1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Quan điểm của V.I.Lênin về chế độ tập trung dân chủ và sự vận dụng của Đảng ta từ khi đổi mới đến nay

165 152 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 165
Dung lượng 1,38 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Kế thừa và phát triển quan điểm của C.Mác, V.I.Lênin đã xây dựng và thực hiện lý luận về đảng kiểu mới của giai cấp công nhân; trong đó, chế độ tập trung dân chủ được xem là nguyên tắc c

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

Trang 2

KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

LUẬN ÁN TIẾN SĨ TRIẾT HỌC

Người hướng dẫn khoa học: 1 PGS.TS Nguyễn Thị Lan Hương

2 TS Nguyễn Đình Hòa

HÀ NỘI - 2019

Trang 3

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, tư liệu được sử dụng trong luận án là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng; những phát hiện đưa ra trong luận án là kết quả nghiên cứu của tác giả

TÁC GIẢ LUẬN ÁN

Lê Hồng Ngon

Trang 4

Trang phụ bìa

Lời cam đoan

Mục lục

Danh mục các ký hiệu, các chữ viết tắt

MỞ ĐẦU……… 1

1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu ……… 1

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án……… 3

2.1 Mục đích của luận án ……… 3

2.2 Nhiệm vụ của luận án ……… 3

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án ……… 4

4 Cơ sở phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu ……… 4

5 Đóng góp mới về khoa học của luận án ……… 4

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án ……… 5

6.1 Ý nghĩa lý luận ……… 5

6.2 Ý nghĩa thực tiễn ……… 5

7 Kết cấu của luận án ……… 5

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI ……… 6

1.1 Những công trình nghiên cứu quan điểm của V.I.Lênin về tập trung dân chủ và chế độ tập trung dân chủ ……… 6

1.1.1 Những công trình nghiên cứu của các nhà khoa học nước ngoài …… 6

1.1.2 Những công trình nghiên cứu của các nhà khoa học trong nước …… 9

1.1.3 Những công trình bàn về các thuật ngữ: Chế độ tập trung dân chủ hay nguyên tắc tập trung dân chủ ……… 13

1.2 Những công trình nghiên cứu sự vận dụng quan điểm của V.I.Lênin về chế độ tập trung dân chủ của Đảng ta trong thời kỳ đổi mới ……… 17

1.2.1 Hồ Chí Minh - một kiểu mẫu trong vận dụng quan điểm của V.I.Lênin về chế độ tập trung dân chủ ……… 17

1.2.2 Thực hiện chế độ tập trung dân chủ phải có “điều kiện tiên quyết”, mà thiếu nó thì không thể thực hiện đúng đắn được ……… 19

1.2.3 Thực hiện chế độ tập trung dân chủ phải gắn liền với đổi mới sự lãnh đạo của Đảng ……… 21

1.2.4 Những thành tựu và hạn chế chủ yếu khi thực hiện chế độ tập trung dân chủ của Đảng ta trong thời kỳ đổi mới ……… 22

1.3 Những công trình nghiên cứu giải pháp nâng cao hiệu quả vận dụng quan điểm của V.I.Lênin về chế độ tập trung dân chủ ……… 25

1.3.1 Giải pháp đề cao giáo dục nhận thức, thể chế hoá nguyên tắc thành quy chế, quy định cụ thể, tăng cường tự phê bình và phê bình ……… 25 1.3.2 Giải pháp đề cao kiểm tra, giám sát, kiểm soát quyền lực, thực hiện

Trang 5

1.3.3 Giải pháp đề cao dân chủ, bảo đảm dân chủ đầy đủ trong Đảng …… 28

1.4 Đánh giá khái quát về các công trình nghiên cứu đã có và những vấn đề cần nghiên cứu tiếp ……… 29

Tiểu kết chương 1 ……… 32

CHƯƠNG 2 QUAN ĐIỂM CỦA V.I.LÊNIN VỀ CHẾ ĐỘ TẬP TRUNG DÂN CHỦ ……… 33

2.1 Quan điểm của V.I.Lênin về tập trung và dân chủ trong Đảng … … 33

2.1.1 Quan điểm của V.I.Lênin về tập trung trong Đảng ……… 33

2.1.2 Quan điểm của V.I.Lênin về dân chủ trong Đảng ……… 39

2.1.3 Quan điểm tập trung và dân chủ thể hiện trong tư tưởng của V.I.Lênin về chính đảng vô sản kiểu mới ……… 42

2.2 Chế độ tập trung dân chủ với tư cách một nguyên tắc trong xây dựng Đảng kiểu mới và với tư cách một chế độ nhà nước ……….… 48

2.2.1 Chế độ tập trung dân chủ được diễn đạt với tư cách một nguyên tắc trong xây dựng Đảng kiểu mới ……… …… 48

2.2.2 Chế độ tập trung dân chủ được diễn đạt với tư cách là một chế độ nhà nước ……… ………… …52

2.3 Bảo vệ “người yếu thế”, “phái thiểu số” trong chế độ tập trung dân chủ ……… ………… 57

2.3.1 V.I.Lênin quan niệm về “người yếu thế”, “phái thiểu số” ….……… 57

2.3.2 Cách hành xử của V.I.Lênin với “người yếu thế” “phái thiểu số”……… ……… 59

2.3.3 V.I.Lênin là một hình mẫu cho phong cách làm việc nghiêm túc, theo dõi xử lý công việc đến tận cùng trong bảo vệ “người yếu thế” ……… …… 63

2.3.4 V.I.Lênin kiên quyết xử lý tổ chức, cá nhân gây hại ……… 64

2.4 Chế độ tập trung dân chủ: những nội dung cơ bản cần quán triệt ….64 Tiểu kết chương 2 ……… 70

CHƯƠNG 3 THỰC TRẠNG VẬN DỤNG CHẾ ĐỘ TẬP TRUNG DÂN CHỦ CỦA ĐẢNG TA TỪ KHI ĐỔI MỚI ĐẾN NAY ……….72

3.1 Tư tưởng Hồ Chí Minh về tập trung dân chủ ………73

3.1.1 Tư tưởng Hồ Chí Minh về tập trung trong Đảng ……… 73

3.1.2 Tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ trong Đảng ……… …… 74

3.1.3 Những phát triển mới của Hồ Chí Minh về chế độ tập trung dân chủ 75

3.2 Những thành công của Đảng ta trong vận dụng quan điểm của V.I.Lênin về chế độ tập trung dân chủ từ khi đổi mới đến nay ………… 81

3.2.1 Về phương diện nhận thức ……… 81

3.2.2 Về phương diện hành động ……… 89

3.3 Một số hạn chế của Đảng ta trong vận dụng quan điểm của V.I.Lênin

Trang 6

3.3.1 Sự bất cập trong nhận thức của Đảng ta về chế độ tập trung

dân chủ ………96

3.3.2 Hạn chế trong vận dụng quan điểm của V.I.Lênin về chế độ tập trung dân chủ ………98

3.3.3 Nguyên nhân của những hạn chế ……… ……… 111

Tiểu kết chương 3 114

CHƯƠNG 4 MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ VẬN DỤNG QUAN ĐIỂM CỦA V.I.LÊNIN VỀ CHẾ ĐỘ TẬP TRUNG DÂN CHỦ ……….115

4.1 Nhóm giải pháp liên quan đến nhận thức về chế độ tập trung dân chủ ……… ………115

4.1.1 Nhận thức đúng về chế độ, nguyên tắc tập trung dân chủ ………… 115

4.1.2 Đề cao ý thức tự giác học tập lý luận chính trị, nâng cao năng lực thực hành nguyên tắc tập trung dân chủ ……… 116

4.1.3 Quán triệt những yêu cầu chung, cần thiết đối với các cấp ủy trong quá trình tổ chức học tập nâng cao trình độ nhận thức ……… 118

4.2 Nhóm giải pháp liên quan đến thực hiện chế độ tập trung dân chủ 120

4.2.1 Thể chế hóa chế độ tập trung dân chủ thành quy chế, quy định cụ thể……….……… 120

4.2.2 Thực hiện nghiêm túc chế độ tập thể lãnh đạo cá nhân phụ trách … 124 4.2.3 Thực hiện tự phê bình và phê bình, phát huy vai trò của cấp ủy và người đứng đầu, nâng cao chất lượng sinh hoạt đảng ……… 127

4.2.4 Nâng cao hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát; tăng cường kỷ cương, kỷ luật; khuyến khích quần chúng tham gia xây dựng Đảng…… 130

4.2.5 Thực hiện nghiêm công tác phát triển đảng viên, công tác cán bộ; Xây dựng cơ chế bảo vệ người yếu thế ……… 134

4.2.6 Tiếp tục nghiên cứu, sửa đổi, bổ sung, điều chỉnh cơ chế kiểm soát quyền lực, hoàn thiện hệ thống pháp luật hiện hành, bảo đảm thực hiện cơ chế phát huy dân chủ trong điều kiện một đảng cầm quyền ……… 138

Tiểu kết chương 4 ……… 144

KẾT LUẬN ……… 145

DANH MỤC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ ……… 148

TÀI LIỆU THAM KHẢO ……… 149

Trang 7

CNH, HĐH Công nghiệp hoá, hiện đại hoá

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu

Trong lý luận về xây dựng đảng của giai cấp vô sản, khi nhấn mạnh

tầm quan trọng của tổ chức, C.Mác đã từng nói: Người nghệ sĩ, nếu một mình

điều khiển cây đàn thì tự chỉ huy mình; đã là một dàn nhạc giao hưởng thì bắt buộc phải tuân theo cây đũa thần của người nhạc trưởng Như vậy, theo

C.Mác, sức mạnh của tổ chức cũng như hiệu quả hoạt động của toàn đảng phải dựa trên nguyên tắc thống nhất và tính tự giác Kế thừa và phát triển quan điểm của C.Mác, V.I.Lênin đã xây dựng và thực hiện lý luận về đảng kiểu mới của giai cấp công nhân; trong đó, chế độ tập trung dân chủ được xem là nguyên tắc cốt lõi về tổ chức, sinh hoạt và hoạt động của Đảng Người

luôn nhấn mạnh rằng, chế độ tập trung dân chủ phải là một cái gì đó khác xa

chế độ tập trung quan liêu, tự do vô chính phủ, đồng thời cũng giải thích một

cách thật cô đọng: Tập trung dân chủ là tự do trong thảo luận nhưng thống

nhất trong hành động Trung thành với lý luận của V.I.Lênin, hầu hết các

đảng cộng sản trên thế giới được thành lập từ giữa thế kỷ XIX đến nay, nhất

là các đảng cộng sản cầm quyền, đều khẳng định tinh thần dân chủ trong đảng

và lấy tập trung dân chủ làm nguyên tắc cơ bản trong tổ chức, sinh hoạt và hoạt động của mình

Ðảng Cộng sản Việt Nam do Hồ Chí Minh sáng lập và rèn luyện Trong mỗi thời kỳ cách mạng, Đảng ta luôn đề ra các quy định cụ thể bảo đảm thực hiện tốt chế độ tập trung dân chủ trong Ðảng Từ khi trở thành đảng cầm quyền, Ðảng ta tiếp tục khẳng định tính đúng đắn của nguyên tắc đó và từng bước có bổ sung, phát triển cả trong tư duy nhận thức lẫn trong hoạt động thực tiễn Trong đó, việc đẩy mạnh phát huy dân chủ nội bộ, thực hành chế độ tập trung dân chủ trong Ðảng và kể cả trong tổ chức, hoạt động của Nhà nước luôn được tổng kết thực tiễn, bổ sung lý luận Vai trò lãnh đạo của Đảng đã được nhân dân thừa nhận, tin tưởng và Đảng trở thành lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội Thực tế lịch sử của cách mạng Việt Nam đã chứng minh

Trang 9

tính đúng đắn và sức mạnh vô địch của chế độ tập trung dân chủ không chỉ trong Ðảng mà còn được áp dụng rộng rãi trong các tổ chức chính trị - xã hội Ðảng là một tổ chức chặt chẽ, thống nhất ý chí và hành động Trong Ðảng, mọi đảng viên đều bình đẳng trong thảo luận và biểu quyết các công việc của Ðảng theo nguyên tắc đa số; được ứng cử, đề cử và bầu cử cơ quan lãnh đạo các cấp của Ðảng; được phê bình, chất vấn về hoạt động của các tổ chức đảng

và đảng viên ở mọi cấp; v.v Vì thế, như Hồ Chí Minh đã khẳng định, Ðảng

ta tuy nhiều người, nhưng “khi tiến đánh như một người”

Tuy nhiên, những kinh nghiệm rút ra trong các kỳ đại hội Đảng gần đây

về công tác xây dựng Đảng, nhất là những hạn chế, khuyết điểm đã được Đảng ta chỉ rõ trong Nghị quyết Trung ương 4 khoá XI và khoá XII mới đây… buộc chúng ta phải suy nghĩ Vì sao có những chủ trương lớn, huy động cả trí tuệ tập thể để bàn và biểu quyết theo đa số mà vẫn cứ sai? Công tác đề bạt, bổ nhiệm cán bộ làm đúng theo nguyên tắc tập trung dân chủ, rất đúng “quy trình” mà vẫn còn nhiều khuyết điểm, đến mức “sờ đâu sai đó”? Khuyết tật này ở đâu cũng có: Trung ương có, bộ ngành, địa phương càng có, đến cấp cơ sở thì khuyết điểm này càng nhiều hơn, phức tạp và nghiêm trọng nặng nề hơn Trong khi đó, các báo cáo của các địa phương đều khẳng định, mọi việc trong Đảng đều tuân thủ theo nguyên tắc tập trung dân chủ… Những bài học đau xót trong công tác cán bộ như trường hợp Trịnh Xuân Thanh, Nguyễn Xuân Anh1 đã chỉ ra, có nguyên nhân từ sự yếu kém về năng lực, giảm sút sức chiến đấu của chi bộ, tổ chức đảng nơi cán bộ, đảng viên sinh hoạt trực tiếp; việc chấp hành nguyên tắc tập trung dân chủ không nghiêm; tinh thần tự phê bình và phê bình giảm sút

Những biểu hiện trên cho thấy sự cần thiết phải khắc phục những hạn chế, yếu kém trong nhận thức lý luận về bản chất của chế độ tập trung dân chủ Bởi vì, nhận thức đúng đắn là tiền đề cho hành động đúng đắn, đặc biệt

1 Trịnh Xuân Thanh - nguyên Phó chủ tịch tỉnh Hậu Giang, Nguyễn Xuân Anh - nguyên Bí thư Thành uỷ Đà Nẵng

Trang 10

là trong hoạt động lãnh đạo của Ðảng Trong điều kiện một Ðảng duy nhất cầm quyền, việc thực hiện nghiêm túc, đúng đắn chế độ tập trung dân chủ trong Ðảng có ý nghĩa quyết định đối với việc thực hiện tập trung dân chủ trong toàn xã hội Trên tinh thần Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, việc trở lại với những chỉ dẫn của V.I.Lênin trong lý luận về xây dựng Đảng Cộng sản kiểu mới, đặc biệt là chế độ tập trung dân chủ là yêu cầu khách quan và đòi hỏi chính đáng của công tác xây dựng Đảng

Ý thức được trách nhiệm trước yêu cầu tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng trong tình hình mới, từ giác độ triết học, nghiên cứu sinh đã lựa

chọn vấn đề “Quan điểm của V.I.Lênin về chế độ tập trung dân chủ và sự vận

dụng của Đảng ta từ khi đổi mới đến nay” làm đề tài nghiên cứu cho luận án

tiến sĩ của mình với mong muốn góp phần nhận thức sâu sắc hơn về một trong những nguyên tắc hết sức quan trọng trong tổ chức và hoạt động của một Đảng mácxít cầm quyền Đây là việc làm có ý nghĩa lý luận và thực tiễn cấp bách, nhất là trong tình hình hiện nay khi toàn Đảng đang tập trung đẩy mạnh thực hiện Nghị quyết Trung ương 4, 5, 6 khóa XII của Đảng

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án

2.1 Mục đích của luận án

Trên cơ sở luận chứng, làm rõ những nội dung cốt lõi trong quan điểm của V.I.Lênin về chế độ tập trung dân chủ; đồng thời phân tích sự vận dụng quan điểm đó của Đảng Cộng sản Việt Nam từ khi đổi mới đến nay, luận án

đề xuất một số nhóm giải pháp nhằm tiếp tục nâng cao hiệu quả vận dụng trong thời gian tới

2.2 Nhiệm vụ của luận án

Từ mục đích trên, luận án cần giải quyết những nhiệm cơ bản vụ sau:

Một là, luận chứng làm rõ thực chất quan điểm của V.I.Lênin về chế độ

tập trung dân chủ

Trang 11

Hai là, phân tích, đánh giá thực trạng vận dụng quan điểm của

V.I.Lênin về chế độ tập trung dân chủ của Đảng ta từ khi đổi mới đến nay

Ba là, đề xuất một số nhóm giải pháp chủ yếu nhằm tiếp tục nâng cao

hiệu quả vận dụng quan điểm của V.I.Lênin về chế độ tập trung dân chủ trong Đảng hiện nay và giai đoạn tới

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án

Đối tượng nghiên cứu:

Luận án nghiên cứu quan điểm của V.I.Lênin về chế độ tập trung dân chủ và sự vận dụng quan điểm này của Đảng ta thông qua xử lý nguồn tài liệu

là những tác phẩm kinh điển của V.I.Lênin về dân chủ và chế độ tập trung dân chủ; các văn kiện và các nghị quyết của Đảng Cộng sản Việt Nam qua các kỳ đại hội từ năm 1986 đến nay về vấn đề này

Phạm vi nghiên cứu:

Xuất phát từ góc độ triết học, phạm vi nghiên cứu của luận án giới hạn

trong vấn đề lý luận và thực tiễn của chế độ tập trung dân chủ trong Đảng,

mà không đi sâu nghiên cứu sang các lĩnh vực khác của Đảng

Về mặt thời gian, luận án tập trung vào giai đoạn hình thành và phát triển quan điểm về chế độ tập trung dân chủ của V.I.Lênin; điểm qua sự vận dụng quan điểm này ở Hồ Chí Minh và tập trung nghiên cứu sâu quá trình vận

dụng của Đảng Cộng sản Việt Nam giai đoạn từ 1986 đến nay

4 Cơ sở phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

Luận án sử dụng phương pháp luận duy vật biện chứng, duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin Bên cạnh đó, luận án cũng sử dụng các phương pháp cụ thể, bao gồm: Phương pháp lôgíc - lịch sử, phương pháp phân tích - tổng hợp, phương pháp so sánh kết hợp với khái quát hóa

5 Đóng góp mới về khoa học của luận án

Một là, luận án góp phần hệ thống hoá quan điểm của V.I.Lênin về chế

độ tập trung dân chủ cũng như làm rõ thực chất, nội dung cơ bản của quan

điểm này

Trang 12

Hai là, luận án làm rõ những thành tựu, hạn chế và nguyên nhân chủ

yếu của thực trạng vận dụng quan điểm của V.I.Lênin về chế độ tập trung dân chủ trong điều kiện một Đảng mácxít cầm quyền

Ba là, luận án đề xuất một số giải pháp nhằm tăng cường hiệu quả của

việc vận dụng quan điểm của V.I.Lênin về chế độ tập trung dân chủ trong

điều kiện hiện nay của Đảng ta

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án

6.1 Ý nghĩa lý luận

Luận án góp phần cung cấp những luận cứ khoa học cho việc nhận thức

và vận dụng đúng đắn quan điểm của V.I.Lênin về chế độ tập trung dân chủ của Đảng ta, nhất là trong công tác xây dựng Đảng hiện nay

6.2 Ý nghĩa thực tiễn

Luận án có thể được dùng làm tài liệu phục vụ nghiên cứu và giảng dạy trong các chuyên ngành triết học, xây dựng Đảng, xây dựng hệ thống chính trị,… cũng như cho tất cả những ai quan tâm đến vấn đề này

7 Kết cấu của luận án

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận án gồm có 4 chương, 13 tiết

Trang 13

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU

LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 1.1 Những công trình nghiên cứu quan điểm của V.I.Lênin về tập trung dân chủ và chế độ tập trung dân chủ

1.1.1 Những công trình nghiên cứu của các nhà khoa học nước ngoài

Tác giả A.V.Xamôxuđốp (Liên Xô), Nguyên tắc tập trung dân chủ và

sự thống nhất của Đảng mácxít lêninnít [86, tr.138] Theo tác giả, nguyên tắc tập trung dân chủ là điều kiện quan trọng để các đảng mácxít lêninnít thực

hiện thắng lợi vai trò lãnh đạo của mình, là biện pháp củng cố sự thống nhất trong Đảng Nhấn mạnh tính đoàn kết, thống nhất trong tổ chức, tác giả dẫn

câu nói của V.I.Lênin là phải “thống nhất trên thực tế khách quan” Do vậy,

đòi hỏi phải có một chính đảng thống nhất của giai cấp vô sản, chính đảng này hành động như một lực lượng đoàn kết có tổ chức Việc củng cố sự thống nhất của Đảng là một quá trình được quy định bởi những nguyên tắc khách quan và được chỉ dẫn một cách có ý thức Tác giả lên án mạnh mẽ những kẻ phê phán tính đúng đắn của nguyên tắc tập trung dân chủ, đồng thời đề xuất

sự cần thiết phải áp dụng nguyên tắc này trên thực tế Dẫn quan điểm của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô tại Hội nghị lần thứ XXIV:

“Kinh nghiệm xác nhận rằng sức mạnh, năng lực hành động của Đảng phụ

thuộc nhiều vào chỗ nguyên tắc tập trung dân chủ được thực hiện triệt để và đúng đắn đến đâu”, tác giả khẳng định, thực hiện triệt để và đúng đắn nguyên

tắc tập trung dân chủ (TTDC) là một điều kiện vô cùng quan trọng để đảm bảo sự thống nhất hoạt động của Đảng

Từ thực tiễn hoạt động của tổ chức đảng ở Xí nghiệp liên hợp cơ khí

nặng E.Tenlơman ở Mácđêbuốc (Cộng hoà dân chủ Đức), G.Vintecphen - tác giả cuốn Chế độ tập trung dân chủ và các yêu cầu cao đối với đảng viên [86,

tr.158]; với kinh nghiệm phong trào công nhân, tác giả đã khái quát, chế độ TTDC là nguyên tắc chỉ đạo trong việc xây dựng và trong hoạt động của đảng

Trang 14

mácxít lêninnít Ông nhấn mạnh: “chúng tôi coi chế độ tập trung dân chủ là

sự thống nhất không tách rời giữa tập trung và dân chủ và do đó, cố gắng vận dụng nó trong công tác hàng ngày” G.Vintecphen đã coi chế độ tập trung dân chủ là hai mặt thống nhất, biện chứng của một nguyên tắc trong xây dựng

Đảng, đó chính là nguyên tắc tập trung dân chủ trong Đảng

Với một cách tiếp cận khác, tác giả V.Cơrípsích (Liên Xô), trong tác

phẩm “Những nhà sáng lập chủ nghĩa Mác - Lênin bàn về sự lãnh đạo tập thể

của Đảng” [124, tr.7] cho rằng, mỗi cuộc đấu tranh có sự tham gia đông đảo

của quần chúng cần đòi hỏi một mức cần thiết tối thiểu về tính tổ chức Để tập

trung tất cả sức lực của những người tham gia đấu tranh thì phải xây dựng những nguyên tắc tổ chức nhất định và có một cơ quan lãnh đạo, tức là đảng

chính trị, và nguyên tắc chỉ đạo hoạt động đó phải là nguyên tắc tập trung dân

chủ Tác giả lý giải, một cá nhân, dù có lỗi lạc chăng nữa, cũng không thể

lãnh đạo được cuộc đấu tranh cách mạng, để thành công, chỉ có thể là một đảng tập trung và lãnh đạo theo nguyên tắc TTDC thì mới đạt được kết quả cao nhất Tuy nhiên, để cho nguyên tắc xây dựng đảng phát huy tối đa trong thực tế thì phải gắn hoạt động của tổ chức đảng với phong trào quần chúng Tác giả dẫn chứng, tại Hội nghị Tammécpho (1905), Ban Chấp hành Trung ương Bônsêvích Nga đã thông qua nghị quyết về cải tổ Đảng và nguyên tắc TTDC được phát triển hơn trong hội nghị Hội nghị đã đề nghị thực hiện ngay nguyên tắc này trong việc tổ chức bầu cử các uỷ ban địa phương Tác giả khẳng định, chính V.I.Lênin đã đề ra 6 nguyên tắc cơ bản về xây dựng Đảng

Đó là: (1) Thiểu số phải phục tùng đa số, (2) Cơ quan cao nhất của Đảng

phải là đại hội Đảng, (3) Những cuộc bầu cử cơ quan Trung ương của Đảng phải trực tiếp tiến hành trong đại hội, (6) Quyền của bất kỳ nhóm nào trong Đảng cũng phải được xác định rõ ràng trong Điều lệ Đảng

Tác giả cũng dành phần lớn trang viết đề cao nguyên tắc tập thể lãnh

đạo các nhân phụ trách Trong Chương Nguyên tắc tập thể lãnh đạo của Đảng trong Đảng Cộng sản (b) Nga và phong trào Quốc tế cộng sản, tác giả

Trang 15

mô tả tính cách phục tùng tuyệt đối nguyên tắc tập thể lãnh đạo của V.I.Lênin

công tác thực tiễn của Người là sự phục tùng có ý thức vào tập thể, ngay cả trong trường hợp, theo ý kiến của Người, tập thể phạm sai lầm” [124, tr.96]

Đồng thời, cũng phê phán hết sức gay gắt thái độ không tôn trọng, thậm chí coi thường nguyên tắc tập trung dân chủ của các cá nhân lãnh đạo, cho dù họ đang giữ chức vụ cao nhất trong Đảng Tác giả đã dẫn ra trường hợp của

hành Trung ương và các nghị quyết đại hội Đảng đã được thông qua, nhất là trong những năm gần cuối đời Lợi dụng sự tập trung trong tay nhiều quyền lực, Gi.Xtalin tự đặt mình lên trên Đảng, không đếm xỉa đến ý kiến của tập thể Sự phá hoại ấy biểu hiện ở chỗ, hơn 13 năm không triệu tập đại hội Đảng toàn quốc, ít họp hội nghị Ban Chấp hành, tự giải quyết những vấn đề quan trọng của đất nước Tác giả cho rằng đó là sự vi phạm nghiêm trọng nguyên tắc TTDC trong Đảng và làm suy yếu Đảng, sẽ dẫn đến hậu quả khôn lường

Ở đây, cũng cần nhắc đến Từ điển Petit Larousse đã định nghĩa “chế độ

tập trung là chế độ kéo theo sự quy tụ mọi quyết định và hành động vào cơ quan đầu não của các đảng và các nghiệp đoàn” [125, tr.234] Từ đây, nhiều nhà nghiên cứu đã chứng minh chế độ tập trung là kết quả hoạt động tổ chức của mọi giai cấp xã hội Họ lý giải, dù là giai cấp phong kiến, giai cấp tư sản cho đến giai cấp công nhân khi trở thành giai cấp cầm quyền đều kiên quyết tập trung quyền lực Vậy tập trung là nguyên tắc tổ chức của mọi giai cấp trong xã hội Tập trung là nguyên tắc tổ chức của mọi chính đảng Còn dân chủ mới là tính chất cần xây dựng, làm nền tảng cho nguyên tắc tập trung của các đảng cộng sản Tính chất có thể cho phép phát triển từ “thấp” đến “cao”, qua nhiều sắc thái, từ “nhạt” tới “đậm” Còn nguyên tắc thì bất di bất dịch

2 Gh.V.Sisêrin: nhà hoạt động chính trị của Đảng và Nhà nước Liên Xô

3 Gi.Xtalin: nguyên Tổng bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô

Trang 16

Nói chung, các nhà khoa học ở các nước xã hội chủ nghĩa đều thống

nhất rằng, nguyên tắc TTDC chủ do V.I.Lênin đề ra là nguyên tắc cơ bản của

Đảng Trong đó, tập trung và dân chủ là hai mặt thống nhất biện chứng,

không thể tách rời Nguyên tắc tập thể lãnh đạo cá nhân phụ trách là sự phản

ánh một mặt khác của nguyên tắc TTDC, bổ sung cho nguyên tắc này và làm

cho nguyên tắc xây dựng Đảng giàu sức sống Chế độ tập trung dân chủ hay

nguyên tắc tập trung dân chủ có cùng cách hiểu: Đó là nguyên tắc tập trung dân chủ trong Đảng

1.1.2 Những công trình nghiên cứu của các nhà khoa học trong nước

Trong nước có rất nhiều công trình nghiên cứu về TTDC và chế độ TTDC, nhiều nhất là các bài viết trong các tạp chí lý luận khoa học Chúng tôi chọn lọc và giới thiệu một số tác phẩm phản ánh rõ nhất quan điểm của V.I.Lênin về chế độ tập trung dân chủ, được công bố trong những năm gần đây Có thể tóm lược các quan điểm này qua một số nội dung sau:

Thứ nhất, theo V.I.Lênin, Đảng phải có tổ chức và nhất thiết phải hoạt động theo chế độ tập trung dân chủ Tập trung sẽ làm cho Đảng có sức mạnh

vô địch

Thể hiện tư tưởng này có Nguyễn Văn Huyên với công trình “Về các

nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Đảng Cộng sản Việt Nam” [36, tr.94]

Theo tác giả, V.I.Lênin là người nhận thức sâu sắc tầm quan trọng đặc biệt

của tổ chức Người từng nói rằng: “Hãy cho tôi một tổ chức, tôi sẽ đảo lộn

nước Nga lên!” Nhưng tổ chức mà V.I.Lênin nêu ở đây là tổ chức có trật tự,

kỷ cương và có nguyên tắc V.I.Lênin kiên quyết phản đối tệ “tổ nhóm”, phản đối “phương thức thủ công nghiệp”, phân tán, tản mạn, vô tổ chức Cho nên,

năm 1899, Người đã đề ra nhiệm vụ thành lập một đảng thống nhất - đảng phải được tổ chức và hoạt động theo chế độ tập trung và dân chủ Trong tác

phẩm “Làm gì?” và “Một bước tiến hai bước lùi”, V.I.Lênin lập luận và lý

giải rõ ràng sức mạnh của chế độ tập trung và chế độ dân chủ Người đặc biệt nhấn mạnh tầm quan trọng và ý nghĩa quyết định của chế độ tập trung trong

Trang 17

mọi hoạt động của Đảng; đồng thời chỉ rõ rằng, nếu không hoạt động theo nguyên tắc của chế độ tập trung thì chính đảng của giai cấp vô sản không thể trở thành một chính đảng chiến đấu, đảng đó cũng không thể lãnh đạo giai cấp

vô sản hoàn thành sứ mệnh trọng đại là lật đổ chủ nghĩa tư bản, xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội Theo Người, tập trung mà không có dân chủ thì đảng đó cũng chỉ là đảng của một nhóm người, thậm chí, của một người; họ dùng quyền hành có tổ chức, của tập thể như thể quyền hành của riêng mình,

do đó sẽ thao túng tất cả nhằm đạt mục đích, mưu đồ cá nhân

Thống nhất cao với lập luận trên, tác giả Nguyễn Bá Dương, với bài “Ý

nghĩa thời sự của học thuyết Lênin về xây dựng Đảng cầm quyền” [9, tr.15],

đã khẳng định, V.I.Lênin là người không chỉ bổ sung, phát triển sáng tạo những tư tưởng của C.Mác và Ph.Ăngghen về xây dựng chính đảng độc lập của giai cấp vô sản, mà còn nâng tầm cao những tư tưởng đó thành học thuyết khoa học, cách mạng về xây dựng đảng mácxít kiểu mới của giai cấp công nhân với tư cách đảng cầm quyền, lãnh đạo Qua phân tích, tác giả đã chỉ ra ý nghĩa thời sự của học thuyết đối với cuộc vận động, xây dựng và chỉnh đốn Đảng ta hiện nay thành một đảng thật sự trong sạch, vững mạnh, một đảng vừa là “đạo đức”, vừa là “văn minh” Bám sát thực tiễn đấu tranh cách mạng của phong trào công nhân và dựa vào chế độ tập trung dân chủ do C.Mác, Ph.Ăngghen đề ra, V.I.Lênin đã phát triển toàn diện cơ chế đó và khẳng định rằng, tập trung dân chủ không chỉ là nguyên tắc tổ chức xây dựng đảng mácxít kiểu mới, mà còn là nguyên tắc mang tính khoa học trong quản lý nhà nước, tổ chức cộng đồng, chỉ đạo các hoạt động cách mạng một cách có văn hoá Tác giả nhấn mạnh, thực chất của chế độ tập trung dân chủ là sự kết hợp hữu cơ giữa chế độ tập trung với chế độ dân chủ triệt để vốn có của giai cấp công nhân, bắt nguồn từ những đòi hỏi của nền sản xuất đại công nghiệp với trình độ khoa học, công nghệ tiên tiến, hiện đại Từ trong bản chất, chế độ TTDC đã loại bỏ hoàn toàn khuynh hướng vô chính phủ, sự thiếu thống nhất

về lãnh đạo, chỉ đạo của các tổ chức, cá nhân hòng phá hoại sự thống nhất ấy,

Trang 18

đồng thời cũng loại bỏ khuynh hướng độc đoán, chuyên quyền, gia trưởng,

cục bộ, bản vị mà một số lãnh tụ của các đảng chính trị thường mắc phải

Cũng theo tác giả, với V.I.Lênin, chế độ TTDC hoàn toàn không phải là

sự tự phát, những biểu hiện ngẫu hứng, cứng nhắc, đơn độc của một cá nhân hay một nhóm người đầy thiên kiến, hẹp hòi, mà là cả một quá trình và kết quả của lao động trí tuệ, một sự gạn lọc tinh chất nhất, một sự sáng tạo triệt để nhất để dân chủ trở thành sức sống, có tác dụng thúc đẩy sự phát triển, cải tạo thực tiễn V.I.Lênin khẳng định, nếu không có chế độ TTDC thì Đảng Cộng sản không thể là đội tiền phong chiến đấu có tổ chức và là tổ chức cao nhất của giai cấp công nhân và Đảng không thể tránh khỏi bị chia rẽ, tản mạn, mang tính cục bộ; thoái hóa về tư tưởng chính trị, suy đồi về đạo đức cách mạng và lối sống văn hóa Người còn cho rằng, ai đó tự thừa nhận mình là đảng viên của Đảng Cộng sản mà lại phủ nhận chế độ TTDC, nghĩa là phủ nhận tính tổ chức và kỷ luật của Đảng thì người ấy đã rơi vào chủ nghĩa cơ hội, xét lại và đang biến đảng cộng sản thành “câu lạc bộ tranh luận”; và chính nó là biểu hiện rõ ràng nhất về sự suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức

và lối sống Lập luận của tác giả có giá trị và ý nghĩa thời sự trong triển khai

học tập, thực hiện Nghị quyết Trung ương 4, khoá XII của Đảng ta hiện nay

Thứ hai, tập trung dân chủ là một chế độ, cơ chế lãnh đạo; thực hiện tốt cơ chế này sẽ đảm bảo cho Đảng có sức mạnh thống nhất về tư tưởng, chính trị và tổ chức

Trước tiên, phải kể đến công trình khoa học “Dân chủ và tập trung dân

chủ - lý luận và thực tiễn” của Nguyễn Tiến Phồn [89, tr.24]; tác giả cho

rằng, V.I.Lênin luôn nhất quán quan điểm coi “tập trung dân chủ là một chế

độ, một nguyên tắc quản lý, lãnh đạo” Tác giả luận giải, trước đây C.Mác đã

từng nhấn mạnh giá trị của chế độ tập trung bằng một so sánh đậm chất nghệ

thuật: Người nghệ sĩ vĩ cầm tự mình điều khiển cây đàn thì tự mình chỉ huy

lấy mình Còn với một dàn hợp xướng thì bắt buộc phải có sự chỉ huy của người nhạc trưởng với cây đũa thần trong tay họ Tác giả khẳng định, sau

Trang 19

này, chính V.I.Lênin đã nhắc lại ý tưởng ấy của C.Mác, đồng thời phát triển lên tầm cao mới, thành bản chất của chế độ tập trung dân chủ

Cũng theo Nguyễn Tiến Phồn, trong mối quan hệ giữa tập trung với

dân chủ thì tập trung là phương thức, là điều kiện, còn dân chủ là cơ sở, là

mục đích Tác giả quan niệm, dân chủ là điểm xuất phát, sau đó, thông qua tập trung mà dân chủ được giữ vững, được thực hiện và trở thành mục đích Không dựa trên dân chủ thì tập trung trở thành quan liêu, chuyên chế độc tài Không gắn với tập trung thì dân chủ không có sức mạnh thực tế hành động, không thành tổ chức cố kết và sẽ dẫn tới phân tán, cục bộ, cát cứ, phường hội

và tự do vô chính phủ Mặt khác, dân chủ càng phát triển cao thì càng tăng cường tính đúng đắn, chính xác của tập trung, giúp người lãnh đạo và quản lý

tránh được sai lầm do chủ quan, duy ý chí, phiêu lưu chuyên chế, độc tài Tác

giả khẳng định: Tập trung dân chủ là một loại cơ chế thực hiện dân chủ

Thực hiện tốt cơ chế tập trung dân chủ sẽ bảo đảm cho sự thống nhất ý chí, thống nhất hành động trong toàn Đảng, giúp Đảng tăng thêm sức mạnh

Tác giả Nguyễn Phú Trọng với công trình “Xây dựng chỉnh đốn Đảng-một số

vấn đề lý luận và thực tiễn” đã luận giải: TTDC là nguyên tắc cơ bản của một

Đảng Mác – Lênin chân chính, xuất phát từ tính chất, chức năng, vai trò, trách nhiệm của Đảng, phản ánh đặc điểm và bản chất của giai cấp công nhân hiện đại Nguyên tắc ấy do V.I.Lênin đề ra từ đầu thế kỷ XX Theo tác giả, việc thực hiện nguyên tắc TTDC là điều kiện bảo đảm phát huy sáng kiến và tính tích cực sáng tạo của mọi tổ chức đảng, mọi đảng viên; đồng thời, bảo đảm sự thống nhất ý chí, thống nhất hành động của toàn Đảng Bởi vì, nguyên tắc TTDC là sự kết hợp chặt chẽ, hài hoà giữa hai mặt tập trung và dân chủ trong một mối quan hệ hữu cơ, biện chứng, chứ không phải chỉ là tập trung hoặc chỉ

là dân chủ Hai mặt đó tuy mâu thuẫn nhau nhưng lại bổ sung cho nhau, thống nhất với nhau, làm thành một nguyên tắc hoàn chỉnh Dân chủ là điều kiện, là tiền đề của tập trung, cũng như tập trung là cơ sở, là cái bảo đảm cho dân chủ được thực hiện Tác giả nhấn mạnh: Không nên hiểu dân chủ là “tính từ” của

Trang 20

tập trung hoặc tập trung là “tính từ” của dân chủ Tuyệt đối hoá một mặt nào

đó đều có thể dẫn đến những sai lầm nguy hiểm, có hại cho sự lãnh đạo và sức mạnh của Đảng Để củng cố thêm lập luận của mình, tác giả đã dẫn ra việc ngay từ những ngày đầu đấu tranh để thành lập Đảng Công nhân dân chủ

- xã hội Nga, V.I.Lênin đã nêu ra những yêu cầu phải kết hợp chặt chẽ tính tập trung, kỷ luật thống nhất của Đảng với tính dân chủ rộng rãi, tức là thực

hiện nghiêm nguyên tắc tập trung dân chủ [112, tr.335]

Rõ ràng là, nếu phá vỡ chế độ TTDC thì tính chất và bản chất của Đảng Cộng sản cũng bị tổn hại và Đảng đứng trước nguy cơ tan rã, không thể trở thành đội tiền phong gương mẫu - bộ tham mưu chiến đấu có tổ chức và là tổ chức cao nhất của giai cấp công nhân, và đương nhiên, Đảng không có khả năng vạch ra một cương lĩnh hành động triệt để, khoa học, cách mạng; không

có sức mạnh toát lên từ sự nêu gương, làm mẫu; từ đó giáo dục, thuyết phục, vận động quần chúng nhân dân học tập, làm theo một cách tự giác để thực hiện thắng lợi cương lĩnh đã đề ra Cũng do vậy, một khi nguyên tắc của chế

độ TTDC bị phá vỡ, Đảng không còn đủ uy tín để lãnh đạo cách mạng; không được nhân dân suy tôn là người lãnh đạo, người “đầy tớ thật trung thành của nhân dân”; và quần chúng nhân dân sẽ không đứng về phía Đảng, dành cho Đảng sự đồng tình, ủng hộ trong đấu tranh cách mạng; thậm chí sẽ hoài nghi

về mục tiêu, lý tưởng của Đảng là đấu tranh xóa bỏ áp bức, bóc lột, bất công để tự giải phóng mình; sẽ mất phương hướng và chìm đắm trong mê

muội, an phận bởi cuộc sống đau khổ, tối tăm của thân phận làm nô lệ

1.1.3 Những công trình bàn về các thuật ngữ: Chế độ tập trung dân

chủ hay nguyên tắc tập trung dân chủ

Theo tác giả Mạch Quang Thắng, trong bài “Nguyên tắc tập trung dân

chủ trong xây dựng Đảng - những vấn đề nhận thức thêm” [99], thì tập trung dân chủ là nguyên tắc cơ bản của việc xây dựng Đảng Cộng sản Vấn đề này

đã được V.I.Lênin xác định trong học thuyết về xây dựng đảng kiểu mới của giai cấp vô sản, sau đó được các đảng cộng sản của Quốc tế Cộng sản (Quốc

Trang 21

tế III) cũng như nhiều đảng cộng sản của phong trào cộng sản quốc tế vận dụng vào trong các hoạt động của đảng mình Theo tác giả, C.Mác và Ph.Ăngghen chưa đề cập thật rõ vấn đề TTDC trong xây dựng Đảng của giai

cấp công nhân Trong Điều lệ của Đồng minh những người cộng sản, nội dung về chế độ hay nguyên tắc TTDC chưa được xác định rõ nét lắm; chỉ đề cập vấn đề tổ chức và có thể bãi miễn các thành viên, v.v V.I.Lênin mới là

người đầu tiên xác định một cách rõ ràng nhất nguyên tắc TTDC trong xây dựng đảng kiểu mới của giai cấp vô sản (Đảng Cộng sản), nhưng trong điều kiện cụ thể của nước Nga và sau này là Liên Xô, việc thực hiện nguyên tắc ấy

có lúc còn nặng về tập trung Chế độ TTDC hay nguyên tắc TTDC đều cùng

một nghĩa, đó là nguyên tắc trong tổ chức và hoạt động của Đảng Cũng theo

tác giả, Hồ Chí Minh – lãnh tụ của Đảng Cộng sản Việt Nam – coi nguyên tắc TTDC và chế độ dân chủ tập trung đều cùng nghĩa, là nguyên tắc rất quan

trọng trong xây dựng Đảng Cộng sản Việt Nam Hồ Chí Minh coi tập trung

và dân chủ phải luôn luôn đi đôi với nhau; dân chủ phải đi đến tập trung và tập trung trên cơ sở dân chủ Trong Điều lệ Đảng Cộng sản Việt Nam được thông qua tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X năm 2006, nêu rõ: “Đảng Cộng sản Việt Nam tổ chức theo nguyên tắc tập trung dân chủ”, đồng thời xác định 6 nội dung cụ thể không những về “tổ chức” mà chủ yếu là về “hoạt động” hoặc “sinh hoạt” của Đảng Cũng theo tác giả, vấn đề cơ bản nhất cần nhận thức lại chế độ tập trung dân chủ theo quan điểm của V.I.Lênin chính là bảo đảm các điều kiện cơ bản và có tính tiên quyết, đó là Đảng phải trong

sạch, vững mạnh, đảng viên tốt chiếm số đông trong tổ chức

Đồng quan điểm về cách hiểu các khái niệm nêu trên, tác giả Bùi Phan

Kỳ còn mở rộng thêm, khái niệm chế độ tập trung dân chủ hay chế độ dân

chủ tập trung cũng có cùng cách hiểu thống nhất Để chứng minh lập luận của

mình, trong bài “Tập trung dân chủ, nguyên tắc tổ chức cơ bản giúp đảng

cộng sản loại bỏ mọi khuynh hướng của chủ nghĩa cơ hội” [41], tác giả đã

luận giải, do có thời gian đã tiếp thu những kinh nghiệm của cách

Trang 22

mạng Trung Quốc, nên nhiều từ ngữ được diễn đạt theo kiểu Hán–Việt,

như Đảng Cộng sản Đông Dương được viết là Đông Dương Cộng sản Đảng,

Đảng Tân Việt được gọi là Tân Việt Đảng, nguyên tắc tập trung dân chủ được viết (và nói) là nguyên tắc dân chủ tập trung… Tìm lại nguồn gốc của

từ thì thấy, khi ghi nguyên tắc này vào Điều lệ của Đảng CNDCXH Nga năm

1906, V.I.Lênin viết là Democraticheskii centralism Cụm từ này được các

nước châu Âu dịch là centralisme démocratique (Pháp) và democratic centralism (Anh, Mỹ), nguyên văn dịch sang tiếng Việt phải là “chế độ tập

trung dân chủ” Tập trung là danh từ, đóng vai trò chủ ngữ còn dân chủ là tính từ, đóng vai trò vị ngữ hay thuộc ngữ, nói rành rọt ra là “sự tập trung

mang tính dân chủ” Tác giả, cũng dẫn thêm rằng có một vài luận án tiến sĩ

phân tích về “hai mặt mâu thuẫn thống nhất, gắn bó với nhau, lồng vào

nhau, quy định lẫn nhau, thể hiện tính biện chứng của một nguyên tắc tổ chức”, hoặc không ít người dày công phân tích “tính tập trung” phản ánh bản chất của nền công nghiệp lớn, là nét đặc trưng của giai cấp công nhân Chính đảng của giai cấp công nhân phải phản ánh đúng bản chất của giai cấp mình”, v.v Nhưng lịch sử các tổ chức chính trị của giai cấp công nhân trải

qua từ Quốc tế I đến Quốc tế II, không chứng minh điều đó; lịch sử các chính đảng của giai cấp công nhân trước khi tự chấn chỉnh theo Quốc tế III cũng không chứng minh thuyết phục Những lập luận trên đây đã chạy

sang lĩnh vực “bình luận chính trị” mà không còn đứng vững trên bình diện của “khoa học tổ chức” Nét tinh tế, phức tạp nhất cần lay chuyển hiện nay

là những nhận thức được khẳng định như một chân lý về “tính tập trung dân

chủ của nguyên tắc tổ chức”

Với một cách tiếp cận khác, tác giả Vũ Như Khôi, trong bài “Phát huy

dân chủ trong Đảng vừa là mục tiêu, vừa là động lực để nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng” [40, tr.61], cho rằng, do nước ta có

hoàn cảnh đặc thù về sản xuất, sinh sống và bảo vệ quyền độc lập tự chủ nên sớm có được những tư tưởng và thiết chế dân chủ, nhưng đó không phải là

Trang 23

dân chủ rộng rãi cho mỗi người dân mà là dân chủ cộng đồng, dân chủ công

xã Từ khi bị thực dân Pháp xâm lược, đô hộ, xã hội nước ta trở thành xã hội

thuộc địa, nửa phong kiến thì dân chủ cộng đồng truyền thống bị thủ tiêu, mà

dân chủ tư sản cũng bị ngăn cấm Quyền dân chủ đối với dân ta còn là điều xa

lạ Đảng ta lại hoạt động trong hoàn cảnh bất hợp pháp, điều kiện thực hiện

tập trung còn rất khó khăn Nên Hồ Chí Minh muốn nhấn mạnh thành tố “dân

chủ” trong nguyên tắc TTDC và diễn đạt là “dân chủ tập trung” Theo tác giả,

trong quan niệm của Hồ Chí Minh, dân chủ vừa là mục đích, vừa là động lực

của sự phát triển xã hội Cuộc cách mạng Việt Nam như Người xác định từ

đầu, đó là cuộc cách mạng tư sản dân quyền, sau đó gọi là cuộc cách mạng

dân tộc dân chủ nhân dân, nhưng tất cả đều đặt mục tiêu dân chủ của nhân

dân lên hàng đầu Chẳng những thế, quốc hiệu đầu tiên của nước ta trong thời

đại mới cũng đặt tiêu chí đầu tiên là dân chủ: Việt Nam Dân chủ Cộng hoà

Từ khi nước ta giành được độc lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh thường nói: Nước

ta là một nước dân chủ Hồ Chí Minh là người Việt Nam đầu tiên tiếp thu chủ

nghĩa Mác – Lênin và trở thành người cộng sản đầu tiên của dân tộc Người

chỉ ra các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Đảng, trong đó có nguyên tắc

TTDC và theo cách diễn đạt phổ biến của Người, đó là nguyên tắc “dân chủ

tập trung” Tác giả còn dẫn ra, từ Đại hội I (tháng 3-1935) đến Đại hội II

(tháng 2-1951), các văn kiện của Đảng đều ghi là “dân chủ tập trung” Chỉ từ

Đại hội III đến nay thì Đảng ta mới chính thức sử dụng thuật ngữ “tập trung

dân chủ” Tuy nhiên, tác giả không giải thích vì sao Hồ Chí Minh không sử

dụng thuật ngữ “dân chủ tập trung” từ Đại hội này (Đại hội III, 1960)

Tóm lại, các tác giả cùng thống nhất rằng, tư tưởng về xây dựng đảng

theo chế độ TTDC đã được C.Mác và Ph.Ăngghen là người đầu tiên nêu lên

và được ghi vào “Điều lệ của Liên đoàn những người cộng sản”, văn kiện

“Điều lệ hội Liên hiệp công nhân quốc tế” Những tư tưởng về chế độ TTDC

của các ông được V.I.Lênin kế thừa và phát triển khi xây dựng nên học thuyết

về đảng kiểu mới của giai cấp công nhân, “Đảng phải là một đội ngũ có tổ

2-2

Trang 24

chức và là tổ chức chặt chẽ của giai cấp công nhân, Đảng phải là một khối thống nhất về chính trị, tư tưởng” Chính điều đó buộc Đảng phải thực hiện

chế độ TTDC trong xây dựng và hoạt động của Đảng như một tất yếu Chế độ

tập trung dân chủ đòi hỏi Đảng phải có một điều lệ, một kỷ luật, một cơ quan tuyên truyền và cổ động thống nhất, một cơ quan lãnh đạo tập trung thống nhất, hoạt động theo nguyên tắc thiểu số phục tùng đa số, cấp dưới phục tùng cấp trên, toàn Đảng phục tùng Ban Chấp hành Trung ương và Đại hội Đảng toàn quốc Chỉ như vậy mới bảo đảm cho Đảng thật sự thống nhất và do đó,

mới thật sự mạnh mẽ, “muôn người như một” Còn thuật ngữ chế độ tập

trung dân chủ hay nguyên tắc tập trung dân chủ đều cùng một cách hiểu

thống nhất

1.2 Những công trình nghiên cứu sự vận dụng quan điểm của V.I.Lênin

về chế độ tập trung dân chủ của Đảng ta trong thời kỳ đổi mới

1.2.1 Hồ Chí Minh - một kiểu mẫu trong vận dụng quan điểm của V.I.Lênin về chế độ tập trung dân chủ

Về nội dung này có một số công trình nghiên cứu của các tác giả như:

Lê Đức Bình, Tập trung dân chủ hay dân chủ tập trung; Hoàng Chí Bảo, Nét

đặc sắc trong phương pháp tiếp cận, trong quan điểm và quan niệm của Hồ Chí Minh về dân chủ; của Nguyễn Minh Tuấn, Quan điểm của Hồ Chí Minh

về tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách; Nguyễn Tiến Phồn, Tư tưởng Hồ Chí Minh về thực hiện dân chủ và nguyên tắc tập trung dân chủ trong hoạt động quản lý nhà nước [88, tr.57] Nhìn chung, các tác giả khá thống nhất trong

nhận xét, đánh giá sự vận dụng quan điểm của V.I.Lênin về chế độ tập trung dân chủ ở Hồ Chí Minh trên một số tư tưởng chủ yếu như sau:

Thứ nhất, trong di sản tư tưởng Hồ Chí Minh, dân chủ có một vị trí đặc

biệt nổi bật Người chẳng những để lại cho chúng ta một hệ thống các quan niệm, quan điểm sâu sắc và hiện đại về dân chủ, xét về mặt lý luận, mà xét về mặt thực tiễn còn nêu tấm gương mẫu mực về thực hành dân chủ cho chúng ta noi theo Đặc biệt trong tình hình hiện nay, khi toàn Đảng đang tiếp tục đẩy

Trang 25

mạnh việc học tập, làm theo tư tưởng, đạo đức và phong cách Hồ Chí Minh, triển khai cuộc vận động xây dựng, chỉnh đốn Đảng theo Nghị quyết Đại hội XII

Thứ hai, về chế độ TTDC, các tác giả cho rằng, đây là một phương diện

cấu thành nội dung tư tưởng dân chủ của Hồ Chí Minh Ở đây, Hồ Chí Minh

có sự sáng tạo khi vận dụng nguyên lý kinh điển mácxit về dân chủ Hồ Chí

Minh diễn đạt nguyên tắc này là dân chủ tập trung Cái mới ở Hồ Chí Minh là

đặc biệt chú trọng tới dân chủ, vận dụng đúng đắn quan hệ giữa dân chủ và tập trung, bảo đảm cho mối quan hệ này lành mạnh, tích cực, không bị lệch lạc, cực đoan Người nhiều lần giải thích rằng thảo luận, tranh luận thẳng thắn, nói rõ và nói hết ý kiến, cùng nhau tìm tòi chân lý, đạt tới sự thống nhất,

đó là dân chủ Tôn trọng quyết định, chỉ thị, nguyên tắc, chấp hành mệnh lệnh chỉ huy, chấp hành nghị quyết của các cấp lãnh đạo, của người lãnh đạo, đó là tập trung Tập thể lãnh đạo là dân chủ Cá nhân phụ trách là tập trung Kết hợp giữa tập thể lãnh đạo với cá nhân phụ trách, đó là dân chủ tập trung Đảng là một tổ chức cách mạng, phải thống nhất tư tưởng, ý chí, hành động

Kỷ luật của Đảng nghiêm minh, là “kỷ luật sắt” nhưng là kỷ luật tự giác Cũng có khi Người sử dụng khái niệm tập trung dân chủ nhưng vẫn luôn nhấn mạnh dân chủ, tập trung trên cơ sở dân chủ Người cũng thẳng thắn phê bình một số cán bộ lãnh đạo của Đảng có lúc, có nơi không được dân chủ, cần phải chú trọng sửa chữa Dân chủ không đối lập với tập trung, rất cần tập trung Tập trung không đối lập với dân chủ, phải luôn dựa trên cơ sở dân chủ Nội

dung chế độ TTDC là thực hiện nghiêm quy định: Thiểu số phục tùng đa số,

cấp dưới phục tùng cấp trên, toàn Đảng phục tùng Trung ương và Đại hội

Tuy nhiên, cái khó là sự cụ thể hóa và vận dụng sao cho thật đúng đắn các nguyên tắc ấy trong thời kỳ đổi mới, nhất là trong hoạt động lãnh đạo của Đảng hiện nay

Thứ ba, là một nhà dân chủ giữ vững nguyên tắc, nhưng rất tinh tế

trong ứng xử, Hồ Chí Minh luôn đề cao tự phê bình và phê bình, tôn trọng ý

Trang 26

kiến khác, không đồng nhất thiểu số với sai lầm, bởi đa số không phải khi nào cũng đúng Phải căn cứ vào thực tiễn, khi thực tiễn đã làm sáng tỏ sự thật đúng - sai thì phải xem xét lại các kết luận, không thành kiến với người có ý kiến thiểu số Người mang ý kiến thiểu số vẫn có quyền bảo lưu tới cấp trung ương, nhưng đồng thời phải tôn trọng nghị quyết, quyết định của cấp trên Hồ Chí Minh đã rất chú trọng những nguyên tắc đó và thực hành mẫu mực, có lý

có tình, tôn trọng tổ chức, tôn trọng con người, tôn trọng nhân cách từng người Tôn trọng thiểu số, phục tùng chân lý Đây là những chỉ dẫn rất đúng đắn, sâu sắc, là bài học luôn mới mẻ trong công tác xây dựng Đảng

1.2.2 Thực hiện chế độ tập trung dân chủ phải có “điều kiện tiên quyết”, mà thiếu nó thì không thể thực hiện đúng đắn được

Thể hiện mạnh mẽ quan điểm trên, tác giả Mạch Quang Thắng trong

bài “Nguyên tắc tập trung dân chủ trong xây dựng Đảng - những vấn đề nhận

thức thêm” [99] cho rằng, đây là điều mà V.I.Lênin chưa đề cập trong học

thuyết về xây dựng đảng kiểu mới của giai cấp công nhân Vấn đề này là do chúng ta rút ra từ thực tế Đảng Cộng sản Liên Xô là điển hình trong mặt trái

về thực hiện nguyên tắc này, do đó đã để tuột mất vai trò cầm quyền của Đảng Một mình Tổng Bí thư đã giải tán được cả Ban Chấp hành Trung ương Đảng và dẫn đến Đảng Cộng sản Liên Xô bị tan rã, còn tập thể Đảng không thể làm gì được khi Tổng Bí thư sai lầm Cả bộ máy Bộ Nội vụ và KGB đều đặt trực tiếp, toàn diện dưới sự lãnh đạo của Đảng, mà cụ thể là của Bộ Chính trị, Ban Bí thư Trung ương Đảng, nhưng đổ vỡ thì vẫn cứ là đổ vỡ Vậy, vấn

đề không chỉ tại cơ chế, nguyên tắc, mà cái chính là những điều kiện để thực

hiện nguyên tắc Tác giả luận giải: Trong một tổ chức đảng trong sạch, vững mạnh thì thực hiện chế độ TTDC thường là đúng đắn, không có vấn đề gì đáng lo ngại Nhưng, đối với những tổ chức đảng mất đoàn kết, chia rẽ, bè phái, lục đục, số đảng viên tốt ít hơn số lừng chừng, nhất là ít hơn số đảng viên thoái hoá, biến chất, thì điều gì sẽ xảy ra khi thực hiện theo nguyên tắc

“thiểu số phục tùng đa số”? Chắc chắn, những tổ chức đảng như thế, số đảng

Trang 27

viên thoái hoá, biến chất đang chiếm đa số kia sẽ lũng đoạn và số đảng viên tích cực thiểu số sẽ luôn luôn bị lép vế Điều này là cực kỳ tai hại, khi đó Đảng sẽ không kết nạp được những người ưu tú vào Đảng, đồng thời, cũng không cách nào loại bỏ được những đảng viên thoái hoá, biến chất ở trong Đảng, dẫn đến tổ chức đảng yếu kém Từ tổ chức đảng suy yếu, tất yếu sẽ dẫn đến tình trạng chế độ TTDC bị thực hiện lệch lạc, lợi dụng Đó là tình hình đảng viên đông nhưng không mạnh Vì vậy, chế độ TTDC, về mặt nào đó, là

“con dao hai lưỡi”, cần thận trọng khi thực hiện nó ở trong Đảng Tác giả kết luận: Vấn đề cơ bản nhất cần nhận thức lại chế độ TTDC theo quan điểm của

V.I.Lênin, chính là bảo đảm các điều kiện cơ bản có tính tiên quyết, đó là cả

tập thể tổ chức đảng phải thật sự trong sạch, vững mạnh để số đảng viên tốt chiếm số đông trong tổ chức Có như thế, chế độ TTDC mới trở thành một

nguyên tắc cơ bản làm cho Đảng ta mạnh lên, còn nếu không như thế thì chính nguyên tắc này lại cản trở, làm cho Đảng tan rã

Cùng nhìn nhận vấn đề này, tác giả Nguyễn Phú Trọng, trong công

trình khoa học Nâng cao năng lực và sức chiến đấu của Đảng trong thời kỳ

mới [110, tr.209] nhận xét: Nguyên tắc tập trung dân chủ rất quan trọng,

nhưng khi đi vào cuộc sống, nếu chủ thể không biết cách vận dụng hoặc thực hiện tùy tiện thì nó có thể bị lợi dụng, bóp méo Do đó, khi quán triệt, vận

hành nguyên tắc tập trung dân chủ trong thực tiễn cần chú ý cơ sở, điều kiện

để bảo đảm thực hiện thật tốt nguyên tắc này Tác giả lưu ý: “Trong một tổ chức, một tập thể lãnh đạo nếu đa số tốt, thiểu số cơ hội, tham nhũng, thoái hóa biến chất thì thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ sẽ loại bỏ được những phần tử cơ hội, tham nhũng, thoái hóa biến chất ra khỏi Đảng; trái lại, khi đa số cơ hội, tham nhũng, thoái hóa, chỉ có thiểu số tốt - theo quy định thiểu số phục tùng đa số, cá nhân phục tùng tổ chức - thì kết quả sẽ ngược lại: những người tốt, trong sáng, liêm khiết sẽ bị loại”

Trang 28

1.2.3 Thực hiện chế độ tập trung dân chủ phải gắn liền với đổi mới sự lãnh đạo của Đảng

Thể hiện tư tưởng này có tác giả Lưu Văn Sùng, với bài “Dân chủ

trong Đảng Cộng sản - những bài học kinh nghiệm từ cải tổ, cải cách và đổi mới ở các nước xã hội chủ nghĩa” [94, tr.109] Theo tác giả, nguyên tắc

TTDC trong Đảng khi được mở rộng, áp dụng rộng rãi đã hạn chế dân chủ trong đời sống xã hội Đây cũng là những cảnh báo đối với Đảng ta thời kỳ đổi mới Tác giả viện dẫn nước Nga thời kỳ Xôviết, các cuộc bầu cử vào các

cơ quan nhà nước và các đoàn thể nhân dân được thực hiện theo phương thức

“Đảng cử, dân bầu” Nhưng, dân đi bầu chỉ là hình thức, thừa nhận ý của Đảng đã chọn, không phải là lựa chọn theo ý của nhân dân Hơn nữa, không ít trường hợp danh sách được Đảng đề cử không phải theo ý chí của toàn Đảng

mà theo ý kiến cá nhân bí thư Trong khi, Đảng Cộng sản muốn thực hiện nền

dân chủ cao hơn dân chủ tư sản, dân chủ gấp triệu lần dân chủ tư sản, nhưng

phương thức thực hiện lại không phù hợp với mục tiêu ấy

Theo tác giả, chủ nghĩa xã hội theo mô hình Xôviết đã có những cống hiến to lớn cho nhân loại, có giá trị vẻ vang cả một chặng đường lịch sử, nhưng nó lại khó đứng vững được trong điều kiện mới Nói cách khác là không thể tồn tại trong điều kiện mới Tác giả luận giải, từ thập niên 60 của thế kỷ XX, trên thế giới đã diễn ra cuộc cách mạng khoa học - công nghệ hiện đại Những nước có nền kinh tế thị trường đã ứng dụng rất nhanh các thành tựu khoa học công nghệ mới, trong khi các nước có nền kinh tế bao cấp lại

chậm trễ Do vậy, các nước tư bản có bước tiến nhảy vọt về năng suất lao

động và hiệu quả kinh tế, còn các nước xã hội chủ nghĩa thì tiến rất chậm Đồng thời, cùng với cuộc cách mạng khoa học công nghệ hiện đại là quá trình quốc tế hóa, toàn cầu hóa; hợp tác và đối thoại trở thành xu hướng lớn của thế giới Trong điều kiện ấy, những khuyết tật của mô hình chủ nghĩa xã hội Xôviết đã bộc lộ một cách rõ rệt Khủng hoảng kinh tế - xã hội diễn ra trong toàn bộ hệ thống xã hội chủ nghĩa vào thập kỷ 80 của thế kỷ XX là điều

Trang 29

không thể tránh khỏi Thực hiện cải tổ, cải cách, đổi mới để chuyển sang mô hình mới hoàn thiện hơn cũng là tất yếu khách quan đối với tất cả các nước

lựa chọn mục tiêu xã hội chủ nghĩa làm phương hướng phấn đấu của mình

Tuy nhiên, công cuộc cải tổ ở Liên Xô được thực hiện trong điều kiện người đứng đầu Đảng đã tha hóa, không thể đề ra đường lối đúng đắn cho công cuộc cải tổ, thất bại là tất yếu Trong khi đó, công cuộc cải cách của Trung Quốc và công cuộc đổi mới của Việt Nam đã giành được những thành tựu to lớn Thắng lợi của công cuộc đổi mới ở Việt Nam do nhiều nguyên nhân, trong đó nguyên nhân chủ yếu là do Đảng Cộng sản có đường lối đổi mới đúng đắn: Đổi mới toàn diện, nhưng giữ vững mục tiêu độc lập dân tộc

và chủ nghĩa xã hội, thực hiện mục tiêu đó bằng phương thức mới, có bước đi đúng, giữ vững vai trò lãnh đạo của Đảng, giữ vững đoàn kết nhất trí trong Đảng, từng bước mở rộng dân chủ và kiên quyết chống đa nguyên, đa đảng; hội nhập với cộng đồng quốc tế, nhưng giữ vững độc lập về chính trị và kiên định thực hiện mục tiêu xã hội chủ nghĩa Nhờ có đường lối đổi mới đúng mà Việt Nam đã thoát ra khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội, tăng trưởng đạt tốc

độ cao liên tục trong nhiều năm, chính trị ổn định, an ninh và quốc phòng được giữ vững

1.2.4 Những thành tựu và hạn chế chủ yếu khi thực hiện chế độ tập trung dân chủ của Đảng ta trong thời kỳ đổi mới

Nghiên cứu nội dung này, công trình “Quan điểm của V.I.Lênin về thực

hiện nguyên tắc tập trung dân chủ trong xây dựng đảng cầm quyền” [107,

tr.32] của tác giả Đặng Hữu Toàn cho rằng, trong quan niệm của V.I.Lênin,

nguyên tắc này không chỉ là phương pháp và tác phong công tác của chính đảng vô sản cầm quyền, mà trên hết và trước hết, nó chính là chế độ tổ chức

và nguyên tắc tổ chức của Đảng Trong thời kỳ đổi mới, Đảng ta không chỉ

nhiều lần khẳng định quan điểm đó của V.I.Lênin, mà còn coi đó là nguyên

tắc quan trọng nhất chỉ đạo mọi hoạt động, tổ chức sinh hoạt nội bộ và phong cách làm việc của Đảng Tại Đại hội lần thứ XI, một lần nữa, Đảng ta đã nhấn

Trang 30

mạnh quan điểm: Thực hiện đúng nguyên tắc TTDC trên cơ sở thật sự phát huy dân chủ trong sinh hoạt đảng, giữ nghiêm kỷ luật trong Đảng, chống quan liêu, bè phái, cục bộ, địa phương Chúng ta hiểu rõ vì sao khi thực hiện đúng nguyên tắc này, Đảng ta đã có được sự thống nhất ý chí và hành động, có được sức mạnh vô địch của một đảng cách mạng cầm quyền, đồng thời cũng hiểu rõ vì sao trong công cuộc đổi mới ngày nay, Đảng ta cần tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo và năng lực cầm quyền mới có thể đáp ứng được đòi hỏi công cuộc đổi mới, của nhân dân và chính bản thân Đảng

Tác giả Nguyễn Minh Tuấn, trong bài “Nguyên tắc tập trung dân chủ

trong hoạt động của Đảng” [104, tr.125], đã nhận định: Nhờ được tổ chức

theo nguyên tắc TTDC, Đảng ta đã tạo được sức mạnh to lớn, lãnh đạo cách mạng Việt Nam thành công trong cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc và đạt được nhiều thành tựu trong công cuộc xây dựng đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa Sức mạnh và uy tín của Đảng được nhân dân thừa nhận, được ghi nhận bằng Điều 4 Hiến pháp năm 1992 và Hiến pháp 2013 hiện nay:

“Đảng Cộng sản Việt Nam, đội tiên phong của giai cấp công nhân Việt Nam,

đại biểu trung thành quyền lợi của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc, là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội”

Tác giả Đức Vượng, trong “Thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ” [104, tr.97], đã nhận xét: Trong thời kỳ đổi mới, việc sinh hoạt đảng dân chủ

được mở rộng hơn Đảng đã thổi luồng sinh khí dân chủ vào trong sinh hoạt đảng Chế độ tập trung dân chủ cũng được thực hiện đúng mức Đảng viên có quyền phát biểu trái với những ý kiến chung và được bảo lưu để xem xét Mặt khác, Trung ương đã ban hành một số văn bản nhằm tăng cường tập trung,

mở rộng dân chủ, quy định rõ trách nhiệm, quyền hạn của các cấp bộ Đảng,

cụ thể hoá trách nhiệm và quyền hạn của các chức danh lãnh đạo trong Đảng

ở tất cả các cấp Cấp uỷ, chính quyền địa phương cũng quan tâm hơn đến công tác lãnh đạo, chỉ đạo giải quyết công tác khiếu nại, tố cáo Nhiều bộ, ngành, địa phương đã xây dựng quy chế công khai tiếp dân, phân công cấp

Trang 31

uỷ, thủ trưởng cơ quan trực tiếp đối thoại với dân Do đó, nhiều vụ việc phức tạp, kéo dài đã được chỉ đạo, giải quyết có kết quả Đây cũng là một bước tiến trong quá trình thực hiện chế độ TTDC trong Đảng theo Điều lệ Đảng và trong Nhà nước theo quy định của Hiến pháp, pháp luật

Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện chế độ TTDC, trong sinh hoạt đảng, theo đánh giá của tác giả, cũng còn bộc lộ không ít những khiếm khuyết Cụ thể là tình trạng tập trung quan liêu và dân chủ hình thức vẫn còn nặng Một số cấp uỷ, nhất là ở cơ sở, việc tổ chức thực hiện nguyên tắc TTDC chưa nghiêm, còn qua loa, hình thức Sinh hoạt đảng ở không ít tổ chức đảng

cơ sở còn đơn điệu, nội dung sơ sài Trong sinh hoạt vẫn còn hiện tượng né tránh khuyết điểm, không dám nhìn thẳng vào sự thật, nói rõ sự thật, nể nang nhau, “dĩ hoà di quý” Một số nơi, tổ chức đảng, chính quyền, đoàn thể yếu kém, nội bộ mất đoàn kết Nhiều cán bộ, đảng viên không chịu học tập để nâng cao trình độ lý luận chính trị, nghiệp vụ chuyên môn Không ít cán bộ, đảng viên thoái hoá, biến chất, quan liêu, tham nhũng, mất dân chủ, vi phạm pháp luật, nhưng vẫn “lọt lưới” hoặc “hạ cánh an toàn”, gây bất bình trong nhân dân Hiện tượng “làm láo, báo cáo hay”, dối trên, lừa dưới vẫn đang gây bất bình, căm phẫn Công tác kiểm tra, thanh tra ở không ít nơi đạt kết quả thấp Tình trạng phát ngôn, phát tán tài liệu sai nguyên tắc,… vẫn còn xảy ra

Cùng nhận định trên, tác giả Trần Vũ Triêu, trong bài “Về nguyên tắc

tập trung dân chủ của Đảng” [104, tr.119], đã chỉ ra nguyên nhân sâu xa của

tình trạng đó là do không thấy hoặc không nhận ra, do hiểu sai và thực hiện sai lệch nguyên tắc TTDC của Đảng Một số đảng viên đã lợi dụng dân chủ

để vu cáo, đả kích tổ chức và lãnh đạo cấp trên chỉ vì không đạt được nguyện vọng cá nhân về một vấn đề nào đó, gây phức tạp tình hình địa phương Một

số chi bộ bỏ sinh hoạt từ 3 đến 5 kỳ, thậm chí bỏ 9 kỳ sinh hoạt trong năm

Có trường hợp, khi cấp uỷ đảng cấp trên ban hành quyết định hình thức kỷ luật thì tổ chức đảng cấp dưới không chấp hành Chưa kể một số khác lợi

Trang 32

dụng để chống Đảng Đó là những vi phạm chế độ TTDC một cách nghiêm trọng

Tóm lại, các công trình nghiên cứu việc vận dụng chế độ TTDC của V.I.Lênin trong thời kỳ đổi mới của Đảng ta, trên nền tảng tư tưởng Hồ Chí Minh - một kiểu mẫu sáng tạo chứ không theo lối rập khuôn, máy móc - cho thấy, việc vận dụng nguyên tắc xây dựng Đảng gắn với đổi mới tư duy lãnh đạo của Đảng cầm quyền, thực hiện công cuộc đổi mới đất nước toàn diện,

mà khởi đầu là đổi mới về tư duy kinh tế đã đem lại những thành tựu rất đáng

tự hào Các tác giả cũng nhìn thấy những hạn chế, khuyết điểm khi vận dụng nguyên tắc này, đặc biệt phải lưu ý “điều kiện tiên quyết” khi vận dụng trong thực tế Đây cũng là cơ sở chủ yếu, gợi ý đề ra giải pháp khắc phục

1.3 Những công trình nghiên cứu giải pháp nâng cao hiệu quả vận dụng quan điểm của V.I.Lênin về chế độ tập trung dân chủ

1.3.1 Giải pháp đề cao giáo dục nhận thức, thể chế hoá nguyên tắc thành quy chế, quy định cụ thể, tăng cường tự phê bình và phê bình

Quan tâm đến giải pháp này có tác giả Nguyễn Văn Huyên (Cục Tuyên

huấn, Tổng cục Chính trị), trong cuốn “Về các nguyên tắc và hoạt động của

Đảng Cộng sản Việt Nam” [36, tr.94], cho rằng bản chất của chế độ TTDC

thể hiện ở mối quan hệ biện chứng giữa hai thành tố tập trung và dân chủ Việc giải quyết tốt mối quan hệ này quyết định chất lượng thực hiện nguyên tắc TTDC Đây cũng là nội dung tập trung nhiều quan điểm khác nhau, thậm chí trái ngược nhau, là điểm nhạy cảm để các thế lực thù địch tập trung chống phá Đảng ta Để khắc phục những thiếu sót trên, đồng thời nâng cao chất lượng vận dụng quan điểm của V.I.Lênin về chế độ TTDC, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu trong toàn Đảng, tác giả đề xuất 5 giải pháp sau:

Một là, quán triệt cho cán bộ, đảng viên nhận thức đầy đủ và thống nhất

về nguyên tắc TTDC, giúp cán bộ, đảng viên nâng cao trình độ vận dụng và

tổ chức thực hiện nguyên tắc TTDC Khi quán triệt phải kết hợp giữa việc tổ

Trang 33

chức bồi dưỡng của cấp ủy với việc khuyến khích tự học tập, tự bồi dưỡng, làm cho mọi đảng viên nắm vững vị trí ý nghĩa tầm quan trọng, nội dung cụ thể của nguyên tắc; có ý thức tôn trọng, tự giác, chủ động, kiên quyết đấu tranh bảo vệ và thực hiện nguyên tắc TTDC

Hai là, cụ thể hóa nội dung, yêu cầu của nguyên tắc TTDC thành chức

trách, nhiệm vụ, quyền hạn và các mối quan hệ công tác, chế độ công tác, của từng tổ chức đảng, đảng viên và thể hiện rõ qua các quy chế, quy định

Ba là, nâng cao chất lượng sinh hoạt của cấp ủy, tổ chức đảng Bên

cạnh việc nâng cao trình độ trí tuệ, năng lực tư duy, làm cơ sở cho việc vận dụng vào quá trình ra các quyết định Phải tìm những hình thức, biện pháp phát huy mạnh mẽ dân chủ nội bộ Coi việc tham gia ý kiến, trình bày ý kiến

cá nhân trong sinh hoạt đảng là nhiệm vụ bắt buộc với từng đảng viên, trở thành một tiêu chí đánh giá, phân loại đảng viên trong công tác xây dựng Đảng Có như thế mới đảm bảo có nghị quyết lãnh đạo đúng đắn

Bốn là, thực hiện nghiêm túc nền nếp, chất lượng chế độ tự phê bình và

phê bình Chống các hiện tượng giải quyết không đúng mối quan hệ giữa lãnh đạo và chỉ huy, lấn lướt phạm vi trách nhiệm và quyền hạn của nhau giữa Đảng với chính quyền; đồng thời cũng phải cảnh giác và kiên quyết ngăn chặn các biểu hiện tìm cách dung hòa giữa người chỉ huy và bí thư vì những động cơ cá nhân, cục bộ

Năm là, tăng cường công tác kiểm tra việc thực hiện điều lệ, nghị

quyết, chỉ thị, quy chế hoạt động của các cấp ủy, tổ chức đảng Phải chú trọng phát huy vai trò kiểm tra giám sát của quần chúng với cán bộ, đảng viên Kết hợp kiểm tra thường xuyên, định kỳ với kiểm tra bất thường, linh hoạt, cụ thể; thường xuyên nắm vững thực chất tình hình chấp hành nguyên tắc TTDC, chấp hành nghị quyết, chỉ thị, quy định, quy chế của tổ chức đảng Luôn đề cao cảnh giác và kiên quyết đấu tranh với những âm mưu, thủ đoạn xuyên tạc, phủ nhận của các thế lực thù địch đối với nguyên tắc TTDC

Trang 34

Để thực hiện có chất lượng nguyên tắc TTDC trong Đảng hiện nay, tác giả đề xuất cần kết hợp nhuần nhuyễn giữa việc nâng cao nhận thức gắn với duy trì thật nghiêm nền nếp, chế độ sinh hoạt đảng; thực hiện có chất lượng sinh hoạt tự phê bình và phê bình, nâng cao tính đảng và ý thức trách nhiệm

của cán bộ, đảng viên Đồng thời phải quán triệt và cụ thể hóa nguyên tắc tập

thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách thành các quy định, quy chế cụ thể, khoa học

Tác giả lưu ý, biện pháp có ý nghĩa cơ bản và lâu dài chính là không ngừng giáo dục, nâng cao trình độ toàn diện cho mọi cán bộ, đảng viên để từ đó mỗi cán bộ, đảng viên thực sự là người mẫu mực về phong cách dân chủ và kỷ luật, là chỗ dựa tin cậy của quần chúng nhân dân

1.3.2 Giải pháp đề cao kiểm tra, giám sát, kiểm soát quyền lực, thực hiện nghiêm pháp chế, đề cao tinh thần thượng tôn pháp luật

Điển hình có tác giả Lưu Văn Sùng với bài “Dân chủ trong Đảng Cộng

sản - những bài học kinh nghiệm từ cải tổ, cải cách và đổi mới ở các nước xã hội chủ nghĩa” [94, tr.109] Theo tác giả, sự sụp đổ của chế độ xã hội chủ

nghĩa ở Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu và thành công của cải cách, đổi mới ở Trung Quốc và Việt Nam cho thấy, có hai điều "đáng sợ"

nhất đối với Đảng Cộng sản cầm quyền, đó là đường lối sai; cán bộ tha hóa,

biến chất Hai vấn đề này có quan hệ mật thiết với nhau, là nhân quả cho

nhau, mà khởi đầu là sự tha hóa của cán bộ cầm quyền Nếu trong nền kinh tế thị trường hình thành “thị trường quan chức”, “kinh doanh quan chức” cho dù

đó là thị trường ngầm, thì sự tha hóa của cán bộ sẽ càng diễn ra nhanh chóng

và nguy hại hơn Nó sẽ phá hủy nền tảng của Đảng, Nhà nước và toàn bộ hệ thống chính trị Tác giả cho rằng, xu hướng này có khắc phục được không và khắc phục bằng cách nào - đó là vấn đề đặt ra đối với các đảng cộng sản cầm quyền lãnh đạo, xây dựng và phát triển đất nước theo mục tiêu xã hội chủ nghĩa Như vậy, cần thiết phải áp dụng tổng hợp các giải pháp và thực hiện

thường xuyên, liên tục, lâu dài, cụ thể là những giải pháp chủ yếu sau:

Trang 35

Một là, xây dựng hệ thống thanh tra, giám sát, kiểm soát quyền lực trong nội bộ đảng từ Trung ương đến địa phương và cơ sở Hệ thống này do đại hội đảng các cấp bầu ra; có hệ thống tổ chức từ Trung ương đến cơ sở; có

quyền thanh tra mọi hoạt động của bí thư và cấp ủy các cấp

Hai là, xây dựng thể chế dân chủ trong Đảng, đặc biệt là thể chế lựa

chọn, quy hoạch, đề bạt cán bộ Quy trình thực hiện những công việc trên phải bảo đảm dân chủ nhằm lựa chọn đúng những người thật sự có tài năng và đạo đức, tuyệt đối trung thành với Đảng và nhân dân Công tác tổ chức - cán

viên Phải kiên quyết đấu tranh chống xu hướng “chạy quyền, chạy chức",

"mua quan, mua chức" trong Đảng và cơ quan nhà nước

Ba là, xây dựng nhà nước pháp quvền và tăng cường pháp chế trong

hoạt động của Nhà nước Trước hết, phải bảo đảm pháp luật là tối thượng,

không một cá nhân nào, dù là người đứng đầu quốc gia, không một tổ chức nào, dù là Đảng cầm quyền, được đứng trên pháp luật; tất cả phải tuân thủ

pháp luật, ai có tội đều phải bị đưa ra xét xử trước pháp luật Thứ hai, bảo

đảm sự bình đẳng của công dân trước pháp luật, đặc biệt là bình đẳng giữa công dân với cơ quan nhà nước trước pháp luật Mọi khiếu nại, tố cáo của công dân đối với cán bộ đều phải xét xử nghiêm minh trước Tòa án hành

chính Thứ ba, bảo đảm sự giám sát tối cao, có hiệu lực của Quốc hội và bảo

đảm xét xử độc lập của các cơ quan tư pháp

Bốn là, xây dựng, hoàn thiện thể chế dân chủ trực tiếp và dân chủ đại

diện trở thành pháp chế xã hội chủ nghĩa Cụ thể, xây dựng thể chế dân chủ trong bầu cử, dân chủ thảo luận các quyết định, dân chủ trong quản lý và dân

chủ trong kiểm tra Trước hết, cần đổi mới cách bầu cử các cơ quan dân cử

1.3.3 Giải pháp đề cao dân chủ, bảo đảm dân chủ đầy đủ trong Đảng

Phản ánh tư tưởng nà, tác giả Nguyễn Phú Trọng trong công trình Xây

dựng chỉnh đốn Đảng, một số vấn đề lý luận và thực tiễn [112, tr.370] cho

rằng, thực hiện dân chủ là yêu cầu nội tại trong sự phát triển của Đảng Cộng

Trang 36

sản, là nguyện vọng chính đáng của đông đảo cán bộ, đảng viên, và là sự phản ánh xu thế phát triển của thời đại Tác khẳng định, nội bộ Đảng không dân chủ thì mọi sáng kiến và trí tuệ trong Đảng không được phát huy, tổ chức đảng không có sinh khí và không thể cường tráng Nhưng làm thế nào để trong Đảng thật sự có dân chủ? Không thể chỉ có hô khẩu hiệu suông Để bảo đảm dân chủ trong Đảng, tác giả đề xuất 3 nhóm giải pháp chủ yếu:

Một là, hiểu đúng và có nhận thức thống nhất vấn đề dân chủ trong

Đảng

Hai là, có quy chế, quy định cụ thể về dân chủ trong Đảng

Ba là, có cơ chế giám sát, kiểm tra, đấu tranh bảo đảm thực hiện dân

chủ trong Đảng

Theo tác giả, mấu chốt quyết định tính chất và mức độ dân chủ của một đảng là ở chỗ đảng đó phát huy đến mức nào trí tuệ và quyền bình đẳng của các đảng viên, cũng giống như tính chất và mức độ dân chủ của một xã hội được quyết định bằng việc thực hiện thế nào lợi ích và ý chí của nhân dân lao động Lập luận trên đây rất đáng để chúng ta suy nghĩ

1.4 Đánh giá khái quát về các công trình nghiên cứu đã có và những vấn

đề cần nghiên cứu tiếp

Nhìn chung, các nghiên cứu đã có trong và ngoài nước đã tiến hành khảo cứu khá sâu quan điểm của V.I.Lênin về tập trung dân chủ và chế độ tập trung dân chủ, thể hiện ở các phương diện mà tác giả luận án đã phân tích Theo các mục trong phần tổng quan có thể thấy, hầu hết các nghiên cứu đều nhất trí rằng, V.I.Lênin là người đã nêu và chỉ ra các nội dung cụ thể của nguyên tắc tập trung dân chủ trong Đảng Nguyên tắc này được cụ thể hoá bằng nguyên tắc tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách, nguyên tắc tự phê bình

và phê bình; chế độ tập trung dân chủ hay nguyên tắc tập trung dân chủ có cùng cách hiểu, đó là nguyên tắc tập trung dân chủ trong Đảng

Các nhà khoa học trong nước khi tập trung nghiên cứu vấn đề này đã đặt trọng tâm vào phương diện tổ chức và hoạt động cụ thể hoá nguyên tắc

Trang 37

nói trên, đồng thời các tác giả khẳng định nguyên tắc tập trung dân chủ với tư cách một chế độ, cơ chế lãnh đạo, chính là cái bảo đảm sự thống nhất và tạo nên sức mạnh của Đảng

Các tác giả đã cố gắng làm rõ được sự thống nhất, tương đồng và sự đa dạng, khác biệt về mặt thuật ngữ giữa nguyên tắc tập trung dân chủ và chế độ tập trung dân chủ, đồng thời đã có những kiến giải nhất định nhằm làm rõ nó trên bình diện triết học; giải quyết cả về mặt lịch sử của khái niệm

Từ phương diện vận dụng quan điểm này của V.I.Lênin, bởi Đảng ta, các nghiên cứu cũng chỉ ra vài trò hết sức quan trọng của Hồ Chí Minh trong thực tiễn xây dựng chính đảng cách mạng tại Việt Nam Các nghiên cứu cũng khẳng định chế độ tập trung dân chủ chính là cái đảm bảo sự trong sạch, thống nhất của tổ chức đảng và đặc biệt là đa số các cá nhân trong tổ chức đó Bên cạnh đó, sự linh hoạt, đổi mới trong phương thức lãnh đạo của Đảng cũng là một trong những điều kiện đảm bảo cho chế độ tập trung dân chủ ngày càng hoàn thiện và tạo được sức mạnh của Đảng Các nghiên cứu đã có cũng đã nêu được các giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả vận dụng quan điểm của V.I.Lênin về chế độ tập trung dân chủ

Tuy nhiên, chưa một nghiên cứu nào đi sâu, tập trung vào vấn đề này

(Quan điểm của V.I.Lênin về chế độ tập trung dân chủ và sự vận dụng của

Đảng ta từ khi đổi mới đến nay) Trên phương diện triết học, từ trước đến

nay, nhất là trong giai đoạn tiến hành đổi mới, Đảng ta đã tiếp cận vấn đề này trên bình diện khách quan: từ lý luận đến thực tiễn, từ thực tiễn đến lý luận theo nghĩa hoạt động thực tiễn là khởi nguồn, là cơ sở, là động lực, đồng thời cũng là thước đo cho những luận cứ, khái quát lý luận Với trường hợp của cách mạng Việt Nam - một trong những trường hợp sinh động, với đầy đủ những chiều cạnh, những trải nghiệm mà Đảng Cộng sản Việt Nam đã đi qua, những kinh nghiệm Đảng ta thu lượm được trong việc vận dụng vào thực tế hoạt động của Đảng thì nguyên tắc này, với tư cách một chế độ, không chỉ mang lại những nhận thức mà còn là kinh nghiệm thực tiễn phong phú Ở đây,

Trang 38

cách tiếp cận triết học khi xem xét, phân tích mối quan hệ lý luận - thực tiễn

sẽ là cái có thể mang lại cho chúng ta một cái nhìn toàn diện, chỉnh thể hơn trong nghiên cứu các vấn đề liên quan đến đảng chính trị nói chung và đảng của giai cấp vô sản nói riêng

Chính vì thế, đòi hỏi phải có một nghiên cứu từ góc độ triết học về vấn

đề này, trong đó quán triệt các nguyên tắc gắn lý luận với thực tiễn; nhìn nhận, phân tích, đánh giá sự vật, hiện tượng trong tính chỉnh thể của nó, với rất nhiều mối quan hệ nội tại giữa các yếu tố bên trong và cả các mối quan hệ bên ngoài Để làm được điều đó, luận án sẽ phải vận dụng những tri thức từ những chuyên ngành cận kề trong nghiên cứu đảng chính trị về tổ chức, về vai trò, sức mạnh của tổ chức đó như các chuyên ngành Xây dựng Đảng, chuyên ngành Tổ chức học hay Chính trị học Trên cơ sở tiếp cận và triển khai như vậy, luận án chắc chắn phải tiến hành khảo sát, phân tích làm rõ thực chất nội dung quan điểm của V.I.Lênin về tập trung dân chủ và sự vận dụng quan điểm này của Đảng Cộng sản Việt Nam từ khi đổi mới đến nay, chỉ ra những vấn đề mà hiện chúng ta đang phải đối mặt, đồng thời gợi ý những giải pháp hữu ích nhằm giải quyết cơ bản những vấn đề đó

Trang 39

Tiểu kết chương 1

Trong các nghiên cứu của mình, các nhà khoa học đều nhất trí rằng, C.Mác, Ph.Ăngghen đã đặt nền móng tư tưởng về chế độ tập trung dân chủ, V.I.Lênin là người đã tiếp thu, phát triển tư tưởng này thành học thuyết khoa học, cách mạng về xây dựng Đảng mácxít kiểu mới của giai cấp công nhân Ở V.I.Lênin, nội hàm tư tưởng của nó với nền móng là chế độ tập trung dân chủ

trong Đảng được bổ sung những nội dung mới: nguyên tắc tập thể lãnh đạo,

cá nhân phụ trách; nguyên tắc tự phê bình và phê bình Trong thời kỳ đổi

mới, việc Đảng ta không ngừng vận dụng sáng tạo nguyên tắc ấy đã góp phần tạo nên những thành tựu to lớn; việc phát huy dân chủ trong Đảng trở thành động lực phát huy dân chủ xã hội

Các tác giả cũng đã phát hiện những yếu kém, hạn chế khi vận dụng nguyên tắc ấy, đó là một khi nhận thức chưa đầy đủ, không đúng thì các nguyên tắc này có thể bị lợi dụng, thậm chí làm cho phản tác dụng Từ đây, các tác giả đã cố gắng đưa ra nhiều giải pháp khắc phục, nhằm hạn chế những

hệ luỵ của nó Tuy nhiên, những đề xuất có lúc quá thiên “tả” hoặc thiên

“hữu” khiến chúng chưa thật sự thuyết phục khi áp dụng trong thực tế Mặc

dù vậy, nghiên cứu của các nhà khoa học đi trước là nguồn tư liệu hết sức quý báu giúp cho tác giả luận án có thể tham khảo trong tiến hành nghiên cứu của mình

Từ kết quả nghiên cứu của các công trình khoa học đã có, tác giả luận

án xác định phải tiếp tục giải quyết các vấn đề cơ bản sau đây: Thứ nhất, phải

khảo cứu lại những nội dung cơ bản trong quan điểm của V.I.Lênin về vấn đề

này; Thứ hai, phải tiến hành phân tích, đánh giá quá trình vận dụng quan điểm

của V.I.Lênin về chế độ tập trung dân chủ của Đảng ta trong sự nghiệp cách

mạng, nhất là từ khi đổi mới đến nay; và Thứ ba, cố gắng đề xuất một số giải

pháp phù hợp nhằm nâng cao hiệu quả vận dụng quan điểm này của V.I.Lênin trong giai đoạn cách mạng mới của Việt Nam

Trang 40

CHƯƠNG 2 QUAN ĐIỂM CỦA V.I.LÊNIN

VỀ CHẾ ĐỘ TẬP TRUNG DÂN CHỦ

Tập trung dân chủ là chế độ tổ chức và hoạt động của Đảng Cộng sản, đã được V.I.Lênin xác định trong học thuyết về xây dựng đảng kiểu mới của giai cấp vô sản Sau đó, các đảng cộng sản của Quốc tế Cộng sản cũng như nhiều đảng cộng sản của phong trào cộng sản quốc tế vận dụng sáng tạo vào hoàn cảnh cụ thể của mỗi nước Từ khi thành lập đến nay, chế độ tập trung dân chủ

đã được Đảng Cộng sản Việt Nam coi trọng và xác định đó là nguyên tắc tập trung dân chủ trong tổ chức và sinh hoạt đảng Vận dụng đúng đắn nguyên tắc này, Đảng ta đã không ngừng củng cố, phát triển về mọi mặt Tuy nhiên, việc nhận thức đầy đủ và thực hiện đúng đắn nguyên tắc không phải lúc nào cũng suôn sẻ Khi thực hiện đúng đắn, nguyên tắc sẽ phát huy tác dụng, công tác xây dựng Đảng đạt hiệu quả cao, nội bộ đoàn kết, nhất trí; ngược lại, vận dụng không đúng, méo mó sẽ phản tác dụng Đảng ta cũng không ít lần tổng kết rút kinh nghiệm về vấn đề này Vậy thực chất quan điểm, nội dung chế độ tập trung dân chủ là thế nào? Cần thiết phải làm rõ từ gốc

2.1 Quan điểm của V.I.Lênin về tập trung và dân chủ trong Đảng

2.1.1 Quan điểm của V.I.Lênin về tập trung trong Đảng

Quan điểm của V.I.Lênin về tập trung trong Đảng được ông thể hiện qua

tư tưởng về một tổ chức hết sức quan trọng, đó là Đảng Cộng sản - một chính đảng của giai cấp vô sản Những nội dung của lý luận này cơ bản có thể hiểu như sau:

Thứ nhất, để có được tập trung phải có một tổ chức chặt chẽ

Biểu hiện sức mạnh của tập trung là ở một tổ chức, nhưng đó không phải

là tổ chức lắp ghép giản đơn, tiểu tổ, mà phải là tổ chức cách mạng chặt chẽ,

đoàn kết và kỷ luật sắt, đó là Đảng Cộng sản Trong những tác phẩm viết năm

1893-1894, trên quan điểm mácxít, V.I.Lênin đã phân tích một cách sâu sắc chế độ kinh tế-xã hội của nước Nga cuối thế kỷ XIX Từ đây, Người đã xác

Ngày đăng: 17/05/2019, 08:53

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Ban Tuyên giáo Thành ủy thành phố Hồ Chí Minh (2015), Những vấn đề chủ yếu của Văn kiện Đại hội Đảng bộ thành phố Hồ Chí Minh lần thứ X nhiệm kỳ 2015-2020, Nxb Tổng hợp thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề chủ yếu của Văn kiện Đại hội Đảng bộ thành phố Hồ Chí Minh lần thứ X nhiệm kỳ 2015-2020
Tác giả: Ban Tuyên giáo Thành ủy thành phố Hồ Chí Minh
Nhà XB: Nxb Tổng hợp thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 2015
2. Ban Tuyên giáo Thành ủy thành phố Hồ Chí Minh (2016), Góp phần ngăn chặn các hiện tượng suy thoái và đấu tranh chống các quan điểm sai trái, Nxb Văn hóa - Văn nghệ thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Góp phần ngăn chặn các hiện tượng suy thoái và đấu tranh chống các quan điểm sai trái
Tác giả: Ban Tuyên giáo Thành ủy thành phố Hồ Chí Minh
Nhà XB: Nxb Văn hóa - Văn nghệ thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 2016
3. Ban Tuyên giáo Trung ương (2002), Tài liệu phục vụ nghiên cứu các kết luận Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khóa IX, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu phục vụ nghiên cứu các kết luận Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khóa IX
Tác giả: Ban Tuyên giáo Trung ương
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2002
4. Ban Tuyên giáo Trung ương (2008), Tài liệu nghiên cứu các nghị quyết Hội nghị Trung ương 6, khoá X, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu nghiên cứu các nghị quyết Hội nghị Trung ương 6, khoá X
Tác giả: Ban Tuyên giáo Trung ương
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2008
5. Ban Tuyên giáo Trung ương (2012), Tài liệu nghiên cứu Nghị quyết Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khóa XI, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu nghiên cứu Nghị quyết Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khóa XI
Tác giả: Ban Tuyên giáo Trung ương
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2012
6. Ban Tuyên giáo Trung ương (2015), Những nội dung cơ bản của tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, (Tài liệu nghiên cứu phục vụ triển khai thực hiện chỉ thị số 05-CT/TW), Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những nội dung cơ bản của tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh
Tác giả: Ban Tuyên giáo Trung ương
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2015
7. Ban Tuyên giáo Trung ương (2016), Tài liệu nghiên cứu các văn kiện Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu nghiên cứu các văn kiện Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII
Tác giả: Ban Tuyên giáo Trung ương
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2016
8. Trần Thị Kim Cúc (2009), Tìm hiểu di sản lý luận của các nhà kinh điển chủ nghĩa Mác-Lênin, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu di sản lý luận của các nhà kinh điển chủ nghĩa Mác-Lênin
Tác giả: Trần Thị Kim Cúc
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2009
10. Đảng Cộng sản Việt Nam (1996), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: 1996), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 1996
11. Đảng Cộng sản Việt Nam (1998), Tài liệu nghiên cứu Nghị quyết Hội nghị Trung ương 6 (lần 2), khóa VIII, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: 1998), Tài liệu nghiên cứu Nghị quyết Hội nghị Trung ương 6 (lần 2), khóa VIII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 1998
12. Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2001
13. Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: 2006), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2006
14. Đảng Cộng sản Việt Nam (2007), Văn kiện Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương khóa X, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương khóa X
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2007
15. Đảng Cộng sản Việt Nam (2008), Văn kiện Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá X, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: 2008), Văn kiện Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá X
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2008
16. Đảng Cộng sản Việt Nam (2009), Văn kiện Hội nghị lần thứ chín Ban Chấp hành Trung ương khóa X, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Hội nghị lần thứ chín Ban Chấp hành Trung ương khóa X
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2009
17. Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2011
18. Đảng Cộng sản Việt Nam (2012), Nghị quyết Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương khóa XI: “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay”, (Tài liệu dùng cho cán bộ chủ chốt), Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương khóa XI: “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay”, (Tài liệu dùng cho cán bộ chủ chốt)
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2012
19. Đảng Cộng sản Việt Nam (2016), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Văn phòng Trung ương Đảng, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Năm: 2016
20. Đảng Cộng sản Việt Nam (2016), Văn kiện Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương, khóa XII, Văn phòng Trung ương Đảng, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: 2016), Văn kiện Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương, khóa XII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Năm: 2016
21. Đảng Cộng sản Việt Nam (2015), Văn kiện Đảng toàn tập, Tập 55, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đảng toàn tập, Tập 55
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2015

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w