Chính sách khuyến khích xuất nhập khẩu và khuyến khích chủ hàng xuất nhập khẩu sử dụng dịch vụ vận tải Việt Nam Hoạt động xuất nhập khẩu tạo ra nguồn hàng cho các doanh nghiệp vận tải bi
Trang 1CHƯƠNG III MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM GIẢM CÁC ẢNH HƯỞNG TIÊU CỰC
CỦA CUỘC KHỦNG HOẢNG KINH TẾ THẾ GIỚI HIỆN NAY TỚI THỊ TRƯỜNG TÀU BIỂN VIỆT NAM
I Dự báo về diễn biến của cuộc khủng hoảng
Từ sau cuộc khủng hoảng nhà đất Mỹ 2007 tới nay, các dự báo về kinh tế thế giới đã tỏ ra không chính xác Ngay cả IMF cũng đã phải thay đổi dự báo từng quý
và các dự báo của quý sau luôn được điều chỉnh khác với quý trước, theo hướng ngày càng xấu hơn Các tổ chức dự báo khác cũng ở trong tình trạng tương tự Lý
do là cuộc khủng hoảng đang diễn biến phức tạp, khó lường, các thông tin nhiễu loạn, có độ tin cậy thấp, các phản ứng chính sách của Chính phủ và mức độ thực thi cũng khó dự liệu, niềm tin của xã hội ngày càng suy giảm Do vậy, những thông tin dự báo chỉ có tính chất xu thế
Tình hình kinh tế thế giới năm 2009 sẽ còn tồi tệ hơn năm 2008 cả về tăng trưởng, đầu tư, thương mại, việc làm tuy mức độ có thể khác nhau, tốc độ tăng GDP của thế giới có thể chỉ vào khoảng 1 – 2% (năm 2008 là 3,7%) Trong đó, hầu hết các nước phát triển đều tăng trưởng âm, tính chung tăng trưởng kinh tế ở các nước này sẽ giảm từ 1,4% năm 2008 xuống -0,3% năm 2009 (trong đó, Mỹ: -0,7%; Khu vực đồng EUR: -0,5%; Nhật Bản: -0,2%; Anh: -1,3%), các nước đang phát triển mặc dù tăng trưởng vẫn dương nhưng mức tăng trưởng sẽ sụt giảm mạnh do xuất khẩu và đầu tư suy giảm (Trung Quốc: 8,5%; Ấn Độ: 6,3%; ASEAN5: 4,2%; Nga: 3,5%; các nước Trung-Đông Âu: 2,5%)1 Hệ thống tài chính thế giới trong tình trạng rủi ro cao, giá hàng hoá thế giới nhiều khả năng suy giảm mạnh và đồng USD sẽ biến động phức tạp Dưới đây là bảng dự báo tốc độ tăng trưởng kinh tế thế giới mà IMF và Citi dự báo
Bảng 3.1: Dự báo tăng trưởng kinh tế thế giới của IMF, Citi (%)
1
Trang 2Nước/khu vực
Thực tế Dự báo của IMF Dự báo của Citi
2006 2007 2008f 2009
f 2010f 2008f 2009f 2010f
Thế giới 5.10 5.00 3.70 2.20 4.21 2.60 0.50 2.60 Các nước phát triển 3.00 2.60 1.40 -0.30 2.01
Các nước đang phát
triển và mới nổi 7.90 8.00 6.60 5.10 6.72
Các nước đang phát
triển ở Châu Á 9.90
10.0
0 8.30 7.10 8.41
Khu vực đồng Euro 3.00 2.60 1.20 -0.50 2.01 1.00 -1.40 0.50 Nhật Bản 2.40 2.10 0.50 -0.20 1.30 0.20 -1.20 1.10
Trung Quốc 11.60 11.90 9.70 8.50 9.80 9.50 8.10 8.50
Ấn Độ 9.80 9.30 7.80 6.30 7.73 7.10 6.60 6.60 Hàn Quốc 5.10 5.00 4.12 3.49 5.18 4.20 2.80 3.80 Indonesia 5.50 6.30 6.08 5.51 6.30 6.00 4.70 5.00 Malaysia 5.80 6.30 5.75 4.75 6.00 5.30 3.30 4.90 Philippines 5.40 7.20 4.40 3.80 4.50 4.20 3.60 4.60 Singapore 8.20 7.70 3.62 3.45 5.22 2.50 1.20 3.80 Đài Loan 4.90 5.70 3.83 2.50 3.79 3.70 2.50 3.00 Thái Lan 5.10 4.80 4.74 4.53 5.20 4.50 3.20 3.10
Nguồn: IMF và Citi.
Mới đây, Citi cũng đã đưa ra các dự báo về tăng trưởng kinh tế các nước, trong đó tăng trưởng toàn cầu sẽ nhanh chóng giảm từ mức 2,6% năm 2008 xuống mức 0,5% năm 2009 Đặc biệt, kinh tế của các nước phát triển suy giảm mạnh: tăng trưởng kinh tế của Mỹ sẽ giảm từ 1,3% năm 2008 xuống -1,5% năm 2009; khu vực đồng Euro giảm từ 1% năm 2008 xuống -1,4% năm 2009; Nhật giảm từ 0,2% năm
2008 xuống -1,2% năm 2009 Kinh tế hầu hết các quốc gia đang phát triển khác cũng giảm mạnh (xem bảng 1)
Tuy nhiên, đánh giá về khả năng phục hồi kinh tế thế giới hiện nay, Tổng giám đốc Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) Strauss-Kahn cho rằng, mặc dù năm 2009 sẽ rất khó khăn, nhưng tăng trưởng kinh tế sẽ được phục hồi vào nửa đầu năm 2010;
Trang 3thế giới sẽ chỉ mất khoảng 2-3 năm nữa để "có thể lấy lại được phong độ" và thoát
ra khỏi cuộc khủng hoảng
1 Dự báo về diễn biến trên thị trường tàu biển
Diễn biến khó lường của cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu khiến cho nhiều
dự báo về thị trường tàu biển cũng hết sức khác nhau Nhưng chắc chắn một điều rằng ai cũng tin rằng thị trường tàu biển chỉ khôi phục khi nền kinh tế thế giới hồi phục Vì khi đó nhu cầu vận tải biển mới hồi phục và làm cho chênh lệch giữa cung cầu tàu biển tiến lại gần nhau hơn, kéo giá tàu và cước phí vận tải lên giúp thị trường phục hồi
Về thị trường vận tải biển, khi các vấn đề của thị trường tài chính được giải quyết và các dòng thương mại hồi phục, tàu bè sẽ lại bận rộn trở lại và các nhà kho của người tiêu dùng cuối cùng lại sẽ được chất đầy Đó chính là thời điểm thị trường vận tải biển thế giới sẽ hồi phục Dù chưa ai có thể nói chắc được là khi nào nhưng chắc chắn xu thế của ngành vận tải biển vẫn sẽ phát triển nhanh trong tương lai do xu thế toàn cầu hóa, hội nhập hóa là tất yếu
Về thị trường đóng tàu, các nghiên cứu gần đây về ngành đóng tàu biển trên thế giới đều đồng ý rằng thời kỳ suy thoái của ngành này chỉ thực sự bắt đầu từ năm 2010, khi số hợp đồng đã ký trong các năm trước được hoàn thành Có nghĩa rằng tất cả những gì tệ hại mà ngành này đã và đang trải qua trong quý IV/2008 và quý I/2009 mới chỉ là khúc dạo đầu và ít đau đớn hơn nhiều so với những gì mà vài năm nữa thị trường này sẽ phải trải qua Tuy nhiên, sau đợt suy thoái thì sẽ tiếp tục
là thời kỳ phát triển và tương lai của ngành đóng tàu cũng như ngành tàu biển sẽ hết sức hấp dẫn
Tuy nhiên, hầu hết các dự báo vẫn có kết quả không mấy khả quan về thị trường tàu biển thế giới trong thời gian ngắn tới đây nên các doanh nghiệp trong thị trường cần chủ động theo dõi sát tình hình biến động của thị trường để có những hướng đi đúng đắn và áp dụng những giải pháp hiệu quả với từng thời kỳ
II Các giải pháp ở cấp độ vĩ mô
Trang 41 Rà soát lại chính sách trong phát triển kinh tế nói chung
Trong nhiều năm trở lại đây, hệ thống tài chính Việt Nam đã có nhiều tiến bộ,
đó là sự phát triển đa dạng với sụ tham gia của nhiều thành phần kinh tế, các định chế trung gian tài chính ở Việt Nam tăng trưởng nhanh về số lượng quy mô năng lực tài chính cũng như kinh nghiệm kinh doanh… Tuy rằng trong năm vừa qua hệ thống ngân hàng của Việt Nam không bị tác động trực tiếp từ sự đổ vỡ của thị trường tài chính Mỹ, song trong hệ thống tài chính của Việt Nam vẫn còn tồn đọng nhiều yếu kém từ trước Đầu tiên có thể kể tới, sự nở rộ của các ngân hàng thương mại, các tổ chức tài chính trong một thị trường chật hẹp Tiếp đến là năng lực vốn của hệ thống các định chế trung gian tài chính còn hạn chế, cơ cấu tài sản nợ và tài sản vốn của các ngân hàng chủ yếu là vốn huy động ngắn hạn, trong khi phần nhiều tài sản đang được đầu tư dài hạn nên điều này có thể gây ra rủi ro thanh khoản và lãi suất rất lớn Hệ thống ngân hàng còn nhiều bất ổn và dễ đổ vỡ Do đó, chính phủ cũng nên thực hiện rà soát và lành mạnh hóa hệ thống tài chính, ngân hàng Một hệ thống tài chính, ngân hàng lành mạnh là tối cần thiết để đảm bảo sự phát triển bền vững cho nền kinh tế Chính phủ cần xem xét lại các định chế tài chính ở các ngân hàng và đưa ra những tín hiệu rõ ràng rằng Chính phủ sẽ không bảo vệ những ngân hàng không chủ động có những biện pháp phòng ngừa rủi ro Trên cơ sở rà soát lại các ngân hàng cho vay nhiều vào khu vực bất động sản và các dự án có tính rủi ro cao, Chính phủ yêu cầu tham vấn các bên để thực hiện các biện pháp mua bán nợ
để chia sẻ rủi ro cho nhiều định chế tài chính khác có khả năng kiểm soát rủi ro và
có mức độ thanh khoản tốt hơn Trong trường hợp cần thiết Chính phủ cần yêu cầu các ngân hàng yếu kém sáp nhập vào các ngân hàng khác trước khi tình hình tài chính của các ngân hàng này trở thành không thể cứu vãn được
Thứ hai, ngoài việc rà soát và tiến hành lành mạnh hóa hệ thống tài chính, ngân hàng, Chính phủ cũng cần rà soát lại tất cả các ngành kinh tế khác, các ngành sản xuất công nghiệp, dịch vụ, nông nghiệp…
Trang 5Thứ ba, chính phủ cần làm việc với các tập đoàn nhà nước, có nhiều tập đoàn
đã đầu tư quá dàn trải Họ muốn đa dạng hóa ngành nghề kinh doanh chạy theo những món lợi ngắn hạn như đầu tư vào các loại cổ phiếu trái phiếu, bất động sản… những lĩnh vực mà họ không am hiểu Trong khi đó lại quên đi lĩnh vực của mình, Tập đoàn điện lực Việt Nam thì dư tiền đầu tư sang nhiều lĩnh vực khác nhưng năm nào nước nhà cũng thiếu điện, buộc các khu vực phải cắt điện luân phiên và nhiều nơi phải mua điện của nước ngoài
2 Đề ra các chính sách thích hợp trong phát triển kinh tế
2.1 Chính sách khuyến khích xuất nhập khẩu và khuyến khích chủ hàng xuất nhập khẩu sử dụng dịch vụ vận tải Việt Nam
Hoạt động xuất nhập khẩu tạo ra nguồn hàng cho các doanh nghiệp vận tải biển, chính vì vậy những chính sách khuyến khích hoạt động xuất nhập khẩu cũng tạo nên một sự phục hồi của thị trường vận tải biển trong nước rồi sau đó sẽ là thị trường đóng tàu trong nước
Chính phủ cần có những biện pháp hỗ trợ vốn cho các doanh nghiệp xuất nhập khẩu như tạo điều kiện cho các doanh nghiệp tiếp cận với các khoản tín dụng với lãi suất thấp trong gói kích cầu nhằm chống sự suy giảm tốc độ tăng trưởng mà chính phủ đã phê duyệt vào ngày 15/1/2009
Chính phủ cần tổ chức nhiều triển lãm, hội chợ, các chương trình xúc tiến thương mại tại nước ngoài giúp các doanh nghiệp có thể thực hiện giới thiệu sản phẩm và tìm kiếm đối tác nước ngoài mới
Ngoài ra, chính phủ cần hoàn thiện hơn nữa cổng thông tin điện tử để các doanh nghiệp có thể quảng bá những sản phẩm mặt hàng của Việt Nam tới các nước bạn Hơn nữa, trong khi khủng hoảng kinh tế đang diễn ra thì quảng cáo trực tuyến là một cách làm rất hiệu quả giúp các doanh nghiệp có thể tiếp cận được khách hàng và người tiêu dùng với chi phí hợp lý
2.2 Chính sách ưu đãi thuế đối với các doanh nghiệp kinh doanh tàu biển
Trang 6Việc thực hiện các ưu đãi về thuế như miễn giảm, cho phép chậm nộp thuế thậm chí là hoàn thuế trong thời điểm hiện nay sẽ như chiếc phao cứu sinh đối với các doanh nghiệp kinh doanh tàu biển Với các doanh nghiệp nhỏ, việc giảm thuế thu nhập này có thể sẽ không thể hiện tác động rõ rệt Nhưng với các doanh nghiệp lớn, đặc biệt là với các công ty đại chúng, việc giảm thuế đã tác động lớn, tích cực tới kết quả sản xuất, kinh doanh Do đặc thù của ngành là đòi hỏi vốn đầu tư lớn nên lượng tiền từ việc chậm, hoặc miễn giảm thuế lúc này có thể giúp cho các doanh nghiệp sử dụng vào quay vòng vốn và duy trì hoạt động sản xuất kinh doanh
Chính phủ nên giảm thuế cho tàu nhập khẩu để các doanh nghiệp vận tải biển
có thể tận dụng cơ hội thị trường đang rơi vào suy thoái mà đầu tư hiện đại hóa đội tàu Việc giảm thuế nhập khẩu tàu biển về lâu dài sẽ phù hợp hơn với thông lệ quốc
tế do đó Chính phủ cần thực hiện giải pháp này để giúp ngành vận tải biển Việt Nam phát triển hơn nữa
2.3 Chính sách ưu đãi tín dụng cho các doanh nghiệp kinh doanh tàu biển
Do khả năng tài chính của các doanh nghiệp vận tải biển cũng như các doanh nghiệp mua bán tàu Việt Nam còn hết sức hạn chế, trong khi nguồn vốn đầu tư hiện đại hóa đội tàu và trang thiết bị cho ngành công nghiệp đóng tàu là rất lớn, vượt quá khả năng tài chính của các doanh nghiệp Chính phủ nên có những chính sách tạo tín dụng cho các doanh nghiệp kinh doanh tàu biển thông qua các hình thức như
hỗ trợ tài chính, đầu tư, cho vay vốn với lãi suất ưu đãi, bảo lãnh để doanh nghiệp
có thể vay vốn từ nước ngoài, từ các tổ chức phi chính phủ như IMF, ADB, WB…
3 Xây dựng cơ sở hạ tầng cảng biển
Việc xây dựng các cảng biển, đặc biệt là các cảng nước sâu sẽ giúp ích rất lớn cho không chỉ các doanh nghiệp vận tải biển mà còn giúp ích cho cả các doanh nghiệp đóng tàu biển Việt Nam rất nhiều Với lợi thế có 3.200km bờ biển Việt Nam
có tiềm năng lớn trong việc trở thành cảng trung chuyển hàng hóa quốc tế lớn như Singapore, Hồng Kông Tuy nhiên, với sự đầu tư trong xây dựng hạ tầng cảng biến
Trang 7còn chưa đủ lớn, cảng biển Việt Nam thì nhiều nhưng lại không có cảng nước sâu, các tàu lớn đến Việt Nam đều phải sử dụng các tàu feeder để chuyển hàng từ cảng tới tàu và ngược lại làm phát sinh thêm chi phí lớn và do đó cước phí vận tải biển Việt Nam cũng cao hơn khu vực, làm giảm sức cạnh tranh của ngành vận tải biển nước nhà nói riêng và giảm sức cạnh tranh của hàng hóa xuất nhập khẩu Việt Nam
Mặt khác, việc xây dựng cảng biển nước sâu còn giúp cho các doanh nghiệp đóng tàu của Việt Nam có thể nghĩ tới việc đóng những con tàu lớn hơn, vì rõ ràng người ta không thể đóng tàu lớn tại một cảng nước nông, vì không thể hạ thủy được tàu… Nói chung, việc đầu tư vào hạ tầng cảng biển không chỉ giúp các doanh nghiệp vận tải biển giảm chi phí trước mắt mà còn đóng góp lâu dài vào sự phát triển bền vững của cả ngành đóng tàu và vận tải biển Việt Nam
4 Có chính sách tạo vốn cho các doanh nghiệp vận tải và đóng tàu
Công nghiệp đóng tàu là một ngành đòi hỏi lượng vốn lớn cho sự phát triển Tuy nhiên, hiện nay nguồn vốn để phục vụ cho ngành còn hạn chế, nhiều dự án chưa thực hiện được vì không có vốn Chính vì vậy Chính phủ cần có giải pháp phù hợp để tạo nguồn vốn cho ngành phát triển Chính phủ không nên cấp phép triển khai hàng loạt các nhà máy cùng lúc bởi sẽ bị phân tán vốn đầu tư, kéo dài dự án, gây lãng phí lớn Nên tập trung đầu tư dài hạn cho một số dự án của ngành có điều kiện triển khai tố nhất và đem lại hiệu quả cao nhất, tránh dàn trải
Nhằm đáp ứng nhu cầu đầu tư phát triển xây dựng những nhà máy mới, nâng cấp nhà máy hiện có thì ngành đóng tàu cần phải cố gắng thu hút vốn từ bên ngoài bằng cách hợp tác liên doanh với nước ngoài để bổ sung nguồn vốn đóng tàu cho các nhà máy trong nước Để làm được việc này, thì những quan hệ hợp tác cấp vĩ
mô là rất quan trọng, tạo tiền để cho các doanh nghiệp thực hiện hợp tác với bên ngoài
Chính phủ cần giúp các doanh nghiệp đóng tàu huy động vốn bằng các biện pháp như: bảo lãnh của ngân hàng trong nước để nhập khẩu thiết bị phục vụ sản xuất, thông
Trang 8qua sự bảo lãnh của chính phủ để vay vốn của các ngân hàng thương mại trong nước, thực hiện phát hành trái phiếu công ty để thu hút vốn…
Tóm lại, nâng cao năng lực cạnh tranh là hoạt động rất quan trọng của ngành công nghiệp đóng tàu Tuy nhiên, đây là một vấn đề cần thời gian và có sự đầu tư đúng hướng và sự chuẩn bị chu đáo, cụ thể
III Các giải pháp ở cấp độ vi mô
1 Đối với doanh nghiệp kinh doanh vận tải biển
1.1 Có chính sách giá phù hợp trong từng thời kỳ
Trong thời đại ngày nay, cước phí là một yếu tố để các doanh nghiệp vận tải biển cạnh tranh với nhau vì nếu một khách hàng muốn chuyên chở hàng hóa thì bằng email, điện thoại, fax… anh ta có thể hỏi cước phí vận chuyển hàng hóa của cùng một mặt hàng được chuyên chở tới cùng một địa điểm của nhiều doanh nghiệp vận tải biển khác nhau Như vậy, anh ta sẽ biết ngay doanh nghiệp nào cung cấp dịch vụ chuyên chở với giá cước rẻ hơn và theo phản ứng tự nhiên sẽ sử dụng dịch vụ của doanh nghiệp vận tải có báo giá cước thấp hơn đó Chính vì giá cước là một phần cấu thành sức cạnh tranh của doanh nghiệp như vậy do đó các doanh nghiệp cần tính toán hợp lý nên giảm giá cước như thế nào để thu hút khách hàng nhiều nhất mà vẫn tạo lợi nhuận cho công ty
Cước vận tải biển chịu ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố gồm loại hàng vận chuyển, yêu cầu vận chuyển đối với từng loại hàng (ví dụ như hàng chuyên chở bằng container lạnh thì phải có cước cao hơn hàng chuyên chở bằng container thường), tuyến đường (tuyến đường càng dài thì cước phí càng cao), tình hình cung cầu trên thị trường, mức độ cạnh tranh giữa các doanh nghiệp vận tải biển với nhau….Như vậy, có rất nhiều yếu tố tác động tới cước phí vận tải nên cước phí cao hay thấp, có tính cạnh tranh hay không, có đủ bù đắp chi phí đầu vào hay không thì các doanh nghiệp cần tính toán hết sức kỹ lưỡng Ví dụ như doanh nghiệp vận tải biện buộc giảm giá cước như trong thời gian cuối năm 2008 đầu năm 2009 vừa qua,
Trang 9để có lãi doanh nghiệp cần tính toán cho tàu đi thơ tuyến đường biển ngắn hơn, hoặc cắt giảm tối đa các chi phí trong quản lý, điều hành kinh doanh tàu,…
Trong trường hợp khủng hoảng lần này, doanh nghiệp cần duy trì mức cước thấp chung với xu hướng của thị trường để giữ chân khách hàng và dù sao thì có khách hàng để duy trì hoạt động kinh doanh còn hơn là để tàu nằm không và các doanh nghiệp phải đau đầu về gánh nặng lãi suất phải trả
1.2 Vận động các doanh nghiệp xuất nhập khẩu trong nước giành quyền vận tải trong khi ký kết hợp đồng
Các doanh nghiệp xuất nhập khẩu Việt Nam thường có thói quen mua đứt bán đoạn tức mua CIF còn bán FOB là một trong những yếu tố hết sức bất lợi đội với việc nâng cao thị phần của các doanh nghiệp vận tải biển Việt Nam Theo thống
kê, hiện nay thị phần về chuyên chở hàng hóa xuất nhập khẩu Việt Nam của các doanh nghiệp vận tải biển trong nước hết sức khiêm tốn Con số 20% thị phần vận chuyển hàng hóa bằng đường biển đối với hàng xuất nhập khẩu Việt Nam vẫn là điều chưa thể thành hiện thực đối với các doanh nghiệp vận tải biển nước nhà
Đặt giả sử rằng, không nói tới toàn bộ khối lượng hàng hóa xuất nhập khẩu của Việt Nam, mà chỉ cần 50% khối lượng hàng hóa đó đều do đội tàu trong nước chuyên chở thì dù cho ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng có ghê gớm tới đâu thì các doanh nghiệp vận tải biển trong nước cũng làm không hết việc Chính vì lẽ đó, giải pháp vận động các doanh nghiệp xuất nhập khẩu Việt Nam trong đàm phán các hợp đồng ngoại thương cần giành quyền vận tải về mình Để làm được điều này, các doanh nghiệp vận tải biển Việt Nam cần có những chính sách ưu đãi về cước phí đối với các chủ hàng quen Việt Nam, cần liên tục cải thiện chất lượng dịch vụ tạo cảm giác an toàn và tin tưởng khi các doanh nghiệp xuât nhập khẩu giao hàng hóa cho đội tàu trong nước chuyên chở Tiếp đó, cần phân tích cho các chủ hàng thấy rõ hơn nữa về những thiệt hại có thể xảy ra nếu không giành được quyền vận tải và ngược lại Thói quen bán FOB mua CIF có thể gây thiệt hại rất nhiều cho các doanh nghiệp xuất nhập khẩu Do không tự mình đứng ra ký hợp đồng vận tải nên
Trang 10các doanh nghiệp sẽ không đàm phán được các điều kiện trong vận chuyển Đối tác
có thể sẽ thuê một chiếc tàu già với rủi ro cao hơn, doanh nghiệp có thể vẫn phải trả cước phí nếu đối tác nước ngoài chưa trả cước phí cho người chuyên chở dù giá hàng đã bao gồm cước phí, rồi khi tổn thất xảy ra đối với hàng hóa rất khó khăn cho các doanh nghiệp xuất nhập khẩu Việt Nam khiếu nại người chuyên chở do không có văn bản nào trực tiếp điều chỉnh mối quan hệ của bên Việt Nam và người xuất khẩu… có rất nhiều rủi ro cho doanh nghiệp nếu tiếp tục tình trạng mua CIF bán FOB
Hơn nữa nếu thay đổi thói quen mua đứt bạn đoạn đó, các doanh nghiệp xuất nhập khẩu giành được quyền thuê tàu thì khi thuê những doanh nghiệp vận tải biển Việt Nam, thiết lập các mối quan hệ làm ăn lâu dài vừa góp phần tăng thêm được lượng hàng hóa chuyên chở, vừa hạn chế rủi ro trong thuê tàu
Cần khơi dậy tinh thần dân tộc trong các doanh nghiệp xuất nhập khẩu Vì nếu ý thức được việc giành quyền vận tải không chỉ đem lại lợi ích cho riêng doanh nghiệp mà nếu thuê đội tàu trong nước chuyên chở còn góp phần giảm nhập khẩu tăng xuất khẩu dịch vụ vận tải thu ngoại tệ làm giàu cho đất nước Từ đó, giúp các doanh nghiệp vận tải biển Việt Nam cùng phát triển thịnh vượng Đặc biệt trong thời kỳ khủng hoảng kinh tế toàn cầu, các công ty vận tải biển Việt Nam đang hết sức cần sự đồng cảm của các doanh nghiệp xuất nhập khẩu để có thể đứng vững
1.3 Đầu tư và hiện đại hóa dội tàu
Xuất phát từ thực tiễn đội tàu của các doanh nghiệp vận tải biến Việt Nam còn nhỏ và còn chưa hiện đại kết hợp với thực tiễn cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới đã tạo
cơ hội cho các doanh nghiệp có thể tiếp cận được với nguồn tàu hiện đại có trọng tải lớn trên thế giới, các doanh nghiệp vận tải biển Việt Nam nên tranh thủ lấy cơ hội này để đầu tư hiện đại hóa đội tàu của mình
Các doanh nghiệp nên loại bỏ những con tàu già khai thác không còn hiệu quả ra khỏi đội tàu, một phần là để giảm bớt các chi phí sửa chữa, bảo dưỡng, bảo