy 61 loài câythuốc thuộc 25 họ được các thầy lang trong khu vực sử dụng để điều trị cácbệnh khác nhau như: Tâm thần, nhiễm trùng da, vết thương ngoài da, rắn cắn
và các vấn đề tim mạch (Ahmad Cheikhyoussef và cộng sự, 2011) [29]
“Nghiên cứu cây thuốc của Otwal và Ngãi ở quận Oyam, Bắc Uganda”,
đã chỉ ra 71 loài thực vật thuộc 41 họ được người dân địa phương sử dụng đểđiều trị các loại bệnh khác nhau, trong đó họ được sử dụng chủ yếu là họAsteraceae (Maud M Kamatenesi và cộng sự, 2011) [47]
Nghiên cứu “cây thuốc được sử dụng bởi phụ nữ từ rừng ven biểnAgnalazaha Đông Nam Madagascar”, đã thống kê được 152 loài cây thuốcđược sử dụng bởi người dân địa phương để điều trị các bệnh, trong đó ghinhận 8 loài được sử dụng bởi những người phụ nữ để điều trị các biến chứngtrong khi sinh, các bệnh nhiệt đới như: sốt rét, giun chỉ và các bệnh liên quanđến tình dục như bệnh lậu và giang mai (Mendrika Razafindraibe và cộng sự,2013) [48]
Nghiên cứu về “sử dụng và quản lý cây thuốc truyền thống của cộngđồng dân tộc Maale và Ari, ở miền nam Ethiopia”, đã ghi nhận 128 loài cây
Trang 21thuốc thuộc 111 chi và 49 họ được cộng đồng người Maale và Ari sử dụng đểđiều trị các loại bệnh khác nhau (Berhane Kidane và cộng sự, 2014) [34] Kết quả nghiên cứu về cây thuốc được sử dụng trong y học cổ truyền bởinhững người Oromo, quận Ghimbi, Tây Nam Ethiopia, đã thống kê được 49loài cây thuốc thuộc 31 họ và 46 chi được người Oromo sử dụng để điều trịcác loại bệnh khác nhau (Balcha Abera, 2014) [32]
Ở Châu Úc:
Những nghiên cứu về việc sử dụng cây thuốc bản địa được thực hiện ởchâu Úc còn rất ít Một nghiên cứu về các loài cây thuốc được sử dụng bởicộng đồng thổ dân Yaegl ở miền Bắc New South Wales, Australia, đã ghinhận 32 loài cây thuốc thuộc 21 họ được thổ dân Yaegl sử dụng để điều trịcác bệnh (Joanne Packera và cộng sự, 2012) [43]
Như vậy, việc điều tra và thống kê các loài cây thuốc đã để lại nhữngcông trình mang tính khoa học, tính dân tộc sâu sắc, cho thấy vốn tri thức dângian bản địa về sử dụng cây thuốc trên thế giới là vô cùng đa dạng và phong phú
2.2.2 Tình hình nghiên cứu và sử dụng cây thuốc ở trong nước
Ở Việt Nam, tập quán sử dụng cây thuốc đã có từ lâu Hơn 4000 nămdựng nước và giữ nước, dân tộc Việt Nam đã trải qua cuộc đấu tranh chốnggiặc ngoại xâm, đấu tranh với thiên nhiên và bệnh tật Ngay từ những buổiđầu sơ khai, khi con người còn sống theo lối nguyên thủy, trong quá trình tìmthức ăn, tổ tiên chúng ta đã phát hiện ra công dụng và tác hại của nhiều loạicây Suốt một thời gian dài như vậy, tổ tiên chúng ta đã dần dần tích lũy đượcnhiều kinh nghiệm, biết lợi dụng tính chất của cây rừng để làm thức ăn và làmthuốc chữa bệnh (Trần Thúy và cộng sự, 2005) [21]
Thế kỷ thứ XI (TCN), nhân dân ta có tục ăn trầu cho ấm người, thơmmiệng, uống nước chè xanh cho mát, nụ vối cho dễ tiêu,… điều đó nói lên
Trang 22những hiểu biết về dinh dưỡng và sử dụng thuốc của dân tộc (Lê Trần Đức,1997) [9]
Từ thời Hùng Vương, tổ tiên ta đã biết nấu rượu, biết dùng Thủy ngân đểướp xác và sử sách đã ghi chép về một lương y tên là Thôi Vỹ đã biết chữa bệnhlao hạch ở thời An Dương Vương (257 – 207) (Trần Thúy và cộng sự, 2005) [21].Thời nhà Lý (1010 – 1221) đã có tổ chức Ty Thái Y chăm lo và bảo vệsức khỏe cho nhà vua, có nhiều thầy thuốc chuyên lo việc chữa bệnh cho nhândân và phương pháp chữa bệnh bằng tâm lý liệu pháp phát triển Trong sửsách còn ghi lại năm 1136, vua Lý Thần Tông bị điên được lương y NguyễnChí Thành người Gia Viễn – Ninh Bình dùng tâm lý liệu pháp và tắm nước
Bồ hòn chữa cho khỏi bệnh Nhà Lý đặt quan hệ với Tống Huy Tông (TrungQuốc) trao đổi thuốc Nam lấy thuốc Bắc (Trần Thúy và cộng sự, 2005) [21]
Ở thời này, làng Đại Yên là một làng thuốc nổi tiếng, chuyên trồng và bán cácloại cây thuốc Nam phục vụ công tác chữa bệnh (Viện dược liệu, 1993) [27] Thời nhà Trần (1224 – 1399), y học cũng khá phát triển, đã có kế hoạch
tự túc thuốc Nam để kháng chiến Tướng Phạm Ngũ Lão đã trồng cây thuốc
ở Vạn An và Dược Sơn (xã Hưng Đạo – Chí Linh – Hải Dương) để cung cấpcho quân y (Lê Trần Đức, 1997) [9] Nổi bật ở thời này là nhà sư Tuệ Tĩnh(Nguyễn Bá Tĩnh) – được nhân dân tôn trọng, gọi là “Ông thánh thuốcNam” Tuệ Tĩnh đã xây dựng 74 ngôi chùa chữa bệnh cho nhân dân khônglấy tiền và gây phong trào trồng thuốc ở gia đình Ông là một đại sư nướcViệt dùng thuốc Nam giảm giá trị của thuốc Bắc, sắc thuốc chữa bệnh chonhân dân với phương châm: “thuốc Nam chữa bệnh người Nam” ông đãtruyền bá y dược cổ truyền cho nhân dân trong các tác phẩm (Lê Trần Đức,1997) [9] Thời kỳ nhà Lê (1428 – 1876) đã có những chủ trương tiến bộtrong việc chăm sóc và bảo vệ sức khỏe của nhân dân, tổ chức Thái Y Viện,
có lương y chăm lo việc chữa bệnh cho quân đội, hàng năm tổ chức các đợt
Trang 23phòng và chống dịch bệnh cho nhân dân Trong giai đoạn này có làng thuốc
ở thôn Nghĩa Trai, huyện Văn Lâm, hiện nay vẫn còn tồn tại và phát triển(Trần Thúy và cộng sự, 2005) [21]
Thế kỷ XVIII, Lê Hữu Trác hiệu là Hải Thượng Lãn Ông (1729 – 1791)
đã thừa kế dược học của Tuệ Tĩnh chép vào tập “Lĩnh Nam bản thảo” nộidung gồm 496 vị thuốc Nam của “Nam dược thần hiệu” và phát hiện thêmhơn 300 vị nữa Tác giả đã để lại bộ sách thuốc rất có giá trị là: “Tân Hoa HảiThượng Lãn Ông y tông tâm lĩnh dương an toàn trạch” gọi tắt là “Lãn Ông YNghiệp” hay “Lãn Ông Y Tập” gồm 66 quyển (Nguyễn Nhân Thống, 2008)[19] Suốt 30 năm của cuộc dời mình, tác giả đã xây dựng được nền móng chonền y học cổ truyền Việt Nam toàn diện cả về lý luận, phương pháp điều trị
và dược liệu
Ngoài các bộ sách trên, còn kể đến tập “Vạn phương thập nghiệm” củaNguyễn Nho và Ngô Văn Tĩnh gồm 8 tập, xuất bản 1763 Tập “Nam bangthảo mộc” của Trần Nguyệt Phương mô tả 100 loài cây thuốc Nam, xuất bảnnăm 1858 (Lê Trần Đức, 1997) [9]
Thời kỳ Tây Sơn (1788 – 1808) Nguyễn Hoành đã để lại tập “Namdược” với 620 vị thuốc, với các phương thuốc kinh nghiệm gia truyền (LêTrần Đức, 1997) [9]
Thời kỳ từ năm 1802 – 1883, nhà Nguyễn cũng tổ chức Thái Y Viện, tổchức điều trị bệnh phong tập trung, mở trường dạy thuốc ở Huế (Trần Thúy
và cộng sự, 2005) [21] Nguyễn Quang Lượng, Nguyễn Kinh,… là nhữngdanh y nổi tiếng thời này, đã góp phần phát triển nền y học với quyển: “Namdược tập nghiệm quốc âm” bằng chữ Nôm của Nguyễn Quang Lượng vềphương thuốc dân gian
Trong thời Pháp thuộc (1848 – 1945), y học cổ truyền nước ta có một sốhoạt động như: thành lập các hội y học ở Bắc bộ, Trung bộ, Nam bộ; mở các
Trang 24lớp huấn luyện y học cổ truyền, mở các phòng chữa bệnh, tổ chức triển lãm yhọc cổ truyền,… (Trần Thúy và cộng sự, 2005) [21] Đến đầu thế kỷ XX, đãcho xuất bản một số sách Y học cổ truyền bằng chữ quốc ngữ như “Việt Namdược học” của Phó Đức Thành Nhiều nhà thực vật học người Pháp và ngườiViệt góp công nghiên cứu cây thuốc Việt Nam, như: bộ “Trung Việt dượctính hợp biên” của Đinh Nho Chân với 1.600 vị thuốc Nam Bắc Công trìnhnghiên cứu của Crévót, Pétélot Pétélot đã cho xuất bản bộ “Catalogue desproduits de L’Indochine” (1928 – 1935), trong đó tập V (Produitsmedicinaux, 1928) đã mô tả 368 cây thuốc và vị thuốc là các loài thực vật cóhoa Năm 1952, tác giả đã cho bổ sung và xây dựng thành bộ “Les plantes demédicinales du Cambodge, du Laos et du Vietnam”, gồm 4 tập và thống kêđược 1.482 vị thuốc thảo mộc ở ba nước Đông Dương (Lê Thị Thanh Hương,2007) [12]
Sau cách mạng tháng 8 – 1945, y dược học cổ truyền đạt được nhữngthành tựu to lớn Dưới sự lãnh đạo của Bộ y tế cùng y học hiện đại, sức khỏecủa người dân được quan tâm và chăm lo chu đáo hơn Chỉ thị số 210TTG/VG ngày 06/12/1966 của thủ tướng chính phủ đã nhận định như sau:
“Dược liệu nước ta rất nhiều, gồm các loài cây thuốc và một số động vật Cónhiều loài quý, hiếm ở trên thế giới Dược liệu ở nước ta chẳng những là cơ
sở cho nền y học dân tộc mà còn có một vị trí quan trọng trong nền y học hiệnđại, chẳng những là nguồn tự cung tự cấp về các loài cây thuốc Nam, thuốcBắc, thuốc Tây, mà còn là loại hàng xuất khẩu có giá trị,… phải coi trọngdược liệu như cây công nghiệp cao cấp” (Võ Văn Chi, 1996) [5]
Vì vậy, sau khi nước nhà thống nhất, việc nghiên cứu cây thuốc ở nước
ta được quan tâm nhiều hơn Có nhiều tác giả đi sâu nghiên cứu, tìm tòi vàphát hiện thêm nhiều loài cây thuốc mới Tiêu biểu có thể kể đến bộ sách
“Dược liệu học và các vị thuốc Việt Nam” gồm 3 tập, do Đỗ Tất Lợi biên
soạn năm 1957 và đến năm 1961, cuốn sách này được tái bản in thành 2 tập
Trang 25Trong đó, tác giả đã mô tả chi tiết và nêu công dụng của hơn 100 cây thuốcnam (Nguyễn Tập, 2007) [15] Đỗ Tất Lợi đã tiếp tục dày công nghiên cứu vàtrrong những năm từ 1962 – 1965, tác giả cho xuất bản bộ “Những cây thuốc
và vị thuốc Việt Nam” gồm 6 tập, năm 1969 tái bản trong 2 tập Cuốn sáchnày của tác giả đã đề cập đến trên 500 vị thuốc có nguồn gốc thảo mộc, độngvật và khoáng vật Tác giả đã kiên trì nghiên cứu, bổ sung liên tục các loàicây thuốc trong các công trình nghiên cứu của mình và sách đã được tái bảnnhiều lần và các năm 1970, 1977, 1981, 1986, 1995, 1999, 2001 và năm 2003.Lần tái bản thứ 7 vào năm 1995 số cây thuốc của ông nghiên cứu đã lên tới
792 loài và gần đây nhất là lần tái bản lần thứ 13 (Lê Thị Thanh Hương,2007) [12] Bộ sách của ông đã mang lại giá trị khoa học và giá trị thực tiễnsâu sắc, thể hiện sự kết hợp giữa khoa học dân gian và khoa học hiện đại Trong những năm này, nhiều công trình nghiên cứu của các nhà khoahọc đã được xuất bản thành các tập sách như: “Tài Nguyên cây thuốc ViệtNam” vào 1993 của Viện Dược liệu, với khoảng 300 loài cây thuốc (PhạmHoàng Hộ, 2006) [11]; Trần Đình Lý với cuốn “1900 loài cây có ích” năm
1995, đã thống kê ở Việt Nam có khoảng 76 loài cho nhựa thơm, 260 loài chodầu béo, 160 loài có tinh dầu, 40 loài tre nứa, 40 loài song mây (Lê Thị ThanhHương, 2007) [12] Lương y lão thành, thầy thuốc ưu tú Lê Trần Đức vớicuốn: “Cây thuốc Việt Nam” năm 1995 đã giới thiệu hơn 830 loài cây thuốcchính, phụ (Lê Trần Đức, 1997) [9] Võ Văn Chi là một nhà thực vật lớn củaViệt Nam, đã đóng góp rất nhiều trong quá trình nghiên cứu về các loài thựcvật ở Việt Nam và ông đã biên soạn cuốn “Từ điển cây thuốc Việt Nam”,trong đó ông mô tả rất tỷ mỷ về các cây được sử dụng làm thuốc ở Việt Nambao gồm 3.200 cây (Nguyễn Thượng Dong và cộng sự, 2006) [8] Ngoài ra,cuốn “Cây cỏ có ích ở Việt Nam” tập I, II đề cập đến rất nhiều cây cỏ có íchnhư làm gỗ, làm lương thực, làm thuốc (Nguyễn Thượng Dong và cộng sự,2006) [8]
Trang 26Trong những năm từ 2000 đến nay, đã có nhiều cuốn sách và các tài liệu
về cây thuốc được xuất bản nhằm đáp ứng nhu cầu của nhiều người quan tâmtới cây thuốc trên khắp đất nước Việt Nam như: “577 bài thuốc dân gian giatruyền” (Âu Anh Khâm, 2001) [13]; “Thuốc Nam, thuốc Bắc và các phươngthang chữa bệnh” (Tào Duy Cần, 2001) [1] và cuốn “Thuốc bệnh 24 chuyênkhoa” (Tào Duy Cần, 2006) [2]; “Nghiên cứu cây thuốc từ thảo dược”(Nguyễn Thượng Dong và cộng sự, 2006) [8]; “Cây có vị thuốc ở Việt Nam”
do Phạm Hoàng Hộ nghiên cứu và tập hợp (Phạm Hoàng Hộ, 2006) [11];
“cây thuốc, bài thuốc và biệt dược” của Phạm Thiệp và cộng sự (2000) [16]
đề cập tới 327 cây thuốc phổ biến,… Đồng thời, có nhiều công trình nghiêncứu về cây thuốc trên cả nước công bố trên các tạp chí về cây thuốc như:Đặng Quang Châu đã công bố một số dẫn liệu về cây thuốc của dân tộc Thái
ở huyện Nghĩa Đàn (Nghệ An) gồm 177 loài, thuộc 149 chi, thuộc 71 họ khácnhau (Đặng Quang Châu, 2011) [4] Đặng Quang Châu, Bùi Hồng Hải khiđiều tra các loài cây của dân tộc Thái ở huyện Quỳ Châu (Nghệ An) đã thuđược 93 loài thuộc 7 chi, 42 họ (Đặng Quang Châu và Bùi Hồng Hải, 2003)[3] Các tác giả đã phân loại cây được sử dụng theo các nhóm bệnh: bệnhngoài da, bệnh về đường tiêu hóa, bệnh về gan, bệnh về xương… Năm 2004,Lưu Đàm Cư và cộng sự khi điều tra các loài cây có ích của dân tộc H’mông
ở vùng núi cao phía Bắc đã phân loại được 4 nhóm theo công dụng: cây lươngthực – thực phẩm, cây làm thuốc, cây có độc, cây để nhuộm màu, cây ăn quả.Trong nhóm này cây làm thuốc, các tác giả đã thống kê được 657 loài thuộc
118 họ mà người H’mông sử dụng làm thuốc chữa bệnh cho người và gia súc(Lưu Đàm Cư và cộng sự, 2004) [7] Nguyễn Thị Thủy và Phạm Văn Thỉnh(2004) [20] đã xây dựng các mô hình vườn bảo tồn cây thuốc ở vùng cao Sa
Pa, như vườn rừng, trang trại, vườn các hộ gia đình Bước đầu đã bảo tồnđược 52 loài cây thuốc thuộc 28 họ, trong đó có nhiều loài đang có nguy cơ bịtuyệt chủng
Trang 27Trong Hội nghị Khoa học Toàn quốc lần thứ 4 (21/10/2011) tại Hà Nội,
đã có nhiều báo cáo khoa học về tài nguyên cây thuốc và cách sử dụng cácloài cây thuốc trong điều trị các bệnh của cộng đồng dân tộc ở Việt Nam đượccông bố như: “Một số kết quả điều tra nguồn tài nguyên cây thuốc tại xã San
Sả Hồ, huyện Sa Pa, tỉnh Lào Cai” của Nguyễn Thị Minh Hải và cộng sự đãghi nhận 321 loài thuộc 252 chi, 94 họ thuộc 6 ngành thực vật; trong đó có tới
16 loài cây thuộc diện cần được bảo vệ và 9 loài cây đang bị khai thác mạnh ở
xã San Sả Hồ, huyện Sa Pa, tỉnh Lào Cai (Hội nghị Khoa học Toàn quốc lầnthứ 4, 2011) [25] “Các loài thực vật được đồng bào dân tộc H’mông tại Khubảo tồn thiên nhiên Hoàng Liên – Văn Bàn sử dụng làm thuốc trị bệnh gan”của tác giả Trần Văn Hải và cộng sự đã xác định được 31 loài thực vật đượcđồng bào dân tộc H’mông tại Khu bảo tồn thiên nhiên Văn Bàn sử dụng làmthuốc chữa các bệnh về gan (viêm gan, bổ gan, giải độc gan và sơ gan) (Hộinghị Khoa học toàn quốc lần thứ 4, 2011) [25] “Các loài thực vật được đồngbào dân tộc Mường tại Khu bảo tồn thiên nhiên Hang Kia – Pà Cò sử dụnglàm thuốc trị bệnh thận” của các tác giả Đỗ Sĩ Hiến và Đỗ Thị Xuyến đã chỉ
ra 65 loài thực vật được đồng bào dân tộc Mường sử dụng làm thuốc chữabệnh về thận (Hội nghị Khoa học toàn quốc lần thứ 4, 2011) [25] “Đánh giá
đa dạng nguồn gen cây thuốc của người Sán Chí ở xã Tức Tranh, huyện PhúLương, tỉnh Thái Nguyên” của tác giả Lê Thị Thanh Hương và cộng sự đãxác định được 90 loài thực vật bậc cao có mạch thuộc 82 chi, 50 họ thực vậtcủa 2 ngành thực vật bậc cao có mạch được đồng bào dân tộc Sán Chí ở xãTức Tranh, huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên dùng làm thuốc (Hội nghịKhoa học toàn quốc lần thứ 4, 2011) [25] “Những cây thuốc được sử dụngthay thế mật gấu theo kinh nghiệm dân gian và đông y ở một số địa bàn tỉnhThái Nguyên” của tác giả Lê Thị Thanh Hương và Nguyễn Thị Thuận đã thuđược 35 loài thuộc 27 chi, 21 họ của 2 ngành thực vật bậc cao được sử dụnglàm thuốc chữa bệnh thay thế mật gấu ở một số địa bàn tỉnh Thái Nguyên
Trang 28(Hội nghị Khoa học toàn quốc lần thứ 4, 2011) [25] “Điều tra các loài câythuốc và giá trị sử dụng của chúng ở một số xã thuộc huyện Cao Lãnh, tỉnhĐồng Tháp” của tác giả Võ Thị Phượng và Ngô Trực Nhã đã điều tra vàthống kê 232 loài cây được sử dụng làm thuốc thuộc 186 chi, 90 họ tại các xãcủa huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp (Hội nghị Khoa học toàn quốc lần thứ
4, 2011) [25] “Nghiên cứu thực vật có giá trị làm thuốc của dân tộc Tháitrong Khu bảo tồn Pù Luông – Thanh Hóa” của tác giả Đậu Bá Thìn và cộng
sự (2011) [9] đã điều tra, thu thập và phân loại được 226 loài cây có giá trị làmthuốc của đồng bào dân tộc Thái
“Cây thuốc truyền thống của đồng bào dân tộc Thái ở hai huyện QuỳHợp và Quế Phong, miền núi tỉnh Nghệ An” của tác giả Phạm Hồng Ban vàNguyễn Thượng Hải (2013) [10] đã xác định được 287 loài thuộc 204 chi, 87
họ của 4 ngành thực vật bậc cao được đồng bào dân tộc Thái sử dụng làmthuốc “Tri thức sử dụng các loài cây thuốc của công đồng dân tộc Cơ Tu vàVân Kiều tại vùng đệm Vườn Quốc gia Bạch Mã” của tác giả Ninh Khắc Bản
và cộng sự (2013) [10] qua điều tra đã ghi nhận được 249 loài cây thuốcthuộc 82 họ, 178 chi được người Cơ Tu sử dụng, người Vân Kiều với 27 loàicây thuốc thuộc 21 họ
Như vậy, việc điều tra và thống kê các loài cây thuốc, các bài thuốckhông những mang lại những giá trị khoa học, giá trị thực tiễn sâu sắc mà cònđóng góp và công tác bảo tồn nguồn dược liệu nước nhà, bảo tồn những bàithuốc hay Nhằm góp phần, bảo tồn bản sắc văn hóa của cộng đồng các dântộc Việt Nam
Trang 292.3 Tổng quan khu vực nghiên cứu
2.3.1 Điều kiện tự nhiên khu vực nghiên cứu
* Vị trí địa lý
Xã Hoàng Nông là một xã trung du miền núi bắc bộ của huyện Đại Từ,nằm cách trung tam huyện Đại Từ 11 km về hướng tây và cách trung tâmthành phố Thái Nguyên 40 km về hướng tây
Ranh giới hành chính tiếp giáp với các xã: phía Đông giáp xã Tiên Hội,phía Tây giáp xã La Bằng và xã Mỹ Yên, phía Bắc giáp xã Bản Ngoại, phíaNam giáp xã Khôi Kỳ
* Địa hình, địa mạo
Hoàng Nông là xã thuộc miền trung du bắc bộ, địa hình tương đối bằngphẳng, địa hình có đặc điểm địa hình dốc dần theo hướng từ Tây sang Đông.Phần lớn diện tích tự nhiên của xã là đồi núi các ngọn đồi bát úp thấp đượcngười dân trồng chè xen kẽ là các cánh đồng nhỏ hẹp để canh tác lúa và hoamàu, phía tây bắc giáp với dáy Tam Đảo với hệ động thực vật phong phú cónhiều loài quý hiếm, trên địa bàn xã có 01 con suối chảy theo hướng từ Tâysang Đông bắt nguồn từ dãy núi Tam Đảo với tổng chiều dài khoảng 8 km,diện tích mặt nước toàn xã là 27,16 ha, trong đó diện tích ao, hồ, đầm là 6,55 ha,diện tích sông, suối là 20,61 ha Trung tâm xã là cơ quan trụ sở hành chính xã,
có chợ là nơi giao lưu buôn bán, trao đổi hàng hóa phát triển kinh tế - xã hộithuận lợi giữa các xã lân cận
* Địa chất, thổ nhưỡng
Tổng diện tích đất tự nhiên toàn xã là 2.746,3 ha, trong đó đất sản
xuất nông nghiệp 751,1 ha, chiếm 27,35%; đất lâm nghiệp 1.863,51 ha, chiếm67,85%; đất phi nông nghiệp 124,46 ha; chiếm 4,53%; đất chưa sử dụng 0,78
ha chiếm 0,03%
Trang 30Bảng 2.1 Hiện trạng sử dụng đất xã Hoàng nông
tế đồi rừng gắn với du lịch sinh thái và khai thác cây dược liệu, các loại thuốcnam phục vụ chữa bệnh Thực hiện tốt công tác quản lý khai thác, vậnchuyển, chế biến gỗ và lâm sản trên địa bàn
* Đặc điểm khí hậu
Hoàng Nông mang đặc điểm chung của khí hậu vùng miền núi phía Bắc,nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, trong năm có 02 mùa rõ rệt: mùamưa từ tháng 4 đến tháng 10, khí hậu nóng ẩm và mưa nhiều; mùa khô từtháng 11 đến tháng 3, gió Đông Bắc chiếm ưu thế, lượng mưa ít, thời tiết hanh khô.Nhiệt độ trung bình hàng năm khoảng 230C; tổng lượng mưa bình quânhàng năm 1.700 - 2.200 mm, phân bố không đều có chênh lệch lớn giữa mùamưa và mùa khô
Tuy nhiên, do lượng mưa phân bố không đồng đều nên vào mùa mưahiện tượng xói mòn, rửa trôi diễn ra mạnh mẽ, ngược lại vào mùa khô lại
Trang 31thiếu nước phục vụ cho sản xuất, điều đó đã ảnh hưởng lớn đến năng suất vàsản lượng cây trồng.
Hiện trạng kênh mương: Tổng số toàn xã có 32,929 m kênh mương,
trong đó đã được cứng hoá 12.481 m đạt 37,9%, còn lại 20.448 m là kênhmương đất chưa được cứng hóa Nhìn chung hệ thồng thuỷ lợi của xã đã đáp ứngđược cơ bản yêu cầu về nước tưới cho cây lúa, cây chè và nuôi trồng thuỷ sản Tổng diên tích trồng lúa 160,63 ha trong đó có 137,55 ha được tưới tiêuchủ động đạt 85,6%
Hàng năm xã xây dựng Phương án phòng chống lụt bão giảm nhẹ thiêntai, đảm bảo đủ điều kiện đáp ứng yêu cầu dân sinh và theo quy định vềphòng chống thiên tai tại chỗ
Công tác quản lý các công trình thủy lợi: UBND xã đã thành lập đội Thủynông thực hiện quản lý và khai thác các hồ, đập và hệ thống mương trên địa bàn xã.Tổng diện tích nước mặt trên địa bàn xã là 27,16 ha, trong đó:
- Diện tích ao, hồ, đầm 6,55 ha hiện tại đã và đang được các hộ dân sửdụng để chăn nuôi thủy sản kết hợp việc tưới tiêu phục vụ sản xuất nông nghiệp
- Diện tích đất sông suối 20,61 ha gồm 01 con suối Cửa Tử bắt nguồn từdãy núi Tam Đảo chảy theo hướng Tây – Đông, là nguồn cung cấp nước chủ
Trang 32yếu phục vụ sản xuất và sinh hoạt của nhân dân Chế độ thủy văn thất thường,thường có lũ lụt vào mùa mưa, vào mùa khô thường xảy ra hạn hán, ảnhhưởng đến sinh hoạt và sản xuất đặc biệt là sản xuất nông nghiệp Với nguồntài nguyên nước ngầm, đến nay chưa có tài liệu hay kết quả nghiên cứu, thăm
dò nào cho riêng xã Hoàng Nông Tuy nhiên trên thực tế các hộ dân đã tự tổchức khoan giếng, đào giếng để sử dụng nước ngầm phục vụ cho sinh hoạt vàsản xuất Hiện nay trên địa bàn xã có khoảng 20% số hộ đã sử dụng nướcgiếng khoan, chất lượng nước không màu, không mùi, không vị được đánhgiá là nước hợp vệ sinh
2.3.2 Điều kiện kinh tế - xã hội khu vực nghiên cứu
* Dân cư, dân tộc
Trên địa bàn xã Hoàng Nông gồm có 6 dân tộc anh em cùng sinh sống,trong đó dân tộc thiểu số chiếm 34%, xã có 2 họ đồng bào Công giáo cùng sinhsống gắn bó với nhau Xã có 1469 hộ dân, với 5578 nhân khẩu, chia thành 18 xóm
* Kinh tế
Trang 33Sản xuất kinh tế của xã chủ yếu là sản xuất nông – lâm nghiệp và một sốngành công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp, hoạt động thương mại và du lịch.Lao động: có 4.683 người, trong đó lao động trong độ tuổi là4.382/5.578 nhân khẩu, chiếm 78,55% (nam 2.285 người; nữ 2.097 người).Lao động trong các lĩnh vực Nông, lâm, ngư nghiệp chiếm 52,02%; côngnghiệp, xây dựng là 34,96%; thương mại, dịch vụ là 13,02%.
Lao động đã qua đào tạo là 1.335 người (chiếm 30,47% tổng số lao độngtrong độ tuổi)
Xã đã có 01 chợ tại trung tâm xã thuộc xóm Cầu Đá, diện tích 2.294,9
m2 được đầu tư xây dựng từ năm 1994 Gồm có 01 dãy hàng sén 11 gian, cột bêtông kèo sắt, lợp prô xi măng, 01 dãy hàng ăn có 04 gian cột xi măng, kèo gỗ, lợpprô xi măng và các lều quán tạm, không có các công trình phụ trợ nhà vệ sinh, hệthống điện, hệ thống chữa cháy
Hoạt động của chợ Hoàng Nông và các điểm bán lẻ trên địa bàn cơ bản đápứng nhu cầu mua bán, trao đổi hàng hóa trên địa bàn xã
* Tình hình sản xuất nông lâm nghiệp
Về trồng trọt:
Đối với cây lúa: Diện tích đất trồng lúa theo thống kê đất đai năm 2017
là 160,63 ha, tuy nhiên trong thực tế diện tích gieo cấy cả năm là 268 ha: vụxuân là 123 ha, vụ mùa là 145 ha, trong đó có một số cánh đồng tương đốibằng phẳng, thuận lợi cho việc canh tác và đưa cơ giới hóa vào sản xuất Hệthống các công trình thủy lợi đã từng bước được đầu tư xây dựng, sửa chữa vànâng cấp cơ bản đáp ứng yêu cầu phục vụ sản xuất nông nghiệp Hoàng Nông
là một trong những xã luôn đứng trong tốp đầu về đưa các giống lúa lai, lúachất lượng cao vào sản xuất Năng suất lúa bình quân các năm đạt 55,72 tạ/ha,sản lượng 1.493,2 tấn