Mục tiêu bài học: Giúp học sinh Cảm nhận được tiếng cười lạc quan trong ca dao qua nghệ thuật trào động của người bình dân cho dù cuộc sống của họ còn nhiều vất vả lo toan.. Tiến hành bà
Trang 1TUẦN 10 – TIẾT 29-30: CA DAO HÀI HƯỚC
I Mục tiêu bài học: Giúp học sinh
Cảm nhận được tiếng cười lạc quan trong ca dao qua nghệ thuật trào động của người bình dân cho dù cuộc sống của họ còn nhiều vất vả lo toan
II Phương tiện thực hiện:
- Sách giáo khoa, sách giáo và và bản thiết kế
III Cách thức tiến hành:
Tiến hành tiết dạy theo hướng kết hợp các phương pháp đọc, trả lời câu hỏi và thảo luận nhóm
IV Tiến trình dạy học
1 Kiểm tra bài cũ
2 Giới thiệu bài mới
3 Tiến hành bài dạy
H.động của GV và HS Nội dung cần đạt
GV :Tiếng cười hài hước tự trào ?
GVTiếng cười mua vui giải trí ?
GVH: Việc dẫn cưới và thách cưới
ở đây có gì khác thường ? Cách nói
của chàng trai, cô gái đó có gì đặc
biệt ?
I Giới thiệu chung :
1 Phân loại ca dao hài hước
- Là người lao động tự lấy cái nghèo của mình ra để tự cười mình, thi vị hoá cảnh nghèo Có nghĩa là họ đã vượt lên cao hơn cảnh nghèo để lạc quan vui sống
- Là tiếng cười vui cửa, vui nhà rất cần trong cuộc sống còn vất vả lo toan bộn bề và cũng rất phù hợp với đặc tính hài hước, ưa trào lộng của nhân dân ta
2 Nghệ thuật :
- Có sự chọn lọc những chi tiết điển hình, hư cấu dựng cảnh tài tình, cường điệu phóng đại, để tạo ra những nét hài hước hóm hỉnh
II Đọc hiểu các bài ca dao
Bài 1
- Bài ca được đặt trong thể đối đáp của chàng trai và cô gái Cả hai đều nói đùa, nói vui Nhưng cách nói lại giàu ý nghĩa về cuộc sống con người Trong cuộc sống
Trang 2GVH: Từ đó anh (chị) nêu cảm
nhận của mình về tiếng cười của
người lao động trong cảnh nghèo ?
GVH: Tác giả dân gian cười
những con người nào trong xã hội,
nhằm mục đích gì và với thái độ ra
sao ?
GVG: Nếu ở bài một tiếng cười tự
trào thì tiếng cười ở những bài ca
dao này chủ yếu là phê phán Tác
giả dân gian đã cười vào từng đối
trai gái lấy nhau, hai gia đình ưng thuận thường có
chuyện thách và dẫn cưới Trong bài ca này cả dẫn và
thách cưới có cái gì không bình thường:
"Cưới nàng anh toan - Mời làng"
Cách nói giả định: "Toan dẫn voi", "dẫn trâu", "dẫn bò, anh ta dự tính dẫn các thứ đó Sang quá! Và to tát quá Nhưng chàng trai thật hóm hỉnh bởi đưa ra lí do cụ thể: + Dẫn voi thì sợ "quốc cấm"
+ Dẫn trâu thì sợ "máu hàn" đau bụng
+ Dẫn bò thì sợ ăn vào co gân
Lí do ấy chắc hẳn bên đối tác chẳng nói vào đâu được Thế thì dẫn bằng thứ gì Tiếng cười bật lên ở hai câu:
"Miễn là mời làng"
- Thách cưới là yêu cầu của nhà gái đối với nhà trai
về tiền cưới và lễ vật Thường thì nhà gái xưa thách quá cao Trong bài ca này, cô gái bộc lộ sự thách cưới của
nhà mình: "người ta thách lợn - nó ăn".
Thách như thế có gì là cao sang đâu Thách như thế thật phi lí vì xưa nay chưa từng thấy bao giờ Tiếng cười cũng bật lên nhưng có gì như chia sẻ với cuộc sống còn
khốn khó của người lao động Đằng sau tiếng cười ấy
là phê phán sự thách cưới nặng nề của người xưa Bài 2,3,4
Bài 2: Đối tượng châm biếm là bậc nam nhi yếu đuối,
không đáng sức trai Thủ pháp nghệ thuật của bài ca này là sự kết hợp giữa đối lập và cách nói ngoa dụ Đối lập hay còn gọi là tương phản "làm trai", "sức trai" phải
"xuống Đông, Đông tĩnh, lên Đoài, Đoài tan" hoặc
làm trai quyết chí tang bồng, sao cho tỏ mặt anh hùng mới cam" Ở đây đối lập lại với "làm trai" và sức trai"
là "Khom lưng chống gối, gánh hai hạt vừng" Thật
thảm hại
Cách nói ngoa dụ thường là phóng đại, tô đậm các hiện
tượng châm biếm "khom lưng chống gối" ấy như thế
nào mọi người đã rõ
Trang 3tượng cụ thể Đó là những đức ông
chồng vô tích sự, những người
chồng nịnh dơ vợ và cả những
người phụ nữ đỏng đảnh, vô duyên
GVH: Anh(chị) cho biết chàng trai
ở câu ca dao này là người như thế
nào ?
GVG:
+ Chồng người đánh bắc dẹp đông
Chồng em ngồi bếp giương cung
GVH: Những đối tượng nào bị phê
phán trong bài ca dao này ?
GVH: Anh(chị) hãy tìm một số bài
ca dao hài hước khác và thử phân
tích ?
GVH: Những biện pháp nghệ thuật
nào thường được sử dụng trong ca
dao hài hước
Bài 3: Đối tượng châm biếm là đức ông chồng vô tích
sự, lười nhác, không có chí lớn.
- Đi ngược về >< ngồi bếp sờ đuôi con mèo (Đảm đang) - (Vô tích sự)
=> tác giả dân gian đã tóm đúng thần thái nhân vật trong một chi tiết thật đắt, có giá trị khái quát cao cho một loại đàn ông èo uột, lười nhác, ăn bám vợ
So sánh:
+ Chồng người đi Hán về Hồ Chồng em … cháy quần.
+ Chồng người lội suối trèo đèo Chồng tôi cầm đũa đuổi mèo quanh mâm.
Bài 4:
- Phê phán những ông chồng coi vợ trên tất cả, cái gì ở
vợ cũng đẹp, cũng đáng yêu mặc dù ở vợ anh ta cái gì cũng đáng phê phán, đáng cười cả Bên cạch đó là những người phụ nữ đỏng dảnh vô duyên, luộm thuộm Biện pháp nghệ thuật của hai bài ca này là cách nói tương phản và ngoa dụ
* Lỗ - gánh lông > < râu rồng trời cho
* Ngáy o,o > < cho vui nhà
* Hay ăn quà > < về nhà đỡ ăn cơm
* Đầu - rơm > < Hoa thơm rắc đầu
+ So sánh:
*Tay chân nhi nhí bắp cày Cái lưng thắt đáy chẳng tày voi nan
*Chẳng ai nuôi chồng bằng tôi Sáng thời cháo cám trưa xơi canh bèo.
Cách nói tương phản, ngoa dụ, giả định, chơi chữ, nói ngược tất cả là những biện pháp nghệ thuật được sử dụng trong ca dao hài hước
Trang 4III CỦNG CỐ
Tham khảo phần Ghi nhớ SGK
4 Dặn dò: Soạn bài Luyện tập viết đoạn văn tự sự
5 Rút kinh nghiệm - bổ sung: