Trước nhu cầu nuôi và quản lý nguồn lợi cá Ong căng ở vùng đầm phá và ven biển Thừa Thiên Huế, đòi hỏi có các nghiên cứu chuyên sâu về đặc điểm sinh học và khả năng sinh sản của cá Ong c
Trang 1NGHIÊN CỨ ẶC IỂM INH HỌC
VÀ KHẢ NĂNG NHÂN GIỐNG CÁ ONG CĂNG -
Terapon jarbua (Forsskål, 1775)
VÙNG VEN BIỂN HỪA HIÊN H
ÓM Ắ L ẬN ÁN I N Ĩ INH HỌC
HU , 2019
Trang 2Công trình này được hoàn thành tại rường ại học ư Phạm, ại học Huế
Người hướng dẫn khoa học:
1 PG Võ Văn Phú
2 PSG TS Nguyễn Quang Linh
Phản biện 1:
Phản biện 2:
Phản biện 3:
Luận án sẽ được bảo vệ trước hội đồng chấm luận án cấp Đại học Huế Hội đồng tổ chức tại: số 4 đường Lê Lợi, thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế, vào lúc giờ ngày tháng năm 201…
Có thể tìm hiểu luận án tại:
1 Thư viện Quốc gia
2 Trung tâm Thông tin và Thư viện, Trường Đại học Sư phạm, Đại học Huế
Trang 3đa dạng sinh học Các thủy sản như cá, cua, tôm, thân mềm, thực vật biển là nguồn tài nguyên quan trọng cho các sản phẩm xuất khẩu có giá trị kinh tế cao Phát triển nuôi trồng và đánh bắt thuỷ sản hợp lý trong vùng có một ý nghĩa quan trọng góp phần phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh
Cá Ong căng – Terapon jarbua (Forsskål, 1775) thuộc họ cá Căng (Teraponidae), nằm trong bộ cá Vược (Perciformes), có nguồn gốc biển, di nhập vào vùng đầm phá và vùng cửa sông – ven biển Những năm gần đây, các dạng tài nguyên vùng cửa sông, ven biển bị khai thác cạn kiệt, không được đặt trong một quy hoạch tổng thể, dẫn tới những hậu quả sinh thái nghiêm trọng như hủy hoại nơi sống đặc trưng của nhiều loài, gây sự suy giảm đa dạng sinh học, giảm sút nguồn lợi của các đối tượng khai thác có giá trị trong vùng, đặc biệt là cá Ong căng
Trước nhu cầu nuôi và quản lý nguồn lợi cá Ong căng ở vùng đầm phá và ven biển Thừa Thiên Huế, đòi hỏi có các nghiên cứu chuyên sâu về đặc điểm sinh học và khả năng sinh sản của cá Ong căng để tiến tới việc sản xuất giống cá nhân tạo nhằm chủ động trong việc cung cấp nguồn giống ổn định, chất lượng cho người nuôi trồng thuỷ sản, góp phần vào việc bảo tồn và phát triển loài Vì vậy, chúng
tôi chọn đề tài: “Nghiên cứu đặc điểm sinh học và khả năng
nhân giống cá Ong căng – Terapon jarbua (Forsskål, 1775) vùng ven biển Thừa Thiên Huế”
1 Lý do chọn đề tài
Qua bước đầu tìm hiểu về tình hình nghiên cứu về họ cá Căng nói chung và loài cá Ong căng nói riêng trên thế giới và ở Việt Nam cũng như hiện trạng khai thác và đánh bắt cá Ong căng ở Việt Nam,
đề tài này được lựa chọn với các lý do sau:
- Việc nghiên cứu về họ cá Căng nói chung và cá Ong căng nói riêng trên thế giới tập trung chủ yếu vào đặc điểm sinh học, phân
bố và môi trường sống của cá
Trang 4- Các công trình khoa học nghiên cứu về cá Ong căng tại Việt Nam chủ yếu tập trung vào mô tả, phân loại, một số đặc điểm sinh học của cá, chưa có nghiên cứu nào đề cập tới việc cho sinh sản nhân tạo
- Cá Ong căng được đánh giá là loài có triển vọng phát triển để nuôi thả tại vùng đầm phá Thừa Thiên Huế vì sức đề kháng tốt, khỏe,
có giá trị thương phẩm và giá trị dinh dưỡng cao, được người dân ưu thích Tuy nhiên, nghề nuôi cá Ong căng chưa được phát triển do thiếu nguồn giống, đặc biệt là giống được sản xuất nhân tạo để có thể cung cấp được số lượng lớn cho nhu cầu nuôi Chính vì vậy việc nghiên cứu về đặc điểm sinh học và khả năng nhân giống của cá Ong căng góp phần phát triển nghề nuôi cá biển tại Thừa Thiên Huế
2 Mục tiêu nghiên cứu
- Hiểu rõ và xác định được các đặc điểm sinh học của cá Ong căng vùng ven biển Thừa Thiên Huế
- Thăm dò được khả năng nhân giống của cá Ong căng: thử nghiệm loại kích dục tố và chất kích thích sinh sản thích hợp để kích thích sinh sản cá Ong căng, nghiên cứu sự phát triển của cá Ong căng bột
và biện pháp kỹ thuật ương nuôi cá giai đoạn cá bột lên cá giống
3 Nội dung nghiên cứu
- Nghiên cứu đặc điểm sinh học của cá Ong căng: đặc điểm sinh trưởng, đặc điểm dinh dưỡng và đặc điểm sinh sản của cá
- Nghiên cứu sử dụng các loại kích dục tố, chất kích thích sinh sản khác nhau để kích thích cá Ong căng sinh sản nhân tạo và sự phát triển phôi cá Ong căng
- Nghiên cứu ương cá Ong căng bột lên cá giống ở các độ mặn và các loại thức ăn khác nhau
- Xây dựng quy trình nhân giống cá Ong căng
4 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
- Ý nghĩa thực tiễn: Những kết luận về sinh học và kỹ thuật sản xuất
giống cá Ong căng sẽ là nguồn cơ sở dữ liệu quan trọng cho việc
Trang 5đối tượng và mô hình nuôi thủy sản, góp phần phát triển bền vững nghề nuôi thủy sản vùng ven biển
5 óng góp của luận án
- Lần đầu tiên cung cấp được những dẫn liệu cơ bản và đầy đủ
về những đặc điểm sinh học, nhất là đặc điểm sinh sản của cá Ong căng ở vùng ven biển tỉnh Thừa Thiên Huế
- Cung cấp được quy trình sinh sản nhân tạo cá Ong căng để chủ động nhân giống trong vấn đề nuôi thả cá ở vùng ven biển Thừa Thiên Huế
6 Bố cục luận án
Ngoài phần phụ lục, luận án được trình bày trong 109 trang, bố cục
bao gồm các phần sau:
Phần mở đầu
Phần nội dung: Gồm 3 chương
Chương 1: Tổng quan tài liệu
Chương 2: Đối tượng, địa điểm, thời gian và phương pháp nghiên cứu Chương 3: Kết quả và bàn luận
Phần kết luận và đề nghị
Tài liệu tham khảo
Phụ lục
Chương 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
Trên thế giới, họ cá Căng (Teraponidae) có khoảng 52 loài nằm trong 16 giống Chúng phân bố chủ yếu ở vùng ven bờ Ấn Độ Dương và Tây Thái Bình Dương
Các tài liệu có được cho thấy các nghiên cứu về T jarbua tập trung
vào đặc điểm sinh học, phân bố và môi trường sống của cá
Đặc biệt mối tương quan giữa chiều dài và khối lượng của T
jarbua được nhiều tác giả nghiên cứu ở Ấn Độ, Đài Loan, Thái Lan,
Pakistan,…Các nghiên cứu này đều chỉ ra rằng GĐ đầu cá tăng nhanh về chiều dài, còn GĐ sau cá tăng nhanh về khối lượng, phù hợp với tính thích nghi chung của nhiều loài cá ở vùng ven biển nhiệt đới
Các nghiên cứu về dinh dưỡng của T jarbua có nhiều quan
điểm tùy theo điều kiện tự nhiên từng vùng nghiên cứu nhưng đều khẳng định nhóm cá kích thước lớn có phổ thức ăn rộng hơn nhóm
cá kích thước nhỏ
Trang 6Các nghiên cứu về đặc điểm sinh học sinh sản của T jarbua
tập trung các GĐ phát triển của tuyến sinh dục cá, sức sinh sản tuyệt đối, sức sinh sản tương đối của cá, hệ số GSI và mùa sinh sản Qua
các nghiên cứu, có thể thấy sức sinh sản của các T jarbua tương đối
lớn, mùa sinh sản tập trung trong khoảng thời gian Xuân – Hè
Ở Việt Nam, họ cá Căng được ghi nhận có 8 loài, 4 giống, phân
bố chủ yếu ở vùng cửa sông, ven biển Các công trình nghiên cứu về
họ cá Căng chủ yếu tập trung về phân loại và đặc điểm sinh học (cấu tạo giải phẫu, sinh trưởng, phát triển, dinh dưỡng, sinh sản, )
Các loài thuộc họ cá Căng được xác định là cá kinh tế trong một số nghiên cứu trong nước về phân loại và sinh thái Có thể thấy
họ cá Căng có số lượng loài ít Hai loài thường bắt gặp ở hầu hết các
vùng là T jarbua, T theraps Từ các nghiên cứu trên có thể thấy cá
Ong căng có vùng phân bố rộng, phân bố ở vùng sông, cửa sông, ven biển và cả vùng nước ngập mặn
Ở Việt Nam các công trình nghiên cứu về họ cá Căng và Ong căng chủ yếu về thành phần loài, xác định họ cá Căng bao gồm các loài cá có giá trị kinh tế, các nghiên cứu tập trung chủ yếu ở một số vùng có cửa sông, ven biển Việc nghiên cứu về đặc điểm sinh học, sinh thái còn ít, chủ yếu ở các tỉnh ven biển miền trung Một số nghiên cứu về nuôi để bảo tồn gen và nghiên cứu để bảo tồn và phát triển bền vững đang được thực hiện
Nhìn chung, ở Việt Nam, các nghiên cứu về sinh sản nhân tạo
cá biển được thực hiện chủ yếu ở các vùng ven biển và các đối tượng
là các loài cá có giá trị kinh tế ở địa phương Để sinh sản nhân tạo cá biển, các tác giả sử dụng các kích dục tố như Não thùy thể, HCG, LHRHa+Dom, Ovaprim với các liều lượng khác nhau
Hiện nay vẫn chưa có công trình nghiên cứu nào chuyên sâu
về thăm dò khả năng nhân giống cá Ong căng tại Việt Nam được đăng trên các tạp chí uy tín trong nước cũng như thế giới Chính vì lẽ
đó, nghiên cứu về đặc điểm sinh học, thăm dò khả năng nhân giống
cá Ong căng - Terapon jarbua (Forsskål, 1775) là rất cần thiết hiện
nay nhằm hoàn thiện quy trình sản xuất giống nhân tạo đối tượng này cũng như cung cấp nguồn cá Ong căng giống phục vụ cho nuôi trồng thủy sản ở nước ta
Trang 7Chương 2 ỐI ƯỢNG, ỊA IỂM, TH I GIAN
VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
Cá Ong căng (Hình 2.1) có vị trí trong hệ thống phân loại của ngành có dây sống:
- Loài: Terapon jarbua (Forsskål, 1775)
- Tên địa phương: Cá Căng, Cá Ong căng hoặc cá Căng cát
- Tên tiếng Anh: Target Fish hoặc Crescent Perch
- Tên đồng vật:
Holocentrus jarbua Forsskål, 1775
Therapon jarbua Forsskål, 1775
Hình 2.1 Cá Ong căng – Terapon jarbua (Forsskål, 1775)
2.2 THỜI GIAN NGHIÊN CỨU
Đề tài được thực hiện từ tháng 05/2015 – 12/2017, trong đó điều tra thực địa, thu mẫu được tiến hành trong hai năm từ tháng 09/2015 – 08/2017; các thí nghiệm thăm dò sinh sản nhân tạo cá được tiến hành đồng thời với thu mẫu và có sử dụng các số liệu trước
đó của đề tài Quỹ gen cấp nhà nước do PGS TS Nguyễn Quang Linh chủ trì, mà tác giả là thành viên
2.3 ĐỊA ĐIỂM NGHIÊN CỨU
2.3.1 ịa điểm thu mẫu
Trên toàn bộ khu vực nghiên cứu, chúng tôi chọn 11
Trang 8điểm/vùng thu mẫu Khu vực đầm phá Tam Giang – Cầu Hai có sinh cảnh phức tạp nên chọn 6 điểm nghiên cứu Vùng ven biển Thừa Thiên Huế, chúng tôi đặt các điểm nghiên cứu cách bờ khoảng 3 km trở lại, có độ sâu trung bình khoảng 20 m, phù hợp với các tàu đánh bắt gần bờ, mẫu cá thu được vẫn còn tươi, thuận lợi cho việc nghiên cứu sinh trưởng của cá (hình 2.2)
(Nguồn: Google map)
Hình 2.2 Các vùng/điểm thu mẫu trong khu vực nghiên cứu
2.3.2 ịa điểm phân tích mẫu
Phòng thí nghiệm Trung tâm ươm tạo và Chuyển giao Công nghệ; Viện Công nghệ sinh học và Khoa Sinh học, trường Đại học Khoa học, Đại học Huế
2.3.3 ịa điểm thăm dò khả năng nhân giống
Các thí nghiệm ương nuôi và sinh sản nhân tạo cá Ong căng được thực hiện tại Trung tâm Thực hành, thực tập NTTS, Viện Nghiên cứu và Phát triển; Trại sản xuất giống Huy Sơn thuộc xã Phú Thuận, huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên Huế
Trang 92.4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.4.1 ơ đồ nghiên cứu
Hình 2.3 ơ đồ nghiên cứu của đề tài
2.4.2 Phương pháp nghiên cứu ngoài thực địa
Chúng tôi thu mẫu cá bằng cách đánh bắt trực tiếp cùng ngư dân hoặc mua tại các thuyền, bến cá, các chợ ven đầm và dọc vùng ven biển Thừa Thiên Huế Mẫu cá Ong căng được xử lý khi còn tươi
để cân khối lượng, đo chiều dài, lấy vẩy, giải phẫu,… Tổng số mẫu thu được trong thời gian nghiên cứu là 720
Thu mẫu nghiên cứu sinh trưởng: Đã xử lý cá ngay khi còn
tươi, đo các chỉ số về chiều dài thân (L và L0) và cân khối lượng (W
và W0) của cá
Thu mẫu nghiên cứu dinh dưỡng: Mẫu cá được giải phẫu ngay
khi cá còn sống để quan sát ruột và giải phẫu lấy thức ăn trong ống tiêu hoá, định hình thức ăn trong dung dịch formol 4% hoặc cồn 700
Chúng tôi xác định thành phần thức ăn cá Ong căng theo từng tháng trong năm
và theo nhóm kích thước cá
Nghiên cứu đặc điểm sinh học
Đặc điểm sinh trưởng Đặc điểm dinh dưỡng Đặc điểm sinh sản
Quy trình sản xuất giống
Nuôi vỗ thành thục
Thí nghiệm thăm dò sinh sản
Thí nghiệm ương cá giống
Độ mặn khác nhau Thức ăn khác nhau
Trang 10Thu mẫu nghiên cứu sinh sản: Mẫu cá khi thu được giải
phẫu, xác định khối lượng và các GĐ chín muồi sinh dục của tuyến
sinh dục cá về hình thái theo thang 6 bậc của K.A.Kiselevits (1923)
Sau đó cố định trong dung dịch Bouin để làm tiêu bản nghiên cứu tổ
chức tế bào học tuyến sinh dục cá
2.4.3 Phương pháp nghiên cứu trong phòng thí nghiệm
2.4.3.1 Về chỉ tiêu hình thái phân loại
Đo đếm các chỉ tiêu phân loại dựa vào tài liệu hướng dẫn
nghiên cứu cá của Pravdin (1973)
2.4.3.2 Nghiên cứu về sinh trưởng
Xác định tương quan giữa chiều dài và khối lượng: Tương
quan giữa chiều dài và khối lượng cá Ong căng được biểu thị bằng
phương trình sinh trưởng của Berverton – Holt (1956):
b
W a L
Xác định tuổi: Dùng vẩy để xác định tuổi cá Ong căng
Tốc độ tăng trưởng: Sử dụng phương pháp của Rosa Lee
(1920) để xác định mức tăng chiều dài cả cá Ong căng với công thức:
t t
2.4.3.3 Nghiên cứu về dinh dưỡng
Xác định thành phần thức ăn: Thức ăn được tách khỏi ruột và dạ
dày theo nhóm kích thước cá Quan sát dưới kính hiển vi hoặc kính lúp
hai mắt Vẽ các mẫu thức ăn quan sát được trong thị trường của kính để
phân loại hình thái từng nhóm (taxon) phân loại của các nhóm
Phương pháp phân tích phổ dinh dưỡng: Phổ dinh dưỡng của
cá Ong căng theo phương pháp khối lượng của Biswas (1993)
Xác định cường độ bắt mồi của cá: Dựa vào sức chứa thức ăn
trong ống tiêu hóa để đánh giá cường độ bắt mồi Sức chứa tính theo
độ no của cá Xác định độ no dạ dày và ruột theo thang 5 bậc (từ bậc
0 đến bậc 4) của Lebedev
Xác định hệ số béo: Sử dụng các phương pháp của Fulton
(1902) và Clark (1928) để xác định hệ số béo của cá Ong căng
Trang 112.4.3.4 Nghiên cứu về sinh sản
Nghiên cứu sinh sản cá theo các phương pháp nghiên cứu ngư loại phổ biến được sử dụng trong các phòng thí nghiệm của Pravdin (1973), Shareck (1990), Michael King (1995) và Quentin Bon (2008)
2.4.4 hăm dò khả năng nhân giống của cá Ong căng
2.4.4.1 Tuyển chọn đàn cá tham gia sinh sản nhân tạo
2.4.4.2.Ảnh hưởng của các loại thức ăn đến khả năng thành thục 2.4.4.3 Thăm dò khả năng sinh sản
Tiến hành bố trí 02 thí nghiệm về các phương pháp kích thích sinh
sản bằng tiêm 02 loại thuốc LRH-A3 (μg/kg) + DOM (3 mg/kg) và HCG
2.4.4.4 Nghiên cứu quy trình ương từ cá bột lên cá hương
Quy trình ương cá giống GĐ cá bột lên cá hương khoảng 15 ngày tuổi, chúng tôi tiến hành bố trí 2 thí nghiệm
Thí nghiệm 1: Nghiên cứu ảnh hưởng của các loại thức ăn đến
tỷ lệ sống của cá GĐ từ bột đến hương
Thí nghiệm 2: Nghiên cứu ảnh hưởng của độ mặn đến tỷ lệ
sống của cá GĐ từ bột đến hương
2.4.4.5 Nghiên cứu quy trình ương từ các hương lên cá giống
Thí nghiệm 1: Nghiên cứu ảnh hưởng của các loại thức ăn đến sinh
trưởng chiều dài và tỷ lệ sống của của cá GĐ từ 15 đến 40 ngày tuổi
Thí nghiệm 2: Nghiên cứu ảnh hưởng của độ mặn đến sinh
trưởng chiều dài và tỷ lệ sống của của cá GĐ từ 15 đến 40 ngày tuổi
Trang 12Chương 3 K T QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN
3.1 ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC CỦA CÁ ONG CĂNG
3.1.1 ặc điểm sinh trưởng của cá
3.1.1.1 Tương quan giữa chiều dài và khối lượng cá
Trong quá trình sinh trưởng, phát triển của cá, sự gia tăng về chiều dài và khối lượng cơ thể có mối liên quan với nhau Trên cơ sở phân tích 720 mẫu cá Ong căng ở vùng ven biển Thừa Thiên Huế, chúng tôi đã xác định đươc mối tương quan giữa chiều dài và khối lượng của quần thể cá, chiều dài và khối lượng cá phụ thuộc vào nhóm tuổi Trong khi cá non ở nhóm tuổi 0+ có chiều dài nhỏ nhất là 34,0mm và chiều dài lớn nhất là 117,0 mm, khối lượng tương ứng từ 0,40 – 20,4 g thì cá trưởng thành ở nhóm 4+ có chiều dài nhỏ nhất là 245,0 mm và lớn nhất là 327,0 mm, với khối lượng tương ứng là 220,5 g và 547,0 g Nhóm tuổi 1+ có chiều dài dao động từ 72,0 – 210,0 mm, khối lượng tương ứng với 8,6 – 212,4 g Nhóm tuổi 2+ có chiều dài dao động từ 100,0 – 285,0 mm, khối lượng từ 23,0 – 310,5
g Nhóm tuổi 3+ có chiều dài dao động từ 200,0 – 297,0 mm, khối lượng từ 116,9 – 542 g
Kết quả nghiên cứu trên cho thấy, cũng như những loài cá khác, cá Ong căng có sự tăng lên về chiều dài và lớn lên về khối lượng cơ thể qua từng năm, Tuy nhiên, ở mỗi nhóm tuổi, mối tương quan giữa chiều dài và khối lượng cá thay đổi theo giới tính (trừ nhóm tuổi 0+) Ở nhóm tuổi 1+ cá Ong căng đực có chiều dài lớn hơn
cá cái (151,0 mm và 149,0 mm), ngược lại ở các nhóm tuổi 2+
, 3+, 4+
cá cái có chiều dài lớn hơn cá đực
Dựa vào công thức của Beverton - Holt (1956), phân tích kết quả nghiên cứu thấy rằng: Tương quan giữa chiều dài và khối lượng của cá Ong căng biến thiên theo hàm số mũ Trên cơ sở những số liệu quan trắc về chiều dài và khối lượng, đã tính được các thông số của phương trình tương quan giữa chiều dài và khối lượng cá Ong căng Phương trình tương quan có dạng: 2 3,018
W 1,3335.10 L với
2
0,84
R (Hình 3.1)
Trang 13Hình 3.1 ồ thị tương quan giữa chiều dài và khối lượng cá Ong căng
tỷ lệ đực cái của cá Ong căng khác nhau không nhiều, cá cái chiếm
tỷ lệ cao hơn cá đực Kết quả nghiên cứu này tương đồng với kết quả nghiên cứu về cá Ong căng ở Quảng Bình của Lê Thị Nam Thuận (2015)
3.1.1.4 Sinh trưởng về chiều dài
Căn cứ vào số liệu cụ thể về chiều dài và kích thước vẩy tương ứng, chúng tôi đã xác định được hệ số a của phương trình Rosa Lee (1920) là 8,6 mm Đó là kích thước của cá khi bắt đầu hình thành