Một số nhạc sĩ và các trào lưu âm nhạcsáng tác thuộc thế kỷ XX mới chỉ được bổ sung vào chương trình giảng dạymôn lịch sử âm nhạc thế giới, nhưng vẫn chưa được cập nhật vào môn Hoà âm để
Trang 1-NGUYỄN THỊ LOAN
BỔ SUNG MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM HÒA ÂM
THẾ KỶ XX VÀO CHƯƠNG TRÌNH GIẢNG DẠY TẠI HỌC VIỆN ÂM NHẠC QUỐC GIA VIỆT NAM
CHUYÊN NGÀNH: ÂM NHẠC HỌC
MÃ SỐ: 62 21 02 01
LUẬN ÁN TIẾN SĨ ÂM NHẠC HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS Phạm Tú Hương
HÀ NỘI - 2019
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các kết quảnghiên cứu được trình bày trong luận án là trung thực, khách quan và chưa từngđược bảo vệ ở bất kỳ học vị nào, các thông tin trích dẫn trong luận án này đềuđược chỉ rõ nguồn gốc
Hà Nội, ngày 12 tháng 03 năm 2019
Nguyễn Thị Loan
Trang 3MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
MỤC LỤC ii
DANH MỤC KÝ HIỆU VÀ CÁC CHỮ VIẾT TẮT iii
MỘT SỐ THUẬT NGỮ SỬ DỤNG TRONG LUẬN ÁN iv
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN - TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ THỰC TRẠNG DẠY HOÀ ÂM Ở HỌC VIỆN ÂM NHẠC QUỐC GIA VIỆT NAM 8
1.1 Cơ sở lý luận 8
1.2 Tổng quan tình hình nghiên cứu về hoà âm thế kỷ XX 10
1.2.1 Sách và các công trình nghiên cứu ở nước ngoài 10
1.2.2 Tình hình nghiên cứu ở trong nước 16
1.3 Thực trạng dạy hoà âm ở HVANQGVN 20
1.3.1 Môn hoà âm trong quá trình phát triển từ Trường Âm nhạc Việt Nam đến HVANQGVN ngày nay 20
1.3.2 Chương trình và giáo trình 25
1.3.3 Phương pháp giảng dạy và phương pháp kiểm tra - đánh giá 32
1.3.4 Đánh giá kết quả giảng dạy 37
Tiểu kết chương 1 38
CHƯƠNG 2 KHÁI QUÁT VỀ HOÀ ÂM THẾ KỶ XX VÀ VIỆC GIẢNG DẠY HOÀ ÂM THẾ KỶ XX Ở MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI 40
2.1 Khái quát về hoà âm thế kỷ XX 40
2.1.1 Một số dạng điệu thức thường gặp trong hoà âm thế kỷ XX 42
2.1.2 Một số dạng cấu trúc hợp âm - chồng âm thường gặp trong hoà âm thế kỷ XX 59
2.1.3 Một số thủ pháp hoà âm thường gặp trong âm nhạc thế kỷ XX 74
2.2 Khảo sát việc dạy hoà âm thế kỷ XX ở một số cơ sở đào tạo âm nhạc trên thế giới 83
2.2.1 Một số nhạc viện ở Mỹ 83
2.2.2 Một số nhạc viện ở Châu Âu và Châu Á 92
Tiểu kết chương 2 98
CHƯƠNG 3 THỬ NGHIỆM GIẢNG DẠY HOÀ ÂM THẾ KỶ XX CHO SINH VIÊN ĐẠI HỌC TẠI HỌC VIỆN ÂM NHẠC QUỐC GIA VIỆT NAM 100
3.1 Cơ sở lý luận 100
3.2 Dự kiến bổ sung một số kiến thức hoà âm thế kỷ XX vào chương trình giảng dạy môn hoà âm trình độ đại học tại HVANQGVN 102
3.2.1 Tiêu chí lựa chọn nội dung kiến thức để đưa vào chương trình 102
3.2.2 Thời lượng và nội dung chương trình bổ sung 103
3.2.3 Nội dung chương trình chi tiết 108
3.2.4 Giáo trình 115
3.3 Phương pháp giảng dạy và phương pháp kiểm tra đánh giá 116
3.3.1 Phương pháp giảng dạy 116
3.3.2 Phương pháp kiểm tra đánh giá 118
3.4 Thực nghiệm sư phạm 121
3.4.1 Mục đích thực nghiệm sư phạm 121
3.4.2 Đối tượng thực nghiệm và tổ chức thực nghiệm 121
3.4.3 Kết quả thực nghiệm 140
Tiểu kết chương 3 142
KẾT LUẬN 143
MỘT SỐ KHUYẾN NGHỊ 146
TÀI LIỆU THAM KHẢO 152
Trang 4DANH MỤC KÝ HIỆU VÀ CÁC CHỮ VIẾT TẮT
HVANQGVN: Học viện Âm nhạc Quốc gia Việt Nam
NCS: Nghiên cứu sinh
Ký hiệu +: Dùng để chỉ các quãng tăng, hợp âm tăng
Ký hiệu - : Dùng để chỉ các quãng giảm, hợp âm giảm
Trang 5MỘT SỐ THUẬT NGỮ SỬ DỤNG TRONG LUẬN ÁN
Atonal: “Theo từ điển The New Grove Dictionary of Music and musicians16,thì thuật ngữ atonal được sử dụng trong ba ý nghĩa sau: thứ nhất để chỉ mộtloại âm nhạc không có điệu tính; thứ hai dùng để chỉ một loại âm nhạc khôngphải là loại có điệu tính mà cũng không phải là serie và thứ ba dùng để chỉmột loại âm nhạc, chính xác là đứng sau loại âm nhạc có điệu tính và trước
âm nhạc 12 âm của Alban Berg, Anton Webern và ArnoldSchönberg [16/ tr.67]
Aleatorik musik: Thuật ngữ tiếng Đức và tiếng Anh gọi là Aleatoric music,
để chỉ một nguyên tắc sáng tác âm nhạc mang tính ngẫu nhiên, thịnh hành vàonhững năm 50 - 60 của thế kỷ XX Charles Ives là một trong những nhà soạnnhạc đầu tiên có ý thức sử dụng các kỹ thuật sáng tác này
Clusters: Thuật ngữ tiếng Anh được hiểu là cụm, đám, bó, đàn, bầy, còn
trong âm nhạc Tone clusters được hiểu là chồng âm dưới dạng chùm nốt
chồng lên nhau sắp xếp theo chiều dọc, khi đàn có thể dùng lòng bàn tay hoặc
thậm chí cả cánh tay tác động lên hàng phím Tham khảo Hợp âm chồng quãng hai của nhà soạn nhạc người Mỹ Henry Cowell (1897-1965)
Elektronische Musik: Thuật ngữ tiếng Đức để chỉ sáng tác âm nhạc điện tử
thịnh hành vào những năm 60-70 của thế kỷ XX, được nhạc sĩ người ĐứcK.Stockhausen (1928-2007) sử dụng phổ biến trong sáng tác của mình
Hexatonic scale: Thuật ngữ tiếng Anh, hay còn được gọi là six-note scale
hoặc six-tone scale Được hiểu như sau: Hex nghĩa là sáu và tonic là âm, nốthoặc âm thanh, đề cập đến thang sáu âm khác nhau trong một quãng tám.Chia làm hai loại thang sáu âm trưởng (The Major Hexatonic Scale) C D E G
A B và thang sáu âm thứ (The Minor Hexatonic Scale) C D Eb G A Bb
Leading note chords: Thuật ngữ tiếng Anh, đề cập đến những hợp âm được
xây dựng trên bậc VII là âm dẫn của điệu thức nên có tên gọi là hợp âm dẫn.Chia làm hai loại hợp âm bảy dẫn thứ B D F A được dùng trong điệu trưởng
Trang 6tự nhiên và hợp âm bảy dẫn giảm B D F Ab dùng trong giọng trưởng và thứhoà thanh.
Microtonal: Thuật ngữ tiếng Anh, đề cập đến âm nhạc có cao độ nốt nhạc
được chia nhỏ hơn nửa cung (1cung = 9 comma), tức là sử dụng các quãng1/4 cung, 3/4 cung v.v… được dùng nhiều trong âm nhạc thế kỷ XX Phải kểđến tên tuổi của một số nhà soạn nhạc phương Tây nổi tiếng đã vận dụng kỹthuật sáng tác này vào trong âm nhạc của họ như Charles Ives, Harry Patch,Henry Cowell, John Cage, Benjamin Johnston, Henk Badings, KarlheinzStockhausen và Krzysztof Penderecki
Pentatonic scale: Thuật ngữ tiếng Anh, được hiểu như sau: Penta nghĩa là
năm và tonic là âm, nốt hoặc âm thanh, đề cập đến thang năm âm khác nhautrong một quãng tám Chia làm hai loại thang năm âm trưởng (The MajorPentatonic Scale) C D E G A C và thang năm âm thứ (The Minor PentatonicScale) C D Eb G A C Được dùng nhiều trong âm nhạc thế kỷ XX, điển hình
là trong các sáng tác của Claude Debussy và Maurice Ravel
Serialitaet: Thuật ngữ tiếng Đức, tiếng Anh là Serial, để chỉ phương pháp
sáng tác âm nhạc theo chuỗi 12 âm Kỹ thuật này rất hay gặp trong các tácphẩm của Arnold Schönberg, Anton Webern v.v…
Tăng: Thuật ngữ tiếng Anh là augmented, dùng để chỉ các quãng tăng, hợp
âm tăng Ví dụ quãng ba trưởng được tăng lên nửa cung gọi là quãng ba tănghoặc quãng năm đúng tăng lên nửa cung gọi là quãng năm tăng Hợp âm tăngđược cấu tạo bởi hai quãng ba trưởng hợp thành
Giảm: Thuật ngữ tiếng Anh là diminished, dùng để chỉ các quãng giảm hoặc
hợp âm giảm Ví dụ quãng sáu thứ giảm đi nửa cung gọi là quãng sáu giảmhoặc quãng bốn đúng giảm đi nửa cung gọi là quãng bốn giảm Hợp âm bagiảm được cấu tạo bởi hai quãng ba thứ hợp thành
Thực nghiệm: Thuật ngữ tiếng Anh là Experiment, theo từ điển Wiktionary,
phương pháp thực nghiệm được hiểu là một phương pháp khoa học dựa trên
Trang 7quan sát, phân loại, nêu giả thuyết và kiểm nghiệm giả thuyết bằng thínghiệm.
Thử nghiệm: Thuật ngữ tiếng Anh cũng là Experiment, theo từ điển
Wiktionary, thử nghiệm được hiểu là sự làm thử một cái gì đó để tìm xem cóhiệu quả hay không hoặc muốn tìm kiếm một kết quả nào đó
Thể nghiệm: Thuật ngữ tiếng Anh là Experimental, theo từ điển Wiktionary,
thể nghiệm được hiểu là sự thể nghiệm của bản thân, qua kinh nghiệm, quathực tiễn mà xét thấy điều gì đó là đúng hay không đúng, cần thể nghiệmthêm một thời gian mới có thể kết luận
Experimental: Thuộc dạng tính từ, theo từ điển English Oxford Living
Dictionaire, được hiểu theo nghĩa thứ nhất là một phát minh hoặc sản phẩmmới dựa trên những ý tưởng hoặc kỹ thuật chưa được thử nghiệm và chưađược thiết lập hoặc hoàn thiện Nghĩa thứ hai được hiểu là nghệ thuật hoặcmột kỹ thuật nghệ thuật liên quan đến một phong cách hoàn toàn mới và sángtạo Ví dụ: Âm nhạc thử nghiệm 1 (of a new invention or product) based on untested ideas or techniques and not yet established or finalized 2 (of art or an artistic technique) involving a radically new and innovative style ‘experimental music’
Experiment: Thuộc loại danh từ, theo từ điển English Oxford Living
Dictionaire, được hiểu theo nghĩa thứ nhất đây là một qui trình khoa học,được thực hiện để khám phá, kiểm tra giả thuyết hoặc chứng minh một thực tế
đã biết Hiểu theo nghĩa thứ hai là một quá trình hành động dự kiến thông qua
mà không chắc chắn về kết quả (1 A scientific procedure undertaken to make a discovery, test a hypothesis, or demonstrate a known fact 2 A course of action tentatively adopted without being sure of the outcome.)
BẢNG KÝ HIỆU NỐT NHẠC 1
1 Bảng giải thích ký hiệu nốt nhạc được tập hợp từ hai bộ từ điển Thuật ngữ Âm nhạc bằng tiếng Anh Đức
-Việt và tiếng Ý - Pháp - -Việt của nhóm tác giả Nguyễn Bách – Tiến Lộc – Hạnh Thy, do Nhà xuất bản âm nhạc in năm 2000.
Trang 8Tiếng Việt Tiếng Anh Tiếng Đức Tiếng Ý Tiếng Pháp Ký hiệu
Đô thăng kép C double sharp Cisis Do doppio diesis Do double dièse C x
Đô giáng kép C double flat Ceses Do doppio bemolle Do double bémol C bb
Rê giáng kép D double flat Deses Re doppio bemolle Ré double bémol D bb
Mi thăng kép E double sharp Eisis Mi doppio diesis Mi double dièse E x
Mi giáng kép E double flat Eses Mi doppio bemolle Mi double bémol E bb
Fa thăng kép F double sharp Fisis Fa doppio diesis Fa double dièse F x
Fa giáng kép F double flat Feses Fa doppio bemolle Fa double bémol F bb
Sol thăng kép G double sharp Gisis Sol doppio diesis Sol double dièse G x
Sol giáng kép G double flat Geses Sol doppio bemolle Sol double bémol G bb
La giáng kép A double flat Ases La doppio bemolle La double bémol A bb
Si thăng kép B double sharp Hisis Si doppio diesis Si double dièse B x
Si giáng kép B double flat Heses Si doppio bemolle Si double bémol B bb
KÝ HIỆU CÁC GIỌNG TRƯỞNG VÀ THỨ
Trong luận án này, các ký hiệu bằng chữ cái và các giọng trưởng - thứ đượcdùng theo hệ thống Anh - Mỹ Giới thiệu vòng quãng năm của các giọng
Trang 9trưởng và thứ theo hệ thống Anh - Mỹ (Trích dẫn từ Học cách đọc ký hiệu âm nhạc - Learn How to Read Sheetmusic - Dimmie.com).
Trang 10GIẢI THÍCH KÝ HIỆU CÁC HỢP ÂM
Giải thích ký hiệu các hợp âm theo hệ thống Anh - Mỹ (Trích nguồn tài liệu
từ Cách đọc ký hiệu hợp âm - How to read chord symbols - Dimmie.com).
Recipes for Constructing Chords / Cách thức xây dựng hơp âm (HÂ)
Chord Symbol/Ký hiệu
Cmin; Cm C minor / HÂ Do thứ 1- b 3-5
Caug; C( # 5); C+ C augmented / HÂ Do tăng 1-3- # 5
Cdim; C o C diminished / HÂ Do giảm 1- b 3- b 5
Csus2 C suspended second / HÂ Do sus2
(Bỏ âm 3 thay âm 2)
1-2-5
C(add2); C(add9) C add second (or ninth)/ HÂ Do thêm âm 2 hoặc âm 9 1-2-3-5
Cm(add2); Cm(add9) C minor, add second or ninth/HÂ Do thứ thêm âm 2 hoặc âm 9 1-2- b 3-5
Csus4 C suspended fourth / HÂ Do sus 4(bỏ âm 3 thay âm 4) 1-4-5
C (b5) C flat fifth / HÂ Do giáng âm 5 1-3- b 5
C6 C sixth / HÂ Do sáu trưởng 1-3-5-6
Cm6 C minor sixth / HÂ Do sáu thứ 1- b 3-5-6
C7 C seventh / HÂ Do bảy át 1-3-5- b 7
Cmj7; CM7; Cr7 C major seventh / HÂ Do bảy trưởng 1-3-5-7
Cmin7; Cm7; C-7 C minor seventh / HÂ Do bảy thứ 1- b 3-5- b 7
C o 7; Cdim7 C diminished seventh / HÂ Do bảy giảm 1- b 3- b 5-6
C7sus4 C seventh, suspended fourth/HÂ Do bảy sus4 (bỏ âm 3 thêm âm 4) 1-4-5- b 7
Cm (maj7) C minor, major seventh / HÂ Do bảy thứ 1- b 3-5-7
C7 # 5; C7+ C seventh, sharp fifth / HÂ Do bảy thăng âm 5 1-3- # 5- b 7
C7 b 5; C7-5 C seventh, flat fifth / HÂ Do bảy
giáng âm 5 1-3-b5-b7Cm7 b 5; Co7 C minor seventh, flat fifth /HÂ Do
bảy thứ giáng âm 5 1-b3-b5-b7Cmaj7 b 5 C major seventh, flat fifth /HÂ Dobảy trưởng giáng âm 5 1-3- b 5-7
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
HVANQGVN được thành lập từ 1956, tính đến năm 2016 Học viện kỷniệm 60 năm thành lập trường với đa dạng các chương trình âm nhạc được tổchức từ các khoa với các nghệ sĩ trong và ngoài nước, đã đem đến cho quíthính giả biết bao tiết mục độc tấu, hoà tấu, nhạc cổ điển, nhạc Jazz và âmnhạc đương đại với nhiều màu sắc hoà âm mới lạ
Từ những năm đầu thế kỷ XX đến nay, cùng với những biến độngchính trị, xã hội và văn hóa diễn ra ở nhiều quốc gia khác nhau, âm nhạc(trong đó có hoà âm) đã có những chuyển biến rõ nét góp phần quan trọngvào việc phản ánh sự thay đổi, cách xây dựng nội dung, chủ đề hình tượng vàthẩm mỹ âm thanh, cũng như phản ánh bút pháp riêng của từng tác giả, từngtrường phái âm nhạc khác nhau Âm nhạc Việt Nam cũng không nằm ngoàidòng chảy này, nhiều tác phẩm đã ra đời sử dụng những ngôn ngữ hòa âmkiểu mới
HVANQGVN là trung tâm đào tạo hàng đầu về âm nhạc chuyênnghiệp trong toàn quốc có trách nhiệm bổ sung, cập nhật những kiến thứckhoa học mới vào công việc đào tạo giảng dạy cũng như nghiên cứu Trongmột vài năm trở lại đây, sinh viên cũng đã được tiếp cận với nhiều tác phẩm
âm nhạc thế kỷ XX trong những bài học chuyên ngành như Piano, Guitar,Accordeon, các nhạc cụ bộ gỗ v.v…và nhiều tác phẩm viết cho dàn nhạc cũngnhư các tác phẩm hòa tấu thính phòng Một số nhạc sĩ và các trào lưu âm nhạcsáng tác thuộc thế kỷ XX mới chỉ được bổ sung vào chương trình giảng dạymôn lịch sử âm nhạc thế giới, nhưng vẫn chưa được cập nhật vào môn Hoà
âm để giảng dạy cho sinh viên hệ đại học tại Học viện
Luận án chúng tôi sẽ đề cập đến một số nội dung hoà âm thế kỷ XX vàtìm hiểu xem các cơ sở đào tạo âm nhạc trên thế giới đã đưa hoà âm thế kỷ
Trang 12XX áp dụng vào giảng dạy ở các trường âm nhạc như thế nào? Và tiếp đếnviệc làm sao cập nhật bổ sung chương trình hoà âm thế kỷ XX đưa vào giảngdạy tại HVANQGVN trong thời gian sớm nhất.
Hiện nay bộ môn Lý luận đã được đổi tên thành Âm nhạc học, trongluận án này chúng tôi dùng theo cách gọi Âm nhạc học
Môn Hoà âm đã và đang được dạy ở HVANQGVN, được gọi là phần
“Hoà âm cổ điển” Qua tìm hiểu chương trình hòa âm cho sinhviên các chuyên ngành tại HVANQGVN cho thấy, mặc dù từnăm 2013 đã có chủ trương đưa phần hòa âm thế kỷ XX vàogiảng dạy cho một số chuyên ngành Tuy nhiên do nhiều lý
do, phần kiến thức này cho đến nay vẫn chưa được triển khaikhiến cho sinh viên gặp rất nhiều khó khăn khi chơi những tác phẩm hiệnđại và càng bỡ ngỡ hơn khi tham gia vào chương trình biểu diễn hòa tấu giaolưu với nhiều trường bạn trên thế giới Sinh viên khoa Sáng tác - Chỉ huy -
Âm nhạc học cũng không dễ dàng khi thực hiện các bài viết chuyên ngànhliên quan đến ngôn ngữ âm nhạc thế kỷ XX
Hoà âm thế kỷ XX là một phần không thể thiếu trong môn Hoà âmgiảng dạy tại HVANQGVN Nhận thức được yêu cầu cấp bách củaviệc đưa một số kiến thức hòa âm ở thế kỷ XX vào chương trìnhgiảng dạy môn Hòa âm ở HVANQGVN và với trách nhiệm củanhững người thầy thuộc thế hệ sau, chúng tôi thấy có nghĩa
vụ phải cập nhật kiến thức mới cho chương trình giảng dạy
âm nhạc nói chung và hoà âm nói riêng Đây cũng chính là lý
do khiến chúng tôi lựa chọn lĩnh vực nghiên cứu này Đề tài
luận án có tiêu đề “Bổ sung một số đặc điểm hoà âm thế kỷ
XX vào chương trình giảng dạy tại Học viện Âm nhạc Quốc gia Việt Nam”.
Trang 13Luận án tiến sĩ Nghệ thuật âm nhạc của Vũ Đình Thạch bảo vệ năm
2009 có tiêu đề: Âm nhạc thế kỷ XX và vai trò của nó trong việc đào tạo kèn Clarinette tại Nhạc viện Hà Nội Bản luận án đã đi vào phân tích chi tiết một
số tác phẩm viết cho kèn Clarinette tiêu biểu ở thế kỷ XX và những giải phápđưa các tác phẩm viết cho kèn Clarinette của Phương Tây ở thế kỷ XX vàogiảng dạy, nhằm nâng cao chất lượng đào tạo kèn hơi tại HVANQGVN
Những thủ pháp sáng tác trong một số trường phái âm nhạc thế kỷ XX
là tiêu đề bản luận án tiến sĩ của Phạm Phương Hoa bảo vệ năm 2010 Đây làcông trình nghiên cứu đầu tiên ở Việt Nam mang tính chất tổng quát và hệthống hoá những thủ pháp sáng tác âm nhạc thế kỷ XX Ngoài việc tổng kếtcác thủ pháp sáng tác ở thế kỷ XX của một số trường phái âm nhạc phươngTây, tác giả luận án đã phân tích những đặc điểm ngôn ngữ âm nhạc trong cáctác phẩm khí nhạc của các nhạc sĩ Việt Nam Những điểm mới đưa ra trongbản luận án sẽ đóng góp vào giáo trình giảng dạy môn Lịch sử âm nhạc thế kỷ
Trang 14Cao Sĩ Anh Tùng năm 2015 đã bảo vệ luận án tiến sĩ với tiêu đề: Nghệ thuật Guitar đương đại nửa sau thế kỷ XX trong đào tạo Guitar chuyên nghiệp tại Việt Nam Bên cạnh việc giới thiệu những trào lưu, những thủ pháp
diễn tấu mới xuất hiện ở nửa cuối thế kỷ XX của nghệ thuật Guitar thế giới,bản luận án còn trình bày những ứng dụng của các thủ pháp này vào đào tạoGuitar chuyên nghiệp trong các cơ sở đào tạo âm nhạc trong cả nước, đặc biệt
Các thủ pháp hoà âm thế kỷ XX đã được trình bày rất phong phú và đadạng trong các tài liệu của nước ngoài Chúng tôi sẽ trình bày một số công
trình tiêu biểu trong mục Tổng quan tình hình nghiên cứu ở chương 1 của
luận án
Ở Việt Nam, những công trình nghiên cứu về hoà âm thế kỷ XX củaPhương Tây, cũng như hoà âm trong các tác phẩm âm nhạc mới Việt Namkhông có nhiều và cũng chỉ giới hạn trong một vài giáo trình, luận án hayluận văn trong lĩnh vực Âm nhạc học Cụ thể là:
Giáo trình hoà thanh dành cho sinh viên khoa Sáng tác - Chỉ huy - Âm
nhạc học bậc đại học tại HVANQGVN của GS.TS Phạm Minh Khang biênsoạn, do Trung tâm thông tin - Thư viện âm nhạc xuất bản năm 2005
Ngoài cuốn giáo trình này, trong một số luận án, luận văn thuộc chuyên
ngành Âm nhạc học đã bảo vệ tại HVANQGVN có đề cập đến lĩnh vực hoà
âm trong các tác phẩm âm nhạc phương Tây cũng như tác phẩm của các nhạc
Trang 15sĩ Việt Nam có liên quan đến hoà âm thế kỷ XX mà chúng tôi đã giới thiệu ởphần lịch sử đề tài.
Vấn đề này sẽ được chúng tôi phân tích sâu trong phần Tổng quan tình hình nghiên cứu ở chương một luận án.
Tại Việt Nam cho đến thời điểm này, chúng tôi chưa thấy một công
trình nghiên cứu khoa học nào đề cập tới vấn đề Bổ sung một số đặc điểm hoà
âm thế kỷ XX vào chương trình giảng dạy tại Học viện Âm nhạc Quốc gia Việt Nam hay một cơ sở đào tạo âm nhạc chuyên nghiệp nào ở Việt Nam Vì
thế, đề tài luận án không trùng lặp với các công trình đã công bố
3 Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của luận án hướng tới việc bổ sung một số kiếnthức hoà âm thế kỷ XX vào chương trình giảng dạy, sau khi đã kết thúcphần hoà âm cổ điển cho sinh viên các chuyên ngành âm nhạc, nhằmnâng cao chất lượng đào tạo, đáp ứng nhu cầu đòi hỏi của xã hội trong giaiđoạn hiện nay Qua đó có thể giúp sinh viên cập nhật được nhữngkiến thức mới khi biểu diễn hoặc phân tích các tác phẩm đươngđại
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Thứ nhất là sinh viên hệ đại học của HVANQGVN chuyên ngành biểudiễn và Sáng tác - Chỉ huy - Âm nhạc học là đối tượng nghiên cứu của luậnán
Thứ hai là nghiên cứu chương trình, giáo trình, phương pháp giảng dạymôn Hoà âm tại HVANQGVN, để cập nhật một số kiến thức hoà âm thế kỷ
XX vào giảng dạy cho sinh viên tại Học viện
Thứ ba là chọn một số tác phẩm âm nhạc Phương Tây và Việt Nam ưa sửdụng ngôn ngữ hoà âm thế kỷ XX để đưa vào phần nghiên cứu và bài tập phân tíchmôn Hoà âm
Trang 16Thứ tư là chọn một số nội dung tiêu biểu về hoà âm thế kỷ XX để đưavào chương trình giảng dạy tại HVANQGVN trong thời kỳ này.
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Giảng dạy hoà âm thế kỷ XX cho sinh viên đại học tại HVANQGVN.Tác phẩm âm nhạc thế giới và Việt Nam tiêu biểu sử dụng ngôn ngữhoà âm thế kỷ XX
5 Phương pháp nghiên cứu
5.1 Phương pháp nghiên cứu lý thuyết:
Phương pháp phân tích, so sánh, qui nạp, đối chiếu, tổng hợp v.v cáckiến thức hoà âm ở thế kỷ XX nhằm tìm ra những vấn đề cốt lõi để bổ sungvào chương trình giảng dạy môn Hoà âm bậc đại học tại HVANQGVN
Xem xét chương trình, giáo trình đã có, cũng như đúc kết lại những kinhnghiệm, phương pháp giảng dạy hoà âm của các thế hệ giảng viên, các giáo sư,tiến sĩ đầu ngành, kế thừa, tiếp thu các thành tựu khoa học có liên quan đến đề tàinghiên cứu để xây dựng phần ứng dụng nội dung mới thực hành
5.2 Phương pháp nghiên cứu thực nghiệm:
Tổ chức dạy thực nghiệm một số nội dung hoà âm thế kỷ XX chosinh viên các chuyên ngành khác nhau để kiểm chứng tính khả thi củanhững kiến thức đưa vào chương trình giảng dạy, phương pháp dạy học vàkhả năng tiếp thu của sinh viên
Ngoài ra, chúng tôi còn sử dụng phương pháp lấy ý kiến chuyên gia,phỏng vấn những người có liên quan để xem kiến thức hoà âm thế kỷ XXđược tiếp cận như thế nào trong các cơ sở đào tạo âm nhạc trên thế giới
6 Đóng góp của luận án
6.1 Về mặt lý luận:
Trang 17Tổng kết ngôn ngữ hoà âm thế kỷ XX thông qua một sốdạng điệu thức, cấu trúc hợp âm - chồng âm, các thủ pháphòa âm v.v
Đề xuất đưa nội dung hoà âm thế kỷ XX vào chươngtrình giảng dạy cho sinh viên đại học tại HVANQGVN đáp ứngnhu cầu đào tạo sinh viên âm nhạc chuyên nghiệp trong giaiđoạn hiện nay
6.2 Về mặt thực tiễn:
Đưa phần kiến thức hoà âm tiêu biểu của thế kỷ XX vàogiảng dạy hệ đại học tại HVANQGVN
Xây dựng chương trình và nội dung phần hoà âm thế kỷ
XX cho bậc đại học, góp phần hoàn thiện chương trình mônhọc hoà âm nói chung
Đề xuất một số phương pháp dạy phần hòa âm thế kỷXX
Ngoài ra, thông qua luận án này có thể gợi mở phần nào
về tư duy, ý tưởng kết hợp những nhân tố âm nhạc truyềnthống dân tộc với các thủ pháp hiện đại cho sinh viên sángtác, nhằm tạo ra các tác phẩm vừa có tính dân tộc vừa phùhợp với hơi thở cuộc sống, thẩm mỹ thời đại Với sinh viênthuộc các chuyên ngành khác, kiến thức hoà âm thế kỷ XXgiúp các em có thể tiếp cận thuận lợi hơn, sâu sắc hơn với cáctác phẩm âm nhạc đương đại khi phân tích, tìm hiểu phongcách tác giả hoặc thể hiện các tác phẩm âm nhạc này
7 Bố cục của luận án
Ngoài phần Mở đầu, phần Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, nộidung luận án gồm 3 chương:
Trang 18Chương 1: Cơ sở lý luận - Tổng quan tình hình nghiên cứu và thựctrạng dạy hoà âm ở HVANQGVN
Chương 2: Khái quát về hoà âm thế kỷ XX và việc giảng dạy hoà âmthế kỷ XX ở một số nước trên thế giới
Chương 3: Thử nghiệm giảng dạy hòa âm thế kỷ XX cho sinh viên đại
học tại HVANQGVN
Trang 19CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN - TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ THỰC TRẠNG DẠY HOÀ ÂM Ở HỌC VIỆN ÂM NHẠC QUỐC GIA
VIỆT NAM 1.1 Cơ sở lý luận
Hòa âm là một môn học quan trọng trong chương trình đào tạo âmnhạc chuyên nghiệp tại các Học viện âm nhac, Nhạc viện Từ trình độ trungcấp đến đại học, từ các chuyên ngành biểu diễn đến các chuyên ngành Sángtác - Chỉ huy - Âm nhạc học, ở mỗi cấp học, mỗi chuyên ngành, học sinh -sinh viên được tiếp cận với các kiến thức, các kỹ năng thực hành hòa âmkhác nhau
Môn Hòa âm giúp cho học sinh - sinh viên có thể hiểu về cấu trúc hìnhthức của tác phẩm, sự sắp xếp các dạng hợp âm trong các điệu thức khác nhau
và những nguyên lý kết hợp các hợp âm theo chiều dọc và chiều ngang cũngnhư vị trí các hợp âm trong tác phẩm âm nhạc v.v… Qua đó có thể hiểu thêm
về quan điểm thẩm mỹ, phong cách sáng tác của tác giả
Chúng ta biết rằng âm nhạc là một bộ môn nghệ thuật được biểu hiệnbằng âm thanh Những yếu tố quan trọng của âm nhạc đó là: giai điệu, hòa
âm, tiết tấu, âm sắc, tốc độ và cường độ v.v… Trong âm nhạc phương Tây,hòa âm là yếu tố nổi bật nhất và được phát triển cao nhất Hòa âm là mộtphương tiện biểu hiện rất quan trọng trong việc diễn tả nội dung của một tácphẩm âm nhạc
Hòa âm còn đóng góp trong việc hình thành hình thức tác phẩm âmnhạc Hòa âm giúp cho việc phân chia tác phẩm thành những phần, nhữnggiai đoạn hoàn thiện cùng mối liên hệ giữa chúng với nhau
Trong tác phẩm âm nhạc, hòa âm luôn luôn liên quan chặt chẽ với cácyếu tố âm nhạc khác đặc biệt là với giai điệu
Trang 20Cùng với giai điệu, hòa âm là một trong những lĩnh vực chịu nhiều sựthay đổi do ảnh hưởng của thời đại, của bản sắc dân tộc và phong cách sángtác của từng nhạc sĩ Do vậy hòa âm là một lĩnh vực có lịch sử phát triển, biếnđổi rất phong phú và phức tạp.
Trong lịch sử phát triển của hòa âm, kể từ khi nhạc sĩ J.P Rameau (1683-1764) đúc kết thành những nguyên lý mang tính khoa học cho đến nay, ngônngữ hòa âm đã có rất nhiều thay đổi Do ở mỗi giai đoạn, mỗi trường phái âmnhạc, luôn đòi hỏi cần có sự đổi mới về các phương tiện thể hiện nghệ thuật âmnhạc cho phù hợp với nội dung, với yêu cầu của xã hội đương thời
Đặc biệt, nền âm nhạc Châu Âu cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX đã có nhiều trào lưu, nhiều trường phái, nhiều khuynh hướng sáng tác cũng như quan điểm nghệ thuật, quan điểm thẩm mỹ xuất hiện Các nhà soạn nhạc ở giai đoạn này đều lao vào để tìm kiếm mọi khả năng biểu hiện ở mức độ tối
đa của ngôn ngữ hòa âm… [24/tr.121]
Hòa âm ở thế kỷ XX có nhiều khuynh hướng mới, nhiều thủ pháp mớihoàn toàn xa rời những nguyên tắc hòa âm của những thế kỷ trước Vì lý do
đó, chúng tôi cho rằng việc đưa những kiến thức hòa âm ở thế kỷ XX vàochương trình giảng dạy môn hòa âm trong HVANQHVN là rất cần thiết Việclàm này sẽ giúp cho sinh viên có những kiến thức cơ bản về hòa âm trong giaiđoạn hiện đại Giúp các em có thể hiểu và xử lý các tác phẩm âm nhạc thế kỷ
XX có hiệu quả hơn
Tuy nhiên, như trên chúng tôi đã trình bày, ngôn ngữ hòa âm ở thế kỷ
XX rất phức tạp và phong phú vì có nhiều trường phái, nhiều khuynh hướngsáng tác khác nhau, dẫn đến có rất nhiều thủ pháp phát triển mới, kết hợpcùng lúc các dạng điệu thức với nhau và ra đời nhiều dạng cấu tạo hợp âmkhông sắp xếp theo qui luật quãng ba như cấu tạo hợp âm chồng quãng bốn,cấu tạo hợp âm chồng quãng hai và nhiều dạng hợp âm thêm nốt v.v…Với
Trang 21thời lượng dành cho môn hòa âm rất khiêm tốn, mặt bằng chung về kiến thứchòa âm của sinh viên còn thấp, vì vậy chúng tôi khi viết luận án này đã phảilựa chọn trong những phần kiến thức hòa âm thế kỷ XX những nội dung nổibật vừa đơn giản, dễ hiểu, nhưng thể hiện được những điểm đặc trưng của hòa
âm ở giai đoạn này để đưa vào chương trình giảng dạy Chúng tôi hy vọngnhững nghiên cứu và thử nghiệm của mình sẽ góp phần vào việc đổi mới,nâng cao chất lượng đào tạo môn Hòa âm trong HVANQG VN
1.2 Tổng quan tình hình nghiên cứu về hoà âm thế kỷ XX
1.2.1 Sách và các công trình nghiên cứu ở nước ngoài
Có thể nói trên thế giới, sách hoà âm thì vô cùng phong phú và phầnnhiều các sách thường đề cập đến kiến thức hoà âm cổ điển Để phù hợp với
đề tài nghiên cứu, chúng tôi có cơ hội được tiếp cận với một số tài liệu có liênquan đến hoà âm thế kỷ XX và đây cũng là những tư liệu quí giúp chúng tôi
có thể cập nhật được những vấn đề chuyên môn trong giai đoạn hiện nay
Theo chúng tôi tìm hiểu, hiện nay trên thế giới tài liệu đã xuất bảndưới dạng sách giáo khoa hòa âm thế kỷ XX được sử dụng ở nhiều trường
âm nhạc là:
- Cuốn Hoà âm thế kỷ XX - Twentieth-Century Harmony do Vincent
Persichetti biên soạn (Nhà xuất bản W.W.Norton &Company, 1961) dày 279trang Đây là một trong những cuốn hòa âm phần nào đã đúc kết một cáchkhoa học về đặc điểm ngôn ngữ hòa âm nửa đầu âm nhạc thế kỷ XX Tác giảVincent Persichetti còn được nhiều người biết đến là cuốn lý thuyết hòa âm
thế kỷ XX của ông với tiêu đề Twentieth-Century Harmony Creative Aspects and Practice Chúng tôi sẽ trình bày nội dung chi tiết hơn trong
chương 2 của luận án
Ngoài ra còn một số công trình sau:
- Cuốn Lý thuyết hoà âm - Theory of Harmony của Arnold
Trang 22Schönberg (người dịch Roy E.Carter), Nxb University of California PressBerkeley Los Angeles, in lần đầu tiên vào năm 1911 và tái bản năm 1949, saunày cuốn sách tiếp tục được Nxb London - Faber and Faber xuất bản vào năm
1962 Cuốn sách nặng về giải thích lý thuyết Sách dày 441 trang, bao gồm 22chương, được giới thiệu đến các vấn đề như trình bày hệ thống lý thuyết(Theory or System of Presentation), phương pháp dạy hòa âm (The Method ofTeaching Harmony), thuận & nghịch (Consonance and Dissonance), điệu thứctrưởng và các hợp âm Diatonic (The Major Mode and the Diatonic Chords),điệu thức thứ (The Minor Mode), sự nối tiếp các hợp âm (Connection ofchords), các loại kết - kết ngắt (Cadences - Deceptive Cadences), chuyển điệu(Modulation), hợp âm át phụ và các hợp âm không thuộc Diatonic đến từ cácđiệu thức nhà thờ (Secondary Dominants and other Non-Diatonic Chordsderived from the Church Modes), mối quan hệ với các hợp âm hạ át thứ(Relationship to the Minor Sub-Doninant), hòa âm kinh thánh (ChoraleHarmonization), thang âm toàn cung và mối liên quan đến những hợp âm năm
và sáu bè (The Whole-Tone Scale and Related five and six-part chords) Trongquyển này nhạc sĩ Arnold Schönberg đã dành 23 trang nằm trong haichương cuối cùng XXI và XXII để giới thiệu về cấu trúc hợp âm chồng theoquãng bốn (Chords contructed in Fourths) (trang 399 - 410) và những hợp âmvới sáu nốt hay nhiều nốt hơn nữa (Chords with six or more tones) (trang 411-422)
- Cuốn Cấu trúc âm nhạc vô điệu tính - The structure of Atonal Music
của Allen Forte (New Haven and London Yale University Press, 1973) Baogồm 224 trang, được chia thành hai phần: phần thứ nhất, tác giả đã đưa ra cáinhìn tổng thể về những âm thanh và mối tương quan giữa các cao độ (Pitch-Class Set and Relation) và phần thứ hai là những âm thanh phức tạp (Pitch-Class Set Complexes) Cuốn sách này chủ yếu nêu vấn đề về lý thuyết và rất
Trang 23ít có thực hành.
- Cuốn Chức năng cấu trúc hoà âm - Structural Fuctions of Harmony
của Arnold Schönberg (Nxb faber and faber in Great Britain, in lần đầutiên vào năm 1954 và tái bản năm 1983) Bao gồm 201 trang, được chia thànhmười hai chương, đề cập đến các nội dung như chức năng cấu trúc của hoà
âm (Structural Functions of Harmony), những nguyên tắc cơ bản của hoà âm(Principles of Harmony), các sự thay thế và phạm vi (Substitutes andRegions), các phạm vi trong giọng thứ (Regions in Minor), sự chuyển dịch(Transformations), hoà âm vô định (Vagrant Harmonies), sự hoán đổi củagiọng Trưởng và Thứ (Interchangeability of Major and Minor), kết quan hệgần (Indirect but Close Relations), phân loại mối quan hệ (Classification ofRelationship), điệu tính mở rộng (Extended Tonality)
- Cuốn Hoà âm của Đức - Der Musikalischer Satz 14.-20 Jahrhundert Rhythmik Harmonik Kontrapunktik Klangkomposition Jazzarrangerment Minimal-Music do Walter Salmen & Norbert J.Schneider biên soạn
(Copyright 1987 - Nhà xuất bản Edition Helbling Inbruck) Giáo trình nàyđược dùng phổ biến ở CHLB Đức Trong quyển sách này tác giả chia làm baphần, có mười chín chương, bao gồm 290 trang Phần thứ nhất (chương I vàchương II) giới thiệu các vấn đề cơ bản trong âm nhạc, hợp âm ba chính, baphụ và các thể đảo, hợp âm bảy và các thể đảo v.v… Phần thứ hai (từ chươngIII đến chương IX), giới thiệu âm nhạc phức điệu từ thế kỷ XIV-XIX, cáchviết phức điệu hai, ba bè và viết hợp xướng bốn bè nhà thờ, hoà âm trưởngthứ thế kỷ XVIII - XIX, biến âm, chuyển điệu v.v… Phần thứ ba giới thiệu về
âm nhạc thế kỷ XX, (từ chương X đến XIX), trong đó chương X (trang 187 204) đề cập đến một số vấn đề hoà âm sau năm 1900 như cấu tạo chồng nhiều
-âm theo các quãng bốn, quãng năm, quãng hai và các hợp -âm ngoài cấu trúcquãng ba v.v… được mở rộng hơn so với sách hoà âm cổ điển, điệu thức
Trang 24Pentatonic, Diatonic, Chromatic, các dạng tiết tấu mới và ký hiệu chỉ dẫn mới
trong âm nhạc v.v… Ngoài ra, còn giới thiệu âm nhạc Dodecaphone, âm nhạc Serialitaet, âm nhạc Aleatorik, âm nhạc điện tử (Elektronische Musik), âm nhạc giảm thiểu (Minimal-Musik), âm nhạc Mikrotoene, hoà âm nhạc Jazz.
Giáo trình này tôi được học từ những năm 1997-1998 tại Hoch Schueler FuerMusik Koeln Khi học về phần hoà âm thế kỷ XX, chúng tôi được tiếp cận
bằng cách nghe nhiều các tác phẩm hiện đại (Neuer Musik), nhìn các bản phổ
rất lạ và trực tiếp được thầy giáo chuyên ngành người Đức - Johannes Fritsch(1941-2010) giảng chi tiết về tác phẩm hiện đại và thường xuyên được tiếpcận nghe thực tế tại Feedback Studio của Thầy Đôi khi tôi được đi nghe
những buổi hoà nhạc Neuer Musik của nhạc sĩ Đức nổi tiếng thời bấy giờ là
Karlheinz Stockhausen (1928-2007) Và đặc biệt tôi đã được tham dự Festival
âm nhạc mới (Neuer Musick Festival) tổ chức tháng 4 năm 1998 tại thành phố
Darm Staad - CHLB Đức
Cuốn Hoà âm lãng mạn đương đại thông qua chuỗi 12 âm Contemporary Harmony Romanticism through the Twelve - Tone Row của Ludmila Ulehla (copyright 1994 by Advance Music), gồm
-534 trang, chia làm sáu phần, trong đó có 22 chương Tác giả đã đề cập cácvấn đề như sau: Phần thứ nhất là ảnh hưởng của âm nhạc những năm 1900,gồm bảy chương được giới thiệu về cấu trúc của tiết tấu và giai điệu(Rhythmic and melodic structure), sự hợp nhất quãng (Intervallic unity), sựphát triển hòa âm (Harmonic growth), chi tiết liên quan hợp âm chín (Detailconcerning the ninth chord), hợp âm mười một và mười ba (Eleventh andthirteenth chords), những hợp âm có nốt dẫn (Leading-tone chords), sự vậndụng ngôn ngữ hiện đại (Modern application) Phần thứ hai về âm nhạc Ấntượng: ảnh hưởng của điệu thức thời trung cổ (Modal influence), ảnh hưởngcủa điệu thức trong hòa âm (Influence of modes on harmony), chuyển động
Trang 25giai điệu không giới hạn của tất cả hợp âm (Unrestricted melodic movement
of all chord members)
- Trong cuốn Hoà âm điệu tính với phần giới thiệu về âm nhạc thế kỷ XX
- Tonal Harmony with an introduction to twentieth-century music do Stefan
Kostka & Dorothy Payne biên soạn (Nhà xuất bản Mc Graw Hill, 2004) dày
669 trang, bao gồm 28 chương, giới thiệu các vấn đề cơ bản về hòa âm như cấutạo hợp âm ba, hợp âm bảy chính và phụ ở thể nguyên vị và các thể đảo, cácdạng kết, âm ngoài hợp âm, biến âm, chuyển điệu Diatonic, cấu trúc hình thứchai phần & ba phần, pha trộn điệu thức (Mode Mixture), hợp âm bậc hai giángNapolitan, hợp âm bậc sáu tăng, chuyển điệu đẳng âm (EnharmonicModulation), hòa âm điệu tính nửa sau thế kỷ XIX (Tonal Harmony in the LateNineteeth Century) Trong chương cuối, tác giả đã viết dài 80 trang, giới thiệu
về hòa âm thế kỷ XX Trong phần này tác giả có đề cập đến xu hướng mở rộngcấu trúc hợp âm chín, mười một, mười ba (trang 482-484), các chồng âm xếpquãng hai, quãng bốn và Cluster (trang 488-491) v.v…
- Trong cuốn bài tập thực hành cho quyển “Tonal Harmony with an introduction to twentieth-century music” tái bản lần thứ năm, do Stefan
Kostka & Dorothy Payne biên soạn (Nhà xuất bản Mc Graw Hill, 2004).Cuốn sách dày 330 trang có kèm đĩa CD là những bài tập luyện nghe Có mộtchương dài 80 trang giới thiệu về hòa âm thế kỷ XX và 44 trang (từ 279 đếntrang 321) là phần bài tập phối thực hành “Workbook” và cả bài tập phân tích
về hoà âm thế kỷ XX Trong cuốn sách này tác giả đã đề cập đến một số điệuthức, các chồng hợp âm, chuỗi âm thanh, đa nhịp, đa tiết tấu đã được các nhạc
sỹ thế kỷ XX sử dụng như: Claude Debussy, Maurice Ravel, Paul Hindemith,Igor Stravinsky, Béla Bartók, Darius Mihaud, Aeron Copland
- Cuốn sách Học từ các bậc thầy - Learn from the Masters - Classical Harmony Text book) của Sten Ingelf (Copyright 2010 - Nhà xuất bản Sting
Trang 26Music) Sách này được dùng phổ biến không chỉ ở Thụy Điển mà ở các nướckhối Bắc Âu (Scandinavia) Nội dung của cuốn sách rất đa dạng và phươngpháp tiếp cận hòa âm cũng khác với các sách mà Học viện đang dùng Trongcuốn này có 222 trang, bao gồm bảy chương được sắp xếp như sau: Chươngmột giới thiệu các hợp âm ba, hợp âm bảy át trong giọng trưởng và thứ, quãngthuận quãng nghịch, các nốt ngoài hợp âm, tiết tấu hòa âm, các dạng kết tronggiọng trưởng và thứ, cách sử dụng hợp âm kết V6/4 - 5/3 Chương hai đề cậpđến các hợp âm ba phụ, hợp âm bảy phụ, chức năng hòa âm, cách sử dụng cácdạng hợp âm phụ trong kết Chương ba là các hợp âm đảo: hợp âm ba đảomột và đảo hai, hợp âm bảy đảo một, đảo hai và đảo ba, âm nền pedal.Chương bốn giới thiệu thêm các hợp âm trong giọng thứ: hợp âm bậc II, hợp
âm át phụ, hợp âm chín, kết trong giọng thứ Chương năm là giới thiệu hòa
âm mở rộng trong giọng trưởng và thứ, các hợp âm bảy, nối tiếp vòng quãngnăm, kết ngắt (Deceptive cadence), nhắc lại ở kết (Repeated ending), sự phatrộn trong giọng trưởng / thứ (Mixture in a major / minor keys), những hợp
âm sử dụng bậc VI# trong giọng thứ (Chords using the sharpened 6th degree in
a minor key), quan hệ trung gian giữa Diatonic và Chromatic (Diatonic andChromatic mediant relationships) Chương sáu giới thiệu các hợp âm biến âm
và điệu tính mở rộng (Extended / Altered Chords and Extended Tonality), hợp
âm bậc hai giáng đảo một (The Neapolitan 6th - flatten 2nd degree of the scale),hợp âm chín át D9 (The dominant 9th chord), hợp âm biến âm có âm năm tăng(Altered chords - the augmented 5th), hợp âm biến âm bậc năm giáng và bậcchín giáng (Altered chords - lowered 5th and 9th), hợp âm át phụ (Sub V7/V),hợp âm mười một và mười ba thiếu âm chín (11th and 13th chords without 9th -Vsub 6th, hợp âm chín mở rộng (Expanded nondominant chords), hợp âmmười một và mười ba có âm chín (11th and 13th chords with a 9th), hợp âm dẫn(Leading note chords), hợp âm bảy giảm (Diminished triad/th chord), chuyển
Trang 27điệu Diatonic (Diatonic modulation), chuyển điệu Chromatic (Chromaticmodulation), các dạng chuyển điệu khác (Other types of modulation) Chươngbảy là chương duy nhất đề cập về hòa âm thế kỷ XX, hợp âm chồng quãngbốn, quãng năm (Quartal and quintal harmony), hòa âm Modal (Modalharmony), hòa âm Modal và các thang âm điệu thức (Modal harmony andscales), điệu thức toàn cung (Whole-tone scales), các điệu thức tổng hợp(Synthetic scales), các điệu thức bắt nguồn từ âm nhạc dân gian ba âm, bốn
âm, năm âm và sáu âm (Scales derived from folk music including tri-, tetra-,penta- and hexatonic), đa điệu tính - đa hợp âm (Polytonality - Polychords),những hợp âm chồng quãng hai (Superimposed seconds), những hợp âm thêmnốt (Chords with added notes), kỹ thuật mười hai âm (Twelve-tonetechnique), Twelve-tone - Tonal serialism Giáo trình hoà âm này chúng tôiđược GS.Sten Ingelf đã chọn lọc giới thiệu phần hoà âm thế kỷ XX thông quanhững lần giáo sư sang giảng dạy tại HVANQGVN từ những năm 2001,
2003, 2005 và tiếp sau đó từ những năm 2006 đến 2009 tôi và một số đồngnghiệp trong khoa Kiến thức Âm nhạc và Khoa Sáng tác - Lý luận – Âm nhạchọc được sang học tập tại Học viện Âm nhạc Malmo Thuỵ Điển trong chươngtrình Hợp tác trao đổi Văn hoá Việt Nam - Thuỵ Điển do Quĩ Sida tài trợ
Ngoài ra, chúng tôi đã trao đổi, thảo luận với các giáo sư quốc tế (làmviệc trực tiếp hoặc qua thư điện tử) về những vấn đề tiếp cận với ngôn ngữ âmnhạc hiện đại, giảng dạy tác phẩm đương đại và những nghiên cứu về hoà âmthế kỷ XX vẫn đang được thực hiện một cách tích cực nhằm tìm ra được cáchtiếp cận sao cho phù hợp với trình độ của sinh viên HVANQGVN
Những cập nhật này thôi thúc chúng tôi muốn được chia sẻ kiến thứccùng các sinh viên và đồng nghiệp của mình tại HVANQGVN
1.2.2 Tình hình nghiên cứu ở trong nước
Môn hoà âm đã và đang được dạy ở HVANQGVN, được gọi là phần
Trang 28“Hoà âm cổ điển”, chủ yếu dựa theo sách giáo khoa Hoà âm của bốn tác giảNga I.Đubôpxki, X.Epxeep, I.Xpaxobin, V.Xôcolop, do Lý Trọng Hưng dịch.Phần nội dung chuyển tải hết phần điệu thức Diatonic, hệ thống biến âm,chuyển điệu cấp I, II, III và chuyển điệu đẳng âm bằng hợp âm bảy dẫn giảm,bằng hợp âm bảy át, hợp âm ba tăng, hợp âm bậc VI giáng, hợp âm bậc IIgiáng Napoliten và chuyển điệu giai điệu hoà thanh Sách đã trích những ví
dụ minh hoạ chủ yếu được lấy từ những tác phẩm thuộc thế kỷ XVIII - XIX.Tuy nhiên, phần lý thuyết hòa âm thế kỷ XX chưa được đưa vào chương trìnhgiảng dạy chính thức cho sinh viên bậc đại học của HVANQGVN nên gặp rấtnhiều khó khăn cho sinh viên khi chơi những tác phẩm đương đại và càng bỡngỡ hơn khi tham gia vào chương trình biểu diễn hòa tấu giao lưu với nhiềutrường bạn trên thế giới
Ở Việt Nam, cuốn Giáo trình hoà thanh (Bậc đại học) của Phạm Minh
Khang (2005) có giới thiệu ở chương IV “Sơ khảo sự hình thành và phát triển một số thủ pháp hoà âm trong âm nhạc thế kỷ XX ” do Trung tâm thông tin -
Thư viện âm nhạc xuất bản, bao gồm 115 trang được dùng giảng dạy ở bậccao học của Học viện Trong chương này tác giả đưa ra một số nhận xét tổng
quan chung về ngôn ngữ âm nhạc thời kỳ này và giới thiệu đôi nét về phong cách hoà âm của một số nhạc sĩ thế kỷ XX [24/tr.251] Đó là các nhạc sĩ
Claude Debussy (1862-1918), Alexander Scriabin (1872-1915), MauriceRavel (1875-1937), Béla Bartók (1881-1945), Sergei Prokofiev (1891-1953),Paul Hindemith (1895-1963), Dimitri Schostakovich (1906-1975) Đây làđiểm mấu chốt để các nhà chuyên môn tiếp tục bổ sung và hoàn thiện chươngtrình giảng dạy hoà âm thế kỷ XX cho HVANQGVN
Ngoài ra, còn có một số luận văn, luận án cũng đã đề cập đến một sốkhía cạnh hoà âm thế kỷ XX có liên quan đến đề tài luận án và đều trở thànhnguồn tư liệu quí giúp chúng tôi trong quá trình nghiên cứu, chẳng hạn như:
Luận án Phó Tiến sĩ nghệ thuật của Đào Trọng Minh “Những vấn
Trang 29đề về cấu trúc của ngôn ngữ hòa âm” bảo vệ năm 1990 Ở chương một của luận án với tiêu đề: “Ngôn ngữ hoà âm và sự phân chia hệ thống ngôn ngữ hoà âm”, tác giả luận án có đưa ra một số vấn đề về hoà
âm hiện đại (TK XX) với các phần: Hoà âm nhiều tầng, hoà âm đa công năng, hoà âm đa điệu thức, hoà âm chromatic, hoà âm hỗn hợp v.v…
- Luận án Tiến sĩ Nghệ thuật âm nhạc của Phạm Phương Hoa (2010),
Những thủ pháp sáng tác trong một số trường phái âm nhạc thế kỷ XX Ở
chương 2 của luận án, tác giả Phạm Phương Hoa có đưa ra một số nhận định
về điệu thức ở thế kỷ XX đó là: “Sự chuyển dịch từ âm nhạc có điệu tính đến
âm nhạc không điệu tính” với việc kết hợp nhiều dạng điệu tính với nhau trong một tác phẩm [92/Tr.42].
Ngoài ra, tác giả luận án có đưa ra một số dạng điệu thức khác như:
Điệu thức toàn cung, các điệu thức chuyển dịch có giới hạn, âm nhạc không
có điệu tính - Atonal, âm nhạc Dodecaphone, âm nhạc Serie toàn phần
[92/Tr.49-53]
Phần hoà âm thế kỷ XX, luận án của Phạm Phương Hoa có đưa ra các
vấn đề: Sử dụng các hợp âm nghịch, các dạng hợp âm nghịch dưới dạng thêm bớt âm, thủ pháp chồng hợp âm, thủ pháp chồng quãng, sử dụng hợp âm hoặc chồng âm song song [92/Tr.60-65]
Trang 30- Luận án của Vũ Tú Cầu (2017), Thủ pháp hoà âm trong
tác phẩm giao hưởng Việt Nam sau năm 1975 Tác giả đã tìm
hiểu nhiều tác phẩm giao hưởng Việt Nam đã vận dụng cácthủ pháp hoà âm hiện đại như đa điệu tính, đa điệu thức, đatầng, hợp âm - chồng âm song song, kỹ thuật sáng tácDodecaphone, âm nhạc không có điệu tính, sử dụng các hợp
âm chồng quãng bốn, hợp âm chồng quãng hai hay chồng âm
có quãng nửa cung Chromatic [89/chương 2/tr.52-102]
Ngoài ra, tham khảo thêm các luận văn cao học chuyên ngành âm nhạchọc như:
- Luận văn của Nguyên Vũ bảo vệ năm 1999, Tìm hiểu ngôn ngữ hoà
âm qua một vài tác phẩm khí nhạc tiêu biểu của nhà soạn nhạc Đàm Linh Tác giả Nguyên Vũ đã điểm qua những hợp âm sắp xếp theo quãng 3 (hợp
âm 3, hợp âm 7, hợp âm 9); chồng âm sắp xếp theo quãng 4 (4 đúng hoặc 4 tăng); chồng âm trong đó nổi lên vai trò của quãng 2, quãng 7 (2T, 2t, 7T, 7t); chồng âm trong đó bao gồm toàn bộ chuỗi 12 âm Chromatic [88/Tr.95].
- Luận văn của Nguyễn Mỹ Hạnh (2000), Tìm hiểu sự liên kết giữa hoà
âm và phức điệu trong một số tác phẩm khí nhạc Theo tác giả thì sự kết hợp giữa hoà âm và phức điệu là xu thế phát triển chung của âm nhạc hiện đại Châu âu v.v….[80/Tr.5] Được thể hiện ở các phương thức: Đối âm hai bè trên cơ sở phần đệm hoà âm, tăng cường quãng và hợp âm vào giai điệu, phức tạp hoá các bè hoà âm bằng các âm ngoài hợp âm, phức tạp hoá tiết tấu các bè (đa tiết tấu), mở rộng cấu trúc hợp âm, dùng đa điệu tính, đa hoà âm.
[80/Tr.69-88]
- Luận văn của Phạm Nghiêm Việt Anh (2007), Hoà thanh - Phức điệu trong tác phẩm khí nhạc của nhạc sĩ Ca Lê Thuần Tác giả đã đưa ra một số dạng cấu trúc hay gặp trong các tác phẩm của nhạc sĩ Ca Lê Thuần: Sử dụng
Trang 31những chồng âm quãng 3 theo kiểu hợp âm ba, hợp âm bảy; các chồng âm theo quãng 2, quãng 4 đúng và quãng 5 đúng [79/Tr.59]
- Luận văn của Nguyễn Thanh Nhã (2015), Hoà thanh - Phức điệu trong giao hưởng của nhạc sĩ Vĩnh Cát Trong chương II - Các thủ pháp hoà
âm, tác giả đã đưa ra một số dạng cấu trúc chồng âm - hợp âm: chồng quãng
ba tạo ra hợp âm ba trưởng, ba thứ, ba tăng, hợp âm bảy, chín, mười một, mười ba [84/tr.43], hợp âm chồng quãng 2 [84/tr.49]; chồng âm gồm các âm của điệu thức 5 âm [84/tr.53].
- Luận văn của Đặng Huyền Trang (2015), Phân tích ba bản sonata cho Violon và Piano của nhạc sĩ Nguyễn Văn Quì Trong đó, tác giả đã đưa ra một số dạng cấu trúc chồng âm quãng bốn và chồng âm kết hợp quãng 2 với quãng 4, quãng 5 với quãng 2 hay quãng 4 với quãng 3 Bên cạnh đó còn có chồng âm tự do chứa quãng chromatic [86/tr.71].
Chúng tôi nhận thấy về sách giáo khoa hoà âm ở Việt Nam chủ yếu vẫn
đề cập các kiến thức hoà âm cổ điển, thiếu hẳn phần hoà âm thế kỷ XX
Ở Việt Nam nói chung và HVANQGVN nói riêng, chưa áp dụngchương trình giảng dạy hoà âm thế kỷ XX cho sinh viên đại học
Do vậy, việc nghiên cứu “Bổ sung một số đặc điểm hoà âm thế kỷ XX vào chương trình giảng dạy tại Học viện Âm nhạc Quốc gia Việt Nam” được
đặt ra là một vấn đề cấp thiết và có hướng ứng dụng thiết thực
1.3 Thực trạng dạy hoà âm ở HVANQGVN
1.3.1 Môn hoà âm trong quá trình phát triển từ Trường Âm nhạc Việt Nam đến HVANQGVN ngày nay
Cách đây hơn 60 năm, Trường Âm nhạc Việt Nam đã ra đời (1956)đánh dấu một sự kiện lớn trong đời sống âm nhạc Việt Nam lúc bấy giờ
Vào giữa năm 1955, với bảy cán bộ đầu tiên tách ra từ Ban Nhạc vũ trung ương thuộc Hội Văn nghệ Việt Nam là Tạ Phước, Lê Yên, Tô Vũ, Thái
Trang 32Thị Liín, Vũ Tuấn Đức, Doên Mẫn vă Lều Thọ Hợp để chuẩn bị cho việcthănh lập Trường Đm nhạc Việt Nam Sau đó có thím một số nhạc sĩ như: LêHữu Quỳnh, Phạm Văn Chừng, Phạm Huy Quỳ, Hoăng Dương, Đăo Trọng
Từ v.v cùng tham gia
Giữa năm 1956, Bộ Văn hoâ đê ra quyết định thănh lập Trường Đmnhạc Việt Nam vă cử nhạc sĩ Tạ Phước lăm hiệu trưởng Đến thâng 9 năm
1956 Trường khai giảng khoâ trung cấp đầu tiín
Những ngăy đầu mới thănh lập, với đội ngũ giảng viín còn quâ ít ỏi,trình độ chuyín môn của họ phần lớn lă tự học, không được đăo tạo một câchchính quy, băi bản Với số giảng viín không đầy đủ câc chuyín ngănh, cơ sởvật chất từ trường, lớp đến câc nhạc cụ vă sâch giâo khoa đm nhạc còn rấtnghỉo năn, thiếu thốn nhưng với lòng yíu nghề vă ý chí quyết tđm cao, câcgiảng viín của trường đê bắt đầu khai giảng khoâ trung cấp đầu tiín
Bín cạnh câc giảng viín dạy nhạc cụ như: bă Thâi Thị Liín dạyPiano, ông Phạm Ngữ dạy Guitar, ông Vũ Thuận dạy Accordion v.v…, phụtrâch môn xướng đm lă ông Tạ Phước vă ông Doên Mẫn Ông Lí Yín vẵng Tô Vũ dạy lý luận vă sâng tâc.2
Đối với câc môn kiến thức đm nhạc như hoă đm, phức điệu, phđn tíchtâc phẩm, hình thức v.v… lúc đó chưa có chương trình, giâo trình vă giảngviín phụ trâch
Khi chúng tôi trao đổi với nhạc sĩ Vĩnh Cât, một trong những học sinhsâng tâc khoâ đầu tiín của trường, ông cho biết: Người dạy hoă đm đầu tiíncủa trường lúc bấy giờ lă nhạc sĩ Lí Yín Tuy nhiín khi lín lớp, nhạc sĩ LíYín chủ yếu hướng dẫn học sinh những kiến thức dịch từ cuốn sâch giâokhoa hoă đm của tâc giả Phâp Dubois Lavignac vă trao đổi về những kinh
2 Theo lời kể của ông Lê Hữu Quỳnh nguyín hiệu phó vă bí thư Đảng uỷ của nhă trường lúc bấy
giờ đăng trín Thông tin khoa học đm nhạc của Nhạc viện Hă Nội nhđn dịp kỷ niệm 30 năm ngăy
thănh lập trường.
Trang 33nghiệm sáng tác của bản thân Các buổi lên lớp lúc đó gần với hình thức traođổi, mạn đàm giữa thầy và trò Những kiến thức âm nhạc khác như phối khí,hình thức v.v… do một số chuyên gia nước ngoài giúp đỡ như Bela Rútxep(Liên Xô cũ), Thẩm Lệ Hồng (Trung Quốc) v.v…
Năm 1959, lớp trung cấp âm nhạc đầu tiên do nhà trường đào tạo đã tốtnghiệp Nhà trường đã giữ lại một số học sinh xuất sắc để bổ sung cho độingũ giảng viên của trường Trong số học sinh khoá đầu tiên được giữ ở lạitrường có nhạc sĩ Hồng Đăng và nhạc sĩ Vĩnh Cát Nhạc sĩ Vĩnh Cát được cửdạy môn Lý thuyết âm nhạc cơ bản và môn Xướng âm Nhạc sĩ Hồng Đăngđược cử dạy môn Hoà âm và Tính năng nhạc cụ 3
Khi trao đổi với nhạc sĩ Hồng Đăng, chúng tôi được biết, để có thể dạyđược các môn do nhà trường phân công lúc bấy giờ, với tinh thần ham họchỏi các anh đã phải tự tìm hiểu theo các sách giáo khoa âm nhạc của Pháp,
của Nga như cuốn Sách giáo khoa hoà âm thực hành của Rimsky-Korsakov
do Nguyễn Lương Hồng dịch và được nhà xuất bản âm nhạc ấn hành năm
1961 và sau này là một số sách của Trung quốc, Liên xô khác
Chương trình dạy hoà âm lúc bấy giờ chủ yếu là những kiến thức hoà
âm cổ điển Phương Tây và đưa vào giảng dạy ở trình độ trung cấp 4
Năm 1964, do yêu cầu của tình hình chính trị - xã hội, các sinh viênViệt Nam đang học âm nhạc tại các Nhạc viện ở nước ngoài, chủ yếu là cácnước XHCN phải về nước Được cử về Trường Âm nhạc Việt Nam lúc đó cócác nhạc sĩ thuộc chuyên ngành Sáng tác - Lý luận như: Tú Ngọc, NguyễnĐình Tấn, Nguyễn Xinh, Ca Lê Thuần
Mặc dù phần lớn các nhạc sĩ về nước lúc bấy giờ đều chưa tốt nghiệpđại học, thêm vào đó, đây là giai đoạn mà cuộc chiến tranh phá hoại củakhông quân Mỹ ở miền Bắc đang bước vào giai đoạn rất khốc liệt, nhưng vớilòng nhiệt tình, mong muốn xây dựng Trường Âm nhạc Việt Nam ngày càng
3 Trao đổi với nhạc sĩ Vĩnh Cát ngày 26 tháng 2 năm 2018 tại nhà riêng của nhạc sĩ.
4 Cuộc trao đổi với nhạc sĩ Hồng Đăng ngày 28 tháng 1 năm 2018 tại nhà riêng của nhạc sĩ.
Trang 34chính quy, cập nhật với trình độ các trường âm nhạc trong khu vực, ở nơi sơtán Xuân Phú - Bắc Giang, họ đã bắt tay vào giảng dạy và cùng các giảngviên cũ của trường xây dựng các chương trình, giáo trình cho các môn kiếnthức âm nhạc một cách bài bản.
Là người được đào tạo chuyên sâu về chuyên ngành Hoà âm - Phứcđiệu, nhạc sĩ Ca Lê Thuần đã có công rất lớn trong việc xây dựng chươngtrình của hai môn học này ở Trường Âm nhạc Việt Nam lúc bấy giờ
Đối với môn Hoà âm, nhạc sĩ Ca Lê Thuần vừa là người xây dựngchương trình, viết giáo trình và bắt tay vào giảng dạy cho chuyên ngànhSáng tác - Chỉ huy trình độ đại học Đến năm 1968, khi chuyên ngành Lýluận được thành lập, ông còn là giảng viên dạy môn Hoà âm cho các sinhviên chuyên ngành Lý luận những khoá đầu như: Tú Hương, Thuỵ Loan,Đào Trọng Minh v.v… Các học sinh chuyên ngành của ông sau này đã tiếpnối là các giảng viên dạy hoà âm trong các Nhạc viện, các trường âm nhạc
ở Việt Nam
Chương trình môn Hoà âm do nhạc sĩ Ca Lê Thuần biên soạn chủ yếudựa vào chương trình của các nhạc viện ở Liên Xô (cũ) thời bấy giờ Tuynhiên khi biên soạn nhạc sĩ có thay đổi một số điểm để phù hợp với trình độcũng như điều kiện thiếu thốn về vật chất như sách giáo khoa, sách phân tích,sách bài tập hoà âm trên đàn v.v… của Việt Nam giai đoạn đang chiến tranh
Nội dung chương trình chủ yếu trình bày các kiến thức của hoà âm thời
kỳ cổ điển Phần hoà âm thế kỷ XX chưa được đưa vào chương trình Thầy
Ca Lê Thuần chỉ đưa vào dạy một số nét khái quát về hoà âm giai đoạn nửasau thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX như một dạng semine.5
Sau năm 1975, nhạc sĩ Ca Lê Thuần chuyển vào công tác tại Nhạc việnThành phố Hồ Chí Minh, môn Hoà âm của các lớp lý luận, sáng tác và chỉ
5 Trao đổi với giảng viên PGS.TS Phạm Tú Hương
Trang 35huy do cô Thuỵ Loan và thầy Minh Khang phụ trách Với các lớp hoà âm củacác ngành biểu diễn do cô Tú Hương đảm nhiệm.
Nội dung, chương trình môn Hoà âm lúc bấy giờ vẫn theo chương trình
do nhạc sĩ Ca Lê Thuần biên soan Ở giai đoạn này, ngoài các dạng bài tậpviết, các thầy đã bổ sung những dạng bài tập phân tích Trong giờ lên lớp, cácthầy đã cố gắng làm phong phú thêm nội dung bài giảng bằng cách giới thiệunhững tìm tòi của bản thân về hoà âm trên cơ sở điệu thức ngũ cung với tínhchất giới thiệu, gợi mở Tuy nhiên các kiến thức này chưa được các thầy côtổng kết và viết thành những công trình nghiên cứu Do vậy cho đến nay cáckiến thức hoà âm được dạy trong HVANQGVN vẫn chủ yếu là hoà âmphương Tây ở giai đoạn Cổ điển
Đến phần cao học, các khoá đào tạo trước đây được học môn Lịch sửhoà âm thế kỷ XX do nhạc sĩ Phạm Minh Khang giảng dạy có giới thiệu đôinét về phong cách hoà âm của một số nhạc sĩ thuộc trường phái âm nhạc nửađầu thế kỷ XX Chẳng hạn, khoá cao học của chúng tôi năm 2003-2006, do
GS.TS Phạm Minh Khang giới thiệu Đôi nét về phong cách hoà âm của một
số nhạc sĩ thế kỷ XX 6
Sau này trường có mời một số chuyên gia nước ngoài sang giảng dạycho các lớp cao học giới thiệu về ngôn ngữ hoà âm thế kỷ XX Ví dụ như cácchuyên gia đến từ CHLB Đức: GS Bernd Asmus đến từ Trường Âm nhạc vàNghệ thuật Stugatt - Hochschule fuer Musik und Darstellende Kunst Stuttgart,GS.TS.Bernhard Wulff đến từ Học viện Âm nhạc Freiburg - Hocchschulefuer Musik Freiburg, hay Nhạc sĩ Phan Quang Phục đến từ Hoa Kỳ - TrườngĐại học Indiana - Indiana University at Bloomington hay trong giờ học vềHoà âm thế kỷ XX của GS Sten Ingel và GS Staffan Storm đến từ Học viện
Âm nhạc Malmo Thuỵ Điển từ những năm 2001, 2003, 2005.v.v…[PL8.2].Thông qua đó học viên được cập nhật một số ngôn ngữ hoà âm mới thông quacác tác phẩm âm nhạc đương đại
6 [Phạm Minh Khang /Giáo trình viết tay của tác giả năm 2000/tr.251]
Trang 36Như chúng tôi đã trình bày ở trang 17, năm 2005, GS.TS.Phạm Minh
Khang có biên soạn cuốn Giáo trình thanh (Bậc đại học) Đây là cuốn giáo
trình hoà âm mà trong đó có một chương tác giả giới thiệu những nét khái
quát của một số thủ pháp hoà âm trong âm nhạc thế kỷ XX
Mặc dù đã có cuốn giáo trình này nhưng trong thực tế do nhiều nguyênnhân, phần hoà âm thế kỷ XX cũng chưa được đưa vào giảng dạy
Hiện tại tổ Hòa âm - Lý thuyết - Phức điệu có năm giảng viên cơ hữu
và hai cộng tác viên với việc giảng dạy ba môn: Lý thuyết âm nhạc, Hoà âm
và Phức điệu, ở cả hệ trung cấp và đại học Giờ chuẩn mỗi giảng viên phảidạy là 16 tiết mỗi tuần (tương đương dạy 8 lớp) Hầu hết các giảng viên đềudạy vượt giờ chuẩn qui định
Các môn học mà tổ được phân công giảng dạy đều là những môn kiếnthức cơ bản âm nhạc và là nền tảng cho mỗi cấp học tại HVANQGVN
Đội ngũ giảng viên nhiệt tình, tâm huyết và luôn luôn có ý thức trau dồiphát triển chuyên môn, hiện tại đang có 3/5 giảng viên cơ hữu đang tiếp tụctheo học lớp nghiên cứu sinh tại HVANQGVN
Ngoài ra, các giảng viên còn tham gia viết các bài nghiên cứu khoa họchoặc tham gia các lớp học chuyên gia nước ngoài sang Học viện giảng dạy
Hiện nay việc giảng dạy môn Hoà âm tại HVANQGVN được phân chiatheo chương trình và giáo trình giảng dạy dưới đây
1.3.2 Chương trình và giáo trình
1.3.2.1 Chương trình
Theo báo cáo của tổ Hoà âm - Lý thuyết trong buổi Hộithảo ngày 10 tháng 3 năm 2016 nhân dịp kỷ niệm 60 nămthành lập HVANQGVN Môn hoà âm được đào tạo từ trình độtrung cấp, dành cho tất cả các chuyên ngành: Trung học 7/9 choPiano+Dây (Violin, Viola); Trung học 5/7 cho Dây (Cello+Contrbass),Acordeon, Guitare, E.Keyboard, Jazz; Trung học 4/6 cho Nhạc cụ Truyền
Trang 37thống; Trung cấp 2/4 cho Thanh nhạc, Sáng tác - Chỉ huy - Âm nhạc học
Ở trình độ này các em được tiếp cận với các kiến thứchoà âm Cổ điển từ những khái niệm cơ bản về hợp âm, hoà
âm bốn bè đến các hợp âm trong hệ thống chức năng đầy đủcủa điệu thức bảy âm trưởng thứ
Được phân chia thành hai khung chương trình đào tạonhư sau:
Đối với trình độ trung cấp
Chia thành hai nhóm ngành đào tạo phù hợp với các đốitượng học: Lớp hoà âm trung cấp biểu diễn và lớp hoà âmtrung cấp Âm nhạc học - Sáng tác - Chỉ huy Chương trình hoà
âm trung cấp đều được bắt đầu học từ năm trung cấp hai (gọitheo cách phân hệ đào tạo trước đây) và được học hoà âmtrong một năm, bao gồm hai học kỳ, tương đương hai tiết/1tuần/90 phút, với tổng số là 28 tuần học và thi, tương đương
56 tiết Riêng lớp hoà âm trung cấp Sáng tác - Chỉ huy - Âmnhạc học, môn Hoà âm được chia thành hai môn học: Hoà âm
lý thuyết kéo dài bốn học kỳ, học năm thứ hai và thứ ba,tương đương 112 tiết/1 năm và Hoà âm trên đàn hai học kỳ,học năm thứ ba, tương đương 84 tiết/1 năm
Nội dung chương trình môn Hoà âm hệ trung cấp chuyênngành biểu diễn được trình bày ở phần phụ lục [PL2.1]
Học kỳ thứ nhất được bắt đầu ngay từ học kỳ I năm thứ hai Trong học
kỳ này sẽ giới thiệu các hợp âm ba chính ở thể gốc và thể đảo v.v… Kết thúchọc kỳ I được dừng lại ở hợp âm bảy át và các thể đảo của nó, nội dung chitiết đã được đề ra trong [PL2.1] Thực hành ba dạng phối hoà âm bốn bè nhưphối hoà âm công năng, phối hoà âm giai điệu và phối hoà âm bè trầm
Trang 38Thi học kỳ I dưới hình thức bài viết Học sinh được yêu cầu phối hoà
âm cho công năng một bài kiểm tra dài tám nhịp 2/4
Học kỳ thứ hai được tiếp tục học vào kỳ hai của năm thứ hai Nội dungchi tiết sẽ giới thiệu các hợp âm phụ như: Hợp âm SII, SII7, TSVI, DVII7,DTIII; Hợp âm chín át (D9) và hợp âm chín hạ át (SII9); Điệu thứ tự nhiên,vòng Frigien và mô tiến Diatonic v.v… Và song song là phần thực hành phântích hòa âm các kiến thức đã được học trong hai kỳ hoà âm lý thuyết trên.[PL2.1]
Thi kết thúc môn Hoà âm trình độ trung cấp biểu diễn, yêu cầu phốihoà âm công năng một bài gồm tám nhịp 3/4 và một bài phân tích hoà âm vớitổng hợp kiến thức đã học trong cả năm
Riêng đối với lớp chuyên ngành Sáng tác - Chỉ huy - Âmnhạc học hệ trung cấp, môn Hoà âm lý thuyết kéo dài thêmhai học kỳ vào năm thứ ba (học kỳ thứ ba và học kỳ thứ tư),tổng cộng là bốn học kỳ [PL2.2]
Nội dung chi tiết học kỳ thứ ba khái quát các hợp âm Diatonictrong các điệu thức trưởng - thứ tự nhiên và hòa âm; Giới thiệu nhóm hợp âm
át kép (DD trong điệu trưởng - thứ), nhóm át kép trong kết, nhóm át képtrong cơ cấu, nhóm át kép hóa Thực hành phối và phân tích hòa âm trong tácphẩm
Thi học kỳ thứ ba yêu cầu một bài phối hoà âm cho giai điệu, dài 8nhịp ¾ Trong bài có áp dụng các kiến thức về hợp âm át kép ở giữa cơ cấu vàtrong các vòng kết
Tiếp theo là nội dung chi tiết của học kỳ thứ tư: Giới thiệu các hìnhthức ly điệu (chuyển giọng tạm); Các hình thức chuyển điệu; Chuyển điệubằng công năng cấp I từ giọng gốc là trưởng; Chuyển điệu bằng công năngcấp I từ giọng gốc là thứ Thực hành phối hoà âm cho giai điệu và cho bè trầm
Trang 39và thực hành phân tích hòa âm trong các tác phẩm.
Thi kết thúc môn Hoà âm trình độ trung cấp lớp Sáng tác - Chỉ huy
- Âm nhạc học sẽ yêu cầu sinh viên phối bài hoà âm cho giai điệu, là mộtđoạn nhạc gồm hai câu, trong đó có sử dụng ly điệu và chuyển điệu Yêu cầunày được áp dụng cả trong bài thi phân tích hoà âm
Đối với trình độ đại học
Chương trình hoà âm bậc đại học cũng được phân theohai dạng đối tượng đào tạo giống ở bậc trung cấp, đó làchuyên ngành biểu diễn và chuyên ngành Sáng tác - Chỉ huy -
Âm nhạc học, nhưng số tiết học được kéo dài hơn một tuần /cho mỗi học kỳ Vậy tổng số là 60 tiết trong một năm
Nội dung chương trình hoà âm đại học chuyên ngànhbiểu diễn được học hai học kỳ trong năm thứ nhất, nội dungđược học hết phần chuyển điệu cấp I giống với nội dung học
kỳ thứ ba và thứ tư của lớp trung cấp Sáng tác - Chỉ huy - Âmnhạc học [PL2.2]
Bài thi kiểm tra giữa kỳ I là phối hoà âm cho công năng,
có độ dài tám ô nhịp 3/4, bao gồm đoạn nhạc hai câu, có ápdụng nhóm hợp âm át kép trong vòng kết, nhóm át kép ở giữa cơ cấu vànhóm át kép có biến âm
Thi tốt nghiệp môn Hoà âm đối với chuyên ngành biểudiễn cũng là một bài phối hoà âm cho công năng Trong bài
có sử dụng cả ly điệu, chuyển điệu và các dạng hợp âm átkép
Tiếp theo là chương trình hoà âm đại học chuyên ngànhSáng tác - Chỉ huy - Âm nhạc học Chương trình được chiathành hai phần là môn Hoà âm (kéo dài ba học kỳ, bao gồmhọc hai học kỳ năm thứ nhất và học kỳ I năm thứ hai, tương
Trang 40đương 90 tiết / 1 năm) và môn Hoà âm trên đàn, học hai học
kỳ vào năm thứ hai, tương đương 60 tiết/1 năm) [PL2.3]
Nội dung chương trình của học kỳ thứ nhất (Học kì I năm thứ nhất) là:Khái quát các hợp âm Diatonic trong các điệu thức trưởng - tự nhiên và hòaâm; Giới thiệu nhóm hợp âm át kép (DD trong điệu trưởng), hợp âm át képtrong cơ cấu, hợp âm át kép trong kết, nhóm hợp âm át kép hóa; Giới thiệucác hình thức chuyển điệu, chuyển giọng tạm (Ly điệu); Chuyển điệu côngnăng cấp 1 từ giọng gốc là trưởng; Chuyển điệu công năng cấp 1 từ giọng gốc
là thứ; Khái quát chuyển điệu xa, quan hệ cấp II và cấp III Thực hành phối vàphân tích hòa âm trong tác phẩm
Thi học kỳ I yêu cầu phối hoà âm cho giai điệu, trong đó sử dụng cáchợp âm át kép ở giữa cơ cấu và ở trong các vòng kết
Sang học kỳ thứ hai của năm thứ nhất, tiếp tục học chuyển điệu cấp II
từ giọng gốc là trưởng; Chuyển điệu cấp II từ giọng gốc là thứ; Chuyển điệucấp III từ giọng gốc là trưởng, Chuyển điệu cấp III từ giọng gốc là thứ; Tổngquát về chuyển điệu công năng từ cấp I đến cấp III; Giới thiệu về chuyển điệuđẳng âm
Phối hợp thực hành và phân tích hòa âm, ôn tập chuyển điệu cấp I vàcấp II, thực hành sáng tác một đoạn nhạc có áp dụng chuyển điệu cấp II từgiọng gốc là trưởng hoặc thứ Thực hành sáng tác đoạn nhạc áp dụng chuyểnđiệu cấp III từ giọng gốc là trưởng hoặc thứ
Thi học kỳ II yêu cầu phối hoà âm cho giai điệu, trong đó áp dụng lyđiệu và chuyển điệu
Nội dung học kỳ thứ ba tiếp tục được kéo dài sang học kỳ I năm thứ II.Học kỳ này sẽ giới thiệu các hình thức chuyển điệu đẳng âm bằng hợp âm bảygiảm (DVII7); Chuyển điệu đẳng âm bằng hợp âm bảy át (D7); Chuyển điệuđẳng âm bằng hợp âm ba tăng (III+); Chuyển điệu hợp âm bằng hợp âm bậc