Mục đích của đề tài Nghiên cứu kỹ thuật sử dụng nguồn vật liệu tự nhiên có chi phí thấp để xử lý nước thải sinh hoạt có thành phần chất hữu cơ cao nhằm tái sử dụng để tưới cho cây trồng
Trang 1LỜI CAM ĐOAN
Tôi là Somlay LATHAVANE, tôi xin cam đoan đề tài luận văn của tôi là
do tôi làm.Những kết quả nghiên cứu là trung thực Trong quá trình làm tôi có tham khảo các tài liệu liên quan nhằm khẳng định thêm sự tin cậy và cấp thiết của đề tài Các tài liệu trích dẫn rõ nguồn gốc và các tài liệu tham khảo được thống kê chi tiết Những nội dung và kết quả trình bày trong luận văn là trung thực, nếu vi phạm tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm
Hà Nội, ngày tháng năm 2018
Tác giả
Somlay LATHAVANE
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Sau một thời gian học tập và nghiên cứu, dưới sự hướng dẫn tận tình của
PGS.TS Nguyễn Thị Hằng Nga và được sự ủng hộ động viên của gia đình, bạn bè, đồng nghiệp, cùng với sự nỗ lực phấn đấu của bản thân, tác giả đã hoàn thành đề tài:
“Nghiên cứu kỹ thuật sử dụng nước thải sinh hoạt để tưới cho cây trồng”
Trong quá trình làm luận văn, tác giả đã có cơ hội học hỏi và tích lũy thêm được nhiều kiến thức và kinh nghiệp quý báu phục vụ cho công việc của mình
Tuy nhiên do thời gian có hạn, trình độ còn hạn chế, số liệu và công tác xử lý số liệu với khối lượng lớn những thiếu sót của luận văn là không thể tránh khỏi Do đó, tác giả rất mong tiếp tục nhận được sự chỉ bảo giúp đỡ của các thầy cô giáo cũng như những ý kiến đóng góp của bạn bè và đồng nghiệp
Qua đây tác giả xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc tới TS Nguyễn Thị Hằng Nga, người đã trực tiếp tận tình hướng dẫn, giúp đỡ và cung cấp những tài liệu, thông tin cần thiết cho tác giả hoàn thành luận văn này
Tác giả xin trân trọng cảm Trường Đại Học Thủy Lợi, các thầy giáo, cô giáo Khoa kỹ thuật tài nguyên nước, các thầy cô giáo các bộ môn đã truyền đạt những kiến thức chuyên môn trong suốt quá trình học tập
Cuối cùng, tác giả xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới gia đình, bạn bè và đồng nghiệp
đã động viên, giúp đỡ và khích lệ tác giả trong suốt quá trình học tập và hoàn thành luận văn
Xin chân thành cảm ơn !
Hà Nội, ngày tháng năm 2018
Tác giả
Somlay LATHAVANH
Trang 3MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN……… i
LỜI CẢM ƠN ……….……… ii
DANH MỤC HÌNH……….……… vi
DANH MỤC BẢNG ……… vii
CÁC CHỮ VIẾT TẮT……… ix
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục đích của đề tài 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2
3.1 Đối tượng nghiên cứu 2
3.2 Phạm vi nghiên cứu 2
4 Cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu 2
4.1 Cách tiếp cận 2
4.2 Phương pháp nghiên cứu 3
4.2.1 Phương pháp điều tra thu thập số liệu và lấy mẫu nước thải 3
4.2.2 Phương pháp thí nghiệm trong phòng thí nghiệm 3
4.2.3 Phương pháp phân tích các thông số trong phòng thí nghiệm 3
4.2.4 Phương pháp đánh giá và xử lý số liệu 3
CHƯƠNG I NGHIÊN CỨU TỔNG QUAN 4
1 Tổng quan về nước thải sinh hoạt 4
1.1 Thành phần và tính chất của nước thải sinh hoạt 4
1.2 Hiện trạng nước thải sinh hoạt ở Việt Nam 7
1.2.1 Hiện trạng ô nhiễm nước thải sinh hoạt tại Việt Nam 7
1.2.2 Tình hình xử lý nước thải sinh hoạt tại Việt Nam 8
1.3 Hiện trạng nước thải tại Lào 9
1.3.1 Nước thải từ hộ gia đình: 10
1.3.2 Nước thải từ công nghiệp và các ngành dịch vụ khác 11
1.3.3 Chất lượng nước tại kênh rạch và sông ở đô thị 11
2 Tổng quan về một số kỹ thuật xử lý nước thải sinh hoạt 12
2.1 Xử lý cơ học 12
Trang 42.2 Xử lý sinh học 13
2.3.Công nghệ Phản ứng kỵ khí dạng vách ngăn ABR (Anaerobic Baffled Reactor) 13
2.4 Hệ thống xử lý nước thải bằng hồ sinh vật kết hợp nuôi cá 14
2.5 Xử lý nước thải bằng thực vật 15
3 Các chức năng của đất và các ứng dụng trong xử lý nước thải 16
3.1 Chức năng xử lý chất ô nhiễm của đất 16
3.2 Tiềm năng đất kết vón đá ong và các ứng dụng trong XLNT ở Lào 20
4 Nhu cầu dinh dưỡng của một số cây trồng ngắn ngày 23
4.1 Nhu cầu dinh dưỡng cho lúa 23
4.1.1 Nhu cầu dinh dưỡng cho lúa địa phương 24
4.1.2 Nhu cầu dinh dưỡng cho giống lúa cải tiến 24
4.1.3 Nhu cầu dinh dưỡng cho giống lúa lai 26
4.2 Nhu cầu dinh dưỡng cho ngô 27
4.3 Nhu cầu dinh dưỡng cho rau 28
5 Các nghiên cứu về sử dụng nước thải để tưới cho cây trồng 29
CHƯƠNG 2 VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 35
1 Vật liệu: 35
1.1 Cơ sở lựa chọn vật liệu……… 35
1.1.1 Đất kết von đá ong (Laterite soil) 35
1.1.2 Than hoạt tính 35
1.1.3 Đá vôi 35
1.1.4 Zeolite:……… 35
1.2 Vật liệu sử dụng trong nghiên cứu……… 35
2 Phương pháp nghiên cứu 37
2.1 Cơ sở xếp lớp hỗn hợp vật liệu 2.2 Bố trí thí nghiệm xử lý nước thải (mô hình phòng thí nghiệm) 37
2.3 Phân tích thống kê 40
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 41
1 Yêu cầu về chất lượng nước của một số loại cây trồng 41
1.1 Chất lượng nước tưới rau (Tiêu chuẩn VietGap) 41
1.2 Chất lượng nước tưới cho lúa và ngô 42
Trang 52 Kết quả xử lý nước thải tái sử dụng 43
2.1 Lấy mẫu nước thí nghiệm 43
2.2 Kết quả phân tích chất lượng nước thải đầu vào 44
2.3 Kết quả thí nghiệm xử lý nước tái sử dụng 48
2.3.1 Thay đổi pH của nước thải 48
2.3.2 Chất hữu cơ nền COD 49
2.3.3 BOD5 50
2.3.4 Nồng độ PO43- 51
2.3.5 Thay đổi độ đục trong nước 52
2.3.6 Tổng Nitơ (TN) 53
2.3.7 Tổng carbon hữu cơ (TOC) 54
2.3.8 Tổng chất rắn hòa tan (TDS) 55
2.3.9 Độ dẫn (EC) 56
2.3.10 Độ mặn 57
2.3.11 Thay đổi nồng độ Amoni (NH4+) 58
2.3.12 Kim loại nặng 59
2.3.13.Tổng vi sinh: 60
3 Đánh giá chất lượng nước sau xử lý để tưới cho cây trồng 61
3.1.Đánh giá chất lượng nước sau xử lý để tưới cho rau(theo tiêu chuẩn Việt Gap) 61
3.2.Đánh giá chất lượng nước sau xử lý để tưới lúa và cây trồng cạn (ngô, đậutương, lạc) 62
4 Đánh giá hiệu quả xử lý nước thải để tưới cây trồng 62
4.1 Hiệu quả sử dụng phân bón 62
4.2 Hiệu quả bảo vệ môi trường 66
CHƯƠNG 4 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 68
1 Kết luận 68
2 Kiến nghị 68
TÀI LIỆU THAM KHẢO 70
Trang 6DANH MỤC HÌNH VẼ
Hình 1 1 Thành phần các chất ô nhiễm trong nước thải sinh hoạt 7
Hình 1.2 Xử lý nước thải thải theo công nghệ ABR 14
Hình 1.3 Hệ thống xử lý nước thải bằng hồ sinh vật kết hợp nuôi cá 14
Hình 1.4 Hệ thống xử lý nước thải bằng công nghệ bãi lọc trồng cây 14
Hình 1.5 Mô hình xử lýnước thải bằng thực vật tại Bắc Ninh 15
Hình 1.6 Cấu trúc không gian tinh thể Montmorillonit 18
Hình 1.7 Cấu trúc không gian tinh thể Boehmit 19
Hình 1 8 Bản đồ phân bố các bazan kỷ thứ ba (vùng màu xám) ở vùng lân cận của Đông Dương (sửa đổi sau bởi Barr & MacDonald, 1981) 21
Hình 1 9 Mẫu đất kết vón đá ong tại Lào 21
Hình 1 10.Sơ đồ cấu tạo hệ thống xếp lớp đa tầng 22
Hình 2 1.Hình vẽ cột bố trí thí nghiệm 38
Hình 2 2 Sơ đồ kỹ thuật xếp lớp đất của hệ thống xử lý nước thải 39
Hình 2.3 Sơ đồ thiết kế thí nghiệm xử lý nước thải 39
Hình 3 1.Giá trị và hiệu suất xử lý pH của nước thải qua mô hình 48
Hình 3.2.Giá trị và hiệu suất xử lý COD của nước thải qua mô hình 49
Hình 3.3 Giá trị và hiệu suất xử lý BOD của nước thải qua mô hình 50
Hình 3.4.Giá trị và hiệu suất xử lý phốt phát của nước thải qua mô hình 51
Hình 3.5.Giá trị và hiệu suất xử lý độ đục của nước thải qua mô hình 52
Hình 3.6.Giá trị và hiệu suất xử lý TN của nước thải qua mô hình 53
Hình 3.7.Giá trị và hiệu suất xử lý TOC của nước thải qua mô hình 54
Hình 3.8.Giá trị và hiệu suất xử lý TDS của nước thải qua mô hình 55
Hình 3.9.Giá trị và hiệu suất xử lý EC của nước thải qua mô hình 56
Hình 3.10.Giá trị và hiệu suất xử lý độ mặn của nước thải qua mô hình 57
Hình 3.11.Giá trị và hiệu suất xử lý NH4+ của nước thải qua mô hình 58
Hình 3.12.Sự thay đổi nồng độ As của nước thải trước và sau khi xử lý (mg/L) 59
Hình 3.13.Sự thay đổi nồng độ Cd của nước thải trước và sau khi xử lý (mg/L) 60
Hình 3.14.Sự thay đổi Fe.coli của nước thải trước và sau khi xử lý (MPN/100mL) 61
Trang 7DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 1 1 Lượng chất bẩn một người trong một ngày xả vào hệ thống thoát nước 5
Bảng 1 2 Thành phần và nồng độ ô nhiễm trong nước thải sinh hoạt 6
Bảng 1 3 Khối lượng chất ô nhiễm trong nước thải sinh hoạt, (g/người ngày) 7
Bảng 1 4 Nồng độ BOD5trong nước thải 12
Bảng 1 5 Tổng Coliform trong nước thải 12
Bảng 1 6 Các thời kỳ bón phân của lúa địa phương 24
Bảng 1 7 Các thời kỳ bón phân của lúa cải tiến dưới 95 ngày 25
Bảng 1 8 Các thời kỳ bón phân của lúa cải tiến trên 95 ngày 25
Bảng 1 9 Các thời kỳ bón phân cho giống lúa lai dưới 95 ngày 26
Bảng 1 10 Các thời kỳ bón phân cho giống lúa lai trên 95 ngày 26
Bảng 1.11.Công thức bón phân cho ngô 27
Bảng 2 1 Thành phần khoáng vật học của đá ong 36
Bảng 2 2 Nhận diện khoáng vật học của các mẫu vật liệu 37
Bảng 2.3.Phương pháp phân tích mẫu nước 40
Bảng 3 1 Giá trị giới hạn các thông số chất lượng nước dùng cho tưới rau 41
Bảng 3 2.Giá trị giới hạn các thông số chất lượng nước dùng cho tưới lúa và ngô (QCVN 39:2011/BTNMT) 42
Bảng 3 3 Thời gian và điều kiện ngoại cảnh khi lấy mẫu 43
Bảng 3 4.Chất lượng nước thải qua các lần thu thập mẫu 44
Bảng 3 5.Sự thay đổi độ pH của nước thải trước và sau khi xử lý 48
Bảng 3.6.Sự thay đổi nồng độ COD của nước thải trước và sau khi xử lý (mg/L) 49
Bảng 3.7.Sự thay đổi BOD của nước thải trước và sau khi xử lý (mg/L) 50
Bảng 3.8.Sự thay đổi nồng độ PO43-của nước thải trước và sau khi xử lý (mg/L) 51
Bảng 3.9.Sự thay đổi độ đục của nước thải trước và sau khi xử lý (NTU) 52
Bảng 3.10.Sự thay đổi nồng độ TN của nước thải trước và sau khi xử lý (mg/L) 53
Bảng 3.11.Sự thay đổi nồng độ TOC của nước thải trước và sau khi xử lý (mg/L) 54
Bảng 3.12.Sự thay đổi nồng độ TDS của nước thải trước và sau khi xử lý (mg/L) 55
Bảng 3.13.Sự thay đổi độ dẫn của nước thải trước và sau khi xử lý (ms/cm) 56
Bảng 3.14.Sự thay đổi độ mặn của nước thải trước và sau khi xử lý (%) 57
Bảng 3.15.Sự thay đổi nồng độ NH4+của nước thải trước và sau khi xử lý (mg/L) 58
Trang 8Bảng 3.16.Sự thay đổi nồng độ As của nước thải trước và sau khi xử lý (mg/L) 59 Bảng 3.17.Sự thay đổi nồng độ Cd của nước thải trước và sau khi xử lý (mg/L) 60 Bảng 3.18.Sự thay đổi Fe.coli của nước thải trước và sau khi xử lý (MPN/100mL) 61 Bảng 3.19 Chất lượng nước tưới cho rau sau xử lý 62 Bảng 3.20 Chất lượng nước tưới cho lúa và cây trồng cạn sau xử lý 62 Bảng 3.21.Nồng độ các chất dinh dưỡng của nước thải saukhixửlý (mg/L) 63 Bảng 3.22.So sánh giá trị dinh dưỡng trong nước trước và sau khi xử lý (tính cho 10 ha
và lượng nước thải của 4000 dân) 64 Bảng 3.23.Tính toán hàm lượng dinh dưỡng có trong nước thải 64 Bảng 3.24.So sánh giá trị dinh dưỡng trong nước trước và sau khi xử lý (tính cho 10 ha
và lượng nước thải của 300 dân) 65 Bảng 3.25.Tính toán hàm lượng dinh dưỡng có trong nước thải 66 Bảng 3.26 Giảm lượng N tích lũy trong môi trường 67
Trang 9DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU,CHỮ VIẾT TẮT
Ký hiệu
BOD5 : Nhu cầu oxy sinh học sau 5 ngày
COD : Nhu cầu oxy hóa học
DO: Oxy hòa tan
NH4+ - N : Nồng độ Amoni quy về nồng độ nitơ (mg/L)
NO2- - : Tổng nồng độ nitrit quy về nồng độ nitơ ( mg/L)
NO3-- N : Tổng nồng độ nitrat quy về nồng độ nitơ ( mg/L)
PO43- - P : Tổng hàm lượng phốt phát trong nước thải quy về nồng độ phốt pho XLNT: Xử lý nước thải
BTNMT: Bộ tài nguyên và môi trường
QCVN : Quy chuẩn Việt Nam
TCVN : Tiêu chuẩn Việt Nam
QCVN 08:2015/BTNMT: Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng nước mặt QCVN 14:2008/BTNMT: Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về nước thải sinh hoạt QCVN 39:2011/BTNMT: Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về tưới tiêu
PWEV: Dự án cho cải thiện môi trường nước đô thị ở thủ đô Viêng Chăn
(The Project for Urban Water Environment ImprovementinVientianeCapital)
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Gia tăng dân số, ô nhiễm môi trường và biến đổi khí hậu đã làm suy giảm nghiêm trọng nguồn nước sẵn có ở nhiều vùng, từ Trung Đông đến Châu Phi, Đông Nam Á và
Mỹ Latinh Trong bối cảnh ngày càng khan hiếm nước như hiện nay, đã có khoảng 10
% dân số trên thế giới phải tái chế lại phần lớn nước đã qua sử dụng, con số này sẽ tiếp tục gia tăng trong tương lai [1,2] Điều đó cũng có nghĩa là con người sẽ phải sử dụng một lượng nước thải lớn để tưới cho cây trồng nhằm tạo ra sản phẩm nông sản để duy trì sự sống
Nước thải sinh hoạt có thành phần rất phức tạp do bị trộn lẫn nhiều thành phần khác nhau, ở nông thôn, nước thải sinh hoạt bao gồm cả nước thải sinh hoạt và thậm chí nước thải chăn nuôi từ các hộ gia đình [3] Trong nước thải tiềm ẩn các chất nguy hại dưới dạng kim loại nặng, chất gây ô nhiễm hữu cơ, mầm bệnh hoặc vi khuẩn kháng kháng sinh Sử dụng trực tiếp nguồn nước thải này để tưới sẽ làm tăng tích lũy ô nhiễm trong đất, cây trồng và nước ngầm làm ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩm và sức khỏe con người [4]
Tại thủ đô Viêng Chăn, thủ đô nước Cộng hòa dân chủ Nhân dân Lào, nước thải sinh hoạt của thành phố được một hệ thống kênh đào hở thu gom và chuyển vào khu vực Thạt Luổng, là vùng đất ngập nước rộng lớn, nằm phía ngoại ô thủ đô Đây là vùng đất ngập nước vô cùng quan trọng của thủ đô Viêng Chăn, theo đánh giá của Ramsar vùng Thật Luổng đóng vai trò vô cùng quan trọng trong việc cải tạo môi trường nước một cách rất hiệu quả Hệ thống kênh hở tự nhiên nay đã được bê tông hóa làm hạn chế một phần tác dụng cải tạo Những năm gần đây thủ đô được mở rộng, đặc biệt xây dựng hạ tầng mạnh mẽ, các cao ốc xuất hiện ngày càng nhiều, dân số thủ đô tăng nhanh khiến lượng nước thải sinh hoạt ngày càng lớn Do vùng đất ngập nước chứa nước thải sinh hoạt bị thu hẹp, nên vùng ven đô phải tiếp nhận nước thải sinh hoạt từ thủ đô, một phần nước thải được dẫn vào đồng ruộng, hồ chứa tự nhiên Do vậy, cần
có phương án quản lý nước thải nhằm bảo vệ môi trường và tái sử dụng nước thải để tưới cho cây trồng[5]
Trang 12Nhu cầu về sản phẩm nông nghiệp sạch và an toàn đáp ứng nhu cầu của xã hội ngày càng cao Tuy nhiên, hiện nay nhiều nơi còn sử dụng nước thải trực tiếp để tưới làm cho chất lượng sản phẩm không đảm bảo, gây ảnh hưởng đến sức khỏe của người tiêu dùng, phát sinh bênh tật và nhiều vấn đề xã hội khác Do vậy tác giả lựa chọn đề tài
“Nghiên cứu kỹ thuật sử dụng nước thải sinh hoạt để tưới cho cây trồng ” để thực
hiện nhằm nghiên cứu kỹ thuật tái sử dụng nước thải sinh hoạt phù hợp làm nước tưới cho các cây trồng nông nghiệp hướng đến đảm bảo an toàn cho chất lượng sản phẩm nông nghiệp
2 Mục đích của đề tài
Nghiên cứu kỹ thuật sử dụng nguồn vật liệu tự nhiên có chi phí thấp để xử lý nước thải sinh hoạt có thành phần chất hữu cơ cao nhằm tái sử dụng để tưới cho cây trồng góp phần giảm thiểu ô nhiễm môi trường đồng thời tận dụng nguồn dinh dưỡng trung và đa lượng như N, P, K có trong nước thải để bổ sung cho cây trồng trong khi vẫn kiểm
soát được sự tích lũy độc tố trong sản phẩm nông nghiệp
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
- Nước thải sinh hoạt của các hộ gia đình;
- Vật liệu thí nghiệm: các vật liệu tự nhiên sẵn có ở nông thôn, gồm cát, đất kết von
đá ong, sỏi cuội và phụphẩm nông nghiệp khác
Trang 13Dựa vào khả năng loại bỏ các chất ô nhiễm trong nước thải gồm chất hữu cơ hòa tan
và kim loại nặng của các vật liệu có nguồn gốc từ đất và phụ phẩm nông nghiệp để vận dụng vào xử lý nước thải sinh hoạt nhằm tận dụng dinh dưỡng cho cây trồng cũng như
sử dụng nước, bảo vệ môi trường
Nghiên cứu được thực hiện với nguồn vật liệu, cây trồng và nước thải tại Việt Nam Sau khi nghiên cứu có thể áp dụng được tại Lào, vì lí do là Lào cũng có nguồn vật liệu tương tự và tính chất nước thải sinh hoạt tương đối giống Việt Nam Lào cũng canh tác các cây trồng tương tự như lúa, rau, đậu, ngô và lạc Tại Lào chưa có các tiêu chuẩn về chất lượng nước tưới do vậy đề tài đã áp dụng QCVN 39:2011/BTNMT của Bộ tài nguyên môi trường Việt Nam về chất lượng nước tưới
4.2 Phương pháp nghiên cứu
4.2.1 Phương pháp điều tra thu thập số liệu và lấy mẫu nước thải
- Thu thập số liệu về đặc điểm nước thải tại Hà Nội - Việt Nam và thu thập số liệu đặc tính nước thải ở Viêng Chăn – Lào để so sánh;
- Lấy mẫu nước thải sinh hoạt tại hệ thống thoát nước của các khu dân cư ven Hà Nội
để thí nghiệm
4.2.2 Phương pháp thí nghiệm trong phòng thí nghiệm
Bố trí thí nghiệm xử lý nước thải (mô hình phòng thí nghiệm) Đất, nước và môi
trường – thời gian 24/11/2017 – 08/01/2018
4.2.3 Phương pháp phân tích các thông số trong phòng thí nghiệm theo các tiêu
chuẩn sau đây:
4.2.4 Phương pháp đánh giá và xử lý số liệu
Kết quả trong luận văn này là kết quả trung bình của các lần thí nghiệm, trong luận án
có 3lần đo lặp mẫu Sau đó thực hiện theo đúng nguyên lý thống kê, loại bỏ những kết quả không tin cậy
Trang 14CHƯƠNG I NGHIÊN CỨU TỔNG QUAN
1 Tổng quan về nước thải sinh hoạt
1.1 Thành phần và tính chất của nước thải sinh hoạt
Nước thải sinh hoạt xuất phát từ nhiều nguồn.Nước thải sinh ra từ nhà vệ sinh được gọi là nước đen và nó có hàm lượng chất rắn cao và đóng góp một lượng đáng kể các chất dinh dưỡng (nitơ và photpho).Nước đen có thể được tiếp tục tách ra thành phân và nước tiểu,nước tiểu được gọi là nước vàng, phân với nước được gọi là nước nâu.Nước xám bao gồm nước từ phòng tắm,chậu rửa và từ bếp[3]
Theo Quy chuẩn kỹ thuật Quốc gia về nước thải sinh hoạt QCVN 14:2008/BTNMT,
“nước thải sinh hoạt là nước đã được sử dụng cho các mục đích ăn uống,sinh hoạt,tắm rửa,vệ sinh nhà cửa,…của các khu dân cư,công trình công cộng,cơ sở dịch vụ… Như vậy,nước thải sinh hoạt được hình thành trong quá trình sinh hoạt của con người.Một sốcác hoạt động dịch vụ hoặc công cộng như bệnh viện,trường học,nhà ăn,… cũng tạo
ra các loại nước thải có thành phần và tính chất tương tự như nước thải sinh hoạt Nước thải từ nhà vệ sinh được gọi là nước đen,chất rắn trong nước thải sinh hoạt chủ yếu là đây Nước thải chứa một số lượng đáng kể các chất dinh dưỡng (Nitơ và photpho)
Nước thải từ vòi hoa sen,chậu rửa tay,bồn tắm,chậu rửa bát….được gọi là nước xám,chiếm đến 50-75% lượng nước thải trong hộ gia đình.So với nước thải đen,nước thải xám có nồng độ ô nhiễm thấp hơn về chất hữu cơ (BOD5,COD),chất dinh dưỡng (N,P, K) và mầm bệnh hơn[3]
Lượng nước thải sinh hoạt của khu dân cư được xác định trên cơ sở nước cấp.Tiêu chuẩn nước thải sinh hoạt của khu dân cư đô thị thường từ 100-250 L/người.ngày (đối với các nước đang phát triển) và từ 150 – 500 L/người.ngày (đối với các nước phát triển).Ở Việt Nam hiện nay, tiêu chuẩn cấp nước dao động từ 120 – 180 L/người.ngày Đối với khu vực nông thôn,tiêu chuẩn cấp nước sinh hoạt từ 50 – 100 người.ngày.Thông thường tiêu chuẩn nước thải sinh hoạt lấy bằng 90 -100% tiêu chuẩn cấp nước.Ngoài ra,lượng nước thải sinh hoạt của khu dân cư còn phụ thuộc vào điều kiện trang thiết bị vệ sinh nhà ở,đặc điểm khí hậu thời tiết và tập quán sinh hoạt của người dân[6]
Trang 15Lượng nước thải sinh hoạt tại các cơ sở dịch vụ,công trình công cộng phụ thuộc vào loại công trình,chức năng,số người tham gia,phục vụ trong đó lượng nước thải từ các
cơ sở thương mại và dịch vụ cũng có thể chọn từ 15 – 25% tổng lượng nước thải của toàn thành phố
Lượng nước thải tập trung của đô thị rất lớn Trong quá trình sinh hoạt,con người xả vào hệ thống thoát nước một lượng chất bẩn nhất định,phần lớn là các loại cặn,chất hữu cơ,các chất dinh dưỡng.Theo tiêu chuẩn Việt Nam TCVN7957:2008 có những quy định về lượng chất bẩn tính cho một người dân đô thị xả vào hệ thống thoát nước trong một ngày như bảng phân tích mẫu nước
Bảng 1.1 Lượng chất bẩn một người trong một ngày xả vào hệ thống thoát nước
Các đại lượng Khối lượng (g/người ngày)
Trang 16Bảng 1 2 Thành phần và nồng độ ô nhiễm trong nước thải sinh hoạt
Như vậy nước thải sinh hoạt của đô thị, các khu dân cư và các cơ sở dịch vụ,công trình công cộng có khối lượng lớn,hàm lượng chất bẩn cao nhiều vi khuẩn gây bệnh là một trong những nguồn gây ô nhiễm chính đối với môi nước
Trang 17Hình 1 1 Thành phần các chất ô nhiễm trong nước thải sinh hoạt
Khối lượng chất bẩn do một người thải vào nước thải sinh hoạt trong một ngày được xác định theo bảng
Bảng 1 3 Khối lượng chất ô nhiễm trong nước thải sinh hoạt, (g/người ngày)
STT Thành phần Cặn lắng Chất rắn không tan Chất hòa tan Tổng cộng
1.2 Hiện trạng nước thải sinh hoạt ở Việt Nam
1.2.1 Hiện trạng ô nhiễm nước thải sinh hoạt tại Việt Nam
Ở Việt Nam hiện nay, quá trình công nghiệp hóa,hiện đại hóa đất nước đang tạo nên một sức ép lớn đối với môi trường.Trong sự phát triển kinh tế xã hội, tốc độ đô thị hóa ngày càng gia tăng.Tính đến năm 2006,cả nước có 722 đô thị từ loại đặc biệt đến loại V,tổng số dân trên 25 triệu người (bằng 27% dân số cả nước).Theo môt số nghiên cứu đánh giá đã thực hiện (cục kiểm soát ô nhiễm, 2010; World Bank, 2009) thì các đô thị
Trang 18Việt Nam hiện nay mới chỉ xử lý được dưới 10% lượng nước thải so với nhu cầu thực tế.Lượng nước thải chưa được xử lý này được xả trực tiếp vào nguồn nước sông,hồ và biển ven bờ Mức độ ô nhiễm nguồn nước mặt và nước ngầm đang ngày càng trầm trọng
Các khu vực đô thị tại Việt Nam trong những năm gần đây có tốc độ phát triển cao,mật
độ dân số đang ngày một tăng,diện tích đô thị mở rộng không ngừng,áp lực trong việc bảo vệ môi trường ngày một lớn.Các hệ thống sông ngòi,ao hồ tại các đô thị lớn như
Hà Nội, Hồ Chí Minh đang trong tình trạng ô nhiễm nghiêm trọng, khi mà một lượng lớn nước thải chưa qua xử lý tại các khu sản xuất,nước thải sinh hoạt của các hộ gia đình,nước thải từ các lò giết mổ hay nước thải từ các bệnh viện….hàng ngày đều chảy trực tiếp ra các cống rãnh rồi nguồn nước này theo chiều chảy ra sông lớn gây ô nhiễm nguồn nước nghiêm trọng
1.2.2 Tình hình xử lý nước thải sinh hoạt tại Việt Nam
Chưa có hệ thống xử lý nước thải tập trung của thành phố,chỉ có một số ít các trạm xử
lý nước thải khu vực,phần lớn lượng nước thải chưa xủ lý được xả trực tiếp vào nguồn nước mặt(sông,kênh,mương,ao,hồ…).Kết quả dẫn đến tình trạng quá tải,vượt quá khả năng tự làm sạch của sông hồ và hậu quả tất yếu là ô nhiễm nguồn nước mặt
Chỉ có một số xí nghiệp công nghiệp có xây dựng trạm xử lý nước thải với quy mô vừa và nhỏ.Các khu công nghiệp,khu chế xuất hiện hình có công trình xử lý nước thải đang hoạt động có thể chỉ ra:Khu công nghiệp Thăng Long,khu công nghiệp Hà Nội–Đầu tư,khu công nghiệp Nomura-Hải Phòng,khu công nghiệp Việt Nam – Singapore,khu công nghiệp Biên Hòa II,khu công nghiệp AMATA,khu chế xuất Tân Thuận,khu chế xuất Linh Trung,…vẫn còn một lượng lớn nước thải sản xuất chưa được xử lý hoặc chỉ được xử lý ở mức sơ bộ
Một số bệnh viện ở các đô thị lớn đã xây dựng mới hoặc cải tạo trạm xử lý nước thải như:Bệnh viện Bách Mai,Bệnh viện Việt Đức, bệnh viện Nhi Thụy Điển, bệnh viện Thanh Nhàn-Hà Nội, bệnh viện Huế,… còn lại đều xây dựng bể tự hoại có dung tích lớn
Nước thải từ các hộ gia đình,khu chung cư,nhà tập thể chỉ có một số ít là được xử lý sơ
bộ bằng bể tự hoại rồi xả ra hệ thống thoát nước chung của đô thị, còn lại hầu hết nước
Trang 19thải sinh hoạt từ các hộ gia định đều không được xử lý mà xả trực tiếp vào hệ thống thoát nước chung hoặc xả trực tiếp ra môi trường
Xử lý nước thải chưa thực sự được quan tâm ở Việt Nam.Mặc dù cũng đã xây dựng một số công trình xử lý nước thải ở một số tỉnh,thành phố lớn như Hà Nội, Đà Nẵng,Bình Dương,Đồng Nai,Thành phố Hồ Chí Minh,…Tuy nhiên,các trạm xử lý đã xây dựng có công xuất nhỏ và số lượng còn ít nên chưa đáp ứng được yêu cầu xử lý cho toàn thành phố
Hệ thống thoát nước tất cả các đô thị phần lớn đều là hệ thống thoát nước chung cho
cả 3 loại nước thải:Nước thải sinh hoạt,nước thải sản xuất và nước mưa.Những hệ thống này đã được xây dựng cách đây khoảng 100 năm,rất ít được sửa chữa,duy tu,bảo dưỡng nên đã xuống cấp nhiều:Việc xây dựng bổ sung được thực hiện một cách chắp
vá không theo quy hoạch lâu dài,không đáp ứng được yêu cầu phát triển đô thị.Ở các thành phố quan trọng như Hà Nội,Hồ chí Minh,Hải Phòng,Đà Nẵng…hệ thống cống thoát nước mới chỉ đảm bảo phục vụ khoảng 40% dân số;ở các thành phố nhỏ hơn,tỷ
lệ phục vụ chỉ đạt khoảng 10-30%
Hầu hết ở các vùng nông thôn của Việt Nam chưa có hệ thống xử lý nước thải Các hệ thống thu gom chưa hoàn chỉnh Do vậy nước thải xả trực tiếp ra hệ thống kênh tiêu, kênh tưới, ao hồ tự nhiên gây ô nhiễm môi trường [6]
1.3 Hiện trạng nước thải tại Lào
Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào đã đạt được mục tiêu Phát triển thiên niên kỷ ( MDGs, Mục tiêu số 7: Đảm bảo bền vững môi trường, Mục tiêu 7.C: Giảm một nửa tỉ
lệ dân số không được sử dụng bền vững nước uống an toàn và cải thiện vệ sinh cơ bản trước năm 2015) Tuy nhiên 6% dân số ở khu vực đô thị và 29% ở khu vực nông thôn
vẫn không thể tiếp cận những tiện nghi vệ sinh đã được cải thiện bởi “Quá trình 25
năm cho cải thiện vệ sinh và nước uống, bổ sung và thẩm định MDG năm 2015, tổ chức UNICEF và tổ chức y tế thế giới năm 2015” Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào sẽ
tuân theo những mục tiêu phát triển bền vững của hiệp hội các nước “Trước năm 2030, đạt được sự tiếp cận đầy đủ và công bằng về sự cải thiện vệ sinh và vệ sinh cho toàn
bộ người dân và kết thúc việc vệ sinh ngoài trời, quan tâm đặc biệt tới nhu cầu của phụ
nữ, bé gái và những người trong tình trạng dễ bị tổn thương”
Trang 20Bể tự hoại đã được lắp đặt trong nhà và tòa nhà để xử lí nước đen ở khu vực đô thị Tuy nhiên số lượng và điều kiện là không thống kê được Tổng thể, nước đen có thể
xử lý bằng bể tự hoại trong nước xám thì không xử lý được, và sau đó được xả trực tiếp xuống lòng đất hoặc hệ thống thoát nước
Hiện nay có 4 DEWATS với tỉ lệ thu thập thấp trong khoảng từ 7 đến 26 m3/ngày dựa theo dung tích bởi VTE Những hệ thống này được xây dựng vào năm 2010 và 2012 gây quỹ bởi JICA, Viện tái tạo năng lượng Lào (LIRE) và Hiệp hội nghiên cứu và phát triển quốc tế Bremen (BORDA)
Hệ thống hồ chứa EU bao gồm trạm bơm và ống thu đã được xây dựng vào năm 2000 được hỗ trợ bởi DANIDA Tuy nhiên, hệ thống đã ngừng hoạt động do sự thiếu bảo trì
và mất thiết bị Đất sử dụng cho hồ chứa EU thuộc sở hữu của Chính phủ được bán cho các Công ty tư nhân và những khu vực đó không còn được sử dụng bởi chính phủ.Một vài nhà máy và tòa nhà thương mại có hệ thống xử lý nước thải nhưng chỉ với
số lượng hạn chế
Chất lượng nước thải đã được phân tích thông qua SW M/P, 2011 (JICA) cho các kênh rạch, sông; PWEV cho kênh rạch, sông, bể tự hoại; những chất thải từ DEWATS, và chất thải từ nhà máy VTE không có phòng thí nghiệm để phân tích chất lượng nước liên quan đến môi trường và nước thải cho đến 2013 Một phòng thí nghiệm đã được thành lập tại DONRE với đội ngũ nhân viên được đào tạo bởi Grass Roots Technical Cooperation Project được tiến hành bởi tỉnh Chiba, Nhật Bản và PWEV được tài trợ bởi JICA Qua đó 32 thông số bắt buộc của chất lượng nước để đánh giá môi trường nước có thể được phân tích tại DONRE vào năm 2017[5]
1.3.1 Nước thải từ hộ gia đình
Việc lấy mẫu từ các bể tự hoại là rất khó vì hầu hết dân cư không thể xác định vị trí đầu ra Một vài đầu ra bị che lấp bởi sàn nhà hoặc bê tông Thông qua việc phân tích mẫu vật chỉ ra các thông số PWEV, BOD5 cho chất thải từ ST trong khoảng từ 100 đến
110 mg/l hoặc sự suy giảm tỉ lệ của hàm lượng BOD vào khoảng 50 đến 60% Nước thải màu xám không thông qua xử lí được cho là có hàm lượng BOD5 khoảng 200 đến
230 mg/l
Trang 211.3.2 Nước thải từ công nghiệp và các ngành dịch vụ khác
Tình hình của nước thải từ công nghiệp được phân loại bởi một cuộc khảo sát được tiến hành bởi PWEV vào năm 2016 Dự án này chọn ra 83 nhà máy có xả nước thải để tiến hành khảo sát từ 539 nhà máy đã được chứng nhận bởi tổ chức phát triển công nghiệp liên hợp quốc (UNIDO) Kết quả chỉ ra rằng phần lớn các nhà máy vẫn chưa có
hệ thống xử lý nước thải phù hợp ngoại trừ bể tự hoại.Tuy nhiên, lượng chất thải từ nhà máy vẫn duy trì thấp và trong hầu hết các trường hợp chất thải thấm vào đất tại nhà máy thay vì xả vào vùng nước công cộng Tác hại của chất thải công nghiệp đến mặt bằng chất lượng nước có thể không nghiêm trọng hiện tại ngoại trừ một số ít trường hợp.Tuy nhiên, lượng lớn chất thải xám từ cơ sở vật chất cho thương nghiệp như nhà hàng, trung tâm mua sắm, khách sạn,… được cho là xả trực tiếp vào vùng nước công cộng tại khu vực trung tâm của VTE và góp phần làm hư hại chất lượng nước của các kênh rạch trong đô thị Những cơ sở vật chất cho thương nghiệp chưa được đăng ký mặc dù có cùng khuôn khổ pháp lý như nhà máy có thể được chấp nhận
1.3.3 Chất lượng nước tại kênh rạch và sông ở đô thị
Chất lượng nước tại các kênh rạch trong đô thị và sông Mak Hiao được theo dõi bằng
SW M/P vào năm 2010 và PWEV vào năm 2016 và năm 2017 qua các thông số pH,
DO, TSS, COD, BOD5, T-N, T-P, tổng coliform, Zn, Fe, Cu, Pb,… Kết quả theo dõi chỉ ra sự hư hại cao tại các kênh rạch trong đô thị ở VTE, đặc biệt là thượng nguồn kênhHong Ke, Hong Pasak và Hon Wattay những năm gần đây, trong khi đó chức năng tự thanh lọc của lưu vực sông Mak Hiao vẫn giữ ở mức thỏa mãn Ví dụ BOD5
đặc trưng cho các hợp chất hữu cơ và tổng coliform đặc trưng cho các vi khuẩn gây bệnh được trình bày như sau
Hàm lượng BOD5 trong khoảng từ 17 đến 29 mg/l trong năm 2010 và từ 27 đến 38 mg/l trong năm 2016 Được biểu diễn trong bảng 1.4 Sự hư hại của chất lượng nước tại 2 con kênh của Hong Wattay và Hong Ke là rất đáng lưu ý
Trang 22Bảng 1.4 Nồng độ BOD 5 trong nước thải [5].
+ Tổng coliform
Được biểu diễn trong bảng 1.5 Tổng coliform được ghi lại là hơn 1.0 x 106 N/100mL tại Hong Pasak và Hong Ke vào tháng 2, 2010 Trong đó là 3.3 x 103 N/100mL tổng coliform tại khu vực giữa sông Mak Hiao và 1.1 x 102 N/100mL tại khu vực giao với sông Mekong vào tháng 2, 2010
Bảng 1 5 Tổng Coliform trong nước thải[5]
Hong Wattay (Worst point) 2.3 x 105 7.0 x 105 N/A
Hong pasak (Worst Point) 3.3 x 106 7.9 x 105 N/A
Hong ke (Worst Point) 1.3 x 106 2.4 x 106 N/A
Mak Hiao (Middle) 3.3 x 103 N/A 1.1 x 103
2.Tổng quan về một số kỹ thuật xử lý nước thải sinh hoạt
Bể lắng cát được thiết kế trong công nghệ xử lý nước thải nhằm loại bỏ các tạp chất vô
cơ, chủ yếu là cát chứa trong nước thải
Bể lắng làm nhiệm vụ giữ lại các tạp chất lắng và các tạp chất nổi chứa trong nước thải Khi cần xử lý ở mức độ cao(xử lý bổ sung) có thể sử dụng các bể lọc, lọc cát,
Về nguyên tắc, xử lý cơ học là giai đoạn xử lý sơ bộ trước khi xử lý tiếp theo
Trang 232.2 Xử lý sinh học
Cơ sở của phương pháp xử lý sinh học nước thải là dựa vào khả năng oxy hoá các liên kết hữu cơ dạng hoà tan và không hoà tan của vi sinh vật – chúng sử dụng các liên kết
đó như là nguồn thức ăn của chúng
Các Công trình xử lý sinh học trong điều kiện tự nhiên gồm có:
- Mương oxy hoá
2.3.Công nghệ Phản ứng kỵ khí dạng vách ngăn ABR (Anaerobic Baffled Reactor)
Hệ thống xử lý nước thải theo công nghệ ABR được Viện Nước, Tưới tiêu và Môi trường – Viện Khoa học Thủy lợi Việt Nam nghiên cứu, cải tiến các đặc trưng kỹ thuật, kết cấu, thành phần và đặc trưng công nghệ nhằm tăng hiệu quả xử lý nước thải
và phù hợp với nhiều nguồn nước thải hiện nay ở Việt Nam [4] Hệ thống xử lý nước
thải phản ứng kỵ khí dạng vách ngăn (ABR) đã được áp dụng tại các địa điểm sau:
- Thôn Đại Lâm, xã Tam Đa, Yên Phong – Bắc Ninh
Công suất: 25m3/ngày đêm Loại: Nước thải sinh hoạt lẫn chăn nuôi
- Xã Tân Hòa – Quốc Oai – Hà Nội
Công suất: 25m3/ngày đêm Loại: Nước thải chế biến tinh bột
- Xã Hải Bình, huyện Tĩnh Gia, tỉnh Thanh Hóa:
Công suất: 25m3/ngày đêm Loại: Nước thải chế biến thủy sản
- Thị trấn Lim – huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh:
Công suất: 30m3/ngày đêm Loại: Nước thải sinh hoạt+ giết mổ
Hệ thống xử lý nước thải thải theo công nghệ ABR có thể ứng dụng để xử lý nước thải
Trang 24ô nhiễm hữu cơ (nước thải sinh hoạt, nước thải chăn nuôi, nước thải làng nghề
nông-thủy sản ) bằng phương pháp sinh học kỵ khí, thân thiện với môi trường:
Hình 1.2.Xử lý nước thải thải theo công nghệ ABR
2.4 Hệ thống xử lý nước thải bằng hồ sinh vật kết hợp nuôi cá
Được áp dụng đối với từng ngôi nhà hoặc cụm ngôi nhà có diện tích đất không lớn, ao
nuôi tảo là một trong các nút của hệ sinh thái vườn – ao-chuồng, tảo không cần thu hồi
mà được sử dụng trực tiếp để làm thức ăn cho các động vật nguyên sinh, cá, thịt Phần
lớn các loại vi khuẩn gây bệnh, các chất hữu cơ có trong nước thải sinh hoạt đã được
làm sạch, nên nước thải có thể sử dụng tưới rau và rửa chuồng trại
Thiết bị guồng quay bề mặt
Nước thải Bể tự hoại Hồ kỵ khí Hồ làm thoáng nhân tạo Kết hợp nuôi cá
Hình 1.3.Hệ thống xử lý nước thải bằng hồ sinh vật kết hợp nuôi cá
Ngoài ra, công nghệ hệ thống xử lý nước thải bằng công nghệ bãi lọc trồng cây
kết hợp hồ sinh học tái sử dụng cho nông nghiệp
Hình 1.4 Hệ thống xử lý nước thải bằng công nghệ bãi lọc trồng cây
Trang 252.5.Xử lý nước thải bằng thực vật
Xử lý nước thải sinh hoạt, chăn nuôi và làng nghề bằng thực vật thủy sinh cũng được áp dụng rất đơn giản và dễ vận hành, chi phí thấp nhưng hiệu quả xử lý không cao
Hình 1.5 Mô hình xử lýnước thải bằng thực vật tại Bắc Ninh
Sử dụng đất để xử lý nước thải và xử lý môi trường đã tồn tại từ rất lâu và được sử dụng ở nhiều nơi trên thế giới, điển hình là các nước Nhật Bản, Ấn Độ, Hà Lan, Đức, Thái Lan Các phương pháp xử lý nước truyền thống có sử dụng vật liệu đất bao gồm bãi lọc sinh thái, bãi lọc ngầm, đất ngập nước, lọc cát, bể tự hoại …đã góp phần đáng
kể giảm tải ô nhiễm, tuy nhiên một số hạn chế có thể gặp như tốc độ thấm rất chậm, không thể áp dụng hiệu quả cho các vùng dân cư tập trung, nồng độ chất ô nhiễm cao Các Công trình đều tốn diện tích sử dụng, đặc biệt là thường bị tắc nghẽn hệ thống
Trang 263 Các chức năng của đất và các ứng dụng trong xử lý nước thải
3.1 Chức năng xử lý chất ô nhiễm của đất
Đất có khả năng hấp phụ chất ô nhiễm do trong đất có chứa hạt keo mang điện tích Khả năng hấp phụ của đất được chia ra 5 dạng sau:
- Hấp phụ cơ học: Là khả năng đất giữ lại những hạt tương đối thô trong các khe, lỗ hỏng Đất là một thể xốp, chứa nhiều lỗ hổng có kích thước khác nhau nên có khả năng giữ lại một cách cơ học những hạt có kích thước lớn hơn kích thước của lỗ hổng, hay các chổ uốn cong của mao quản
- Hấp phụ lý học (hấp thụ phân tử): Là khả năng giữ lại những hạt có kích thước nhỏ, những phân tử, nguyên tử trên bề mặt keo đất Các hạt đất có kích thước nhỏ thường
co năng lượng bề mặt Hấp thụ lý học phụ thuộc nhiều vào thành phần cơ giới, nếu đất nào có nhiều hạt sét (thành phần cơ giới nặng) thì có năng lượng bề mặt lớn do đó khả năng hấp phụ lý học càng lớn
- Hấp phụ hóa học: Là khả năng giữ lại trong đất các chất hòa tan ở dạng kết tủa, không tan, ít tan do kết quả của những phản ứng hóa học xảy ra trong dung dịch đất
Na2SO4 + CaCl2 -> CaSO4 + 2NaCl
Al3+ + PO43- -> AlPO4 3Ca2+ + 2PO43- ->Ca3(PO4)2 Dạng hấp phụ này rất phổ biến trong đất và dẫn đến sự cố định nhiều nguyên tố dinh dưỡng trong đất
- Hấp phụ lý – hóa học (hấp phụ trao đổi): Là hấp phụ trao đổi giữa những ion trên bề mặt các keo đất và những ion cùng dấu trong dung dịch đất Thực chất là phản ứng lý – hóa giữa keo đất và ion trong dung dịch đất
- Hấp phụ sinh học:Là khả năng giữ lại các chất dinh dưỡng bởi vi sinh vật từ dung dịch đất, chủ yếu là cây xanh và vi sinh vật
Nước bị nhiễm bẩn sẽ ảnh hưởng tới chất lượng nước sinh hoạt, hệ sinh thái Khi lượng nước ngấm xuống đất, nước sẽ được lọc thông qua các tầng đất Ngược lại nếu tầng đất quá nông, hoặc đất không thấm được, phần lớn nước sẽ không thể vào đất, chủ yếu là chảy tràn trên mặt khiến diện tích bị ô nhiễm trở nên rộng hơn
Do đặc điểm cấu trúc tinh thể khoáng, một số khoáng sét có tính chất đặc trưng như: tính phân cực trong môi trường nước, khả năng trao đổi cation trong cấu trúc tinh thể,
Trang 27có lỗ rỗng lớn hoặc diện tính bề mặt riêng lớn nên tạo ra các phản ứng trao đổi, hấp phụ hoặc liên kết tĩnh điện để loại bỏ một số chất ô nhiễm có trong nước thải
Về phương diện hoá học, tinh thể các khoáng vật sét thuộc lớp silicat, được tạo nên từ các đơn vị cấu trúc cơ bản gồm các khối tứ diện tạo nên từ Si và O và các khối bát diện từ OH và các cation kim loại Al3+, Fe3+… có hai loại cấu trúc chính: 1:1 tức là 1 lớp tứ diện và 1 lớp bát diện và 2:1 tức gồm 2 lớp tứ diện và 1 lớp bát diện kẹp giữa Điển hình cho hai loại khoáng sét này là các khoáng sét thuộc lớp kaolinit và nhóm montmorillonit
Kaolinit: Là một loại sét có cấu trúc tinh thể thuộc loại 1:1 và các nhóm (OH)- đều
hướng ra ngoài nên khi bị phân li chúng cũng tạo nên các tấm mỏng mang điện tích
âm vì vậy đây cũng là nguyên nhân tạo nên tính hấp phụ của khoáng Nhưng khác với bentonit các khoáng vật thuộc nhóm kaolinit không có khả năng trao đổi cation, bề mặt riêng cũng nhỏ hơn so với bentonit (khoảng20m2/g).Khi bị nung nóng cũng xảy ra các hiệu ứng tương tự, nhưng khi mất nước hấp phụ ở nhiệt độ thấp, tính chất của khoáng chưa thay đổi nhưng nếu nung đến 450-570-600°C quá trình mất nước cấu trúc sẽ xảy
ra và tinh thể khoáng vật sẽ bị phá huỷ, vật chất chuyển sang trạng thái vô định hình và
có độ hoạt tính nhất định đối với từng thành phần hoá học riêng biệt, trongtrường hợp sét kaolin sau khi nung, kaolin có thể kết hợp với CaO tạo thành một chất kết dính như
xi măng [7]
Montmorillonit: Đất đá cấu tạo chủ yếu từ các khoáng vật nhóm smectit (có khả năng
trương nở) được gọi là bentonit Nhóm khoáng vật smectit bao gồm: monmorilonit, beidelit, nontronit và vài khoáng vật ít phổ biến khác Khoáng vật nhóm smectit có cấu trúc mạng tinh thể nhiều lớp đặc trưng ô mạng cơ sở tạo thành 3 lớp Hai lớp ngoài (lớp dưới và lớp trên), cấu tạo từ các tứ diện (Al, Si)O4 và được gọi là lớp tứ diện Giữa chúng phân bố lớp cation bát diện, trong đó các cation Al, Fe, Mg chiếm vị trí bát diện do cấu trúc dạng vòng của oxy trong tứ diện [SiO4]- và nhóm hydroxit [OH]- Bình thường các bát diện có thể lấp đầy bằng hai cation hoá trị III hoặc ba cation hoá trị II Do sự thay thế các nguyên tố hoá trị III (Al, Fe) trong lớp giữa octahedralbằng các nguyên tố hoá trị II (Mg, Fe) hoặc Si hoá trị IV bằng Al hoá trị III trong lớp tứ diện tạo nên sự dư thừa điện tích âm trên bề mặt giữa các lớp cấu trúc, hơn nữa mặt
Trang 28đáy của các lớp cấu trúc được tạo nên bởi các mối liên kết O-2 hoặc (OH)- cũng tạo cho
bề mặt cấu trúc tinh thể của khoáng vật một điện tích âm.Để trung hòa điện tích trong cấu trúc tinh thể, các khoáng này thường được gắn thêm các cationtrao đổi Chủ yếu
đó là các ion Na+, K+, Ca2+, Mg2+và Fe2+
Hình 1.6 Cấu trúc không gian tinh thể Montmorillonit
Trong quá trình tương tác với nước xung quanh các cation này hình thành các lớp vỏ hydrat và do đó dẫn đến hiện tượng trương nở trong tập hợp các tập sét này Khả năng hydrat hoá cao nhất có ở các ion kim loại kiềm là natri Khả năng trương nở ít hơn là các ion kim loại kiềm thổ - canxi và magie Khả năng trương nở, tăng thể tích, cũng như hấp thụ hoặc trao đổi các cation trên bề mặt giữa các lớp cấu trúc của smectit (từ 2- 20 lần) đã tạo nên tính năng công nghiệp quý giá của chúng Theo thành phần cation trao đổi, bentonit được chia làm loại: kiềm và kiềm thổ Đối với bentonit kiềm, cation
Na chiếm ưu thế trong tổ hợp cation trao đổi Do Na+ có khả năng thu hút một lượng lớn các nhóm hydrat mà monmorillonit có hàm lượng Na+cao có khả năng trương nở lớn nhất Bentonit với Ca chiếm ưu thế được gọi là bentonit canxi Ngoài Ca2+, trong monmorillonit có thể có Mg2+ với số lượng đôi khi vượt cả Ca2+ Song thường gặp hơn
cả là biến thể của bentonit canxi-magie.Trong môi trường nước, sét thuộc nhóm bentonit hay thường gọi là smectit (7 khoáng vật chính), rất dễ phân li và tạo nên một dung dịch dạng huyền phù Kích thước của khoáng sét nhìn chung rất nhỏ (sét thường tập trung trong hợp phần dưới 2 micromet) Do cấu trúc đặc biệt, sét bentonit có bề mặt riêng lớn (có thể đạt trên 200-300m2/g), lỗ rỗng lớn nên khả năng hấp phụ lớn, mặt khác bentonit cũng như zeolit lại còn là một khoáng chất có khả năng hấp thụ theo
cơ chế trao đổi cation trong cấu trúc tinh thể Khi bị nung nóng, các tính chất này bị
Trang 29suy giảm do cấu trúc tinh thể bị thay đổi, sét sẽ mất nước hấp thụ trong khoảng 120°C, tiếp đó sẽ bị mất nước cấu trúc trong khoảng 450-570°C và cấu trúc tinh thể bị phá huỷ nhưngcũng tương tự các khoáng khác nêu trên trong giai đoạn này tinh thể mới chưa được hình thành, các oxit mới Al2O3, SiO2 đang ở dạng vô định hình nên vẫn còn hoạt tính[7]
80-Gibbsit Al(OH)3có hai lớp (OH) cũng chồng khít lên nhau nhưng chỉ khác ở chỗ chỉ có 2/3 lỗ hỗng được tạo thành từ các nhóm (OH) đó được lấp đầy bằng nguyên tử Al và mặc dù mỗi một nguyên tử Al vẫn được 6 nhóm (OH) vây quanh Hơn nữa, trong cấu trúc của bruxit mỗi nhóm (OH) tiếp xúc với 3 nhóm (OH) khác trong cùng lớp còn trong cấu trúc của gibbsit các nhóm OH của lớp này lại trực tiếp tiếp xúc với các nhóm
OH của lớp trên.Cũng tương tự bruxit, gibbsit cũng có khả năng phân li trong nước có điện tích âm hướng ra mặt ngoài nhưng gibbsit lại có tính phân cực mạnh hơn (lệch) vì chỉ có 2/3 số lỗ rỗng được lấp đầy nên khả năng hấp phụ thể hiện rõ ràng hơn.Khi bị nung nóng ở nhiệt độ từ 240°C-450°C các nhóm OH bắt đầu bị thoát ra khỏi cấu trúc
và một biến thể trung gian được hình thành (boehmit) AlO(OH) với hoạt tính thấp hơn
và từ 450°C- 600°C một lần nữa xảy ra quá trình mất nước cấu trúc của boehmit mới được hình thành trước đó Ở nhiệt độ cao hơn (1200°C) sẽ chuyển thành corindon bền vững và không còn hoạt tính
Boehmit AlO(OH): Kết tinh ở tinh hệ thoi, có cấu trúc dạng lớp, mỗi một cation Al3+được bao bọc bởi 6 nguyên tử O nhưng các nguyên tử O này không nằm thẳng hàng
mà bị biến dạng thành các lớp, các lớp này liên kết với nhau bằng mối liên kết H theo dạng -O-H-O-H-O
Hình 1.7.Cấu trúc không gian tinh thể Boehmit
Cũng tương tự các hyđroxit khác boehmit dễ dàng phân li trong nước và cũng có khả năng hấp phụ tuy nhiên do kết tinh ở hệ khác nên độ bền nhiệt của boehmit có sự khác
Trang 30biệt hơn so với các hyđroxit nhôm khác,khi bị nung nóng cấu trúc tinh thể bị phá huỷ, mất nước cấu trúc xảy ra ở nhiệt độ từ 450°C- 600°C
Goethite FeO(OH): Là hai biến thể chủ yếu của hyđroxit sắt hay limonnit biến thể
chứa 12-14% nước FeO(OH).nH2O Goethite có cấu trúc tinh thể tương tự cấu trúc của
diaspor và cũng có những tính chất tương tự
Trong quá trình bị nung đốt cấu trúc của goethite bị phá huỷ bắt đầu từ nhiệt độ từ 300-420°C và goethite chuyển dần sang dạng oxit άFe2O3 hematit Nhưng nếu nung đến 680°C sẽ xảy ra quá trình ngược lại chuyển đổi từ cấu trúc άFe2O3 hematit sang Fe2O3
3.2 Tiềm năng đất kết vón đá ong và các ứng dụng trong XLNT ở Lào
Lào, tên chính thức là Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào (Lao PDR), thuộc Đông Nam
Á, tại trung tâm khu vực sông Mê Kông Lào đặc trưng bởi địa hình dốc và những thung lũng sông hẹp Vùng phía bắc của đất nước với địa hình đồi núi rộng lớn có cao
độ thường trong khoảng vài trăm mét chiếm khoảng 70% diện tích địa lí của cả nước được tạo thành bởi các dãy núi, cao nguyên và sông suối chảy qua
Lào có những nguồn năng lượng tự nhiên quan trọng như khoáng sản, thủy điện và nhiều nguồn năng lượng khác Những nguồn khoáng sản đã được xác định ở Lào là
barit, đất sét, than đá, đồng, dolomit, vàng, than chì, thạch cao, đá vôi, muối đá, sapphire, bạc, thiếc và kẽm Lào có môi trường địa chất tiềm năng chứa các nguồn khoáng sản như antimon, amiăng, bismut, coban, quặng sắt, cao lanh, chì, than non, mangan, molybden, potash, cát silica và vonfram Lào cũng có nền địa chất thuận lợi cho khai thác than đá, đồng, vàng, quặng sắt, muối kali, muối đá và thiếc Trong năm
2005, sản phẩm khoáng sản của Lào bao gồm các loại barit, đá cacbonat (cho xây dựng tổng hợp và đá vôi), đất sét, than, đồng, đá quý (ruby và sapphire), vàng, thạch cao, muối đá, cát và sỏi, bạc, thiếc và kẽm Than đá, vàng, thạch cao và kẽm là những mặt hàng khoáng sản chủ yếu được sản xuất trong năm 2005
Ở Lào, phần lớn đất trong đồng bằng ngập lũ được hình thành từ phù sa lắng đọng bởi các con sông và là đất sét cát hoặc cát với màu sắc nhạt hoặc cát có màu xám hoặc vàng; về mặt hóa học, đây là các chất trung tính hoặc hơi chua Các vùng đất cao có nguồn gốc từ đá kết tinh, granit, đá phiến sét, hoặc đá sa thạch thường có độ axit cao
Trang 31và ít màu mỡ hơn Nam Lào bao gồm các khu vực đất đá ong (mặn và chứa sắt), cũng như đất bazan trên cao nguyên Bolovens như thể hiện trong hình 1.8
Hình 1 8 Bản đồ phân bố các bazan kỷ thứ ba (vùng màu xám) ở vùng lân cận của Đông Dương (sửa đổi sau bởi Barr & MacDonald, 1981)
Đặc tính của đá ong là một loại đất và đá giàu sắt và nhôm, và thường được cho là đã hình thành ở những vùng nhiệt đới nóng và ướt Gần như tất cả các loại đá ong có màu
đỏ gỉ, vì hàm lượng sắt oxit cao như thể hiện trong hình 1.9
Hình 1 9 Mẫu đất kết vón đá ong tại Lào
Đất đá ong gần đây được sử dụng cho một số công việc như bảo tồn di sản, đặc biệt là cho VATPHOU CHAMPASACK,di sản thế giới thứ hai của Lào Loại đất đá ong này
Trang 32được sử dụng để xây dựng lại đường nghi lễ dựa trên dự án có tiêu đề "Nâng cao năng lực quản lý tài nguyên văn hoá thông qua việc chuẩn bị và thực hiện Quy hoạch bảo tồn và Quản lý Quy hoạch bảo vệ Vat Phou và khu vực khảo cổ xung quanh trong khuôn khổ Phát triển bền vững Champassak, Lào và khôi phục lại một phần cấu trúc tòa nhà theo Dự án Khai quật và Bảo tồn của Dự án LAO / UNESCO’’.Hơn nữa theo
tính chất chính của đất sét chứa đá ong, đất đá ong được sử dụng để làm nền móng và lõi đập tại Lào như là nền móng và vật liệu xây dựng, từ đó đưa ra những kết luận cho
sự phát triển áp suất nước lỗ rỗng trong một đập đá với cốt lõi sét trên một nền đất còn sót lại Sự quan tâm đặc biệt dành cho tính chất củng cố của đập đá điển hình với lõi đất sét chứa đá ong được xây dựng trên nền đất sét đá ong Cơ sở dữ liệu cho bài báo này đã thu thập được cả từ đánh giá tài liệu, và từ nguồn dữ liệu được thu thập cho các
dự án thủy điện ở Lào
Ứng dụng kỹ thuật phối trộn các lớp đất trong xử lý nước thải (MSL)
Kỹ thuật xử lý môi trường phối trộn các lớp đất có tên gọi quốc tế là (Multi Soil Layering-MSL) là kỹ thuật sử dụng nhiều lớp vật liệu có nguồn gốc từ đất, sắp xếp theo một trình tự nhất định để xử lý các chất gây ô nhiễm trong nước thải [2,8] Sơ đồ được thể hiện tại hình vẽ
Hình 1 10.Sơ đồ cấu tạo hệ thống xếp lớp đa tầng
Nước thải vào
Nước sau xử lý
Lớp đất trộn:Khoáng sét có trong đất được
đóng chặt có tác dụng hoàn thành quá trình phân hủy chất hữu cơ, chất dinh dưỡng…nhờ hoạt động của các vi khuẩnkỵ khí, hiếm khí và tùy tiện
Lớp đất thấm qua: Dùng than hoạt tính,
khoáng sét zeolite, sỏi,…để phân hủyvà hấp phụ các chất gây ô nhiễm trong nước thải nhờ khả năng hấp phụ của vật liệu và hoạt động của
vi sinh vật hiếm khí
Trang 33Cơ chế xử lý nước của phương pháp MSL được thể hiện trên hình vẽ Lớp đất trộn (Soil mix layer) diễn ra 2 quá trình xử lý hiếm khí và yếm khí Do vậy xử lý được cả chất hữu cơ và nito trong nước.Hầu hết các hợp chất C và N mất di do quá trình phân hủy yếm khí và hiếm khí tạo thành khí N2 và CO2 thoát ra không khí Lớp vật liệu thấm xử lý đượckim loại nặng, NH4+ và PO43-nhờ quá trình hấp phụ trong điều kiện có O2
Trong điều kiện hiếu khí chất hữu cơ có trong nước thải được loại bỏ thông qua các phản ứng sau:
C18H19O9N + 17,5O2 + H+ → 18CO2 + 8H2O + NH4+
C18H19O9N + 19,5O2 → 18CO2 + 9H2O +H+ + NO3- Các vi sinh vật tự dưỡng chuyển hóa amoni thành nitrit và từ nitrit thành nitrat, quá trình này diễn ra trong điều kiện hiếm khí Vi sinh vật đặc trưng cho quá trình chuyển hóa thành nitrit là nhóm Nitrosomas và cho quá trình oxi hóa thành nitrat là nhóm Nitrobacter Các phản ứng được diễn ra theo như sau:
80,7NH4+ + 114,55O2 + 160,4HCO3- → C5H7NO2 + 79,7NO2- + 82,7H2O +
55,4H2CO3 134,5NO2- + NH4+ + 62,25O2 + HCO3- + H2CO3- → C5H7NO2 + 134,5NO3- + 3H2O
Sự tích tụ của poly phốt phát trong điều kiện hiếu khí được mô tả theo phản ứng dưới đây:
C2H4O2 + 0,16NH4+ + 1,2O2 + 0,2PO43- → 0,16C5H7O2 +1,2CO2 + 0,2(HPO3) +
0,44OH- +1,44H2O Trong điều kiện hiếm khí, hấp phụ ion được thực hiện trên bề mặt các hạt keo đất nhờ phản ứng hóa học:
[KĐ]-OH+ HPO42-+H = [KĐ]-OPO32- +H2O
4 Nhu cầu dinh dưỡng của một số cây trồng ngắn ngày
4.1 Nhu cầu dinh dưỡng cho lúa
Theo tác giả Hồ Đình Hải, 2014 “Quy trình bón phân cho cây lúa” được chia theo các giống lúa như sau:
Trang 344.1.1 Nhu cầu dinh dưỡng cho lúa địa phương
Đây là nhóm giống lúa nhiệt đới (indica) có thời gian sinh trưởng dài (5-7 tháng), phản
ứng phân đạm kém, năng suất thấp (2-4 tấn/ha) nhưng chất lượng gạo ngon
Đất sản xuất lúa mùa thường chỉ trồng được một vụ trong năm nên chất dinh dưỡng trong đất ít bị hao kiệt như khi trồng lúa cải tiến hay lúa lai Mặt khác do lúa mùa cao cây nên lượng rơm rạ để lại trong đất khá nhiều và vi sinh vật đất đa dạng nên các chất dinh dưỡng trong đất bù đắp phần nào sự thiếu hụt
Lượng phân chuồng cần 8-10 tấn/ha, thực tế hiện nay dùng phân hữu cơ truyền thống
để bón cho cây lúa là khó thực hiện, đặc biệt ở vùng ĐBSCL Nếu không có điều kiện bón phân chuồng nên giữ lại rơm rạ cày vùi hợp lý để cung cấp chất hữu cơ cho đất Trên ruộng lúa cần cung cấp phân bón, công thức phân nguyên chất tương ứng như sau:
4.1.2 Nhu cầu dinh dưỡng cho giống lúa cải tiến
Các giống lúa cải tiến có lá thẳng đứng, mật độ dầy, phản ứng đạm mạnh Ruộng trồng giống lúa cải tiến là ruộng chủ động nước, trồng được 2-3 vụ/năm Do giống lúa cải tiến có năng suất cao và trồng nhiều vụ liên tục nên đất trồng lúa thiếu hụt phân bón trầm trọng cả các nguyên tố đa, trung và vi lượng.Lượng phân chuồng cần 8-10 tấn/ha, nếu không có điều kiện bón phân chuồng nên giữ lại rơm rạ cày vùi để cung cấp chất
Trang 35hữu cơ cho đất một cách hợp lý Không nên cày vùi rơm rạ ngay sau khi thu hoạch và tiếp tục sản xuất vụ lúa kế tiếp ngay sau đó, điều này dể dẩn đến ngộ độc hữu cơ cho lúa
Trên ruộng lúa cải tiến cần cung cấp phân bón như sau:
Đối với các giống lúa dưới 95 ngày
Trang 364.1.3 Nhu cầu dinh dưỡng cho giống lúa lai
Các giống lúa lai có bộ lá thẳng đứng, mật độ dầy, phản ứng đạm mạnh Ruộng trồng giống lúa lai là ruộng chủ động nước, trồng được 2-3 vụ/năm.Do giống lúa lai có năng suất cao và trồng nhiều vụ liên tục nên đất trồng lúa thiếu hụt phân bón trầm trọng cả các nguyên tố đa, trung và vi lượng.Lượng phân chuồng cần 8 - 10 tấn/ha, nếu không có điều kiện bón phân chuồng nên giữ lại rơm rạ cày vùi để cung cấp chất hữu
cơ cho đất
Trên ruộng lúa lai cần cung cấp công thức phân nguyên chất như sau:
Đối với các giống lúa lai dưới 95 ngày
Tóm lại: Đối với hầu hết các giống lúa, lượng phân bón cần cung cấp cho 1 ha trong
mỗi vụ vào khoảng 100 kg N, 50 kg P và 50 kg K
Trang 374.2 Nhu cầu dinh dưỡng cho ngô
Cây ngô là loại cây hàng năm, thời gian sinh trưởng 90-160 ngày tùy vào mùa vụ và từng giống Ngô là cây có thể trồng được nhiều vụ trong năm, nước ta trồng vụ đông xuân và hè thu ở miền Nam, vụ xuân, vụ đông ở miền Bắc Cây ngô không kén đất, do vậy có thể trồng được trên nhiều loại đất khác nhau, song thích hợp nhất là đất trung tính (pH từ 6,0 - 7,2), tơi xốp, thoát nước tốt, giàu mùn và dinh dưỡng Mật độ trồng thích hợp đối với giống ngắn ngày mật độ từ 60 - 70 ngàn/ha, giống trung ngày 55-60 ngàn cây/ha và giống dài ngày 50-55 ngàn cây/ha Giống phổ biến là các giống có thời gian sinh trưởng ngắn 90-105 ngày (thích hợp vùng đồng bằng) trồng 2-3 vụ trong năm và các giống trung ngày 115-120 ngày thích hợp các vùng cao trồng trên đồi dốc
1 vụ/năm Giống bắp DK 9955 là giống ngô thích hợp cho tất cả các vùng miền (miền núi phía Bắc, Tây nguyên, đồng bằng, ) và các vụ trồng trong năm
Ngô là cây cần nhiều dinh dưỡng, chính vì vậy nếu trồng độc canh ngô liên tục nhiều năm đất trồng sẽ bị giảm độ phì đáng kể Cây ngô hút nhiều kali nhất, sau tới đạm, lân
Bảng 1.11.Công thức bón phân cho ngô
Bộ phận
Đa lượng (kg/ha)
Hạt Thân Tổng
Trang 38Đạm là yếu tố dinh dưỡng rất quan trọng, đóng vai trò tạo năng suất và chất lượng Đạm được tích luỹ trong hạt 66% Cây ngô hút đạm tăng dần từ khi cây có 3-4 lá tới trước trổ cờ Ở nước ta, một số kết quả nghiên cứu cho thấy thời kỳ hút đạm mạnh nhất là 6-12 lá và trước khi trổ cờ, nếu các giai đoạn này mà thiếu đạm thì năng suất giảm rõ rệt Triệu chứng thiếu đạm: cây thấp, lá nhỏ có màu vàng, các lá già có vệt xém đỏ, cây sinh trưởng chậm, cằn cỗi, cờ ít, bắp nhỏ, năng suất thấp
Lân có vai trò quan trọng với cây ngô tuy nhiên khả năng hút lân ở giai đoạn cây non lại rất yếu Thời kỳ 3-4 lá, cây ngô hút không được nhiều lân, đó là thời kỳ khủng hoảng lân của ngô, nếu thiếu lân trong giai đoạn này sẽ làm giảm năng suất nghiêm trọng Cây ngô hút nhiều lân nhất (khoảng 62% tổng lượng lân yêu cầu) ở thời kỳ 6-12
lá sau đó giảm đi ở các thời kỳ sau
4.3 Nhu cầu dinh dưỡng cho rau
Theo qui định của VietGap cho sản xuất rau sạch tuyệt đối không dùng phân hữu cơ tươi để bón hoặc tưới cho rau, chỉ bón phân hữu cơ đã được ủ hoai mục, có xử lý diệt
vi khuẩn theo hướng dẫn Tuyệt đối không dùng nước sinh hoạt chưa được xử lý để tưới lên cây rau Cũng không dùng phân chế biến từ rác thải thành phố, vì trong rác thải thường có chứa hoặc tiềm ẩn các kim loại nặng
Đối với rau, trong một năm bón cho 1ha khoảng 20 tấn phân hữu cơ, 500 kg phân supe lân hoặc lân nung chảy, 250 – 300 kg phân kali Bón một lần hoặc chia làm nhiều lần trong năm vào lúc thuận tiện thời tiết Bón đủ lượng như vậy đất sẽ tơi xốp và có dự trữ lân, kali, lưu huỳnh, magiê và các chất dinh dưỡng khác
Cụ thể bón phân hóa học cho rau ăn lá được tính theo công thức 200:100:100
Điểm cần chú ý: Định kỳ tùy theo đặc điểm của từng loại rau trồng mà tưới phân đạm Phân đạm càng pha loãng càng tốt và tưới vào gốc, tránh tưới trên lá Nồng độ bón thúc tăng theo thời gian sinh trưởng: cây con 1% và cây trưởng thành 3% Trước lúc thuhoạch rau từ 15 – 20 ngày nên ngừng tưới phân đạm để đảm bảo lượng nitrat không quá cao vượt quá tiêu chuẩn cho phép
Trang 395 Các nghiên cứu về sử dụng nước thải để tưới cho cây trồng
Ngày nay, có khoảng từ 1,5 - 6,6 % đất nông nghiệp trên toàn thế giới được tưới tiêu bằng nước thải đảm bảo (tức là được xử lý đúng quy trình trước khi sử dụng); tương đương khoảng 10 % lương thực trên thế giới được sản xuất bằng cách này Nhưng tỷ lệ đất nông nghiệp sử dụng nước thải không đảm bảo để tưới tiêu thì chưa thể thống kê được
Tại Mỹ
Theo một nghiên cứu mới được công bố trên tạp chí Nghiên cứu môi trường Hoa Kỳ (Environmental Research Letters), việc sử dụng nước thải không được xử lý từ các thành phố để tưới cho cây trồng ở các khu vực lân cận là thực tế khá phổ biến và nhiều hơn 50% tổng diện tích đất nông nghiệp Các nhà nghiên cứu Mỹ đã phân tích dữ liệu bằng hệ thống thông tin địa lý (GIS) thay vì dựa vào các kết quả nghiên cứu điển hình qua các đề tài, tài liệu nghiên cứu giống như trong các nghiên cứu trước đây Nhóm nghiên cứu đã lần đầu tiên đánh giá được tình trạng tái sử dụng nước thải bị pha loãng
để tưới và kết luận rằng để an toàn sức khỏe thì cần phải đẩy mạnh việc giảm thiểu nguy cơ gây hại cho sức khỏe cộng đồng thông qua các biện pháp giảm thiểu ở từng công đoạn khi chuỗi cung cấp lương thực Trong đó phải chú trọng cải thiện hệ thống
xử lý nước thải, cải thiện các bước phòng ngừa sự gây hại từ các nông trại và công đoạn xử lý thức ăn gia súc
Trong nghiên cứu mới đây của ông Anne Thebo tại Đại học California, Berkeley ở
Mỹ, cho biết: "Khi mà đầu tư vào xử lý nước thải còn chậm so với tăng trưởng dân số,
một lượng lớn người tiêu dùng sẽ phải đối mặt với nguy cơ đe dọa đến an toàn thực phẩm’’ Kết quả 65% nước tưới tiêu tại các khu vực nông nghiệp nằm trong phạm vi
40km xung quanh các đô thị lớn đều bị ảnh hưởng của nước thải ở mức độ khá lớn Nghiên cứu của Alison Franklin và các nhà khoa học tại Đại học Pennsylvania State, Hoa Kỳ về một số hợp chất tồn tại trong nước thải sau khi xử lý, đó là các hóa chất như dược phẩm, các sản phẩm chăm sóc cá nhân (xà phòng, kem đánh răng, ) và cả các loại thuốc kháng sinh Hiện nay, các cơ sở xử lý nước thải không thể loại bỏ hoàn toàn các hợp chất này và nhiều nước vẫn chưa nhận thức được sự nguy hại và đưa vào
Trang 40tiêu chuẩn xử lý nước thải sinh hoạt, y tế Các hợp chất này thường tồn tại trong nước thải dưới nhiều dạng và phản ứng khác nhau trong môi trường nước thải và trong nguồn nước tiếp nhận.Franklin giải thích, khi dược phẩm và các chất từ các sản phẩm chăm sóc cá nhân được thải ra môi trường thì chắc chắn chúng sẽ có những tác động nhất định đến con người, động vật, sinh thái,… Do đó, cần phải có những nghiên cứu
cụ thể về mức độ cũng như tác động của chúng đối với môi trường.Franklin đã tiến hành đo hàm lượng ba loại kháng sinh và một loại thuốc chống động kinh trong nước thải từ nhà máy xử lý nước thải của khu vực làng Đại học của bang Pennsylvania Nước từ nhà máy xử lý này sau đó được sử dụng để tưới cho cây lúa mì tại trang trại Living Filter của bang Pennsylvania Khu vực này là một khu vực đặc biệt được sử dụng để tiến hành thử nghiệm kiểm tra việc tái sử dụng nước thải Kết quả phân tích cho thấy, mẫu của rơm và hạt lúa mì có bốn hợp chất khác nhau đều được tìm thấy Trong các mẫu trước thu hoạch cho thấy, hầu hết các hợp chất đều tìm thấy trên bề mặt bên ngoài của cây và không đáng kể trong các bộ phận của cây (ngũ cốc và rơm) Các mẫu thu thập được tại thời điểm thu hoạch đều có dấu vết của tất cả bốn hợp chất trên
bề mặt của cây Ba trong số các hợp chất đã được phát hiện trong các bộ phận của cây trồng Hai hợp chất chỉ được phát hiện trong hạt và không có trong rơm Hợp chất thứ
ba được phát hiện ở cả hạt và rơm Tuy nhiên, không có hợp chất nào ở mức độc hại Các nhà nghiên cứu cũng cho rằng, có nhiều yếu tố ảnh hưởng gây ra việc các hợp chất có thể bị nhiễm vào nguồn nước thải trước khi cho vào nhà máy xử lý nước thải chẳng hạn như độ pH cũng có những ảnh hưởng nhất định lên các bộ phận của cây trồng
Còn đối với loại hợp chất mà trong nghiên cứu thấy có sự tồn đọng trong hạt lúa mạch, tuy chưa ở mức độ nguy hiểm nhưng nhóm nghiên cứu sẽ tiến hành những nghiên cứu thêm về tác động của các chất tồn dư trong dược phẩm và chất trong sản phẩm chăm sóc cá nhân (dầu gội, kem đánh răng, xà phòng ) trong động vật và con người cũng như quá trình hoạt động tác động của dư chất này trong các môi trường: môi trường nước, thực vật, động vật và con người.Franklin đang tiếp tục nghiên cứu để hiểu một cách sâu sắc về việc sử dụng nước thông minh, không hẳn là nước cứ qua xử lý có thể tái dụng được cho tưới tiêu mà sau đó là hàng loạt những nguy cơ tiềm ẩn khác cần phải làm rõ