1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Sự tích hợp các hình thức nghệ thuật trong tín ngưỡng thờ Mẫu

13 225 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 13
Dung lượng 2,5 MB
File đính kèm Báo cáo Hội nghị khoa học sinh viên.zip (2 MB)

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Theo thời gian, khái niệm Mẫu được mở rộng để bao hàm các nữ anh hùng, các vị công chúa, hoàng hậu, hay bà tổ cô của dòng họ, bà tổ nghề của một làng nghề hoặc những người phụ nữ có công

Trang 1

BÁO CÁO HỘI NGHỊ KHOA HỌC SINH VIÊN NĂM HỌC 2018 – 2019

Đề tài: SỰ TÍCH HỢP CÁC HÌNH THỨC NGHỆ THUẬT TRONG TÍN NGƯỠNG THỜ MẪU

Tóm tắt

Tín ngưỡng thờ Mẫu hình thành dựa trên việc thờ các Nữ thần, đại diện cho thiên nhiên, như: Mẹ Đất, mẹ Nước, mẹ Lúa,… được nhân dân suy tôn làm Thánh Mẫu, đại diện cho từng miền: Trời, rừng núi, sông nước, đất đai Theo thời gian, khái niệm Mẫu được mở rộng để bao hàm các nữ anh hùng, các vị công chúa, hoàng hậu, hay bà tổ cô của dòng họ, bà tổ nghề của một làng nghề hoặc những người phụ nữ có công với đất nước Cho đến thế kỷ XVI, sự xuất hiện của Thánh Mẫu Liễu Hạnh đã đã đánh dấu sự hoàn thiện của một tín ngưỡng dân gian thuần Việt Trong báo cáo này, chúng tôi đi vào tìm hiểu các hình thức nghệ thuật được tổng hợp trong Tín ngưỡng thờ Mẫu, bao gồm: Không gian, dàn nhạc chầu văn, trang phục - đạo cụ và múa đồng

Toàn văn

1 Đặt vấn đề

fa Văn hóa ấy được thể hiện qua nhiều yếu tố, như: Không gian, cách thức thờ cúng, lên đồng,… Trong phạm vi báo cáo hạn hẹp, chúng tôi đi sâu vào các hình thức nghệ thuật dân gian được làm rõ qua tục lên đồng

2 Nội dung nghiên cứu

2.1 Không gian lên đồng

Lên đồng thường được diễn ra ở phủ, đền hay điện thờ Phủ và đền là hai không gian rộng, theo quan niệm dân gian, đây là những nơi trung tâm, nơi thờ chính của các vị Thánh được thờ phụng cao nhất và nhiều nhất trong Tín ngưỡng thờ Mẫu Điện thờ là không gian hẹp, được một số cá nhân xây dựng (thường là những con nhang đệ thử, các tín đồ theo Mẫu) với sự thành kính và lòng biết ơn với các vị thần linh Mặc dù có sự khác nhau về quy mô, song không gian thờ Mẫu ở phủ, đền, điện vẫn mang những nét đặc trưng giống nhau

Trang 2

Không gian thờ Mẫu được chia làm ba gian

Gian ở giữa là nơi thờ chính với tên gọi là ban công đồng, được sắp xếp theo hệ

thống điện thờ thần sau:

- Phật Bà Quan Âm

- Vua cha Ngọc Hoàng

- Tam tòa Thánh mẫu

- Ngũ vị Tôn quan

- Tứ phủ Chầu bà

- Tứ phủ ông Hoàng

- Tứ phủ Thánh Cô

- Tứ phủ Thánh Cậu

- Hạ ban: Quan Ngũ Hổ, Ông Lốt (rắn)

Tùy vào điều kiện mà người ta có thể thêm hoặc bớt một số hàng, song Tam tòa Thánh Mẫu và hạ ban thờ Quan Ngũ Hổ và Ông Lốt bắt buộc phải có trong điện thờ Ví dụ, một

số điện thờ nhỏ chỉ thờ Tam tòa thánh Mẫu; cũng có điện thờ Tam tòa Thánh Mẫu, Ngũ

vị Tôn quan, không có hàng Tứ phủ Thánh Chầu nhưng lại có Tứ phủ ông Hoàng,… Hai bên ban thờ chính, người ta thường thờ Cậu Cả và Cậu Bé với quan niệm các cậu là những người giám sát bản đền, bản điện

Gian bên trái, tùy thuộc vào từng địa phương, từng đền phủ lại có những cách thờ khác nhau Gian này thường là nơi thờ Mẫu Thượng Ngàn hoặc Chúa Sơn Trang, cũng có nơi lại dành ban này để thờ vị Chầu thủ đền (tức vị Chầu cai quản bản đền), ban này được

gọi là ban sơn trang…

Gian bên phải, có sự thống nhất thờ tự giữa các địa phương, các đền phủ điện Đây

là nơi thờ Đức Thánh Trần Văn hóa Việt Nam mang tính chất dung hòa, sẵn sàng đón nhận có chọn lọc những tinh hoa văn hóa khác Chính vì đặc trưng đó mà Tín ngưỡng thờ Đức Thánh Trần cũng được dung hòa, kết hợp trong Tín ngưỡng thờ Mẫu Ban thờ này

được gọi là ban Trần Triều.

Đây là chốn linh thiêng, cho nên ở các ban lúc nào cũng uy nghi, tráng lệ Phía trên

xà ngang nóc điện thường treo nón công đồng, võng đào, hai bên là hai ông Thanh Xà, Bạch Xà quấn mình đầu hướng về ban công đồng, bên dưới ban thờ được sắp xếp hoa,

Trang 3

quả, bánh kẹo, trang trí đèn điện rất bắt mắt Riêng ban sơn trang vô cùng lộng lẫy, được xây dựng theo lối sơn thủy hữu tình, như một hang động nhỏ thu hẹp, ở đó người ta thêm vào 12 pho tượng nhỏ hoặc 12 búp bê nhỏ tượng trưng cho 12 tiên nàng hầu cận Chúa sơn trang (có nơi thờ Mẫu Thượng Ngàn)

Không gian lên đồng trong phủ, đền hay điện nhuốm màu tâm linh, uy nghi, lộng lẫy Người ta thường lên đồng ở ban chính giữa (tức ban công đồng), phía dưới ban công đồng được đặt một tấm gỗ lớn, hoặc xây một mặt phẳng lớn cao hơn so với mặt đất

khoảng 20- 30cm, với diện tích chỉ đủ bằng một manh chiếu được gọi là sập công đồng.

Trên sập đồng, ta thường thấy một chiếc bàn có gắn gương được chạm khắc rất đẹp mắt,

đó là bàn loan Người lên đồng sẽ ngồi trước bàn loan, người phụ đồng lên khăn sẽ ngồi

bên phải, phụ đồng lên hương sẽ ngồi bên trái Thường có 2 đến 4 người phụ đồng, tuy nhiên hiện nay, do sập công đồng nhỏ hẹp (chỉ bằng một manh chiếu) mà mọi hoạt động của quá trình lên đồng đều diễn ra tại đây nên thường chỉ có 2 người phụ đồng thay vì 4 người

2.2 Các hình thức nghệ thuật

2.2.1 Dàn nhạc chầu văn

Chầu văn, còn gọi là hát văn là loại hình nghệ thuật không thể thiếu cho một buổi lên đồng Hát văn có xuất xứ ở vùng đồng bằng Bắc Bộ Thời kỳ thịnh vượng nhất của hát

văn là cuối thế kỉ XIX, đầu thế kỉ XX Một dàn nhạc hát văn bao gồm một đàn nguyệt,

một đàn nhị, một sáo, một trống lớn, bốn trống nhỏ, một cảnh đôi, một phách… Tùy từng địa phương, tùy hoàn cảnh hành lễ mà người ta có thể thêm bớt nhạc cụ này hoặc nhạc cụ khác, nhưng người ta không thể bớt đi đàn nguyệt, trống nhỏ, cảnh đôi vì đây là những nhạc cụ nòng cốt, nhạc cụ tính cách của âm nhạc chầu văn

Người hát trong nghi lễ lên đồng được gọi là cung văn Những người này có thể

ngồi bên phải hoặc bên trái ban công đồng Không phân biệt nam nữ, tuổi tác, bất kì ai cũng có thể hát văn, miễn sao những người này phải thuộc hết những bản văn chầu, những sự tích về các vị Thánh để dâng lời ca, tiếng hát khi thỉnh Thánh về ngự đồng Phần lớn cung văn là nam bởi họ có chất giọng dày, trầm, truyền cảm, hay nói khác đi, nam giới có chất giọng phù hợp để hát văn hơn nữ giới Thường trong một giá đồng có

Trang 4

khoảng 3 đến 5 cung văn, người chơi trống, người thổi sáo, người đánh đàn và họ luân phiên nhau hát… Một cung văn sẽ làm rất nhiều việc cùng một lúc, họ vừa hát vừa đánh đàn hoặc vừa đánh trống, gõ phách và hát Điều này tạo nên tính đa tài và sự đa dạng trong lối hát, một cung văn giỏi không chỉ bởi họ hát hay mà còn là vì họ có thể chơi nhiều nhạc cụ cùng lúc

Nghi lễ hát chầu văn trong một giá lên đồng có thể chia thành bốn phần chính:

1 Dâng văn thỉnh mời Thánh về ngự đồng

2 Kể về sự tích và ca ngợi ông đức của vị Thánh đó

3 Xin Thánh phù hộ

4 Đưa tiễn Thánh đi và chấm dứt một giá hầu bằng câu: “Xe loan Thánh giá hồi cung!”

Lời trong hát văn cũng phổ từ thơ ca dân gian, có khi vay mượn cả trong các tác phẩm văn thơ bác học và thường là thể lục bát, song thất lục bát, thất ngôn, bốn chữ… Giai điệu của hát văn khi thì mượt mà, hấp dẫn, khi lại dồn dập, khoẻ khoắn vui tươi Chất thơ của bài văn đó được nâng lên cao tuyệt đỉnh trong không khí tâm linh thành kính, khói hương nghi ngút, có dàn nhạc, lời ca phụ hoạ, đưa đẩy và các điệu múa thiêng của Thánh thể hiện qua người hầu đồng Với tính chất này hát văn ngày nay không chỉ bó hẹp trong phạm vi dùng trong nghi lễ mà hát văn cũng được coi như một hình thức ca nhạc dân gian vui tươi lành mạnh và có thể đưa ra công diễn trước đông đảo quần chúng

2.2.2 Trang phục và đạo cụ

Yếu tố quan trọng tạo nên một buổi lên đồng thành công không thể thiếu được là khăn áo và đạo cụ Những bộ trang phục này không chỉ để giới thiệu cho người xem biết

rõ hơn về các giá đồng mà nó còn là hình tượng văn hóa của dân tộc Việt Trong một buổi lên đồng có nhiều vị Thánh xuất hiện nên cần có nhiều bộ khăn áo hầu đồng khác nhau,

Trang 5

tương ứng với các giá Hầu đồng có 36 thánh ngự thì phải có 36 bộ trang phục khác nhau Tuy nhiên, tùy vào điều kiện, có khi người hầu đồng chỉ sắm đủ trang phục của những giá hầu cơ bản (thường chỉ hầu 25 giá đổ lại) Tùy từng địa phương, trang phục có thể được may theo nhiều kiểu cách khác nhau, song vẫn phải đảm bảo theo một quy tắc chung Trước hết, người lên đồng phải có những trang phục thứ yếu, như: Một bộ lót hầu màu trắng, một đôi tất trắng, áo bản mệnh, khăn phủ diện và khăn tấu hương Với mỗi giá đồng, người lên đồng sẽ được hai phụ đồng mặc cho mình những trang phục tương ứng

Ví dụ, khi bắt đầu vào buổi hầu, ba giá đầu tiên mà bắt buộc người lên đồng nào cũng phải thỉnh đó là hầu tráng mạn Tam tòa Thánh Mẫu (hình thức giáng trùm khăn trong lên đồng) Chính vì vậy mà trước khi thỉnh Mẫu, người ta sẽ mặc áo bản mệnh bên trong, sau đó là áo Mẫu ở bên ngoài Trang phục của Mẫu là áo dài, màu đỏ, thêu phượng;

cổ đeo tràng hạt đỏ, đầu đội khăn xếp đỏ, gắn hoa, cài trâm rất bắt mắt

Hay trang phục của các Quan lớn, đại diện là Quan Đệ Nhất thường là áo dài, màu

đỏ, thêu rồng, thêu hổ phù (hình rồng nhìn thẳng), hoặc thêu bối tử vuông trước ngực Vai vắt mạng chéo, đầu đội khăn xếp đỏ gắn nét thêu rồng chầu mặt nguyệt theo màu áo, đeo thẻ bài ngà ghi hiệu tôn quan hoặc ghi chung Ngũ vị Vương Quan Đầu búi tóc có cài trâm và lược theo lối nam thần Có đai quanh bụng bằng lụa hoặc đai hộp Tương tự như vậy, trang phục của các Quan Đệ Nhị, Đệ Tam, Đệ Tứ, Đệ Ngũ cũng có đặc điểm như trên, chỉ khác ở chỗ màu trang phục sẽ ứng với từng phủ (Thiên phủ màu đỏ, Nhạc phủ màu xanh, Thoải phủ màu trắng, Địa phủ màu vàng)

Trang phục Chầu Bà phong phú và đa dạng, tùy từng vùng miền mà khác nhau về hình thái và sắc màu… Cụ thể là trang phục của Chầu Đệ Nhị có màu xanh, thêu phượng hoặc thêu công, hoa may theo lối 5 thân hoặc áo tứ thân sẻ giữa, mặc quầy, cổ đeo chuỗi hạt, bụng thắt đai lụa Tai đeo trang sức vàng bạc hình phượng Tay đeo vòng vàng, đầu chít khăn củ ấu, lược gài, châm dắt, chân đi hài phượng Đai lưng giắt dây xà tích có ống bạc vôi trầu, dao bài, ống thuốc Trang phục của các vị Chầu cũng tuân thủ theo màu ứng với các phủ

Trang 6

Trang phục khăn áo của ông Hoàng Mười màu vàng, thêu ổ ngũ phúc (rồng tròn) Họa tiết hoa văn “Phúc-Lộc -Thọ”, theo hình tròn 3 lớp: Lớp trong thêu hình chữ “Thọ” bằng chỉ màu xanh, lớp giữa thêu hoa dây xen bốn con bướm chỉ ngũ sắc, lớp ngoài cùng thêu sáu con dơi xen hình hoa lá Những hình thêu này phân bố đều khắp trên hai thân áo trước sau và hai tay áo Đầu chít khăn nét ngang thêu rồng, đuôi nét thả phía sau Búi tóc cài trâm, giắt lược theo lối nam thần Vai vắt 2 mạng chéo thêu rồng mặt nguyệt Cổ đeo kiềng có kim khánh đồng tiền, phía dưới đính dây kim tằng Bụng thắt đai thêu hay dải lụa, bên sườn có bầu rượu túi thơ, tay đeo vòng vàng, chân đi hài thêu

Trang phục hàng Cô rất phong phú, đa dạng cả về loại hình cũng như cách phục trang và có nhiều phụ trang đi kèm mỗi cô lại có nét trang phục khác biệt Đối với trang phục của Cô Bé thường là những trang phục thổ cẩm hoặc trang phục màu đen, áo ngắn vạt thêu hoa, ở dưới mặc quầy, chân quấn xà cạp, đầu chít khăn như hình bông hoa Trang sức thường là kiềng, lắc và hoa tai đều làm bằng bạc

Trang phục Cậu Bé là áo ngắn vạt kiểu gi-lê thêu rồng, đầu buộc khăn, hai bên cài hoa, chân quấn xà cạp, đi giầy thêu trông trẻ thơ và ngộ nghĩnh Giá Cậu sử dụng một số

đồ trang sức như: Hai vòng tay bằng bạc đính lục lạc, vòng cổ bằng bạc có đính khánh bạc tròn, nối liền một khánh khác hình quả hạnh, dưới cùng là ba lục lạc tròn

Đạo cụ cũng là đối tượng quan trọng trong nghi lẽ hầu đồng Đạo cụ bao gồm: đao kiếm, cờ, hèo, quạt, gối, hương, mồi, đuốc, ô, gùi, Đao, kiếm và cờ thường dùng trong giá hàng Quan thể hiện sức mạnh Quạt là đạo cụ được sử dụng nhiều nhất, sử dụng để múa đồng, đề thơ, giáng bút, cũng là cái ngăn cách giữa thế giới trần tục với thế giới linh thiêng Gối luôn được đặt ở vị trí bên cạnh người ngồi đồng, ngoài chức năng để tựa, mặt gối thể hiện quyền lực nhà quan, khi thanh đồng hưng phấn thường vỗ gối và tán thưởng Bên cạnh đó, mồi, đuốc, hương được sử dụng trong hầu hết các giá với mục đích để các vị Thánh về khai quang cho bản đền, bản điện

2.2.3 Múa lên đồng

Múa đồng là một hình thức diễn xướng đã được cách điệu hóa, thể hiện sự tái sinh

của các vị Thánh trong thân xác của người lên đồng Một câu hỏi được đặt ra “Ai là người

Trang 7

lên đồng?” Trước đây người lên đồng thường là người con trai dưới 15 tuổi hoặc những

em trai nhỏ trên dưới 10 tuổi với tư chất trong trắng, ngây thơ, tự nhiên để thần linh có thể nhập vào Dần dần sau này người ta không quy định tuổi tác, giới tính, đồng nghĩa với việc bất kì ai cũng có thể lên đồng, tuy nhiên những người đó phải có căn đồng Vậy căn đồng là gì?

Căn (根) là từ Hán Việt, có nghĩa là gốc rễ, nguồn gốc (VD: Căn bản, căn nguyên, căn cơ, căn cứ…) Căn cũng là cách nói tắt của căn số, có ý nghĩa như số phận Mỗi linh hồn có đặc điểm khác nhau, có nhiệm vụ khác nhau, khi hiện thân trong một đời người sẽ thể hiện những đặc điểm đó để thực thi nhiệm vụ đó

Ví dụ: Linh hồn nghệ sĩ sẽ giàu cảm xúc, giàu tưởng tượng, sẽ trở thành văn nghệ sĩ, ca sĩ, họa sĩ, diễn viên, làm công việc văn hóa nghệ thuật; linh hồn tâm linh có trực giác nhạy cảm, lòng nhân hậu, từ tâm, có khả năng đặc biệt, sẽ trở thành linh mục, nhà sư, nhà thực hành tâm linh… Và những người được chọn phục vụ cho các vị Thánh phải là những người có thiên căn, có khả năng đặc biệt, có khả năng thu nhận được thông tin từ thần linh dưới dạng thiên nhãn, thiên nhĩ, huệ nhãn… Như vậy, theo Tín ngưỡng thờ Mẫu người

có căn đồng là người sinh ra ở dương thế nhưng có số hệ thiên cung, mệnh càn bóng quế hay là con của cửa Tứ phủ công đồng Những người có căn số đến với cửa Thánh trước vì một chữ “duyên”, sau cũng là cái “phúc” bởi không phải ai cũng có cơ duyên để được lên đồng

Lên đồng không giống như các loại hình nghệ thuật biểu diễn như nhảy, múa,…

Để trình diễn được một tiết mục múa, các diễn viên phải được tập luyện kỹ càng Lên đồng thì không như vậy, không ai dạy, không ai tập mà người ta lên đồng bằng cách tự thôi miên chính mình khi Thánh nhập, cũng như tác động tới những người ngồi dự xung quanh, tạo nên trạng thái say mê, ngây ngất, thậm chí nhập đồng (ốp đồng) Khi ấy, người lên đồng không còn là chính mình mà đó là hóa thân của các vị Thánh

Trừ giá hầu Thánh Mẫu không mở khăn là không có múa, còn lại các giá hầu khác

ít nhiều đều có múa Múa trong hầu đồng có nhiều động tác múa khác nhau, người ta có thể gọi tên các điệu múa theo tên đạo cụ để múa như: Múa mồi, múa khai quang, múa kiếm, múa hèo, múa chèo đò, múa lụa, múa tay không,…

Trang 8

Trong giá Quan Đệ Tam Khi về ngự đồng, quan làm lễ tấu hương, khai quang, chứng sớ điệp và múa đôi song kiếm.Động tác múa trong giá quan mang đặc điểm nhanh, mạnh, dứt khoát, thể hiện được sự uy nghi

Múa của các vị Chầu Bà thường là múa quạt, múa khai quang, múa mồi, múa tay không với các thế tay khác nhau Riêng Chầu Bát và Chầu Mười là hai vị nữ tướng, nên khi về đồng, Chầu Bà thường múa cờ, múa kiếm Mặc dù các Chầu là nữ, các động tác thể hiện sự dịu dàng, nữ tính song vẫn thấy được sự dứt khoát, oai nghiêm

Giá các ông Hoàng lại có những điệu múa riêng đối với từng vị Hoàng Cụ thể, giá hầu ông Hoàng Bảy với đặc trưng múa hèo Quan niệm của dân gian cho rằng ông là một

vị Thánh có nhiệm vụ đi chấm lính bắt đồng, cho nên khi Ông Bảy về ngự, nếu ông ném cây hèo vào người nào thì coi như ông đã chấm đồng người đó

Giá các Cô thường có những điệu múa đẹp, phong phú hơn Với giá hầu Cô Bơ, khi về ngự đồng cô cầm đôi mái chèo, bẻ lái dạo chơi khắp nơi Chèo thuyền là một điệu múa khá quen thuộc và được biểu diễn hầu hết đối với các vị Thánh thuộc Thoải phủ, bên cạnh múa chèo đò còn có múa bằng lụa nhằm mô tả hành động cô đi đo gió, đo nước, đo mây

Múa trong giá Cậu Bé thường là múa hèo và múa lân để thể hiện sự tinh nghịch, vui tươi, ngộ nghĩnh và ngây thơ như một đứa trẻ nhỏ

Nhìn chung, các động tác múa trong hầu đồng thường đơn giản và mang tính mô phỏng, dễ liên tưởng và lặp đi lặp lại nhiều lần Song, múa đồng đã tiếp thu và phát triển nhiều động tác cổ truyền, đồng thời đưa vào khung cảnh tín ngưỡng, lời hát văn và âm nhạc có tiết tấu luôn thay đổi, cũng như trạng thái ngẫu hứng của người lên đồng đã tạo cho múa hầu đồng mang những sắc thái riêng, đặc sắc và cuốn hút người xem

3 Kết luận

Sự tích hợp các hình thức nghệ thuật khác nhau đã tạo nên những giá trị độc đáo Với những giá trị to lớn đó, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã công nhận lên đồng Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia, và Tín ngưỡng thờ Mẫu của người Việt đã được UNESCO công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại vào tháng 12

Trang 9

năm 2016 Đây là một niềm tự hào, vinh dự cho các tín đồ, con nhang đệ tử của Tín ngưỡng thờ Mẫu nói riêng và của cả dân tộc Việt Nam nói chung

PHỤ LỤC

Hình ảnh một điện thờ Mẫu

(Bên phải là ban sơn trang; chính giữa là ban công đồng; bên trái là ban Trần Triều)

Hình ảnh một số giá hầu trong Tín ngưỡng thờ Mẫu

Trang 10

Hầu tráng mạn Tam tòa Thánh Mẫu

Giá Quan Đệ Tam

Ngày đăng: 17/05/2019, 20:50

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w