1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Hoàn thiện kế toán trong các trường trung học chuyên nghiệp công lập Việt Nam (Luận án tiến sĩ)

363 173 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 363
Dung lượng 4,1 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hoàn thiện kế toán trong các trường trung học chuyên nghiệp công lập Việt NamHoàn thiện kế toán trong các trường trung học chuyên nghiệp công lập Việt NamHoàn thiện kế toán trong các trường trung học chuyên nghiệp công lập Việt NamHoàn thiện kế toán trong các trường trung học chuyên nghiệp công lập Việt NamHoàn thiện kế toán trong các trường trung học chuyên nghiệp công lập Việt NamHoàn thiện kế toán trong các trường trung học chuyên nghiệp công lập Việt NamHoàn thiện kế toán trong các trường trung học chuyên nghiệp công lập Việt NamHoàn thiện kế toán trong các trường trung học chuyên nghiệp công lập Việt NamHoàn thiện kế toán trong các trường trung học chuyên nghiệp công lập Việt NamHoàn thiện kế toán trong các trường trung học chuyên nghiệp công lập Việt NamHoàn thiện kế toán trong các trường trung học chuyên nghiệp công lập Việt Nam

Trang 1

LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ

Người hướng dẫn khoa học: 1 GS.TS Ngô Thế Chi

HÀ NỘI – 2019

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan bản luận án là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các

số liệu, kết quả nêu trong luận án là trung thực và có nguồn gốc rõ ràng

TÁC GIẢ LUẬN ÁN

Đỗ Ngọc Trâm

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Luận án này là công trình nghiên cứu độc lập và nghiêm túc của tác giả Trong quá trình thực hiện nghiên cứu, tác giả đã nhận được sự động viên khích lệ từ thầy cô, gia đình, bạn bè, đồng nghiệp

Tác giả xin trân trọng cảm ơn: Học viện Tài Chính đã tạo điều kiện tốt nhất về giảng viên, cơ sở vật chất, học liệu giúp nghiên cứu sinh hoàn thành tốt chương trình học tập; các Sở Giáo dục và đào tạo, lãnh đạo các trường trung học chuyên nghiệp công lập tại các tỉnh (thành phố) đã giúp đỡ hỗ trợ tác giả khảo sát thực tế phục vụ nghiên cứu luận án; cơ quan và đồng nghiệp

đã tạo điều kiện về thời gian, vật chất, động viên tác giả trong suốt quá trình nghiên cứu

Tác giả cũng xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến tập thể giáo viên hướng dẫn đã giúp đỡ, chỉ bảo tận tình cho tác giả, cũng như người thân trong gia đình luôn động viên, chia sẻ khó khăn trong cuộc sống, giúp tác giả hoàn thành được chương trình học tập và nghiên cứu

TÁC GIẢ LUẬN ÁN

Đỗ Ngọc Trâm

Trang 4

TỐ CHÍNH CHI PHỐI KẾ TOÁN ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP CÔNG LẬP 24

1.1.1 Đặc điểm hoạt động và phân loại đơn vị sự nghiệp công lập 241.1.2 Nguồn tài chính và quản lý tài chính trong đơn vị sự nghiệp công lập 291.1.3 Qui định pháp qui về kế toán và cơ sở hạ tầng kế toán đơn vị sự nghiệp công lập 331.1.4 Ảnh hưởng của các đặc điểm chung của đơn vị sự nghiệp công lập đến việc vận dụng cơ sở kế toán trong công tác kế toán 35

1.2 VAI TRÒ, NHIỆM VỤ, YÊU CẦU CỦA KẾ TOÁN TÀI CHÍNH ĐƠN

VỊ SỰ NGHIỆP CÔNG LẬP 36

1.2.1 Vai trò của kế toán tài chính đơn vị sự nghiệp công lập 361.2.2 Nhiệm vụ, yêu cầu của kế toán tài chính đơn vị sự nghiêp công lập 40

1.3 NỘI DUNG KẾ TOÁN TÀI CHÍNH ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP CÔNG LẬP 41

1.3.1 Cơ sở kế toán được vận dụng trong kế toán tài chính đơn vị sự nghiệp công lập 411.3.2 Nội dung kế toán tài chính trong đơn vị sự nghiệp công lập 49

1.4 KẾ TOÁN ĐƠN VỊ DỊCH VỤ CÔNG Ở MỘT SỐ QUỐC GIA TRÊN THẾ GIỚI VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM CHO VIỆT NAM 65

1.4.1 Kế toán đơn vị dịch vụ công ở một số quốc gia trên thế giới 65

Trang 5

1.4.2 Bài học kinh nghiệm dành cho kế toán tài chính đơn vị sự nghiệp công

lập Việt nam 71

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 74

CHƯƠNG 2: THỰC TRANG KẾ TOÁN TRONG CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC CHUYÊN NGHIỆP CÔNG LẬP VIỆT NAM 75

2.1 TỔNG QUAN VỀ CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC CHUYÊN NGHIỆP CÔNG LẬP VIỆT NAM 75

2.1.1 Khái niệm, phân loại các trường trung học chuyên nghiệp công lập trong hệ thống giáo dục quốc dân Việt nam 75

2.1.2 Vai trò của các trường trung học chuyên nghiệp công lập Việt nam 77

2.1.3 Những yếu tố chi phối kế toán tài chính trường trung học chuyên nghiệp công lập Việt nam vận dụng cơ sở kế toán 79

2.2 THỰC TRẠNG KẾ TOÁN TÀI CHÍNH TRONG CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC CHUYÊN NGHIỆP CÔNG LẬP VIỆT NAM 94

2.2.1 Cơ sở kế toán và nguyên tắc kế toán 96

2.2.2 Kế toán tài chính theo cơ sở tiền mặt 98

2.2.3 Kế toán tài chính theo cơ sở dồn tích 101

2.3 ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG KẾ TOÁN TRONG CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC CHUYÊN NGHIỆP CÔNG LẬP VIỆT NAM 130

2.3.1 Kết quả đạt được 130

2.3.2 Hạn chế 133

2.3.3 Nguyên nhân của hạn chế 144

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 152

CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN KẾ TOÁN TRONG CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC CHUYÊN NGHIỆP CÔNG LẬP VIỆT NAM 153

3.1 ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC CHUYÊN NGHIỆP CÔNG LẬP VIỆT NAM 153

3.2 NGUYÊN TẮC HOÀN THIỆN KẾ TOÁN TRONG CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC CHUYÊN NGHIỆP CÔNG LẬP VIỆT NAM 156

Trang 6

3.3 GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN KẾ TOÁN TRONG CÁC TRƯỜNG

TRUNG HỌC CHUYÊN NGHIỆP CÔNG LẬP VIỆT NAM 159

3.3.1 Nhóm giải pháp hoàn thiện kế toán tài chính theo cơ sở tiền mặt 163

3.3.2 Nhóm giải pháp hoàn thiện kế toán tài chính theo cơ sở dồn tích 167

3.4 KIẾN NGHỊ MÔI TRƯỜNG ĐỂ THỰC HIỆN CÁC GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN KẾ TOÁN TRƯỜNG TRUNG HỌC CHUYÊN NGHIỆP CÔNG LẬP 185

3.4.1 Về phía các trường trung học chuyên nghiệp công lập Việt Nam 185

3.4.2 Về phía Nhà nước và xã hội 186

KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 195

KẾT LUẬN 196 DANH MỤC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 7

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

Bộ GD&ĐT Bộ Giáo dục và đào tạo

Trang 8

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU

Bảng 1.1 Thực trạng áp dụng kế toán công quốc tế theo cơ sở kế toán tiền

mặt và cơ sở kế toán dồn tích tại một số quốc gia trên thế giới

Bảng 2.2 Số trường – số học sinh chính qui – số giáo viên trung học

chuyên nghiệp công lập độc lập ba năm học: 2013-2014,

Bảng 2.4 Mức trần học phí hệ đào tạo THCNCL so với các hệ cao đẳng,

đại học, sau đại học năm học 2015-2016

107

Trang 9

DANH MỤC CÁC HÌNH - SƠ ĐỒ

Hình 1.1 Kế toán công theo cơ sở tiền mặt, cơ sở dồn tích 44

Sơ đồ 2.1 Quan hệ giữa trường THCNCL với các cơ quan chức năng 82

Sơ đồ 2.2 Quy trình quản lý tài chính trong trường trung học chuyên

nghiệp công lập Việt nam

83

Sơ đồ 2.3 Mô tả các phần hành kế toán căn cứ đặc điểm hoạt động kinh

tế tài chính tại các trường trung học chuyên nghiệp công lập

87

Sơ đồ 2.4 Cơ cấu tổ chức của trường trung học chuyên nghiệp công lập

Việt nam

88

Sơ đồ 3.1 Các phần hành kế toán theo cơ sở tiền mặt tại các trường

trung học chuyên nghiệp công lập

163

Sơ đồ 3.2 Các phần hành kế toán theo cơ sở dồn tích tại các trường

trung học chuyên nghiệp công lập

176

Trang 10

MỞ ĐẦU

1/ TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI

Trong những thập kỷ qua, nhiều quốc gia đã thay đổi phương thức quản lý khu vực công từ kiểm soát đầu vào sang kiểm soát đầu ra, gắn kết quả với phân công trách nhiệm cho mọi chủ thể trong khu vực công (New Public Management -NPM) Mục đích chính của phương thức này là tạo ra một môi trường hoạt động trong đó tính hiệu quả được đưa lên hàng đầu, mỗi đơn vị trong khu vực công trong

đó bao gồm các đơn vị dịch vụ công cần nỗ lực phát huy hiệu quả hoạt động với chi phí ít nhất có thể và tăng cường chịu trách nhiệm với nguồn lực (tài sản, kinh phí…) được nhận từ ngân sách nhà nước Kế toán với vai trò là công cụ thu nhận, xử lý và cung cấp thông tin tài chính chủ yếu phục vụ quản lý, do đó sự phát triển NPM phụ thuộc nhiều vào chất lượng của kế toán

Nếu nhìn nhận từ gốc độ cơ sở kế toán, kế toán nói chung và kế toán các đơn

vị dịch vụ công nói riêng tuân thủ cơ sở tiền mặt và cơ sở dồn tích Cho đến những năm 80 của thế kỷ 20 kế toán đơn vị dịch vụ công ở hầu hết các quốc gia vẫn chủ yếu theo cơ sở tiền mặt bởi khi này tính hội nhập quốc tế của kế toán khu vực công cũng như tính đa phương trong quan hệ kinh tế giữa các quốc gia và các khu vực chưa cao, việc kiểm soát các khoản nợ trên báo cáo tài chính của từng thực thể trong khu vực công cũng như báo cáo chính phủ quốc gia chưa thực sự được chú trọng Có thể khẳng định cơ sở tiền mặt phù hợp với qui định trong quản lý ngân sách nhà nước và các quỹ tiền tệ công nhưng khi ứng dụng phương thức quản lý mới NPM nhu cầu thông tin tài chính không chỉ dừng ở quản lý thu, chi, tồn ngân sách quốc gia mà còn cần đánh giá so sánh tính khả thi của việc đầu tư từ các nguồn trong và ngoài ngân sách cho các đơn vị dịch vụ công; lập kế hoạch quản lý sử dụng tài sản dài hạn; lập kế hoạch hoàn trả các khoản nợ hiện có, quản lý lưu lượng và nhu cầu tiền trong các giai đoạn tài chính tiếp theo, đánh giá được hiệu quả của các chính sách công, tác động của các quyết định tài chính đối với tài sản ròng, và giúp các đơn vị có cái nhìn dài hạn hơn khi đưa ra quyết định tài chính Những nhu cầu

Trang 11

này chỉ được đáp ứng khi kế toán áp dụng cơ sở dồn tích Bởi vậy, chuyển đổi cơ sở

kế toán từ cơ sở tiền mặt sang cơ sở dồn tích đối với kế toán các đơn vị dịch vụ công nói riêng và toàn thể khu vực công nói chung thực sự trở nên cấp thiết

Trên khía cạnh lý luận, gần đây các nghiên cứu về kế toán khu vực công xuất hiện khá nhiều tại Việt Nam, tuy nhiên nghiên cứu cơ sở kế toán ứng dụng trong kế toán khu vực công nói chung và kế toán đơn vị sự nghiệp công nói riêng có xét đến môi trường chính trị - kinh tế - xã hội chưa nhiều và chưa trở thành một hệ thống, rất cần thêm những nghiên cứu thực chứng nhằm bổ sung và củng cố hệ thống lý luận về cơ sở kế toán dành cho kế toán công Việt Nam, đặc biệt khi kế toán Việt nam đang trong tiến trình hội nhập với kế toán quốc tế, những hướng dẫn chế độ kế toán cụ thể sẽ dần được thay thế bởi những mực thước về cơ sở và nguyên tắc kế toán chung được công nhận

Trên khía cạnh thực tế, ở Việt Nam công tác kế toán trong các đơn vị dịch vụ công (có tên gọi đơn vị sự nghiệp công lập) tuân thủ chế độ kế toán do nhà nước ban hành Từ phía cơ quan quản lý nhà nước cũng như từ phía người làm kế toán ở trong đơn vị sự nghiệp công lập, việc thực hiện công tác kế toán thường chú trọng phục vụ quản lý, kiểm tra, kiểm soát tài chính của nhà nước Cho đến nay những hướng dẫn của nhà nước trong kế toán đơn vị dịch vụ công đã có nhiều cải cách gắn liền với sự đổi mới cơ chế quản lý tài chính công dành cho loại hình đơn vị này theo hướng tăng cường tự chủ, đồng thời có tính đến định hướng hội nhập kế toán công quốc tế nhưng chưa có sự nhận định cụ thể việc vận dụng cơ sở kế toán giúp thu nhận, xử lý và cung cấp thông tin kế toán phục vụ hữu hiệu đổi mới quản lý hoạt động, quản lý tài chính của đơn vị sự nghiệp công lập theo hướng tăng cường tự chủ

và hội nhập kế toán công quốc tế

Xuất phát từ những vấn đề lý luận và thực tế trên, tác giả mong muốn nghiên cứu về nội dung công tác kế toán của đơn vị sự nghiệp công lập trên góc độ vận dụng cơ sở kế toán phù hợp với sự cải cách cơ chế hoạt động, cơ chế tài chính của đơn vị sự nghiệp công lập cũng như đáp ứng hữu hiệu nhu cầu thông tin cho việc ra quyết định kinh tế của các chủ thể liên quan đến đơn vị này như cơ quan quản lý

Trang 12

nhà nước, cá nhân quản lý đơn vị, chủ đầu tư, đối tác liên kết kinh tế, chủ thể tham gia hoạt động trong đơn vị …vv…có sự tham chiếu kinh nghiệm quốc tế

Việc nghiên cứu thực chứng để chứng minh thực tế cần dựa trên điển hình đơn

vị sự nghiệp công lập cụ thể Khi tìm hiểu về các đơn vị sự nghiệp công lập Việt Nam, sau khi loại trừ các đối tượng đã được nghiên cứu trước đây, cũng như tìm hiểu đặc thù hoạt động và quản lý tài chính của đơn vị sự nghiệp công lập tác giả nhận thấy:

- Các trường các trường THCNCL là một bộ phận then chốt trong Hệ thống giáo dục quốc dân, giữ vai trò phân luồng người học sau trung học cơ sở và trung học phổ thông tạo điều kiện thuận lợi để những thanh niên không có điều kiện theo học các chương trình giáo dục đại học có thể tiếp tục theo học để nâng cao kỹ năng nghề nghiệp, kỹ năng lao động, kỹ năng sống Trường THCNCL cung cấp nguồn nhân lực có trình độ trung cấp và công nhân kỹ thuật chủ đạo cho hầu hết các lĩnh vực của nền kinh tế quốc dân, đáp ứng nhu cầu lao động qua đào tạo nghề cho trong

và ngoài nước

- Một nghịch lý đang diễn ra là từ 2014 đến nay là dù Nhà nước rất chú trọng thực hiện xã hội hóa giáo dục, thay đổi cơ chế tài chính tạo điều kiện cho các trường chủ động trong công tác tài chính, xây dựng khung pháp lý thúc đẩy cá nhân và doanh nghiệp liên kết với các trường hình thành doanh nhân xã hội nhưng các trường THCNCL vẫn phụ thuộc chủ yếu nguồn ngân sách nhà nước và khó khăn trong thu hút đầu tư bên ngoài vào hoạt động đào tạo, có nguy cơ thu hẹp qui mô đào tạo, bị người học và nhà tuyển dụng lao động đánh giá khá thấp về chất lượng

do chưa đáp ứng nhu cầu

- Để tháo gỡ cho các trường THCNCL, Bộ lao động thương binh xã hội (Bộ LĐTBXH) hướng đến thành lập các Hội đồng ngành với sự tham gia của doanh nghiệp lớn và các trường trực thuộc quản lý của Bộ LĐTBXH đưa ra tiêu chuẩn nghề nghiệp từ đó các trường xây dựng chương trình đào tạo, tăng cường gắn kết và trách nhiệm của nhà tuyển dụng với cơ sở đào tạo từ khâu lên chương trình giảng dạy đến hỗ trợ thực tập Bước đầu Bộ LĐTBXH đã kết hợp với Hội đồng Anh thực hiện thí điểm tại 21 trường thuộc Bộ, xây dựng hệ thống đảm bảo chất lượng đào

Trang 13

tạo nghề nghiệp thông qua kết hợp nhà trường với các doanh nghiệp tại địa phương Trong tương lai định hướng “phân khúc đào tạo”chủ yếu của các trường THCNCL thay vì đào tạo dài hạn cấp bằng hay chứng chỉ sẽ chuyển sang đào tạo “modul” theo nhu cầu của người tuyển dụng, đào tạo theo đơn đặt hàng; cùng với việc mở rộng thu hút vốn đầu tư từ nhiều đối tượng khác ngoài nhà nước sẽ giúp các trường tồn tại và phát triển bền vững

- Thông tin do kế toán trường THCNCL cung cấp là cơ sở quan trọng giúp người quản lý nhà trường, đối tác đặt hàng, đối tượng sử dụng dịch vụ đào tạo, nhà đầu tư … nắm bắt giá phí dịch vụ đào tạo theo từng modul, tình hình tài chính và hiệu quả hoạt động của nhà trường từ đó ra các quyết định kinh tế phù hợp Công tác kế toán tại các trường này đã có nhiều đổi mới theo hướng cải cách chế độ kế toán đơn vị hành chính sự nghiệp của nhà nước, nhưng ngoài việc tuân thủ qui định nhà nước thì việc xem xét tính hiệu quả khi vận dụng những hướng dẫn này và sự tương thích giữa mong muốn đáp ứng nhu cầu của đối tượng sử dụng thông tin kế toán với thực tế thực hiện nội dung kế toán và cung cấp thông tin kế toán tại các trường này xét trên khía cạnh ứng dụng cơ sở kế toán chưa được nghiên cứu kiểm chứng

Do vậy, giả lựa chọn các trường trung học chuyên nghiệp công lập Việt Nam

là đối tượng nghiên cứu thực trạng nhằm kiểm chứng cho những lý luận về cơ sở kế toán áp dụng cho loại hình đơn vị này và đưa ra các khuyên nghị hoàn thiện nội dung kế toán trong các trường THCNCL trên góc độ vận dụng cơ sở kế toán phù

hợp Đây cũng là lý do cho sự ra đời của đề tài nghiên cứu: “Hoàn thiện kế toán

trong các trường trung học chuyên nghiệp công lập Việt Nam”

2/ TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU

2.1/ Tổng hợp các công trình nghiên cứu trước đây cùng lĩnh vực

Ở Việt Nam và trên thế giới trong thời gian gần đây đã có nhiều công trình nghiên cứu liên quan đến kế toán các đơn vị dịch vụ công lập nói chung và các đơn

vị sự nghiệp giáo dục đào tạo công lập nói riêng Tác giả đã tìm hiểu về các kết quả

Trang 14

nghiên cứu điển hình có liên quan đến đề tài của mình và chia theo nhóm công trình nghiên cứu theo các tiêu chí cụ thể sau:

* Nghiên cứu về kế toán trong đơn vị dịch vụ công- khía cạnh cơ sở kế

toán

Adela Deaconu và đồng sự với ấn phẩm “The impact of Accounting on

Public sector management An exploratory study for Romania” xuất bản bởi

Transylvanian Review of Administrative Sciences, No 32 E/2011, pp 74-97 Trong

đó thông qua nghiên cứu định lượng báo cáo tài chính được cung cấp bởi mẫu các đơn vị dịch vu công lập ở các ngành khác nhau của Romani trong 3 giai đoạn trước

1998, 1998-2003, 2003-2009 nhằm đưa ra các kết luận về việc chuyển đổi cơ sở kế toán trong khu vực công nói chung tại Romani từ cơ sở tiền mặt đầy đủ sang cơ sở dồn tích đầy đủ Nghiên cứu đặc biệt có đề cập đến yếu tố chính trị và sự tác động của nó đến việc thay đổi kế toán khu vực dịch vụ công lập, đây chính là quan điểm

có thể kế thừa trong nghiên cứu lý luận Tuy nhiên bên cạnh việc thừa nhận rõ ràng tính tích cực, ưu việt của kế toán dồn tích khi cung cấp thông tin tài chính của đơn

vị dịch vụ công gắn với nội dung chi ngân sách một cách minh bạch cho mọi đối tượng công chúng, nghiên cứu cũng cổ xúy quan điểm chuyển đổi cơ sở kế toán thống nhất giữa các đơn vị dịch vụ công lập và đơn vị dịch vụ tư nhân Đây là điểm tồn tại trong nghiên cứu nhất là khi chính sách tài chính và cơ chế hoạt động áp dụng cho hai loại hình đơn vị khác nhau

Trong ấn phẩm “Arguments for intro ducing accrual based accounting in the

public sector” của Cristina Aurora Bunea-Bonta¸s and Mihaela Cosmina Petre xuất

bản bởi MPRA Pap er No 18134, p osted 26 Octob er 2009 Trong đó tác giả thông qua các nghiên cứu định tính khẳng định về xu hướng chuyển đối cơ sở kế toán khu vực công nói chung và các đơn vị dịch vụ công nói riêng từ cơ sở tiền mặt sang sơ

sở dồn tích Nghiên cứu đã cho thấy việc thay đổi này giúp tăng trách nhiệm giải trình của các nhà quản lý khu vực công, và tạo điều kiện giúp quốc gia hội nhập với quốc tế khi có thể chứng minh hiệu quả của các chính sách công, chính sách tài khóa … thông qua các thông tin về báo cáo tài chính quốc gia Mặc dù đã đưa ra những lập luận và phản biện về việc chuyển đổi cơ sở kế toán từ tiền mặt sang dồn

Trang 15

tích, nhưng bài viết chưa chú trọng đến mục đích quản lý ngân sách quốc gia và những khó khăn vướng mắc khi ứng dụng kế toán công quốc gia theo cơ sở dồn tích trong khi thông tin về ngân sách vẫn cần theo cơ sở tiền mặt

Các tác giả Joe Cavanagh, Suzanne Flynn, and Delphine Moretti, với ấn

phẩm “Implementing Accrual Accounting in the Public Sector”, Technical notes

and manual of IMF, 2016 có đề cập đến tiến trình chuyển đổi cơ sở kế toán khu vực công của các quốc gia trên thế giới Trong hai thập kỷ qua, ngày càng nhiều chính phủ bắt đầu chuyển từ kế toán tiền mặt thuần túy sang kế toán dồn tích Tính đến năm 2015, 41 chính phủ (21%) đã hoàn thành quá trình chuyển đổi,16 chính phủ trên ứng dụng cơ sở dồn tích điều chỉnh (8%), 28 chính phủ (17%) đang trên cơ sở tiền mặt điều chỉnh và 114 chính phủ (57%) vẫn còn nguyên kế toán công theo cơ

sở tiền mặt đầy đủ Định hướng chuyển đổi mạnh mẽ chịu ảnh hưởng bởi sự phát triển của các tiêu chuẩn quốc tế về thông tin kế toán trên báo cáo tài chính chính phủ được cung cấp bởi hệ thống kế toán tuân thủ cơ sở dồn tích cùng với sự phát triển trong hệ thống thông tin quản lý tài chính quốc gia (FMIS) và trình độ cũng như tính chuyên nghiệp của kế toán khu vực công Bài nghiên cứu đã chỉ ra những nhược điểm khi kế toán theo cơ sở tiền mặt thuần túy như tính minh bạch và đầy đủ

và trách nhiệm tài chính của chính phủ, những tác động cố ý thông qua việc giải ngân hoặc không giải ngân tiền dẫn đến sai lệch thông tin tài chính của báo cáo chính phủ … Đồng thời cũng khẳng định những đổi mới tích cực nếu tuân thủ kế toán dồn tích, đặc biệt trong báo cáo tài chính hợp nhất chính phủ Đồng thời có trao đổi tiến trình chuyển đổi cơ sở kế toán từ tiền mặt thuần túy sang dồn tích đầy đủ Tuy nhiên nghiên cứu của các tác giả quá xem trọng chuyển đổi triệt để theo kế toán

cơ sở dồn tích xem nhẹ hệ thống kế toán theo cơ sở tiền mặt và không chú ý đến yếu tố kế toán công nói chung và kế toán đơn vị dịch vụ công nói riêng có liên quan đến quỹ tiền tệ công rất cần củng cố hệ thống kế toán theo cơ sở tiền mặt nhằm giám sát về dòng tiền mặt và dự trữ tài chính bằng tiền của chính phủ ở mọi thời điểm, đồng thời đảm bảo các khoản thu, chi ngân sách tuân thủ pháp luật và hiệu quả

Trang 16

Các tác giả Selver Seda và Johan Christiaens trong ấn phẩm “The magic

shoes of IPSAS - Will they fit Turkey” được xuất bản bởi Transylvanian Review of

Administrative Sciences, No 54 E/2018 pp 5-21 nghiên cứu thực chứng từ chính những báo cáo tài chính hợp nhất của chính phủ Thổ Nhĩ kỳ giai đoạn 2010 – 2014 nhằm đưa ra các kết luận về tính hiệu quả sau 10 năm ứng dụng IPSAS vào kế toán khu vực công nói chung và kế toán các đơn vị dịch vụ công nói riền tại quốc gia này Thông qua nghiên cứu này người đọc có thể nhận biết việc ứng dụng chuẩn mực kế toán công quốc tế vào mỗi quốc gia cần có lộ trình và xét đến điều kiện chính trị, văn hóa, kinh tế xã hội quốc gia đó, đồng thời các tác giả cũng nêu vấn đề cần xem xét ở một quốc gia đang phát triển việc ứng dụng nóng vội toàn bộ IPSAS

có thể dẫn đến những sai lệch trên thông tin tài chính của Báo cáo chính phủ hay nói cách khác giữa công bố áp dụng IPSAS và thực tế áp dụng có khoảng cách khá lớn Nghiên cứu sinh có thể tham vấn và kế thừa những kinh nghệm từ nghiên cứu của các tác giả ở quốc gia đang phát triển và trình độ kế toán khu vực công chưa cao Tuy nhiên, trong nghiên cứu của các tác giả chú ý đánh giá việc chuyển đổi cơ

sở kế toán nhưng chưa xem xét đến yếu tô ảnh hưởng là thể chế tài chính công, đây cũng là khoảng trống dành cho nghiên cứu sinh trong nghiên cứu của mình

* Nghiên cứu về kế toán trong đơn vị dịch vụ công – khía cạnh kinh

nghiệm khi ứng dụng chuẩn mực kế toán công quốc tế

Khi tìm hiểu lý luận nền tảng về kế toán các đơn vị công lập, nghiên cứu sinh

đã tìm thấy ở cuốn Accounting for Governmental and Nonprofit Entities (2010) của

các tác giả Earl R.Wilson, Leon E.Hay, Susan C.Kattelus những nghiên cứu về mối

quan hệ giữa kế toán và hiệu quả quản lý tài chính thông qua nghiên cứu sự ảnh hướng của thông tin kế toán đến tính minh bạch trong chi tiêu ngân sách của chính phủ nói chung Đây là công trình nghiên cứu khá công phu và có đề cập đến các khía cạnh khác nhau trong hoạt động kế toán đơn vị dịch vụ công lập từ các nguyên tắc kế toán chung đến cách thức ghi nhận các sự kiện kinh tế, lập báo cáo tài chính

có vận dụng chuẩn mực kế toán công quốc tế - nền tảng lý luận này nghiên cứu sinh

có thể kế thừa trong nghiên cứu luận án Tuy nhiên nội dung công tác kế toán trong công trình của các tác giả Earl R.Wilson, Leon E.Hay, Susan C.Kattelus được thiết

Trang 17

lập trong điều kiện đơn vị dịch vụ công thực hiện trao đổi ngang giá với người sử dụng dịch vụ Khoảng trống mà nghiên cứu của các tác giả này chưa đề cập là kế toán đơn vị dịch vụ công trong điều kiện phát sinh các giao dịch không trao đổi, trong khi tại Việt Nam mảng hoạt động này ở các đơn vị dịch vụ công vẫn là trọng yếu

Nghiên cứu sinh cũng tìm thấy các nghiên cứu về vận dụng chuẩn mực kế toán công tại các quốc gia trên thế giới ở các ấn phẩm:

+ Bài The Past is the Future: Constructing Public Sector Accountants của tác giả

Irvine Lapsley (Giáo sư của Đại học Edinburgh), Rosie Oldfield (Nghiên cứu sinh

tại Đại học Edinburgh) đăng trên Tạp chí Pacific Accounting Review (2006, ISSN 0114-

0582, Voll 11, Isue:1/2, Pp: 137-147) nghiên cứu đánh giá biến động của kế toán trong

các đơn vị dịch vụ công lập tại các quốc gia có vận dụng chuẩn mực kế toán công trong hai thập kỷ qua, để làm rõ vai trò và tầm ảnh hưởng của kế toán khu vực này qua đó định hướng kế toán trong các đơn vị dịch vụ công lập trong tương lai

+ BàiInstitutionalization of accrual accounting in the Indonesian publicsector đăng

tại tạp chí Sustainability Accounting, Management and Policy Journal (2009,

ISSN1832-5912, Vol 8, Issue 3, pp:257-285) của các tác giả Harun (Khoa Kinh tế, Đại học Tadulako, Tadulako, Indonesia), Karen Van Peursem (Trường Kế toán và Luật Thương mại, Đại học Victoria của Wellington, Wellington, New Zealand), Ian Eggleton (Trường Kế toán và Luật Thương mại, Đại học Victoria của Wellington, Wellington, New Zealand) Qua nghiên cứu khảo sát dữ liệu từ kế toán khu vực nhà nước được cung cấp bởi văn phòng Chính phủ Indonesia, họ đã đưa ra những đánh giá về hiệu quả kế toán đơn vị dịch vụ công tại Indonesia giai đoạn 2003-2010, đồng thời sử dụng lý thuyết IPM của Dambrin, Lambert, Sponem để đánh giá việc vận dụng chuẩn mực kế toán công tại các đơn vị kế toán dịch vụ công của nhà nước Indonesia, cùng những tồn tại và giải pháp khắc phục

+ Bài Internationalization of public accounting: Chinese experience trên tạp chí

Managerial Auditing Journal (2008, Vol 13, Issue 2, pp:84-94) của tác giả Z Jun

Lin (Phó Giáo sư, Trường Kinh doanh, Đại học Hồng Kông, Hồng Kông) đưa ra các nghiên cứu của tác giả về lịch sử phát triển kế toán khu vực công nói chung và

Trang 18

kế toán đơn vị dịch vụ công nói riêng của Trung Quốc, quá trình vận dụng hệ thống chuẩn mực kế toán công quốc tế để xây dựng chuẩn mực kế toán công Trung Quốc

và những lợi ích Trung Quốc thu được

Từ các nghiên cứu trên tác giả có thể kế thừa được kinh nghiệm vận dụng chuẩn mực kế toán công quốc tế tại các quốc gia có những điểm chung về văn hóa, dân cư, xã hội với Việt Nam Nhưng những nghiên cứu này vẫn chú trọng hoàn thiện chuẩn mực kế toán công quốc gia gắn với văn hóa quản lý và cơ chế tài chính công quốc gia mà ít nghiên cứu sâu cơ sở kế toán ứng dụng trong kế toán khu vực công

+ Với đề tài tiến sĩ “Nghiên cứu những nhân tố ảnh hưởng đến việc xây dựng chuẩn mực kế toán công Việt Nam trong điều kiện vận dụng chuẩn mực kế toán công quốc tế” của tác giả Cao Thị Cẩm Vân (2016) thông qua các phương pháp nghiên cứu định tính kết hợp định lượng đã đưa ra những đánh giá về các nhân tố ảnh hưởng đến việc xây dựng hệ thống chuẩn mực kế toán công Việt Nam theo hướng vận dụng chuẩn mực kế toán công quốc tế Nghiên cứu sinh có thể kế thừa một số kết quả nghiên cứu định lượng tác giả Cao Thị Vân về cơ sở kế toán khu vực công Việt Nam Tuy nhiên nghiên cứu của tác giả Cao thị Cẩm Vân chưa đưa ra hệ thống nguyên tắc nền tảng cho giúp hoàn thiện hệ thống kế toán công và kế toán ở từng bộ phận trong khu vực công trong điều kiện quản lý tài chính, cơ chế hoạt động khu vực công giai đoạn ngắn hạn và dài hạn, tác giả chủ yếu đề cập đến vận dụng IPSAS vào Việt nam mà chưa tính đến yếu tố “ chọn lọc để phù hợp”

* Nghiên cứu về kế toán đơn vị dịch vụ công – khía cạnh thông tin kế toán

và phân tích thông tin kế toán

Việc nghiên cứu hoàn thiện kế toán luôn chú trọng kết quả thông tin cung

cấp cho các đối tượng sử dụng như thế nào Nghiên cứu sinh cũng tìm hiểu một số nghiên cứu về thông tin kế toán đơn vị dịch vụ công và nhận thấy những luận điểm

có khả năng kế thừa cũng như những khoảng trống có thể tiếp tục nghiên cứu như:

+ Bài The local gorvernment accountants’ perspective on sustainability trên tạp chí

Sustainability Accounting, Management and Policy Journal.(2015,Vol6, Issue:2,

pp:267-287) của tác giả Belinda Williams (nghiên cứu viên trường University of

Trang 19

Tasmania, Launceston, Australia) đưa ra những đánh giá vai trò kế toán đơn vị dịch

vụ công trong việc cung cấp các thông tin tài chính trên các Báo cáo tài chính quốc gia, đồng thời tăng cường nhận thức của độc giả về vai trò, ý nghĩa của công tác kế toán trong việc cung cấp thông tin tài chính công cho xã hội Nghiên cứu đã đề cập đến các nguyên tắc kế toán khu vực công được chấp nhận, cách thức vận dụng chuẩn mực kế toán công quốc tế ở từng loại hình đơn vị dịch vụ công ở các quốc gia – đây là những kinh nghiệm mà nghiên cứu sinh có thể kế thừa khi nghiên cứu giải pháp hoàn thiện kế toán ở loại hình đơn vị dịch vụ công lập cụ thể tại Việt Nam Tuy nhiên việc đánh giá tính hiệu quả của thông tin kế toán đơn vị dịch vụ công ở mỗi quốc gia phụ thuộc yếu tố chính trị, văn hóa kinh tế xã hội, qui định quản lý tài chính công ở mỗi quốc gia, việc ứng dụng kết quả nghiên cứu này vào Việt nam là khó thực hiện - đây cũng là giới hạn mà nghiên cứu chưa vượt qua + Với đề tài tiến sĩ “Hoàn thiện hệ thống thông tin kế toán trong các trường đại học công lập Việt nam” (2012), tác giả Nguyễn Hữu Đồng đã nghiên cứu lý luận về hệ thống thông tin kế toán trong các trường đại học công lập đồng thời đi sâu tìm hiểu kinh nghiệm tổ chức hệ thống thông tin kế toán trong các đơn vị sự nghiệp công lập tại một số nước trên thế giới đối chiếu thực trạng hệ thống thông tin kế toán trong trường đại học công lập Việt nam từ đó đưa ra một số giải pháp nhằm hoàn thiện hệ thống thông tin kế toán nhằm cung cấp những thông tin hữu ích đáp ứng nhu cầu của các nhà quản lý đơn vị trong môi trường hoạt động mới Tác giả có hướng nghiên cứu về thông tin kế toán khi được thu nhận và cung cấp như thế nào chứ không tìm hiểu về nội dung kế toán bao gồm từ thu nhập đến xử lý và cung cấp thông tin ở tất cả các phần hành kế toán của đơn vị sự nghiệp công lập, đây cũng là khoảng trống mà nghiên cứu sinh có thể tiếp tục nghiên cứu

* Một số nghiên cứu về kế toán đơn vị dịch vụ công – khía cạnh tổ chức công

tác kế toán, sử dụng kế toán như công cụ quản lý tài chính đơn vị dịch vụ công …

Tác giả Nguyễn Minh Hường (2004) với đề tài tiến sĩ “Tổ chức kế toán ở các trường đại học thuộc Bộ giáo dục và đào tạo”; tác giả Lê Thanh Huyền (2008) với

đề tài tiến sĩ “Hoàn thiện tổ chức hạch toán kế toán nhằm tăng cường quản lý tài chính tại các đơn vị hành chính sự nghiệp trực thuộc sở giáo dục tỉnh Bắc Giang” đã

Trang 20

tìm hiểu kỹ lưỡng về đặc thù đơn vị sự nghiêp công lập nói chung hoặc đơn vị sự nghiệp giáo dục công lập; xác định nội dung và các nhân tố ảnh hưởng đến tổ chức công tác kế toán trên thực tế, đánh giá tồn tại trong tổ chức công tác kế toán tài chính, tổ chức công tác kế toán quản trị và tồn tại khác trong tổ chức công tác kiểm tra kế toán, tổ chức triển khai ứng dụng công nghệ thông tin của các đơn vị này Các tác giả đã đưa ra những giải pháp hoàn thiện tổ chức công tác kế toán với lộ trình áp dụng chuẩn mực kế toán công quốc tế gắn với việc xây dựng mô hình tổng

kế toán Nhà nước

Tác giả Trần Thị Hoa Thơm (2011) với đề tài tiến sĩ “Sử dụng công cụ kế toán và kiểm toán để nâng cao hiệu quả quản lý tài chính ở các trường đại học công lập Việt Nam”; tác giả Lê Thị Thanh Huyền (2013) với đề tài tiến sĩ “Sử dụng công

cụ kế toán và kiểm toán trong việc quản lý tài chính ở các cơ quan nhà nước, đơn vị

sự nghiệp thuộc Bộ tài chính” đã phân tích sự cần thiết khi sử dụng công cụ kế toán

và kiểm toán để nâng cao hiệu quả quản lý tài chính xuất phát từ vai trò, bản chất và chức năng của kế toán và kiểm toán Trên cơ sở nhận thức toàn diện và có hệ thống vấn đề lý luận về quản lý tài chính, về sử dụng công cụ kế toán, kiểm toán trong quản lý tài chính, các đề tài đã làm rõ thực tiễn sử dụng công cụ kế toán, kiểm toán trong quản lý tài chính ở cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp ở Việt Nam Dựa trên kinh nghiệm của nhiều quốc gia để đề ra các giải pháp hoàn thiện việc sử dụng công

cụ kế toán kiểm toán nhằm tăng cường hiệu quả quản lý tài chính ở các đơn vị hành chính sự nghiệp công lập Việt nam

Nghiên cứu sinh nhận thấy có thể kế thừa từ các tác giả trên về hướng vận dụng chuẩn mực kế toán công vào kế toán đơn vị sự nghiệp công lập hoặc đổi mới cải tiến công tác kế toán nhằm phục vụ quản lý tài chính trong đơn vị hiệu quả đồng thời cũng nhận thấy khoảng trống mà các tác giả chưa đi sâu nghiên cứu chính là nội dung các phần hành kế toán đơn vị sự nghiệp công lập trong điều kiện đặc điểm hoạt động kinh tế cơ chế tài chính dành cho các đơn vị sự nghiệp công lập thay đổi theo hướng giảm dần phụ thuộc vào Nhà nước

Trang 21

2.2/ Khái quát kết quả nghiên cứu của các công trình có liên quan và khoảng trống nghiên cứu

Thông qua nghiên cứu phân tích nội dung cơ bản của các công trình liên quan có thể nhận thấy những kết quả mà các công trình đã đạt được như sau:

- Những nghiên cứu đã hệ thống hóa lý luận cơ bản về kế toán các đơn vị sự nghiệp công lập

- Những nghiên cứu đã đề cập đến kế toán trong các đơn vị cung cấp dịch vụ công theo đơn đặt hàng với phương thức trao đổi ngang giá tại các nước trên thế giới, việc ứng dụng chuẩn mực kế toán công quốc tế theo mức độ khác nhau của các quốc gia trên thế giới và lợi ích cũng như thiệt hại họ đã gặp

- Những nghiên cứu đã trình bày các nội dung liên quan đến kế toán đơn vị sự nghiệp công lập thuộc các ngành nghề đào tạo, giáo dục, y tế… tại Việt Nam bám theo chu trình thu nhận, xử lý và cung cấp thông tin kế toán, tổ chức công tác kế toán, phân tích sử dụng thông tin kế toán phục vụ quản lý tài chính cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp

Với môi trường làm nghề kế toán tại các đơn vị dịch vụ công Việt Nam từ trước đến nay luôn tuân thủ các hướng dẫn chế độ cụ thể, việc thay đổi hoàn thiện

kế toán theo hướng tiếp cận chuẩn mực kế toán là cần thiết và đang được nhưng cơ quan quản lý nhà nước thực hiện, tuy nhiên dù chính sách kế toán có thay đổi như thế nào cũng cần phải thực hiện trên nền tảng cơ sở kế toán Các đơn vị kế toán khi thực thi công việc kế toán cần nắm vững cơ sở kế toán hiện có thay vì chỉ tuân thủ một cách bị động các hướng dẫn sẽ đảm bảo chất lượng thông tin cung cấp phục vụ hiệu quả cho mọi đối tượng sử dụng thông tin trong việc ra quyết định kinh tế, chính trị, xã hội…Hiện tại ở Việt Nam vẫn còn thiếu những nghiên cứu đi sâu hoàn thiện nội dung công tác kế toán tài chính theo cơ sở kế toán góp phần khẳng định cơ

sở kế toán đang được ứng dụng và khuyến nghị những hoàn thiện trong tương lại về

cơ sở kế toán trong kế toán ở các đơn vị sự nghiệp công lập Việt Nam Điều này đặc biệt cần thiết khi Việt nam đang ở giai đoạn quá độ chuẩn bị thiết lập chuẩn mực kế toán công Nói cách khác, đây chính là khoảng trống mà chưa công trình nào trước đây mà tác giả được biết đi sâu nghiên cứu

Trang 22

Bên cạnh đó, mặc dù cũng là đơn vị dịch vụ đào tạo công lập nhưng trường trung học chuyên nghiệp công lập hoàn toàn khác các loại hình đơn vị đào tạo nghề nghiệp công lập khác trong cùng hệ thống giáo dục quốc gia về cơ chế hoạt động, định hướng phát triển, chính sách quản lý tài chính (Ví dụ cùng định hướng tăng cường tự chủ, khi muốn tăng nguồn thu nếu các trường đại học tăng cường tuyển sinh thông qua xét tuyển đại trà, mở rộng các hệ đào tạo liên kết nước ngoài, hệ chất lượng cao… và giữ nguyên thời gian đào tạo đảm bảo cấp bằng cử nhân thì các trường trung cấp chuyên nghiệp sẽ tăng cường đào tạo ngắn hạn theo đơn đặt hàng

cụ thể, tăng cường đào tạo liên kết với đối tượng sử dụng lao động thông qua đào tạo bổ sung kiến thức hoặc tay nghề cho lao động đã tốt nghiệp sơ cấp trung cấp cơ chế hoạt động khác nhau dẫn đến mức giá thu và chi phí khác nhau đòi hỏi kế toán cung cấp thông tin làm căn cứ xác định mức thu và chi phí cũng như ra các quyết định kinh tế khác nhau …vv…) Vậy nên mặc dù cùng khung pháp lý kế toán chung với các đơn vị kế toán hành chính sự nghiệp khác nhưng để thông tin kế toán phát huy tính hiệu quả giúp người sử dụng thông tin ra các quyết định kinh tế rất cần những nghiên cứu hoàn thiện nội dung công tác kế toán ở trường THCNCL Việt nam Theo tìm hiểu của nghiên cứu sinh chưa có nghiên cứu nào chú trọng đến nội dung kế toán tài chính trong các trường THCNCL Việt Nam phải hoàn thiện như thế nào để đáp ứng nhu cầu thông tin kế toán xác thực phục vụ, hiệu quả cho người

sử dụng thông tin là nhà quản lý, nhà đầu tư và các đối tượng khác có liên quan về lợi ích, đồng thời phù hợp với xu hướng hội tụ với kế toán công quốc tế

Từ những tìm hiểu trên tác giả đã xác định được khoảng trống nghiên cứu của đề tài luận án là hoàn thiện nội dung kế toán tại các trường trung học chuyên nghiệp công lập Việt nam trong bối cảnh cơ chế tài chính tự chủ và kế toán khu vực công Việt Nam đang từng bước hội nhập với quốc tế, đáp ứng không chỉ yêu cầu quản lý kiểm soát của nhà nước với các đơn vị này mà còn thu hút sự đầu tư của đối tượng ngoài nhà nước Tác giả sẽ nghiên cứu chuyên sâu các nội dung mà các nghiên cứu cùng lĩnh vực trước đây chưa đề cập đến, cụ thể là:

- Tổng kết và hệ thống hóa những vấn đề lý luận liên quan đến nội dung kế toán đơn vị dịch vụ công lập trên góc độ cơ sở kế toán

Trang 23

- Nghiên cứu khảo sát thực tế nội dung kế toán tại các trường trung học chuyên nghiệp công lập Việt Nam để kiểm chứng dấu hiệu về cơ sở kế toán đang được sử dụng trong kế toán tại các đơn vị này

- Xuất phát từ lý luận và thực tế kế toán trên, đề xuất các giải pháp hoàn thiện nội dung kế toán tại các trường trung học chuyên nghiệp công lập trên góc độ cơ sở kế toán

3/ MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

Mục đích khái quát của luận án là hệ thống hóa những vấn đề lý luận về kế toán trong đơn vị sự nghiệp công lập theo cơ sở kế toán, dùng kết quả nghiên cứu thực chứng tại các trường THCNCL Việt Nam một mặt bổ sung và củng cố hệ thống lý luận về cơ sở kế toán dành cho kế toán đơn vị sự nghiệp công lập Việt Nam mặt khác đề xuất các giải pháp góp phần hoàn thiện kế toán tại các trường THCNCL Việt nam theo cơ sở kế toán phù hợp trong tương lai gần

Để đạt mục đích trên, nghiên cứu phải thực hiện được các mục tiêu cụ thể sau:

- Tổng kết các vấn đề lý luận nền tảng về kế toán đơn vị sự nghiệp công lập theo cơ

sở kế toán dồn tích và cơ sở kế toán tiền mặt;

- Tìm hiểu những khuôn mẫu về nội dung kế toán đơn vị sự nghiệp công lập tuân theo các cơ sở kế toán được quốc tế chấp nhận từ đó rút ra kinh nghiệm cho Việt Nam

- Nghiên cứu các yếu tố chi phối kế toán đơn vị sự nghiệp công lập (đặc điểm quản

lý, đặc điểm hoạt động, qui định về kiểm soát và quản lý tài chính của đơn vị sự nghiệp công lập);

- Nghiên cứu khảo sát thực tế nội dung kế toán tại các trường THCNCL Việt nam Qua đó, nhận biết cơ sở kế toán đang thực hiện cũng như đánh giá, phân tích ưu, nhược điểm trong công tác kế toán khi tuân theo cơ sở kế toán này ở trường THCNCL Việt Nam Việc đánh giá được đặt trong điều kiện các yếu tố chi phối công tác kế toán trường trung học chuyên nghiệp công lập đang có nhiều thay đổi (cơ chế quản lý tài chính đơn vị sự nghiệp công, môi trường kế toán quốc tế …)

Trang 24

- Từ thực tiễn đã khảo sát đề xuất những giải pháp hoàn thiện nội dung kế toán tại các trường THCNCL Việt nam, bao gồm: kế toán theo cơ sở dồn tích và kế toán theo cơ sở tiền mặt tại Thông qua đây, cung cấp một quan điểm hoàn thiện cơ sở kế

toán trong kế toán các đơn vị dịch vụ công lập Việt nam nói chung

4/ CÂU HỎI NGHIÊN CỨU

Nhiệm vụ của luận án là phải nghiên cứu, phân tích, đánh giá về lý luận và thực tiễn để trả lời các câu hỏi nghiên cứu sau:

Câu hỏi 1: Lý luận cơ bản về kế toán trong các đơn vị sự nghiệp công lập đứng trên

góc độ cơ sở kế toán là gì?

Câu hỏi 2: Những thay đổi về cơ sở kế toán áp dụng cho kế toán các đơn vị sự nghiệp công lập theo kinh nghiệm quốc tế như thế nào?

Câu hỏi 3: Thực trạng nội dung kế toán các hoạt động kinh tế cơ bản trong các

trường trung học chuyên nghiệp công lập Việt nam trên khía cạnh vận dụng cơ sở

kế toán đang diễn ra như thế nào?

Câu hỏi 4: Phân tích, đánh giá về nội dung kế toán tại các trường THCNCL Việt

nam trên các khía cạnh ứng dụng cơ sở kế toán?

Câu hỏi 5: Các giải pháp hoàn thiện nội dung kế toán tại các trường THCNCL theo

các cơ sở kế toán phù hợp là gì?

5/ ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU

5.1/ Đối tượng nghiên cứu

Đề tài tập trung nghiên cứu nội dung kế toán trên góc độ vận dụng cơ sở kế toán trong các trường THCNCL Việt nam trong điều kiện chi phối bởi các yếu tố: cơ chế tự chủ tài chính; tiến trình xã hội hóa giáo dục nhằm thu hút các nguồn đầu tư tài chính ngoài NSNN; đòi hỏi về thông tin kế toán phải đảm bảo chất lượng phục vụ quản trị nội bộ và hướng đến phục vụ quá trình hợp nhất báo cáo tài chính quốc gia trong tương lai; yêu cầu chuẩn hóa công tác kế toán theo chuẩn mực kế toán công quốc tế đáp ứng đòi hỏi khi hội nhập kinh tế và toàn cầu hóa

Trang 25

5.2/ Phạm vi nghiên cứu:

Phạm vi nghiên cứu của luận án được giới hạn cụ thể:

- Về mặt không gian: các trường trung học chuyên nghiệp công lập Việt Nam hay còn được gọi là trường trung cấp chuyên nghiệp công lập; là đơn vị độc lập trực thuộc quản lý của Sở giáo dục và đào tạo các địa phương (từ 2016 trở về trước) và

sở lao động thương binh xã hội (từ sau 2016) Lý do tác giả lựa chọn các trường THCNCL độc lập vì các trường độc lập thực hiện theo cùng một qui định khung về

kế toán khi điều tra sẽ cho kết quả thống nhất giúp nhận định các hiện tượng chung của mẫu điều tra; còn các trường THCN trực thuộc trường đại học, học viện, cao đẳng hay doanh nghiệp hay các Bộ, Ban ngành khác … lại chịu ảnh hưởng của hệ thống đơn vị kế toán cũng như cơ chế tài chính của cấp trên qui định dẫn đến khả năng thiếu đồng nhất trong qui định thực hiện công tác kế toán và kết quả tổng kết điều tra mẫu thiếu chính xác

- Về mặt thời gian: 5 năm gần đây và được chia thành hai giai đoạn với mốc phân định là 31/12/2017 Việc chọn giai đoạn khảo sát này xuất phát từ kết quả phỏng vấn chuyên gia, tác giả nhận thấy đây là giai đoạn công tác kế toán của các trường THCNCL xuất hiện nhiều vấn đề nổi cộm khi cơ chế hoạt động, chính sách quản lý tài chính dành cho hoạt động giáo dục nghề nói chung và các trường trung học chuyên nghiệp công lập nói riêng có nhiều thay đổi; sự thay đổi trong chính sách kế toán khu vực công nói chung và đơn vị sự nghiệp công lập nói riêng khi Việt nam gia nhập nhiều cộng đồng kinh tế của nhiều khu vực đòi hỏi minh bạch thông tin tài chính khu vực công, tuân thủ chuẩn mực kế toán công quốc tế rất cấp thiết

- Về mặt nội dung: tập trung nghiên cứu nội dung công tác kế toán tài chính (bao gồm: đối tượng kế toán, thu nhận thông tin ban đầu về đối tượng kế toán, ghi chép biến động của đối tượng kế toán, cung cấp thông tin về đối tượng kế toán trên hệ thống Báo cáo kế toán)

Mặc dù, khi phân loại kế toán căn cứ thông tin cung cấp cho đối tượng sử dụng, ở mỗi đơn vị kế toán thường bao gồm kế toán tài chính và kế toán quản trị Nhưng việc chuyên sâu nghiên cứu kế toán tài chính đảm bảo giúp tác giả tiếp cận các dấu hiệu vận dụng cơ sở kế toán trong nội dung công tác kế toán ở các đơn vị

Trang 26

này – đây là định hướng nghiên cứu chủ đạo đã được nêu ở mục tiêu nghiên cứu của luận án

Ngoài ra, tác giả có đề cập việc sử dụng thông tin do kế toán tài chính cung cấp giúp nhà quản lý ra quyết định quản lý cũng như giúp các đối tượng khác như nhà đầu tư, tổ chức, cá nhân có liên quan về quyền lợi ra các quyết định kinh tế vì trong điều kiện bộ máy kế toán các trường THCNCL Việt nam còn nhỏ, trình độ kế toán chưa cao, hầu hết các trường không hình thành bộ máy cũng như qui trình kế toán quản trị riêng biệt, việc nghiên cứu hoàn thiện kế toán quản trị trong các trường THCNCL Việt nam một cách độc lập xét ở hiện tại cũng như trong tương lai gần khó phát huy hiệu quả Tác giả cũng nhận định vấn đề này trong nghiên cứu của tác giả sẽ là khoảng trống cho các nhà khoa học nghiên cứu sau này

6/ QUI TRÌNH VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Qui trình nghiên cứu được tác giả thực hiện theo các bước sau:

Sơ đồ Mô tả qui trình nghiên cứu

Trang 27

6.1/ Hình thành ý tưởng nghiên cứu

Xuất phát từ những hiểu biết của tác giả về thực tế hoạt động của các trường THCNCL giai đoạn gần đây, đồng thời với việc tìm hiểu các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước có liên quan đến nội dung kế toán tại các đơn vị dịch vụ công giống trường THCNCL, với mong muốn tìm hiểu ảnh hưởng của kế toán đến hoạt động của các trường THCNCL và những tác động khi thay đổi nội dung kế toán đến việc phát triển hoạt động của các trường THCNCL, tác giả hình thành ý tưởng nghiên cứu của đề tài: Hoàn thiện nội dung công tác kế toán trong các trường THCNCL với mục tiêu nâng cao chất lượng thông tin kế toán đáp ứng yêu cầu của các đối tượng sử dụng thông tin khác như nhà đầu tư, người lao động, người sử dụng dịch vụ đào tạo … ngoài đối tượng truyền thống là đơn vị chủ quản, đối tượng quản lý tài chính, đối tượng quản lý NSNN, đồng thời đảm bảo kế toán thích ứng được với sự thay đổi của qui chế tài chính, cơ chế hoạt động và xu thế hội tụ kế toán quốc tế

6.2/ Nghiên cứu tài liệu và tổng quan nghiên cứu

Để tìm hiểu nội dung công tác kế toán trong đơn vị sự nghiệp công lập như trường THCNCL, tiến hành tổng quan các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước, tác giả sử dụng các phương pháp phân tích và tổng hợp lý thuyết, phân loại và

hệ thống hoá lý thuyết, nghiên cứu lịch sử, cụ thể: thu thập và xử lý cơ sở lý thuyết liên quan đến hướng nghiên cứu của mình; tổng hợp các thành tựu lý thuyết đã đạt được liên quan trực tiếp đến chủ đề nghiên cứu; các kết quả nghiên cứu cụ thể đã công bố trên các ấn phẩm; số liệu thống kê; chủ trương, chính sách liên quan đến nội dung nghiên cứu; nguồn tài liệu

Qua đó, tác giả nhận diện được nội dung kế toán tài chính trong đơn vị sự nghiệp công theo cơ sở kế toán, việc phân tách các bộ phận của kế toán tài chính khi nghiên cứu sâu nội dung kế toán tài chính trong các trường THCNCL

6.3/ Phỏng vấn chuyên sâu

Dựa trên cơ sở tổng quan nghiên cứu, tác giả xây dựng lưới phỏng vấn và phỏng vấn sâu 30 chuyên gia với mục đích tìm hiểu thực tế nội dung công tác kế toán trong các trường THCNCL Việt nam hiện nay Việc tác giả ứng dụng phương

Trang 28

pháp phỏng vấn sâu trong giai đoạn nghiên cứu thăm dò nhằm hình thành ý tưởng nghiên cứu của bản thân Việc phòng vấn sâu được tiến hành thông qua phương thức trao đổi trực tiếp với chuyên gia (gặp mặt, qua chat webcam, live stream) và không theo bảng hỏi cố định với các câu hỏi đóng mà theo các vấn đề được khoanh vùng liên quan đến nội dung công tác kế toán tài chính hiện hành tại các trường THCNCL dạng các câu hỏi mở Việc phỏng vấn sâu sẽ dừng lại khi các câu trả lời

có xu hướng lặp lại, đây cũng chính là lý do tại sao lượng chuyên gia được phỏng vấn là 30 người

Thông qua kết quả phỏng vấn sâu, tác giả nhận diện những vấn đề vướng mắc nổi bật trong công tác kế toán ở những đơn vị này Kết quả của phỏng vấn chuyên sâu là căn cứ để tác giả xây dựng nội dung điều tra mẫu nhằm kiểm định các vấn đề được phát hiện ở phỏng vấn sâu có xảy ra ở diện rộng hay không Việc phỏng vấn sâu tiến hành theo các bước:

Bước 1: Thiết lập lưới phỏng vấn: Dựa trên tổng quan nghiên cứu, tác giả xây dựng lưới phỏng vấn với mục đích tìm hiểu được nội dung cơ bản của kế toán trong các trường THCNCL hiện hành và những vấn đề vướng mắc trong công tác kế toán của các trường THCNCL [Phụ lục 2.1]

Bước 2: Thực hiện phỏng vấn: Đối tượng phỏng vấn được chọn là 30 chuyên gia lâu năm trong lĩnh vực nghiên cứu kế toán đơn vị sự nghiệp công, hoặc thực hiện công tác kế toán tại các trường THCNCL, hoặc thực hiện kiểm tra kiểm soát kế toán trường THCNCL

Bước 3: Gỡ băng phỏng vấn: Kết quả phỏng vấn chuyên gia được tác giả ghi chép đầy đủ thông qua công đoạn gỡ băng Các nội dung thông tin phỏng vấn được tổng hợp đầy đủ

Bước 4: Tổng hợp kết quả phỏng vấn chuyên sâu: Kết quả phỏng vấn được tổng hợp theo từng nhóm vấn đề trong nội dung công tác kế toán [Phụ lục 2.2]

6.4/ Thiết kế phiếu điều tra và chọn mẫu

Xuất phát từ kết quả phỏng vấn sâu đã tổng hợp, tác giả xây dựng kết cấu phiếu điều tra để phát cho các đối tượng điều tra theo mẫu, với mục đích kiểm chứng liệu các vấn đề tác giả đã nhận diện khi phỏng vấn sâu có phải là vấn đề xảy

Trang 29

ra ở diện rộng không? Việc này sẽ giúp tác giả nhận diện những tồn tại trong nội dung công tác kế toán trong các trường THCNCL, đánh giá mức độ, tìm hiểu lý do

từ đó khuyến nghị giải pháp [Phụ lục 2.4]

Về qui mô mẫu, căn cứ công thức Slovin xác định mẫu với tổng thể xác định

n = N

1 + N (e2)

Trong đó: N là số lượng tổng thể, n là cỡ mẫu, e là sai số tiêu chuẩn

Với phạm vị nghiên cứu là các trường THCNCL độc lập đóng tại các tỉnh, thành phố, dựa trên số liệu của Bộ Giáo dục và đào tạo và Tổng cục dạy nghề - Bộ Lao động thương binh xã hội, tại giai đoạn 2015- 2016 và 2016-2017 tổng thể nghiên cứu là 175 trường THCNCL [98] Với sai số tiêu chuẩn là 10% thì cỡ mẫu tính theo công thức trên là 63 trường [Phụ lục 2.3]

Số liệu điều tra dựa trên hiểu biết của đối tượng được điều tra về nội dung kế toán nhà trường THCNCL giai đoạn 2014-2016 từ đó đưa ra các lựa chọn trong phiếu điều tra

Cách thức gửi phiếu cho đối tượng điều tra: bằng đường bưu điện hoặc gửi email thông qua đơn vị chủ quản hoặc cơ quan tài chính Đồng thời, tác giả nhận lại hồi đáp theo đường gửi

6.5/ Tổng hợp phiếu điều tra

Việc phát phiếu từ tháng 6/2017, việc thu nhận phản hồi từ tháng 8/2017 đến hết tháng 10/2017 Tổng phiếu phát ra theo bưu điện hoặc gửi email: 150 phiếu, tổng thu về 69 phiếu, nhưng hợp lệ chỉ có 63 phiếu, các phiếu này đến từ các trường với nhiều ngành đào tạo đa dạng, đảm bảo thông tin điều tra về công tác kế toán bao quát các trường với hoạt động đào tạo khác nhau

Sau khi thu thập phiếu khảo sát, tác giả tiến hành lọc thông tin và tổng hợp

dữ liệu trong file dữ liệu excel Tác giả sử dụng phần mềm SPSS20 để hỗ trợ xử lý thông tin và tổng hợp kết quả khảo sát với từng nội dung trong tổ chức công tác kế toán tại các đơn vị Phần mền SPSS20 là phần mềm dễ sử dụng, thực hiện các bước

Trang 30

thống kê mô tả và các bước phân tích thông tin nhanh File dữ liệu sau tổng hợp được đưa vào phần mềm SPSS20

Tác giả thực hiện các bước thống kê mô tả với các câu hỏi trong từng nội dung của phiếu khảo sát, bao gồm các câu hỏi về thông tin chung, các câu hỏi về nội dung công tác kế toán (cơ sở kế toán, đối tượng kế toán, hình thức kế toán, chứng từ kế toán…) Câu lệnh thực hiện thống kê mô tả số liệu trong SPSS20 mà tác giả thực hiện cho các câu trả lời đã tổng hợp: Analyze – Descriptive Statistics – Frequencies Kết quả thống kê mô tả được ghi nhận tại phụ lục 2.5

6.6/ Nghiên cứu điển hình

Việc nghiên cứu điển hình được thực hiện thông qua tìm hiểu thực tế nội dung kế toán tài chính tại một vài đơn vị trong mẫu điều tra, sau đó phân tích cụ thể theo tiêu chí nghiên cứu đánh giá thực trạng công tác kế toán của tác giả từ cơ sở kế toán, nguyên tắc kế toán, quá trình thu nhận - xử lý - cung cấp thông tin kinh tế tài chính, với hai mục đích sau:

+ Nghiên cứu điển hình giúp kiểm chứng kết quả điều tra, góp phần khẳng định tính hiệu quả của các câu hỏi điều tra

+ Nghiên cứu điển hình giúp tăng tính hiện thực, tính hiện đại của các kết luận và giải pháp khi công trình được công bố rộng rãi, trong bối cảnh quá trình nghiên cứu kéo dài và có thay đổi về chính sách kế toán của các trường THCNCL Việt Nam

6.7/ Kết luận

Từ kết quả tổng hợp nghiên cứu điều tra, và kết quả nghiên cứu điển hình tác giả đưa ra các kết luận đánh giá và giải pháp hoàn thiện nội dung kế toán tài chính tại các trường THCNCL Những đánh giá dựa trên so sánh giữa thực tiễn và lý luận

có đặt trong điều kiện các nhân tố ảnh hưởng đến nội dung công tác kế toán tài chính tại các trường THCNCL Việt Nam hiện tại Những giải pháp được đưa ra đảm bảo yêu cầu hoàn thiện công tác kế toán tài chính các trường THCNCL trong giai đoạn hiện tại, cũng như trong tương lai

Trang 31

7/ Ý NGHĨA CỦA ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU

Trong bối cảnh hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, Việt nam không ngừng đổi mới hệ thống giáo dục quốc dân bao gồm các trường THCNCL thông qua các chính sách thúc đẩy xã hội hóa giáo dục, đa dạng hoạt động đào tạo, tăng cường chủ động trong quản lý tài chính cho các đơn vị Hơn bao giờ hết, nhu cầu về thông tin

kế toán xác thực, hiệu quả trở nên cấp bách đối với nhà quản lý trong và ngoài đơn

vị, nhà đầu tư và các đối tượng có liên quan về lợi ích với các trường THCNCL Tuy nhiên thực tế kế toán các trường THCNCL hiện tại chưa đáp ứng yêu cầu thông tin của người sử dụng đồng thời chưa phù hợp với xu thế hội tụ kế toán công quốc

tế, bởi vậy nghiên cứu “Hoàn thiện kế toán trong các trường trung học chuyên

nghiệp công lập Việt Nam” là cần thiết và có tính thời sự cả về mặt lý luận và thực

tiễn Cụ thể:

Về lý luận:

Thứ nhất, nghiên cứu khái quát được đặc trưng hoạt động của đơn vị sự

nghiệp công lập từ đó xác định được các yếu tố chi phối kế toán tài chính đơn vị sự

nghiệp công lập Thứ hai, bên cạnh việc kế thừa các nghiên cứu trong quá khứ về kế

toán khu vực công, cơ sở kế toán, kế toán đơn vị HCSN Việt nam … Nghiên cứu đã khái quát hóa nội dung kế toán tài chính đơn vị sự nghiệp công lập theo cơ sở kế toán, luận giải được cơ sở kế toán phù hợp đối với kế toán tài chính phản ánh tất cả các hoạt động kinh tế tài chính nhằm cung cấp thông tin tài chính cho đối tượng trong và ngoài đơn vị, cũng như kế toán tài chính phản ánh các hoạt động kinh tế gắn với việc tiếp nhận và sử dụng NSNN nhằm cung cấp thông tin tài chính phục vụ đối tượng quản lý NSNN Tìm hiểu những qui định khuôn mẫu về kế toán đơn vị sự nghiệp công lập được quốc tế chấp nhận từ đó rút ra kinh nghiệm cho Việt Nam

Về thực tiễn:

Thứ nhất, thông qua khảo sát thực tế nội dung kế toán tài chính tại các

trường THCNCL Việt nam, nghiên cứu đã tổng kết đánh giá, phân tích ưu, nhược điểm của kế toán tài chính tại các trường THCNCL hiện hành Việc đánh giá được đặt trong điều kiện các yếu tố chi phối công tác kế toán trường THCNCL đang có nhiều thay đổi, cụ thể như: sự đổi mới trong cơ chế quản lý tài chính đơn vị sự

Trang 32

nghiệp công, sự hội tụ của môi trường kế toán quốc tế và kinh nghiệm một số nước

trên thế giới khi ứng dụng chuẩn mực kế toán công quốc tế Thứ hai, từ thực tiễn đã

khảo sát đề xuất những giải pháp hoàn thiện nội dung kế toán tài chính tại các trường THCNCL Việt nam hướng đến những thông tin kế toán trung thực, hợp lý giúp nhà quản lý và đầu tư phân tích đánh giá và ra quyết định hiệu quả nhất, từ đó tăng cường thu hút đầu tư của khu vực tư trong và ngoài nước nhằm phát triển hoạt động giáo dục đào tạo nghề nghiệp trong môi trường xã hội hoá và toàn cầu hoá giáo dục Các giải pháp theo hướng tách kế toán tài chính thành hai hệ thống xử lý

và cung cấp thông tin từ cùng nguồn dữ liệu thông tin đầu vào, đảm bảo phục vụ nhu cầu thông tin khác nhau của hai khu vực đối tượng: cơ quan quản lý ngân sách nhà nước cần thông tin để quản lý chi ngân sách và đối tượng ngoài cơ quan quản lý ngân sách nhà nước (quản lý nhà trường, nhà đầu tư, các bên liên kết … ) cần thông

tin để ra quyết định quản trị, đầu tư, … Thứ ba, nghiên cứu có thể dùng làm tài liệu

trong nghiên cứu, đào tạo kế toán trung học chuyên nghiệp, hoặc đóng góp một phương án hoàn thiện khung pháp lý chính sách kế toán đơn vị sự nghiệp công lập

8/ KẾT CẤU CỦA LUẬN ÁN

Ngoài phần mở đầu và kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, luận

án được kết cấu thành ba chương:

1/ Lý luận cơ bản về kế toán trong các đơn vị sự nghiệp công lập

2/ Thực trạng kế toán trong các trường trung học chuyên nghiệp công lập Việt Nam 3/ Giải pháp hoàn thiện kế toán trong các trường trung học chuyên nghiệp công lập Việt Nam

Trang 33

CHƯƠNG 1

LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ KẾ TOÁN ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP CÔNG LẬP

1.1 TỔNG QUAN VỀ ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP CÔNG LẬP – NHỮNG NHÂN TỐ CHÍNH CHI PHỐI KẾ TOÁN ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP CÔNG LẬP

1.1.1 Đặc điểm hoạt động và phân loại đơn vị sự nghiệp công lập

Hệ thống đơn vị sự nghiệp công lập đóng vai trò quan trọng, cung cấp những dịch vụ công thiết thực bảo đảm phục vụ nhu cầu của nhân dân trong lĩnh vực y tế, giáo dục, khoa học và các lĩnh vực khác

Đứng trên góc độ quy định của luật pháp:

Đơn vị sự nghiệp công lập là tổ chức do cơ quan có thẩm quyền của Nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội thành lập theo quy định của pháp luật, có tư cách pháp nhân, cung cấp dịch vụ công, phục vụ quản lý nhà nước [49]

Theo chuẩn mực kế toán công quốc tế (IPSAS 1, IPSAS 6 và IPSAS 22) các đơn vị cung cấp dịch vụ công và các cơ quan chính quyền các cấp bị kiểm soát bởi một đơn vị công ngoại trừ các đơn vị kinh doanh bằng vốn nhà nước được gọi là các đơn vị thuộc lĩnh vực công hay được gọi là “đơn vị bị kiểm soát” Các đơn vị này hoạt động dựa vào nguồn tài trợ của chính phủ gồm nguồn ngân sách hoặc phi ngân sách Theo quan điểm này đơn vị sự nghiệp công lập được hiểu là các đơn vị nhận tài trợ và chịu kiểm soát bởi nhà nước để thực hiện các công việc do nhà nước giao [3], [4]

Theo qui định của Chế độ kế toán HCSN hiện hành:

Đơn vị hành chính sự nghiệp do Nhà nước quyết định thành lập nhằm thực hiện một nhiệm vụ chuyên môn nhất định hay quản lý Nhà nước về một lĩnh vực nào đó, hoạt động bằng nguồn kinh phí NSNN cấp, cấp trên cấp toàn

bộ hoặc cấp một phần kinh phí và các nguồn khác đảm bảo theo nguyên tắc không bồi hoàn trực tiếp nhằm thực hiện nhiệm vụ của Đảng và Nhà nước giao cho từng giai đoạn [2, tr.3]

Trang 34

Theo những nhà nghiên cứu của Trường Đại học Công nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh:

Đơn vị hành chính sự nghiệp là đơn vị được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền ban hành quyết định thành lập nhằm thực hiện một nhiệm vụ chuyên môn nhất định hay quản lý Nhà nước về một hoạt động nào đó (các cơ quan chính quyề, cơ quan quản lý nhà nước trong các ngành giáo dục đào tạo, y tế, văn hóa, thể thao, sự nghiệp, nông lâm ngư nghiệp, trạm trại) hoạt động bằng nguồn kinh phí ngân sách nhà nước cấp toàn bộ hay cấp một phần, và các nguồn khác đảm bảo chi phí hoạt động thường xuyên theo nguyên tắc không

bồi hoàn trực tiếp [42, tr.7]

Theo các chuyên gia nghiên cứu của Học viện Tài chính:

Đơn vị sự nghiệp công lập là những đơn vị do Nhà nước thành lập hoạt động công lập thực hiện cung cấp các dịch vụ xã hội công cộng và các dịch vụ nhằm duy trì sự hoạt động bình thường của các ngành kinh tế quốc dân Các đơn vị này hoạt động trong các lĩnh vực: Y tế, giáo dục đào tạo, khoa học công nghệ và môi trường, văn học nghệ thuật, thể dục thể thao, sự nghiệp kinh tế, dịch vụ việc làm [22, tr.330]

Kế thừa những nghiên cứu quá khứ, tác giả cũng nhận định các đơn vị sự nghiệp công lập là tổ chức do cơ quan có thẩm quyền của Nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội thành lập theo quy định của pháp luật, có tư cách pháp nhân, cung cấp dịch vụ công, phục vụ quản lý nhà nước Nguồn tài chính để đảm bảo hoạt động do NSNN cấp hoặc có nguồn gốc từ ngân sách Các hoạt động này chủ yếu được tổ chức để phục vụ xã hội, do đó chi phí chi ra không được bồi hoàn trực tiếp bằng lợi ích kinh tế mà được thể hiện bằng hiệu quả xã hội nhằm đạt được các mục tiêu kinh tế vĩ mô Bắt nguồn từ nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội và vai trò của Nhà nước trong nền kinh tế thị trường, phương thức hoạt động của các đơn

vị sự nghiệp công là rất đa dạng, nhưng dù hoạt động ở các lĩnh vực khác nhau chúng đều mang những đặc điểm cơ bản như sau:

Thứ nhất, mục đích hoạt động của các đơn vị sự nghiệp công lập là không vì lợi nhuận, chủ yếu phục vụ lợi ích cộng đồng

Trang 35

Việc cung ứng các sản phẩm, dịch vụ được tạo ra bởi đơn vị sự nghiệp công lập không vì mục đích lợi nhuận như hoạt động sản xuất kinh doanh Sự có mặt của nhà nước trong việc tài trợ cho các hoạt động dịch vụ công vừa để thực hiện vai trò của Nhà nước trong việc phân phối lại thu nhập, thực thi các chính sách phúc lợi công cộng khi can thiệp vào thị trường; mặt khác qua đó thúc đẩy hoạt động kinh tế

- xã hội phát triển, nâng cao đời sống, sức khỏe, văn hóa, tinh thần của nhân dân

Thứ hai, sản phẩm của các đơn vị sự nghiệp công lập là sản phấm mang lại lợi ích chung có tính bền vững; lâu dài cho xã hội

Sản phẩm, dịch vụ do hoạt động sự nghiệp công lập tạo ra chủ yếu là những sản phẩm, dịch vụ có giá trị về sức khỏe, tri thức, văn hóa, đạo đức, xã hội Đây là những sản phẩm vô hình và có thể dùng chung cho nhiều người, cho nhiều đối tượng trên phạm vi rộng Mặt khác, sản phẩm của các hoạt động sự nghiệp công lập chủ yếu là các “hàng hóa công cộng” phục vụ trực tiếp hoặc gián tiếp trong quá trình tái sản xuất xã hội Hàng hoá công cộng có hai đặc tính cơ bản là không có tính cạnh tranh và không loại trừ Nhờ việc sử dụng những “hàng hóa công cộng”

do hoạt động sự nghiệp công lập tạo ra làm cho quá trình sản xuất của cải vật chất được thuận lợi và ngày càng đạt hiệu quả cao Vì vậy, hoạt động sự nghiệp công luôn gắn bó hữu cơ và tác động tích cực đến quá trình tái sản xuất xã hội

Thứ ba, hoạt động của các đơn vị sự nghiệp công lập luôn gắn liền và bị chi phối bởi các chương trình phát triển kinh tế - xã hội của Nhà nước

Với chức năng của mình, Chính phủ luôn tổ chức, duy trì và đảm bảo hoạt động sự nghiệp để thực hiện các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội Để thực hiện những mục tiêu kinh tế - xã hội nhất định, Chính phủ tổ chức thực hiện các chương trình mục tiêu quốc gia như chương trình chăm sóc sức khỏe cộng đồng, chương trình dân số kế hoạch hóa gia đình, chương trình xóa mù chữ, Những chương trình này chỉ có Nhà nước, với vai trò của mình mới có thể thực hiện một cách triệt để và

có hiệu quả, nếu để tư nhân thực hiện, mục tiêu lợi nhuận sẽ lấn chiếm mục tiêu xã hội và dẫn đến hạn chế việc tiêu dùng sản phẩm hoạt động sự nghiệp, từ đó kìm hãm sự phát triển kinh tế - xã hội

Trang 36

Thứ tư, việc quản lý hoạt động của các đơn vị sự nghiệp công lập gắn với việc tạo lập và sử dụng các nguồn lực tài chính được tiến hành theo hai phương thức: quản lý đầu vào, và quản lý đầu ra

Rõ ràng vì mục đích hoạt động của các đơn vị này là cung cấp dịch vụ công cho mọi đối tượng thụ hưởng trong xã hội với mức giá tối thiểu và ổn định, bởi vậy

để đảm bảo công bằng cho mọi đối tượng thụ hưởng dịch vụ thông thường ngân sách quốc gia tài trợ cho các đơn vị Chi phí cho dịch vụ công thường được tính dựa trên số chi ngân sách bình quân đầu người Nếu kinh phí tài trợ cho hoạt động cung cấp dịch vụ công phụ thuộc hoàn toàn vào ngân sách nhà nước, nhà nước thường áp dụng quản lý hoạt động của đơn vị theo phân cấp kinh phí đầu vào của đơn vị đó vì điều này đồng nghĩ với việc kiểm soát một bộ phận của chi ngân sách Khi xã hội phát triển, dịch vụ công dành cho mọi đối tượng người dân được nâng giá trị, cùng tiến trình xã hội hóa dịch vụ công , ảnh hưởng của khu vực tư nhân vào quá trình cung dịch vụ công, xuất hiện các nguồn tài trợ khác ngoài ngân sách nhà nước, nhu cầu quản lý hiệu quả hoạt động cung cấp dịch vụ được đặt ra đối với các nhà đầu tư, phát sinh xu thế cạnh tranh tương tự khu vực dịch vụ tư nhân dẫn đến cách quản lý hoạt động các đơn vị sự nghiệp công lập sẽ theo đầu ra

Để đảm bảo hiệu quả quản lý nhà nước thì cần có sự phân loại các đơn vị sự nghiệp công lập Tùy thuộc quan điểm, cách tiếp cận hoặc do các yêu cầu của quản

lý nhà nước mà các đơn vị sự nghiệp công lập được phân chia theo các tiêu thức khác nhau

* Căn cứ lĩnh vực hoạt động, các đơn vị sự nghiệp công lập bao gồm:

- Đơn vị sự nghiệp công lập hoạt động trong lĩnh vực giáo dục đào tạo, như: các trường học, các trung tâm kỹ thuật tổng hợp hướng nghiệp

- Đơn vị sự nghiệp công lập hoạt động trong lĩnh vực văn hóa thông tin nghệ thuật: các đoàn nghệ thuật, nhà văn hóa thông tin, bảo tàng, trung tâm thông tin triển lãm, thư viện công cộng, đài phát thanh, truyền hình

- Đơn vị sự nghiệp công lập hoạt động trong lĩnh vực thể dục thể thao: trung tâm huấn luyện thể dục thể thao, các câu lạc bộ thể dục thể thao

Trang 37

- Đơn vị sự nghiệp công lập hoạt động trong lĩnh vực kinh tế: viện tư vấn, thiết kế, quy hoạch đô thị, nông thôn; các trung tâm nghiên cứu khoa học và ứng dụng về nông, lâm, ngư nghiệp, giao thông, công nghiệp

- Đơn vị sự nghiệp công lập hoạt động trong lĩnh vực y tế: các bệnh viện, phòng khám, trung tâm y tế thuộc các Bộ, ngành và địa phương; cơ sở khám chữa bệnh thuộc các viện nghiên cứu, trường đào tạo y dược; các cơ sở điều dưỡng, phục hồi chức năng …

* Căn cứ chủ thể quản lý, các đơn vị sự nghiệp công lập bao gồm:

- Đơn vị sự nghiệp công lập do Trung ương quản lý: Đài truyền hình Việt Nam, các bệnh viện, trường học do Trung ương quản lý

- Đơn vị sự nghiệp công lập do địa phương quản lý: Đài truyền hình tỉnh (thành phố), các bệnh viện, trường học do địa phương quản lý

* Căn cứ nguồn tài chính, các đơn vị sự nghiệp công lập bao gồm:

- Đơn vị có nguồn thu sự nghiệp tự bảo đảm toàn bộ kinh phí hoạt động thường xuyên và hoạt động đầu tư phát triển

- Đơn vị vừa có nguồn thu sự nghiệp vừa có nguồn thu từ ngân sách nhà nước để bảo đảm kinh phí hoạt động thường xuyên và hoạt động đầu tư phát triển

- Đơn vị chỉ có nguồn thu từ ngân sách nhà nước để bảo đảm kinh phí hoạt động thường xuyên và hoạt động đầu tư phát triển

Theo quan điểm trên, tiêu chí để phân loại đơn vị sự nghiệp công lập là mức

độ tự đảm bảo kinh phí hoạt động thường xuyên của đơn vị sự nghiệp, được xác định bằng công thức sau:

Mức tự bảo đảm kinh phí Tổng số nguồn thu sự nghiệp

hoạt động thường xuyên = - x 100% của đơn vị (%) Tổng số chi hoạt động thường xuyên

Trong đó: “Tổng số nguồn thu sự nghiệp” và “Tổng số chi hoạt động thường xuyên” tính theo dự toán thu, chi của năm đầu thời kỳ ổn định

Trang 38

Tóm lại, chính đặc điểm, tính chất và mục đích hoạt động của các đơn vị sự nghiệp công lập hình thành nên các đối tượng kế toán cần theo dõi và bởi vậy đây là một trong những nhân tố chi phối nội dung công tác kế toán trong đơn vị sự nghiệp công lập

1.1.2 Nguồn tài chính và quản lý tài chính trong đơn vị sự nghiệp công lập

Muốn duy trì được hoạt động cơ bản cũng như đầu tư phát triển đơn vị sự nghiệp công lập, bất kỳ đơn vị nào cũng cần huy động được các nguồn tài chính để hình thành cơ sở vật chất, mua sắm trang thiết bị chuyên môn, trả lương cho viên chức và đội ngũ cán bộ quản lý, nhân viên phục vụ, Việc huy động, khai thác, quản lý và sử dụng các nguồn tài chính của đơn vị sự nghiệp công lập ảnh hưởng chi phối công tác kế toán từ việc lựa chọn ghi nhận thông tin ban đầu đến tổng hợp thông tin trên báo cáo kế toán cuối cùng

1.1.2.1 Nguồn tài chính của đơn vị sự nghiệp công lập

Nguồn tài chính đầu tư cho các đơn vị sự nghiệp công lập được hình thành trong quá trình phân phối và phân phối lại tổng sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân của các chủ thể kinh tế - xã hội, bao gồm hai nguồn chủ yếu: nguồn vốn từ NSNN và nguồn vốn xã hội hóa từ các tổ chức kinh tế, chính tri, xã hội, cá nhân trong và ngoài nước, quỹ tiền tệ tự tạo do hoạt động sự nghiệp của các đơn vị gọi chung là nguồn ngoài NSNN

- Nguồn tài chính từ NSNN:

Xuất phát từ đặc điểm của đơn vị sự nghiệp công lập có thể thấy những hàng hóa dịch vụ công cộng mà đơn vị này cung cấp cho xã hội có tác động ngoại biên đối với xã hội Để gia tăng các tác động ngoại biên thuận lợi đến xã hội, đảm bảo cơ hội thụ hưởng dịch vụ công cho mọi cá nhân trong xã hội, nhà nước thường can thiệp trực tiếp bằng cách cung cấp nguồn lực tài chính và kiểm soát chất lượng dịch

vụ công do đơn vị cung cấp Thông thường, nguồn tài chính từ NSNN là nguồn thu truyền thống có vai trò quan trọng trong việc đảm bảo thực hiện nhiệm vụ chính trị, chuyên môn mà đơn vị được giao Nguồn tài chính từ NSNN được huy động từ ngân sách trung ương và ngân sách địa phương Ngoài ra, Nhà nước còn đầu tư cho các đơn vị sự nghiệp công lập theo các chương trình mục tiêu quốc gia Việc sử

Trang 39

dụng nguồn này luôn gắn với mục đích, nội dung dự toán được giao, tiêu chuẩn, định mức của Nhà nước, vậy nên định kỳ đơn vị sự nghiệp công lập thường phải làm thủ tục quyết toán tình hình tiếp nhận và sử dụng từng loại kinh phí với cơ quan chuyên trách về cấp kinh phí từ NSNN địa phương hoặc quốc gia

- Nguồn tài chính ngoài NSNN:

Tại nhiều quốc gia, nguồn tài chính ngoài NSNN là tất cả các nguồn tiền tệ

mà Nhà nước cho phép các đơn vị được huy động trực tiếp trong khuôn khổ thực hiện xã hội hóa dịch vụ sự nghiệp công để tồn tại và phát triển Đơn vị không phải nộp vào NSNN các nguồn tài chính này, mà được sử dụng để thực hiện các nhiệm

vụ của mình nhưng phải tuân thủ theo các quy định thống nhất của Nhà nước về quản lý tài chính

Các nguồn ngoài NSNN gồm:

+ Nguồn thu giá dịch vụ: hình thành từ số thu của đối tượng sử dụng dịch vụ công

mà đơn vị cung cấp; nguồn này tồn tại ở các đơn vị sự nghiệp công lập được Nhà nước cho áp dụng cơ chế giá dịch vụ tuân thủ Luật Giá Cùng với việc chuyển đổi sang cơ chế tự chủ tài chính, tỷ trọng nguồn này trong các đơn vị sự nghiệp công lập có xu hướng tăng, đòi hỏi các đơn vị phải tổ chức khai thác hợp pháp nhằm tăng cường năng lực tài chính của đơn vị

+ Nguồn từ viện trợ, biếu tặng là những khoản thu không thường xuyên, không dự tính trước được chính xác nhưng có tác dụng hỗ trợ đơn vị trong quá trình thực hiện nhiệm vụ

+ Các nguồn khác có được từ hoạt động vay nợ tổ chức tín dụng, từ hoạt động huy động vốn góp của nhân viên, đối tác liên doanh, liên kết theo quy định của pháp luật Hiện tại, các nguồn này chưa nhiều và chưa ổn định, song trong tương lai đây

sẽ là nguồn vốn đáng kế cho các đơn vị sự nghiệp công lập

1.1.2.2 Quản lý huy động nguồn tài chính của đơn vị sự nghiệp công lập

Cũng như các đơn vị cung cấp dịch vụ thông thường với mỗi đơn vị sự nghiệp công lập cần có các yếu tố đầu vào để vận hành hoạt động hay còn gọi là chi phí đầu vào và các yếu tố đầu ra hay còn gọi là giá trị công việc, dịch vụ … mà đơn vị

Trang 40

cung cấp cho các đối tượng thụ hưởng trong xã hội Việc quản lý tài chính ở các đơn vị sự nghiệp công lập sẽ dựa trên yếu tố đầu vào hoặc theo yếu tố đầu ra

- Với việc quản lý nguồn tài chính từ NSNN

Nguồn tài chính đơn vị sự nghiệp nhận được từ NSNN tương ứng phần NSNN chi cho đơn vị, do vậy quản lý nguồn tài chính từ NSNN ở đơn vị phải gắn với thủ tục và qui trình quản lý việc phân bổ NSNN, thường theo các cách sau:

Cách 1 - Thuyết minh dự toán: đơn vị thuyết minh một dự toán ngân sách định kỳ

dựa trên những tính toán về các chi phí đầu vào và thương thuyết với cơ quản quản

lý nhà nước chuyên trách để được phê duyệt dự toán Khi được quyết định giao theo

dự toán đơn vị phải sử dụng tiền được phân bổ từ NSNN theo đúng mục đích kế hoạch đã xây dựng trong dự toán được duyệt

Cách 2 - Dựa trên số tiền được cấp giai đoạn trước: số kinh phí được cấp từ NSNN

ở mỗi kỳ sẽ dựa trên số kinh phí đã được cấp ở kỳ trước có công trừ các khoản điều chỉnh Đơn vị sự nghiệp được sử dụng kinh phí mà không bị bó buộc bởi dự toán cụ thể về khoản kinh phí nào chi cho nhiệm vụ cụ thể gì

Cách 3 - Dựa trên công thức phân bổ phản ánh hoạt động đã qua: việc phân bổ

NSNN cho đơn vị dựa trên công thức tính toán phân bổ NSNN cho kết quả công việc, dịch vụ đơn vị đã thực hiện ở kỳ trước

Cách 4 - Dựa trên đơn đặt hàng mà nhà nước đặt mua của đơn vị: tương tự cách 3

nhưng kinh phí cấp dựa trên kết quả dịch vụ sẽ hoàn thành trong tương lai

Rõ ràng việc quản lý tài chính ở đơn vị sự nghiệp công lập được phân bổ NSNN theo cách 1 hoặc cách 2 hoàn toàn dựa trên yếu tố đầu vào, còn theo cách 3 hay cách 4 lại dựa trên yếu tố đầu ra Trên thực tế hoặc nghiên cứu thường hướng đến việc kết hợp các cách trên trong quản lý việc tạo lập nguồn tài chính từ NSNN tại các đơn vị sự nghiệp công lập Cụ thể như sau:

+ Quản lý khai thác nguồn tài chính từ NSNN gắn với hoạt động theo dự toán: theo

đó, khoản kinh phí được nhận từ NSNN được phân bổ cho từng loại hoạt động (ví dụ: hoạt động liên quan cơ sở vật chất, hoạt động liên quan lao động, …) Việc quản

lý nguồn tài chính gắn với kiểm soát các yếu tố chi phí đầu vào Điều này đòi hỏi kế toán chú trọng thông tin về mức độ tuân thủ chính xác dự toán thay vì tính hiệu quả

Ngày đăng: 16/05/2019, 21:42

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w