164 DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN CÁC PHỤ LỤC Phụ lục số 1: Hệ số an toàn vốn CAR của các tổ chức tín dụng tại Việt Nam và một số quốc gia trong khu vực châu Á
Trang 11
MỤC LỤC
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU
1.1 Tính cấp thiết của đề tài 6
1.2 Tổng quan tình hình nghiên cứu 8
1.3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 20
1.4 Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu 23
1.5 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài 25
1.6 Những điểm mới của luận án 31
1.7 Ý nghĩa khoa học và tính thực tiễn của luận án 34
Kết luận chương 1 38
CHƯƠNG 2 LÝ LUẬN VÊ HOẠT ĐỘNG SỬ DỤNG VỐN VÀ ĐIỀU CHỈNH BẰNG PHÁP LUẬT ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG SỬ DỤNG VỐN CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 2.1 Lý luận về hoạt động sử dụng vốn của ngân hàng thương mại 40
2.1.1 Lý luận về vốn của của ngân hàng thương mại 40
2.1.2 Hoạt động sử dụng vốn của ngân hàng thương mại 43
2.2 Điều chỉnh bằng pháp luật hoạt động sử dụng vốn của các ngân hàng thương mại 53
2.2.1 Nhu cầu điều chỉnh hoạt động sử dụng vốn của ngân hàng thương mại bằng pháp luật 53
2.2.2 Vai trò của pháp luật trong điều chỉnh hoạt động sử dụng vốn của ngân hàng thương mại 56
2.2.3 Giới hạn cho việc điều chỉnh bằng pháp luật đối với hoạt động sử dụng vốn của các ngân hàng thương mại 59
2.3 Hình thức pháp luật về hoạt động sử dụng vốn của các ngân hàng thương mại 60
2.3.1 Văn bản quy phạm pháp luật 60
2.3.2 Án lệ 61
Trang 22
2.3.3 Quy định nội bộ của ngân hàng thương mại 64
2.4 Các tiêu chí đánh giá chất lượng pháp luật liên quan hoạt động sử dụng vốn của ngân hàng thương mại 70
2.4.1 Tiêu chí đảm bảo tính hiệu quả 70
2.4.2 Tiêu chí đảm bảo tính hệ thống 71
2.4.3 Tiêu chỉ đảm bảo giảm thiểu chi phí tuân thủ 71
2.4.4 Tiêu chí phù hợp với chủ trương, định hướng của Đảng và nhà nước 71
2.4.5 Tiêu chí phù hợp với thông lệ và điều ước quốc tế 72
2.4.6 Tiêu chí các lợi ích cần được đảm bảo khi hoàn thiện pháp luật về hoạt động sử dụng vốn của ngân hàng thương mại 73
Kết luận chương 2 75
CHƯƠNG 3 PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ HOẠT ĐỘNG SỬ DỤNG VỐN CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI ĐỂ ĐẦU TƯ 3.1 Quy định về loại nguồn vốn của ngân hàng thương mại được sử dụng cho hoạt động đầu tư 78
3.2 Những quy định pháp luật để hạn chế rủi ro trong hoạt động sử dụng vốn của NHTM thông qua việc đầu tư 79
3.3 Các quy định của pháp luật về các lĩnh vực đầu tư cụ thể của NHTM 80
3.4 Chế tài cho các hành vi vi phạm quy định về hoạt động sử dụng vốn để đầu tư của ngân hàng thương mại 90
3.5 Các bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật liên quan đến hoạt động sử dụng vốn của ngân hàng thương mại thông qua hoạt động đầu tư 92
Kết luận chương 3 97
CHƯƠNG 4 PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ HOẠT ĐỘNG SỬ DỤNG VỐN CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI THÔNG QUA HOẠT ĐỘNG CẤP TÍN DỤNG 4.1 Nguồn vốn của ngân hàng thương mại được sử dụng để cấp tín dụng 100
Trang 33
4.2 Những quy định pháp luật để hạn chế rủi ro trong hoạt động sử dụng vốn của NHTM thông qua việc cấp tín dụng 108 4.3 Các quy định của pháp luật về các lĩnh vực cấp tín dụng cụ thể của NHTM 127 4.4 Chế tài cho các hành vi vi phạm liên quan đến hoạt động sử dụng vốn để cấp tín dụng của ngân hàng thương mại 135 4.5 Các bất cập và kiến nghị hoàn thiện quy định về sử dụng vốn của ngân hàng thương mại để cấp tín dụng 140 Kết luận chương 4 160 Kết luận của luận án 164
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN
CÁC PHỤ LỤC
Phụ lục số 1: Hệ số an toàn vốn (CAR) của các tổ chức tín dụng tại Việt Nam và một
số quốc gia trong khu vực châu Á năm 2011, 2012
Phụ lục số 2: Hệ số CAR của một số NHTM cổ phần (%)
Phụ lục số 3: Các nguyên tắc Basel
Phụ lục số 4: Danh mục các NHTM được phép kinh doanh vàng miếng
Phụ lục số 5: Báo cáo tài chính của một số ngân hàng thương mại
Phụ lục số 6: Kết luận thanh tra việc chấp hành chính sách, pháp luật tại một số ngân
hàng thương mại
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 44
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
A DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT TIẾNG VIỆT
14 VB QPPL Văn bản quy phạm pháp luật
15 VKSND Viện kiểm sát nhân dân
16 VNĐ Việt Nam đồng
Trang 55
B DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT TIẾNG ANH
ANH
TÊN ĐẦY ĐỦ TIẾNG VIỆT
FED Federal Reserve System Cục dự trữ liên bang Mỹ hay
Ngân hàng trung ương của Mỹ WTO World Trade Organization Tổ chức thương mại thế giới
Trang 66
Chương 1
TỔNG QUAN VỀ ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Kinh doanh tiền tệ và ngân hàng (NH) là lĩnh vực kinh doanh đặc thù của ngân hàng thương mại (NHTM) Hoạt động sử dụng vốn của NHTM không chỉ có tầm quan trọng đặc biệt đối với sự tồn tại của một NHTM mà còn là kênh truyền dẫn chính sách tiền tệ của Chính phủ và ngân hàng nhà nước (NHNN) Hoạt động sử dụng vốn của NHTM có liên quan trực tiếp đến sự an toàn của toàn hệ thống NH Trong thời gian qua, nhiều vụ án hình sự trong lĩnh vực NH đã cho thấy một số vấn đề phát sinh liên quan đến quy định pháp luật và việc thực thi, tuân thủ pháp luật trong lĩnh vực này Chính vì vậy, việc nghiên cứu các quy định pháp luật về hoạt động sử dụng vốn của NHTM luôn
là vấn đề nhận được sự quan tâm và là nhu cầu của nhiều chủ thể sau:
Nhu cầu từ các NHTM
Trong thời gian qua, tình trạng sở hữu chéo1 trong lĩnh vực NH diễn ra khá rầm
rộ ở Việt Nam đã tạo nên tình trạng vốn ảo trong hệ thống NH và dẫn đến nhiều hệ lụy cho nền kinh tế Những vụ án lớn trong lĩnh vực NH được xét xử trong các năm vừa qua tại Việt Nam đã cho thấy thiệt hại cho NH là quá lớn khi bản thân NH quản lý không tốt, quản lý tùy tiện nguồn vốn của NHTM Trong vụ án liên quan đến bị cáo Phạm Công Danh, vào khoảng tháng 5/2013, để có tiền sử dụng cho việc chi chăm sóc khách hàng phục vụ cho thanh khoản của NHTM cổ phần Xây dựng Việt Nam (VNCB), các
bị cáo đã bàn về việc tìm cách rút tiền từ NH phục vụ cho việc chăm sóc khách hàng2 Các vụ án lớn liên quan đến lĩnh vực NH, liên quan đến thất thoát đồng vốn của NH đã góp phần làm xói mòn lòng tin của người dân cũng như nhà đầu tư Chính vì vậy, các NHTM cần chấn chỉnh lại hoạt động sử dụng vốn của mình để duy trì nhiềm tin của người gửi tiền, để thu hút sự đầu tư của các nhà đầu tư, những người góp vốn để thành lập và quản lý NH
Nhu cầu từ phía xã hội
Thứ nhất, lĩnh vực kinh doanh NH liên quan đến nhiều hoạt động của nền kinh
tế thông qua việc nắm giữ và cung ứng nguồn vốn Đặc biệt, kinh doanh NH liên quan
và cung cấp vốn cho nhiều lĩnh vực của nền kinh tế như kinh doanh chứng khoán, bất động sản (BĐS), xây dựng, đầu tư, v.v… nhất là ở khía cạnh nguồn vốn và cách thức sử dụng vốn Hoạt động kinh doanh của NH được ví như huyết mạch của nền kinh tế Các
1 Sở hữu chéo là việc đồng thời hai doanh nghiệp có sở hữu phần vốn góp, cổ phần của nhau (Khoản 2 Điều 16 Nghị định 96/2015/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều của Luật Doanh nghiệp năm 2014)
2 Bản án hình sự sơ thẩm số 332/2016/HSST vào ngày 09/09/2016, tr 34
Trang 77
cuộc khủng hoảng tài chính Đông Á 1997-1998, khủng hoảng tài chính Nam Mỹ
2001-2002, khủng hoảng hệ thống NH trên toàn thế giới, đặc biệt là ở Mỹ từ 2008 đã cho thấy vai trò huyết mạch này của hoạt động NH
Thứ hai, nguồn vốn cho NH hoạt động phần lớn là nguồn vốn của xã hội, được
người dân tin tưởng gửi vào NH NH là chủ thể đi vay và cho vay lại, chỉ có một phần nhỏ vốn của NH là vốn của chủ sở hữu Người dân khi đã gửi tiền vào NH sẽ không có
cơ hội cũng như không có điều kiện kiểm tra, giám sát hoạt động sử dụng vốn này Chính vì vậy, hoạt động sử dụng vốn của NHTM một cách an toàn là điều kiện tiên quyết để khôi phục và duy trì niềm tin của người gửi tiền
Nhu cầu từ cơ quan quản lý nhà nước
Không phủ nhận là từ sau khi gia nhập Tổ chức thương mại thế giới (WTO: World Trade Organization) đến nay, đặc biệt sau khi Luật các tổ chức tín dụng số 47/2010/QH123 có hiệu lực (sau đây gọi tắt là Luật các TCTD năm 2010), Việt Nam đã hết sức nỗ lực trong việc ban hành hàng loạt các quy định pháp luật về hoạt động sử dụng vốn của NHTM ở Việt Nam Chẳng hạn các quy định về: trích lập dự phòng rủi ro trong hoạt động của các TCTD; quy định về các giới hạn, tỉ lệ đảm bảo an toàn trong hoạt động của TCTD,…Tuy nhiên, có khá nhiều quy định của Việt Nam về những vấn
đề trên được xem là chưa phù hợp với các khuyến nghị của Basel4 Những hạn chế đó,trong xu thế hội nhập, cần được điều chỉnh cho phù hợp Do đó, việc tham khảo kinh nghiệm của các quốc gia trên thế giới về hoạt động NH, đặc biệt là hoạt động sử dụng vốn của các NHTM là vấn đề cần được tiến hành sớm, nhất là kinh nghiệm từ các quốc gia có hệ thống pháp luật về NH chặt chẽ ở châu Âu và Mỹ (như Mỹ, Thụy Sĩ) hoặc ở những quốc gia có quá trình chuyển đổi giống Việt Nam (như Trung Quốc)
Trong kỳ họp thứ 3, Quốc hội khóa 14 đã dành hầu hết thời gian để bàn về việc
xử lý nợ xấu Điều này cho thấy, hoạt động sử dụng vốn của NH luôn dành được sự quan tâm đặc biệt của cả nước từ Quốc hội cho đến người dân
Chính vì vậy, nghiên cứu về hoạt động sử dụng vốn của các NHTM dưới góc độ pháp luật đã, đang và sẽ là xu hướng của các nhà hoạch định chính sách cũng như của các học giả Việt Nam Đây vừa là công việc mang tính cấp bách vừa là công việc mang tính lâu dài Luận án này được thực hiện trong bối cảnh Việt Nam đã và đang cơ cấu lại các TCTD, đang tìm cách đưa ra giải pháp đổi mới và hoàn thiện hệ thống các VB QPPL
về hoạt động NH bao gồm: ban hành chuẩn mực an toàn vốn phù hợp với Basel II, đổi mới, hoàn thiện các quy định an toàn hoạt động của TCTD, đặc biệt là các tỷ lệ về khả
3 Được ban hành 16-6-2010, hiệu lực từ 01-01-2011
4 Hiệp ước Basel (Basel Accord) đưa ra các nguyên tắc chung và các luật ngân hàng của Ủy ban Basel về giám sát ngân hàng
Trang 88
năng chi trả để hạn chế và kiểm soát có hiệu quả các rủi ro trong hoạt động của các TCTD, ban hành các nguyên tắc, chuẩn mực quản trị rủi ro đối với các TCTD
1.2 Tổng quan tình hình nghiên cứu
Do tầm quan trọng trong hoạt động sử dụng vốn của TCTD nói chung, của NHTM nói riêng cũng như nhu cầu cần có các quy định pháp lý phù hợp để điều chỉnh nên việc tìm hiểu về hoạt động sử dụng vốn của TCTD nói chung và NHTM nói riêng
đã được nhiều chủ thể đầu tư nghiên cứu Cho đến nay, đã có nhiều công trình nghiên cứu, các hội thảo, các luận văn, luận án, bài phát biểu có liên quan một phần hoặc liên quan mật thiết đến đề tài “Pháp luật về hoạt động sử dụng vốn của ngân hàng thương mại Việt Nam” Cụ thể, các công trình nghiên cứu đó được liệt kê trong luận án này theo
2 nhóm chính sau đây: Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài và tình hình nghiên cứu ở Việt Nam Trên cơ sở tìm hiểu tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước như đã trình bày ở trên, nghiên cứu sinh có các ghi nhận và nhận xét sơ bộ như sau:
1.2.1 Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài
1.2.1.1 Các công trình nghiên cứu về kinh tế có liên quan đến đề tài
Bài viết của tác giả Hao Liu xem xét mối quan hệ giữa các thay đổi trong cơ chế hoạt động của NH và khủng hoảng tài chính bằng cách nghiên cứu sự thay đổi về chính sách của 137 quốc gia và đặc biệt là các quốc gia thuộc nhóm Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (OECD Organization for Economic Cooperation and development) Các hoạt động NH ở đây được xác định ở 4 khía cạnh: chứng khoán, bảo hiểm, BĐS và sở hữu Việc phân biệt giữa NH truyền thống và NH đa năng là căn cứ trên những hoạt động này5 Vấn đề còn lại là bài viết dành nhiều phần cho các phép tính toán trong kinh
tế để phân tích mối liên hệ giữa các hoạt động này và khủng hoảng kinh tế Nghiên cứu sinh sẽ dựa trên kết quả nghiên cứu này để đưa ra các nhận định dưới khía cạnh pháp lý
Matthias Lehmann tiến hành phân tích nguyên tắc Volcker Rule hay còn gọi là Ring-Fencing, tức là nguyên tắc tách biệt các hoạt động của NH để đảm bảo an toàn đồng vốn của NH trước các hoạt động mang lại rủi ro6 The Volcker Rule cấm hai loại hoạt động: tham gia các giao dịch chứng khoán; không tham gia vào hoạt động của quỹ đầu cơ Theo nguyên tắc Paul Volcker, hai hoạt động này quá rủi ro và không phải là hoạt động chính yếu cho các tổ chức nhận tiền gửi Nhưng quy tắc này không ngăn cấm
NH đầu tư vào trái phiếu Chính phủ, cam kết tài trợ, bao mua hoặc tạo lập thị trường, các hoạt động đầu cơ giảm thiểu rủi ro, mua hoặc bán chứng khoán nhân danh khách
5 Hao Liu (2013), The effect of banking regime change from traditional banking operation to universal banking operation in financial crisis, a thesis submitted to the Faculty of the Graduate School of Arts and Sciences of
Georgetown University in partial fulfillment of the requirements for the degree of Master of Public Policy in Public Policy, Bản tóm tắt luận văn, p.25
6 Matthias Lehmann (2014), Volcker Rule, Ring-Fencing or Separation of Bank Activities:Comparison of Structural Reform Acts Around the World, LSE Law, Society and Economy Working Papers 25/2014, London
School of Economics and Political Science Law Department, p 2
Trang 99
hàng của NH, đầu tư vào những doanh nghiệp nhỏ hoặc các quỹ công cộng7 Trong đó, tác giả phân tích sự khác biệt trong quy định của Đức, Pháp, Mỹ (The Volcker Rule) và European Union ở khía cạnh có liên quan8 Tuy nhiên, bài viết chưa trình bày các nguyên nhân sâu xa để dẫn đến sự khác biệt của những quy định này Những nội dung mà nghiên cứu này chưa trình bày là nội dung mà nghiên cứu sinh sẽ nghiên cứu so sánh dưới góc
độ pháp luật với những quy định hiện tại Việt Nam
Trong bài viết “Chức năng của vốn của ngân hàng” 9, tác giả Ing Martin Svitek
đã liệt kê và phân tích các chức năng của vốn NH như sau: chức năng bù đắp các tổn thất, thiệt hại (loss-absorbing function), chức năng tạo niềm tin cho người gửi tiền (confidence function), chức năng tài chính (financial function), chức năng giới hạn (restrictive function) Nhờ chức năng bù đắp các tổn thất và thiệt hại của vốn, người gửi tiền và chủ nợ của NH cảm giác yên tâm là tiền gửi, cho vay của họ được an toàn Vốn được xem là kênh để tạo ra vốn mới từ lợi nhuận Vốn được sử dụng giới hạn trong một
số tài sản và giao dịch của NH Theo đó, tác giả kết luận là vì tầm quan trọng của vốn
NH nên nó trở thành vấn đề trung tâm trong lĩnh vực NH Phạm vi của bài viết chỉ giới hạn trong chức năng của vốn NH đúng như tên gọi nên chưa làm rõ được hoạt động sử dụng vốn của NH trên thực tế có phản ánh được các chức năng trên hay không
Trong 182 trang luận án tiến sĩ kinh tế “Quản trị hoạt động tín dụng của các ngân hàng thương mại tại Lào”10, nghiên cứu sinh người Lào Kongchampa Ounkham nghiên cứu chính tập trung vào các quy định và thực tiễn quản trị NHTM tại Lào để nghiên cứu tuy luận án được thực hiện bằng tiếng Việt Bên cạnh đó, luận án này chỉ tập trung vào công việc quản trị NHTM và các biện pháp đảm bảo tín dụng tại Lào và một số nước khác như Việt Nam, Úc, Mỹ, Trung Quốc, v.v… mà không phải tập trung vào quy định pháp luật về hoạt động sử dụng vốn của NHTM tại Việt Nam nói chung, về hoạt động đầu tư của NHTM nói riêng Đây sẽ là những nội dung mà nghiên cứu sinh sẽ tập trung nghiên cứu
1.2.1.2 Các công trình nghiên cứu về quy định pháp luật:
“Quản trị ngân hàng thương mại” của Peter.S Rose11 cung cấp các kết quả nghiên cứu về việc quản lý nguồn vốn của NHTM, tác động của chính sách và các quy định đối với hoạt động của NH, phân tích và đánh giá hoạt động của NH, hoạt động đầu tư của NHTM Công trình nghiên cứu này có giá trị tham khảo để tiến hành việc so sánh cũng
7 Matthias Lehmann (2014), tlđd 6, tr.7
8 Matthias Lehmann (2014), tlđd 6, p 9, 10
9 Ing Martin Stivek, Function of capital of bank, Narodna Banka Slovenska, Biatec, Rocnik 9, 5/2001, p.37-40:
Owing to its importance, capital has become a central point of the world of banking
10 Kongchampa Ounkham (2016), “Quản trị hoạt động tín dụng của các ngân hàng thương mại tại Lào”, trường Đại học kinh tế TP.HCM, người hướng dẫn: PGS.TS Trần Huy Hoàng
11 Peter S Rose (2004, xuất bản lần thứ 4), Quản trị ngân hàng thương mại, Sách tham khảo, do Nguyễn Huy
Hoàng và cộng sự dịch sang tiếng Việt, Hà Nội, tr 36
Trang 1010
như cung cấp cho nghiên cứu sinh những kiến thức nền tảng về hoạt động của NH Tuy nhiên, hạn chế của sách này là chỉ giới hạn trong việc nghiên cứu về những quy định của nước Mỹ liên quan đến hoạt động của NH, chưa có sự so sánh với quy định tương ứng ở nhiều quốc gia khác Chưa kể, sách ra đời từ những năm 2004 (dù đã nhiều lần tái bản) nên chưa cập nhật hết những thay đổi và biến động của các quy định pháp lý hiện nay của Mỹ, nhất là sau cuộc khủng hoảng kinh tế năm 2008 Đó sẽ là điều mà luận
án của nghiên cứu sinh sẽ hướng tới
Sách “Principles of banking”12 của Hiệp hội NH Mỹ đã trình bày những nguyên tắc cơ bản trong giao dịch NH, các hoạt động của các NH từ việc quản lý điều hành các tài sản đến việc quản lý điều hành các nguồn vốn nợ Công trình này nghiên cứu kỹ quá trình phát triển của hệ thống NH Mỹ, các đạo luật, quy định pháp lý điều chỉnh hoạt động của các định chế tài chính Mỹ, các cơ quan thẩm quyền về giám sát và quản lý điều tiết hoạt động NH theo quy phạm pháp luật (QPPL) Tuy nhiên, đây chỉ là những nguyên tắc và quy định về hoạt động NH nói chung, không tập trung phân tích riêng về quy định liên quan đến hoạt động sử dụng vốn của NHTM Chương 10 của sách này tập trung phân tích việc quản lý điều hành các nguồn vốn của NH, phân tích sự khác nhau giữa cho vay và đầu tư, đa dạng hóa hoạt động đầu tư Kết quả nghiên cứu đưa ra nhận định là chương trình/ kế hoạch quản lý nguồn vốn nỗ lực điều hòa giữa 3 mục tiêu: tính
an toàn, tính thanh khoản và khả năng sinh lời của NH13 Các kết quả nghiên cứu trong công trình này cũng trình bày sự so sánh và lý giải sự ra đời của các đạo luật về NH
1.2.1 Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam
1.2.2.1 Các nghiên cứu về kinh tế có nội dung liên quan đề tài
Đây là một đề tài liên quan đến lĩnh vực NH, một lĩnh vực đặc thù của nền kinh
tế Chính vì vậy, các đề tài nghiên cứu về kinh tế nói chung, về NH nói riêng là đối tượng tham khảo chính của luận án này
“Quản trị ngân hàng” của tác giả Hồ Diệu 14 ra đời trong bối cảnh sau cuộc khủng hoảng tài chính Đông Á (1997-1998) và cuộc khủng hoảng tài chính Nam Mỹ (2001-2002) Tác giả Hồ Diệu không đi sâu vào cơ cở lý thuyết quản trị mà chỉ tập trung xử lý những vấn đề cơ bản trong quản trị các mặt hoạt động đặc trưng của NH Đặc biệt, trong
đó, tác giả nhấn mạnh đến các giải pháp phòng vệ và hạn chế rủi ro; việc thành lập, tổ chức và phát triển mạng lưới NH
Cả hai công trình nghiên cứu của tác giả Peter Rose và Hồ Diệu đều có chung một điểm là do được tiến hành cách đây hơn 10 năm nên ít nhiều vẫn chưa thể hiện được
12 American Bankers Association (2007) (Tái bản lần thứ 9), Các nguyên tắc trong hoạt động giao dịch ngân hàng tại Mỹ (Principles of banking), do nhóm tác giả Nguyễn Hữu Thu hiệu đính bản dịch, 12-2017
13 American Bankers Association (2007), tlđd 12, tr.135
14 Hồ Diệu (2002), Quản trị ngân hàng, Nxb Thống kê
Trang 11Sách của tác giả Nguyễn Văn Tiến về “Quản trị rủi ro trong kinh doanh ngân
những loại rủi ro như rủi ro lãi suất, rủi ro tín dụng, rủi ro ngoại hối, rủi ro thanh khoản, rủi ro thanh toán quốc tế Cuối cùng, mới là vai trò của chủ sở hữu trong kinh doanh
NH Những nghiên cứu này là cơ sở lý luận cần thiết liên quan đến lĩnh vực NH để nghiên cứu sinh thực hiện luận án này
Tiến sĩ Trương Quang Thông trong công trình: “Quản trị ngân hàng thương mại”16, đã lý giải được sự cần thiết phải điều chỉnh bằng pháp luật đối với hoạt động
NH, giới thiệu những thay đổi quan trọng của khung pháp lý điều chỉnh về hoạt động của NH Việt Nam từ 2005 đến 2009, cũng như phân tích những hạn chế của khung pháp
lý điều chỉnh trong giai đoạn này Kết quả nghiên cứu của Tiến sĩ Trương Quang Thông
đã phân tích những thay đổi pháp lý về kiểm soát mạng lưới hoạt động NH và hoạt động của thị trường tiền tệ; những thay đổi pháp lý về hoạt động huy động vốn tín dụng; hoạt động kinh doanh tiền tệ; thay đổi pháp lý về hoạt động dịch vụ thanh toán Về hạn chế của khung pháp lý điều chỉnh trong giai đoạn này, tác giả chủ yếu đề cập đến việc thiếu nhiều VB QPPL điều chỉnh hoạt động NH, quy định pháp lý về bảo hiểm tiền gửi và hoạt động giám sát chưa đủ điều kiện để phát huy vai trò đảm bảo an toàn cho hoạt động
NH Trong các kết quả nghiên cứu trên, nghiên cứu sinh sẽ tiếp thu những phân tích liên quan đến sự cần thiết phải điều chỉnh bằng pháp luật đối với hoạt động NH, những thay đổi về huy động vốn tín dụng
Những luận án và các công trình nghiên cứu khác về kinh tế có nội dung liên quan đến đề tài:
Nghiên cứu của Phan Thị Hằng Nga tập trung đánh giá năng lực tài chính của các NHTM Việt Nam trên cơ sở khung an toàn CAMEL17 Đây là một công trình công phu với nhiều bảng biểu và số liệu về NH, thể hiện từ trang 61 đến trang 135, liên quan đến hệ số an toàn vốn, đến tỷ suất lợi nhuận trên tài sản (ROA: Return on assets), tỷ suất
15 Nguyễn Văn Tiến (2005), Quản trị rủi ro trong kinh doanh ngân hàng, Nxb Thống kê
16 Trương Quang Thông (chủ biên) (2010), Quản trị ngân hàng thương mại, Nxb Tài chính
17 CAMEL chính là viết tắt từ chữ cái đầu của các chữ tiếng Anh Capital, Asset quality, Management, Earnings,
và Liquidity ( Vốn, chất lượng tài sản, quản trị, thu nhập và tính thanh khoản)
Trang 1212
lợi nhuận ròng trên vốn (ROE: Return on Equity), đến dự phòng rủi ro, v.v…Nguồn số liệu này rất hữu ích cho nghiên cứu sinh khi tiến hành luận án này của mình Tuy nhiên, các phân tích trong luận án của Phan Thị Hằng Nga mang nặng tính kinh tế và nhiều phép tính trong toán học hơn là phân tích về khía cạnh pháp lý Đây là điều để ngỏ cho nghiên cứu sinh nghiên cứu tiếp
Tiến sĩ Hạ Thị Thiều Dao đã thực hiện nghiên cứu “25 nguyên tắc giám sát ngân hàng theo Basel II và việc tuân thủ ở Việt Nam”18 Đúng như tên gọi, tác giả chỉ nêu ra các nguyên tắc, đối chiếu và chỉ rõ mức độ tuân thủ của các NH Việt Nam trước yêu cầu của Ủy ban Basel mà không đi sâu phân tích về việc áp dụng các nguyên tắc này ở Việt Nam như thế nào Nghiên cứu sinh sẽ áp dụng những quy định của Basel 2, 3 để tiến hành nghiên cứu quy định của pháp luật về hoạt động sử dụng vốn của các NHTM tại Việt Nam
1.2.2.2 Các nghiên cứu về luật có nội dung liên quan đề tài:
Giáo trình Luật Ngân hàng của trường Đại học Luật TP.Hồ Chí Minh19 đã cung cấp cho nghiên cứu sinh những kiến thức nền tảng về đặc điểm của hoạt động NH, các nguyên tắc của luật NH, pháp luật điều chỉnh hoạt động cấp tín dụng đặc điểm và bản chất của tín dụng NH Đúng như tên gọi, giáo trình này chủ yếu hướng đến cung cấp những kiến thức nền tảng về luật NH Trong các nguyên tắc chung có nguyên tắc bất khả xâm phạm về vốn, tài sản và các quyền, lợi ích hợp pháp; nguyên tắc tự chủ kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ - NH; nguyên tắc cạnh tranh bình đẳng; nguyên tắc cân bằng (dung hòa) quyền lợi của các chủ thể trong luật NH Trong các nguyên tắc đặc thù có nguyên tắc hạn chế và phòng ngừa rủi ro trong hoạt động NH; nguyên tắc xây dựng hệ thống NH theo hướng phân định cụ thể chức năng và nguyên lý hoạt động giữa NHNN Việt Nam và các TCTD
Tác giả Nguyễn Xuân Bang trong bài viết “Một số vấn đề pháp lý về các hạn chế
để đảm bảo an toàn trong hoạt động của tổ chức tín dụng” tập trung phân tích bản chất của việc nhà nước đưa ra các hạn chế trong hoạt động của TCTD Tuy nhiên, các phân tích này bao gồm cho cả các loại hình TCTD chứ không chỉ riêng cho NHTM20 Thêm vào đó, tác giả còn đề ra các nguyên tắc cơ bản cần tuân thủ khi đề ra các quy định các hạn chế trong hoạt động của TCTD Về tổng thể, bài viết của tác giả Nguyễn Xuân Bang chủ yếu đề cập đến rủi ro tín dụng, không đề cập đến hoạt động sử dụng vốn của NHTM
18 Hạ Thị Thiều Dao (2010), “25 nguyên tắc giám sát ngân hàng theo Basel II và việc tuân thủ ở Việt Nam”, Kỷ yếu hội thảo khoa học Hiệu lực của hệ thống giám sát tài chính Việt Nam, Nxb Tài chính, 2010
19 Trường Đại học Luật TP.Hồ Chí Minh (2013), Giáo trình Luật ngân hàng (tái bản), Nxb Hồng Đức-Hội Luật
gia Việt Nam, tr1-454
20 Nguyễn Xuân Bang (2011), “Một số vấn đề pháp lý về các hạn chế để đảm bảo an toàn trong hoạt động của tổ
chức tín dụng”, Tạp chí Khoa học pháp lý số 2/2011
Trang 1313
Tác giả Phạm Thị Giang Thu, một cách độc lập hoặc cùng tham gia nghiên cứu chung với các tác giả khác, đã có nhiều bài viết về lĩnh vực tài chính NH Trong đó, có một số bài viết liên quan trực tiếp đến đề tài của nghiên cứu sinh như sau:
Bài báo “Một vài ý kiến về pháp luật điều chỉnh hoạt động góp vốn, mua cổ phần
cứu sinh Trong bài viết, tác giả nêu lên ý kiến về những quy định pháp luật hiện nay liên quan đến quyền thực hiện góp vốn, mua cổ phần; giới hạn tham gia góp vốn, mua
cổ phần; lĩnh vực được góp vốn, mua cổ phần và cuối cùng là trình tự thủ tục góp vốn, mua cổ phần của NHTM Quyền thực hiện góp vốn, mua cổ phần đã được đem ra phân tích sâu trong vụ án liên quan đến bị cáo Nguyễn Đức Kiên Tuy nhiên, trình tự, thủ tục góp vốn mua cổ phần của NHTM không phải là mục tiêu của luận án của nghiên cứu sinh Trong khi đó, phần phân tích sâu sắc về lĩnh vực và giới hạn góp vốn mua cổ phần
là phần có liên quan chặt chẽ đến ý định nghiên cứu trong luận án của nghiên cứu sinh Đây là bài viết để nghiên cứu sinh kế thừa và phát triển các phân tích có liên quan đến hoạt động sử dụng vốn của các NHTM thông qua hoạt động đầu tư
Bài báo “Những hạn chế của pháp luật điều chỉnh hoạt động đầu tư trái phiếu doanh nghiệp và hoạt động chiết khấu giấy tờ có giá của ngân hàng thương mại” của
hai tác giả là Phạm Thị Giang Thu và Nguyễn Ngọc Lương22 đã tập trung phân tích những hạn chế, những vướng mắc trong quy định pháp luật hiện hành liên quan đến hoạt động sử dụng vốn của các NHTM thông qua việc đầu tư trái phiếu doanh nghiệp và hoạt động chiết khấu giấy tờ có giá Những hạn chế của pháp luật được đề cập và phân tích tập trung ở 4 điểm chính sau: (1) Điều 107 Luật các TCTD năm 2010 không quy định việc NHTM được mua, bán trái phiếu doanh nghiệp trong thời gian tối đa và tối thiểu trong bao lâu và cách thức mua bán như thế nào; (2) việc chiết khấu giấy tờ có giá và đầu tư gián tiếp của NHTM phải có giấy phép của NHNN; (3) Điều 128 Luật các TCTD năm 2010 có giới hạn tổng mức đầu tư của NHTM vào trái phiếu do khách hàng phát hành nhưng quy định không làm rõ việc đầu tư vào trái phiếu này là vào thị trường sơ cấp hay thứ cấp; (4) Việc không thống nhất trong các Luật thuế giá trị gia tăng và Luật các TCTD năm 2010 về cách hiểu hình thức cấp tín dụng đã khiến cho việc áp dụng,
“thực thi quy định pháp luật về thuế không được tôn nghiêm” Nghị định
209/2013/NĐ-CP, được ban hành sau khi bài viết trên được công bố23 đã bổ sung thêm hai nội dung là bán tài sản bảo đảm tiền vay và cung cấp thông tin tín dụng vào nhóm đối tượng không
21 Phạm Thị Giang Thu (2013), “Một vài ý kiến về pháp luật điều chỉnh hoạt động góp vốn, mua cổ phần của các
ngân hàng thương mại”, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, số 1 (250) -2013, tr28-34
22 Phạm Thị Giang Thu và Nguyễn Ngọc Lương (2014), “Những hạn chế của pháp luật điều chỉnh hoạt động đầu
tư trái phiếu doanh nghiệp và hoạt động chiết khấu giấy tờ có giá của ngân hàng thương mại”, tạp chí Nghiên cứu lập pháp số 14(270) T7/2014, tr 53-56
23 Nghị định 209/2013/NĐ-CP, được ban hành ngày 18-12-2013, quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của luật thuế giá trị gia tăng; bài viết trên được công bố vào tháng 7-2014
Trang 1414
chịu thuế giá trị gia tăng tại Luật thuế giá trị gia tăng năm 2008 Nghiên cứu sinh đồng
ý với các tác giả ở chỗ hoạt động đầu tư trái phiếu doanh nghiệp của NHTM trong luật các TCTD năm 2010 vẫn chưa được xem là hình thức cấp tín dụng để được không nộp thuế giá trị gia tăng tại Nghị định 209/2015/NĐ-CP nêu trên Những hạn chế được đề cập trong bài viết này của hai tác giả là cơ sở để nghiên cứu sinh nghiên cứu và tìm ra các câu trả lời cho phù hợp với tình hình và quy định hiện hành Đặc biệt, bài viết phân tích hoạt động đầu tư trái phiếu doanh nghiệp trong bối cảnh Luật đầu tư năm 200524đang có hiệu lực Trong bối cảnh đó, việc đầu tư trái phiếu doanh nghiệp là hoạt động đầu tư gián tiếp Trong khi đó, hiện nay, theo Luật đầu tư số 67/2014/QH13 (sau đây gọi tắt là Luật đầu tư năm 2014)25, hoạt động này là hoạt động cấp tín dụng
Bài viết thứ hai của hai tác giả trên “Một số vấn đề cần quan tâm khi ban hành luật các tổ chức tín dụng sửa đổi” tập trung phân tích các nguyên tắc và vấn đề khi ban hành luật các TCTD sửa đổi26 Kết quả nghiên cứu đã cung cấp các nguyên tắc xây dựng luật và phân tích các vấn đề cụ thể cần xem xét, lưu ý trước khi thông qua Luật các TCTD sửa đổi Theo đó, các nguyên tắc khi xây dựng luật các TCTD sửa đổi bao gồm: (i) phải đảm bảo tính kế thừa, tính toàn diện, tính thực tiễn, tính cụ thể, chi tiết và có khả năng áp dụng trực tiếp; (ii) đảm bảo cơ sở pháp lý của nhà nước, lợi ích của các TCTD
và lợi ích của các tổ chức, cá nhân có sử dụng dịch vụ NH của TCTD trên cơ sở tôn trọng quy luật vận động của nền kinh tế thị trường; (iii) nguyên tắc áp dụng luật và nội hàm của Luật các TCTD Các vấn đề cụ thể được nêu trong bài viết bao gồm: phạm vi điều chỉnh của luật các TCTD năm 2010, bổ sung các khái niệm cơ bản cần được định nghĩa trong Luật; quản trị điều hành các TCTD; đảm bảo an toàn trong hoạt động của các TCTD Có thể nói, các kết quả nghiên cứu trên không liên quan chặt chẽ đến hoạt động sử dụng vốn của các NHTM nhưng các nguyên tắc trong bài viết trên là sợi chỉ đỏ xuyên suốt khi cần ban hành luật các TCTD vào năm 2010 và vẫn tiếp tục có ý nghĩa định hướng trong việc sửa đổi, ban hành mới các quy định trong lĩnh vực NH sau này, bao gồm cả các quy định pháp luật về hoạt động sử dụng vốn của các NHTM
Trong bài viết “Cơ sở pháp lý của việc ngân hàng tham gia vào thị trường tài chính hiện nay”27, tác giả Phạm Thị Giang Thu đã kiến nghị mở rộng quyền tự do kinh doanh của NH trong việc tham gia thị trường tài chính Theo tác giả, “pháp luật chưa thật sự tạo điều kiện để ngân hàng tham gia với tư cách nhà đầu tư chứng khoán”28 Từ
24 Luật đầu tư số 59/2005/QH11, được ban hành vào ngày 29-11-2005, hiệu lực thi hành vào 1-7-2006, hết hiệu lực vào 1-7-2015
25 Luật đầu tư số 67/2014/QH13, được ban hành vào 26-11-2014, hiệu lực thi hành từ 1-7-2015
26 Phạm Thị Giang Thu, Nguyễn Ngọc Lương (2010), “Một số vấn đề cần quan tâm khi ban hành luật các tổ chức
tín dụng sửa đổi”, Tạp chí Nhà nước và pháp luật số 6/2010, tr.3-10, 18
27 Phạm Thị Giang Thu (2007), “Cơ sở pháp lý của việc ngân hàng tham gia vào thị trường tài chính hiện nay”,
Tạp chí luật học, số 12/2007, tr 57-66
28 Phạm Thị Giang Thu (2007), tlđd 27, tr.60
Trang 1515
đó, tác giả đã kiến nghị mở rộng quyền tự do kinh doanh của NH trong việc tham gia thị trường tài chính như sau: (i) Tạo điều kiện pháp lý cho NH tham gia thị trường chứng khoán; (ii) Tạo cơ sở pháp lý cho NH đa dạng hóa nội dung kinh doanh trên thị trường chứng khoán, thị trường bảo hiểm Việc tạo điều kiện này bao gồm tạo cơ hội chào bán chứng khoán cho NH; thành lập tập đoàn kinh tế đa ngành, tập đoàn NH; đa dạng hóa nội dung kinh doanh của các NH, dịch vụ NH Tuy nhiên, do bài viết được thực hiện từ năm 2007, cách đây 11 năm, nên một số kiến nghị của tác giả trong bài viết này đã được pháp luật quy định như NHTM đã được tham gia thị trường chứng khoán với tư cách là nhà phát hành, các dịch vụ của NHTM đã được đa dạng hóa Riêng việc thành lập tập đoàn NH thì hiện vẫn còn nhiều tranh luận và chưa thực sự có một tập đoàn NH nào ra đời tại Việt Nam
Bài viết của tác giả Nguyễn Văn Tuyến về “Xác định giới hạn can thiệp của nhà nước đối với giao dịch thương mại của ngân hàng trong điều kiện kinh tế thị trường ở Việt Nam”29 đã cung cấp 3 kết quả nghiên cứu sau:
- Những nguyên tắc cơ bản cần tuân thủ khi xác định giới hạn hợp lý của sự can
thiệp từ phía nhà nước đối với giao dịch thương mại của NH bao gồm: sự can thiệp này chỉ nên ở tầm vĩ mô và bằng các biện pháp vĩ mô; phải xuất phát từ hoàn cảnh đặc thù
của Việt Nam, có tính đến yêu cầu hội nhập quốc tế; phải nhằm thoả mãn các mục tiêu
cơ bản về kinh tế, chính trị và xã hội theo định hướng xã hội chủ nghĩa; không được gây cản trở cho quá trình tự do hoá thương mại quốc tế trong lĩnh vực tài chính, NH mà Việt Nam đã tham gia hoặc cam kết sẽ tham gia, cũng như không cản trở quyền tự do kinh doanh của các chủ thể tham gia giao dịch thương mại NH; kết quả của sự can thiệp đó phải là cho kinh tế tăng trưởng bền vững; hệ thống NH hoạt động ổn định và có hiệu quả; các chủ thể kinh tế thoả mãn được lợi ích của mình khi giao dịch với NH; nền kinh
tế và đời sống xã hội không gặp phải các rắc rối và những biến động bất lợi; xu hướng hội nhập quốc tế không bị cản trở và ngày càng được thúc đẩy
- Phương thức can thiệp của nhà nước đối với hoạt động giao dịch thương mại của NH: xây dựng một hệ thống pháp luật hoàn chỉnh; hoạch định và thực hiện các chương trình, kế hoạch định hướng có liên quan đến hoạt động kinh doanh của các
NH; thông qua các chính sách kinh tế vĩ mô như chính sách tiền tệ quốc gia, chính sách
điều hành lãi suất tín dụng, chính sách thuế khoá, chính sách ngoại hối đối với hoạt động
kinh doanh NH; thông qua việc thành lập và trực tiếp điều hành các NHTM nhà nước
- Mức độ can thiệp của nhà nước đối với hoạt động giao dịch thương mại của các NH: (i) Với tư cách là chủ thể quản lý, nhà nước có trách nhiệm xây dựng môi
trường thuận lợi, đầy đủ và an toàn nhất cho việc xác lập và thực hiện các giao dịch
29 Nguyễn Văn Tuyến (2003), “Xác định giới hạn can thiệp của nhà nước đối với giao dịch thương mại của ngân hàng trong điều kiện kinh tế thị trường ở Việt Nam”, Tạp chí Nhà nước và pháp luật số 11/2003
Trang 1616
thương mại của NH Khái niệm môi trường ở đây được hiểu bao gồm các thành tố cơ
bản như môi trường pháp lý, môi trường chính trị và an ninh xã hội, môi trường khoa
học và công nghệ (ii) Với tư cách là chủ thể kinh tế, các doanh nghiệp NH có quyền
quyết định tối cao trong quá trình giao dịch với khách hàng và tự chịu trách nhiệm về kết quả giao dịch
Tuy đã cung cấp được các kết quả nghiên cứu hết sức có ý nghĩa nêu trên cho nghiên cứu sinh nhưng nội dung chính trong nghiên cứu của tác giả Nguyễn Văn Tuyến chỉ đề cập đến giao dịch thương mại của NH Trong khi đó, luận án của nghiên cứu sinh chỉ liên quan đến một khía cạnh hẹp là pháp luật về hoạt động sử dụng vốn của NHTM Chính vì vậy, các kết quả nghiên cứu của tác giả Nguyễn Văn Tuyến sẽ được nghiên cứu sinh kế thừa trong việc xác định giới hạn, mức độ và phương thức hợp lý của việc can thiệp của nhà nước vào hoạt động sử dụng vốn của NHTM
Bài viết tiếp theo của tác giả Nguyễn Văn Tuyến là “Các giải pháp hoàn thiện pháp luật ngân hàng ở Việt Nam trong điều kiện hội nhập quốc tế”30 đã đề cập đến các giải pháp sau: hoàn thiện các quy định về NH trung ương; hoàn thiện các quy định về tổ chức cung ứng dịch vụ NH Tác giả nhấn mạnh NHNN còn sử dụng mạnh mẽ các biện pháp hành chính trong quá trình quản lý nhà nước Kiến nghị được đưa ra là: chuyển dần chức năng quản lý hành chính nhà nước về NH của cơ quan phát hành tiền quốc gia thành chức năng giám sát và kiểm soát hệ thống NH bằng cách tăng cường các quy định mang tính kinh tế về hoạt động của NH trung ương và giảm bớt các quy định mang tính hành chính hóa Tác giả phân tích: các quy định hiện hành về quy trình, thủ tục cấp giấy phép thành lập và hoạt động cho TCTD vẫn thể hiện tư duy quản lý hành chính cứng nhắc, chưa tính đến các yếu tố kinh tế; các quy định hiện hành về hoạt động NH của TCTD chưa đảm bảo sự công bằng và bình đẳng giữa các loại hình TCTD; pháp luật
NH Việt Nam còn thiếu nhiều quy định quan trọng, cần thiết và tính nền tảng cho các hoạt động NH hiện đại Trên cơ sở phân tích các bất cập trên, tác giả đã đề ra các giải pháp để hoàn thiện
Có bốn luận án tiến sĩ liên quan hết sức chặt chẽ với đề tài của nghiên cứu sinh Trong đó có 2 luận án tiến sĩ luật học và 2 luận án tiến sĩ kinh tế:
Luận án tiến sĩ kinh tế của Vũ Hoàng Nam (2015) “Hoạt động đầu tư kinh doanh trái phiếu của ngân hàng thương mại Việt Nam”31 đã nghiên cứu chuyên sâu về hoạt động đầu tư kinh doanh trái phiếu của NHTM Việt Nam, xây dựng hệ thống các chỉ tiêu đánh giá hoạt động đầu tư kinh doanh trái phiếu của NHTM, nghiên cứu mô hình hoạt
Trang 1717
động đầu tư kinh doanh trái phiếu của NHTM trên thế giới, từ đó rút ra bài học và có giá trị thực tiễn cho hệ thống NHTM Việt Nam Trong 196 trang luận án, Vũ Hoàng Nam đã phân tích các mô hình đầu tư kinh doanh trái phiếu, lựa chọn học hỏi kinh nghiệm của Mỹ và Trung Quốc về hoạt động đầu tư kinh doanh trái phiếu
Luận án tiến sĩ luật học của Ngô Quốc Kỳ “Hoàn thiện pháp luật điều chỉnh hoạt động của ngân hàng thương mại trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam”32 đã tập trung nghiên cứu một cách toàn diện pháp luật điều chỉnh hoạt động của NHTM trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam Luận án của tiến sĩ Kỳ được thực hiện thành công vào năm 2003 Tuy nhiên, từ lúc luận án hoàn thành đến nay đã 12 năm trôi qua, tình hình hoạt động cũng như pháp luật điều chỉnh hoạt động của các NHTM đã thay đổi lớn, đã giải quyết được các bất cập được nêu trong luận án Đặc biệt là ở thời gian sau khi gia nhập WTO và sau khi Luật các TCTD năm 2010 chính thức có hiệu lực, các quy định đã được thay đổi cho phù hợp với nền kinh tế thị trường
Nếu nghiên cứu của Phan Thị Hằng Nga tập trung đánh giá năng lực tài chính của các NHTM Việt Nam trên cơ sở khung an toàn CAMEL thì luận án tiến sĩ kinh tế của Nguyễn Đức Trung lại chọn chủ đề “Bảo đảm an toàn hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam trên cơ sở áp dụng Hiệp ước tiêu chuẩn vốn quốc tế Basel” để tiến hành nghiên cứu Trong đó, Nguyễn Đức Trung chọn nghiên cứu trong khoảng thời gian từ
2005 đến tháng 9 năm 2011, tức là trong vòng 6 năm Luận án của Nguyễn Đức Trung tập trung nhiều vào việc học hỏi kinh nghiệm của tổ chức Basel và phân tích sâu về quản trị rủi ro đối với hoạt động của NHTM Tuy đã 6 năm trôi qua kể từ khi luận án hoàn thành nhưng chủ đề luận án của tác giả vẫn còn nguyên tính thời sự Tuy nhiên, bối cảnh
mà tác giả nghiên cứu đã khác với tình hình hiện nay rất nhiều, Việt Nam đã trải qua nhiều biến động trong các quy định pháp lý để đảm bảo an toàn hệ thống NHTM và thực trạng của các NHTM hiện nay cũng khác xa với các NHTM trong quá khứ Chưa kể, trên thế giới, nhiều quốc gia đã bắt đầu áp dụng Basel III Nghiên cứu của Nguyễn Đức Trung sẽ được nghiên cứu sinh kế thừa và cập nhật thêm các quy định mới của Việt Nam và thế giới
Luận án Pháp luật điều chỉnh hoạt động cấp tín dụng của các ngân hàng thương
điều chỉnh hoạt động cấp tín dụng của NHTM ở Việt Nam Luận án này chỉ tập trung
32 Ngô Quốc Kỳ (2003), luận án tiến sĩ luật học: Hoàn thiện pháp luật điều chỉnh hoạt động của ngân hàng thương mại trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, trường Đại học Luật Hà Nội, người
hướng dẫn: PGS.TS Nguyễn Thị Mơ, TS Dương Đăng Huệ
33 Nguyễn Ngọc Lương (2017), luận án tiến sĩ luật học Pháp luật điều chỉnh hoạt động cấp tín dụng của các ngân hàng thương mại ở Việt Nam, Trường đại học Luật Hà Nội, người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Phạm Thị Giang
Thu, TS.Nguyễn Văn Tuyến, tr 1-176
Trang 1818
vào pháp luật điều chỉnh hoạt động cấp tín dụng của NHTM, không đề cập đến pháp luật liên quan đến hoạt động đầu tư của NHTM Những khoảng trống của công trình nghiên cứu này là điều mà nghiên cứu sinh sẽ tiến hành nghiên cứu cụ thể trong luận án
Trong bốn luận án trên, có 2 luận án về kinh tế, 2 luận án về luật Điểm chung của cả bốn công trình nghiên cứu này là đều lấy NHTM làm đối tượng nghiên cứu và nội dung nghiên cứu của cả 4 công trình đều đề cập đến việc hoàn thiện pháp luật Việt Nam Phạm vi nghiên cứu trong công trình nghiên cứu của tiến sĩ Nam hẹp hơn và công trình nghiên cứu của tiến sĩ Kỳ lại rộng và bao quát hơn phạm vi nghiên cứu dự định của nghiên cứu sinh Tuy nhiên, việc kiến nghị hoàn thiện pháp luật Việt Nam trong ba công trình nghiên cứu đầu tiên chỉ dừng lại ở việc kêu gọi chứ chưa đưa ra một giải pháp
cụ thể
Một luận án tiến sĩ có nội dung nghiên cứu gần với đề tài của nghiên cứu sinh là
“Nâng cao hiệu quả của pháp luật Việt Nam hiện nay” của tiến sĩ Nguyễn Minh Đoan34 Công trình này đã cung cấp các kết quả nghiên cứu sau: luận án đã nêu ra khái niệm khoa học của hiệu quả pháp luật; các tiêu chí đánh giá hiệu quả pháp luật; các điều kiện đảm bảo hiệu quả pháp luật Theo đó, pháp luật có hiệu quả phải là pháp luật tạo điều kiện cho phát triển kinh tế, xã hội nhiều nhất, tốt nhất và những chi phí cho quá trình điều chỉnh pháp luật luôn thấp nhất và tiết kiệm nhất35
Trên cơ sở các nhận định sơ bộ về các công trình nghiên cứu trong nước và ở nước ngoài như trên, nghiên cứu sinh có một số nhận xét tổng quát như sau:
Thứ nhất, các luận án, bài viết, công trình nghiên cứu có liên quan chặt chẽ hay
liên quan gần đến đề tài của nghiên cứu sinh phần lớn nghiên cứu dưới khía cạnh kinh
tế Chưa kể, các công trình nghiên cứu ở nước ngoài khá ít, không nghiên cứu tình hình
sử dụng vốn hoặc hệ thống pháp luật về hoạt động sử dụng vốn của NHTM ở Việt Nam
mà chỉ đề cập đến luật của chính nước mà tác giả là công dân hoặc nơi mà tác giả đang nghiên cứu học tập Các nghiên cứu ở Việt Nam đã khắc phục một phần những điều mà các công trình nghiên cứu ở nước ngoài còn chưa thực hiện được Nhưng, từng công trình chỉ đi sâu vào một khía cạnh hẹp của vấn đề mà tác giả đang quan tâm hoặc chỉ tập trung phân tích các khía cạnh kinh tế, kỹ thuật nhiều hơn là khía cạnh pháp lý của hoạt động sử dụng vốn của NHTM hay chỉ mổ xẻ một mảng vấn đề nhỏ của hoạt động sử dụng vốn của NHTM Những công trình khoa học đã đề cập đến một khía cạnh pháp lý của hoạt động sử dụng vốn của NHTM thì chưa đi sâu phân tích mà chỉ mang tính chất liệt kê, gợi ý, kiến nghị nên chưa nghiên cứu và trình bày một cách có hệ thống và toàn diện về hoạt động sử dụng vốn của NHTM ở Việt Nam và khung pháp lý có liên quan
34 Nguyễn Minh Đoan (2001), luận án tiến sĩ luật học Nâng cao hiệu quả của pháp luật Việt Nam hiện nay, người
hướng dẫn khoa học TS.Lê Minh Tâm và TS Trần Minh Hương, 190 trang
35 Nguyễn Minh Đoan (2001), tlđd 34, tr.5
Trang 1919
Thứ hai, một số công trình nghiên cứu thật sự chỉ có ý nghĩa giúp nghiên cứu
sinh có được nguồn số liệu về lĩnh vực NH
Thứ ba, nhiều nghiên cứu được tiến hành trước thời điểm Luật các tổ chức tín
dụng năm 2010 ra đời
Thứ tư, những vấn đề sau còn chưa được đi sâu nghiên cứu:
Các nghiên cứu đã qua chưa lý giải và nêu được khái niệm về hoạt động sử dụng vốn của NHTM, chưa đi sâu nghiên cứu về khung pháp luật về hoạt động sử dụng vốn của NHTM nói chung
Cho đến nay, chưa có công trình nào đi sâu nghiên cứu so sánh, đối chiếu những điểm tương đồng và khác biệt liên quan đến pháp luật về hoạt động sử dụng vốn của NHTM ở các quốc gia như Trung Quốc, Singapore, Thụy Sĩ và Mỹ
Thứ năm, ở cấp độ luận án tiến sĩ, cho đến nay chưa có một công trình nghiên
cứu nào về pháp luật liên quan đến hoạt động sử dụng vốn của NHTM tại Việt Nam được nghiên cứu một cách hệ thống và có sự kết hợp giữa cách tiếp cận song song kinh
tế và luật
Mặc dù chưa thể hiện các đóng góp có tính chuyên sâu, nhưng các công trình nghiên cứu ở Việt Nam và nước ngoài nêu trên là những gợi mở rất có ích cho nghiên cứu sinh trong việc nghiên cứu và thực hiện luận án này Những điểm còn bỏ ngỏ hay những điều mà các công trình nghiên cứu trên chưa làm được hoặc mới bắt đầu xúc tiến chính là lý do để luận án này ra đời Nghiên cứu sinh kỳ vọng là khi luận án này hoàn thành sẽ là tài liệu tham khảo dưới dạng luận án đầu tiên liên quan đến pháp luật về hoạt động sử dụng vốn của NHTM Mặc dù các công trình đều ít nhiều đề cập đến hoạt động
sử dụng vốn của các NHTM nhưng chỉ mang tính chất riêng lẻ, chưa có công trình cụ thể nào nghiên cứu một các toàn diện và đưa ra những nhận định, lý giải có tính hệ thống
về pháp luật liên quan đến hoạt động sử dụng vốn của NHTM
Trên cơ sở tổng quan về tình hình nghiên cứu, trong luận án của mình, nghiên cứu sinh sẽ nghiên cứu các nội dung mà những công trình nghiên cứu trước đó chưa đề cập hoặc đề cập chưa sâu Các tác giả, những nhà nghiên cứu nêu trên đã nghiên cứu, tìm hiểu, phân tích khung pháp luật về hoạt động sử dụng vốn của các NHTM ở nhiều khía cạnh khác nhau Luận án “Pháp luật về hoạt động sử dụng vốn của ngân hàng thương mại Việt Nam” sẽ kế thừa, tiếp nối, xâu chuỗi các kết quả nghiên cứu về kinh tế
và pháp lý của nhiều tác giả, nhà nghiên cứu trong và ngoài nước như đã trình bày Bên cạnh đó, nhiều vấn đề tuy đã được các nghiên cứu trước đề cập nhưng vẫn cần được nghiên cứu và phát triển để phù hợp với đề tài “Pháp luật về hoạt động sử dụng vốn của ngân hàng thương mại Việt Nam”
Tính đến thời điểm hoàn thành luận án, luận án được dự kiến là công trình nghiên cứu khoa học ở cấp độ tiến sĩ có sự kết hợp cả cách tiếp cận kinh tế, chính sách và pháp
Trang 2020
lý để nghiên cứu về pháp luật về hoạt động sử dụng vốn của NHTM Các nghiên cứu dưới góc độ kinh tế là nền tảng để nghiên cứu và đề xuất các kiến nghị hợp lý liên quan pháp luật về hoạt động sử dụng vốn của NHTM Luận án hướng đến làm rõ:
- Sự cần thiết của các quy định về hoạt động sử dụng vốn của các NHTM
- Sự phù hợp của các quy định đang xem xét với chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, với Hiến pháp, pháp luật và tính thống nhất với hệ thống VB QPPL
- Tính tương thích với Điều ước quốc tế có liên quan mà Việt Nam là thành viên
- Tính khả thi của các quy định đang xem xét, bao gồm sự phù hợp với thực tế, trình độ phát triển của xã hội và điều kiện để đảm bảo thực hiện
- Thực tiễn hiện nay về áp dụng các quy định về hoạt động sử dụng vốn của các NHTM
Luận án hướng đến việc đề xuất một số sửa đổi, chấm dứt, bổ sung một số quy định hiện hành nhằm hoàn thiện pháp luật về hoạt động sử dụng vốn của các NHTM
1.3 Đối tượng nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận án này là hệ thống pháp luật về hoạt động sử dụng vốn của các NHTM Việt Nam Trong đó, chủ yếu là các QPPL về hoạt động sử dụng vốn của các NHTM tại Việt Nam, thực tiễn áp dụng các QPPL đó Luận án không tập trung nghiên cứu các QPPL về hoạt động sử dụng vốn của các TCTD khác như các TCTD phi NH, tổ chức tài chính vi mô, Quỹ tín dụng nhân dân, các loại hình NH như
NH chính sách, NH hợp tác xã Điều này xuất phát từ 2 lý do sau:
Thứ nhất, so với các TCTD khác, các NHTM là loại hình TCTD có quyền tiến
hành nhiều hoạt động NH nhất36 Từ đó, việc nghiên cứu về hoạt động sử dụng vốn của các NHTM sẽ trở nên đầy đủ hơn, bao quát hơn
Thứ hai, theo tính chất và mục tiêu hoạt động, các NH được phân loại thành
NHTM, NH chính sách, NH hợp tác xã Tuy nhiên, trong số các TCTD đã, đang hoạt động tại Việt Nam thì số lượng các NHTM luôn chiếm tỉ lệ lớn Tính đến 31-12-2013,
số lượng NHTM cổ phần hoạt động ở Việt Nam là 37, 1 NHTM nhà nước, 5 NH 100% vốn nước ngoài, 4 NH liên doanh, 1 NH chính sách, 1 NH hợp tác xã, 17 công ty tài chính, 12 công ty cho thuê tài chính, 2 tổ chức tài chính vi mô37 Tính đến 31-12-2017,
Trang 2121
số lượng NHTM cổ phần hoạt động ở Việt Nam là 3138, NHTM nhà nước là 439, NH chính sách là 240 Không chỉ tại Việt Nam mà trên thế giới, “bộ phận lớn nhất trong nhóm các ngân hàng trung gian là hệ thống các ngân hàng thương mại (Commercial Banking System)41
Việc giới hạn đối tượng nghiên cứu như trên không có nghĩa là luận án không đề cập đến các loại TCTD khác ngoài loại hình NHTM Khi cần, việc đề cập đến các TCTD khác trong luận án nhằm mục đích để làm rõ hơn hoặc so sánh những vấn đề có liên quan đến các NHTM
Luận án khảo sát khung pháp lý điều chỉnh hoạt động sử dụng vốn của các NHTM
mà không tập trung vào các nghiệp vụ NH Luận án này không hướng đến tìm hiểu về công việc chuyên môn hàng ngày trong NH mà chỉ hướng đến việc theo quy định thì NHTM sử dụng vốn như thế nào Hoạt động sử dụng vốn được đề cập chủ yếu trong luận án này là các hoạt động như: dùng nguồn vốn của NHTM để góp vốn (đối với công
ty trách nhiệm hữu hạn nhiều thành viên; công ty trách nhiệm hữu hạn 01 thành viên), mua cổ phần (công ty cổ phần), mua bán trái phiếu, kinh doanh vàng, kinh doanh ngoại hối, kinh doanh BĐS, thành lập hệ thống chi nhánh mở rộng hoạt động của các NHTM
38 Ngân hàng nhà nước (2018), “Danh sách các ngân hàng thương mại cổ phần trong nước (Đến 31-12-2017)”, https://www.sbv.gov.vn/webcenter/portal/vi/menu/fm/htctctd/nh/nhtm/nhtmcp?_afrLoop=3558762679909000#
%40%3F_afrLoop%3D3558762679909000%26centerWidth%3D80%2525%26leftWidth%3D20%2525%26righ tWidth%3D0%2525%26showFooter%3Dfalse%26showHeader%3Dfalse%26_adf.ctrl-
state%3D8wlg1v91k_293, truy cập ngày 28-08-2018
39 Ngân hàng nhà nước (2018), “Danh sách các Ngân hàng thương mại nhà nước (tính đến 31-12-2017)”, https://www.sbv.gov.vn/webcenter/portal/vi/menu/fm/htctctd/nh/nhtm/nhtmnn?_afrLoop=3558457225417000#
%40%3F_afrLoop%3D3558457225417000%26centerWidth%3D80%2525%26leftWidth%3D20%2525%26righ tWidth%3D0%2525%26showFooter%3Dfalse%26showHeader%3Dfalse%26_adf.ctrl-
state%3D8wlg1v91k_172, truy cập ngày 28-08-2018
40 Ngân hàng nhà nước (2018), “Danh sách các Ngân hàng chính sách (đến 31-12-2017)”, https://www.sbv.gov.vn/webcenter/portal/vi/menu/fm/htctctd/nh/nhcs?_afrLoop=3558463252122000#%40%3F _afrLoop%3D3558463252122000%26centerWidth%3D80%2525%26leftWidth%3D20%2525%26rightWidth% 3D0%2525%26showFooter%3Dfalse%26showHeader%3Dfalse%26_adf.ctrl-state%3D8wlg1v91k_214, truy cập ngày 28-08-2018
41 Lê Vinh Danh (2006), Tiền và hoạt động ngân hàng, Nxb Tài chính, tái bản lần thứ 2, tr.121
Trang 2222
Theo Trần Thị Lan (2018)42, thông thường cơ cấu sử dụng vốn của NH được chia thành các nhóm chính theo hình thức sử dụng vốn gồm: ngân quỹ, cho vay, đầu tư, tài sản khác Cơ cấu ngân quỹ gồm: Tiền mặt, tiền gửi tại NHTW, tiền gửi trên tài khoản tiền gửi thanh toán tại các TCTD khác Tuy nhiên, các hoạt động sử dụng vốn của NHTM được đề cập và phân tích trong luận án sẽ chỉ là những hoạt động đầu tư và cấp tín dụng Hoạt động sử dụng vốn của NHTM bao gồm rất nhiều hoạt động cụ thể kể cả việc mua trang thiết bị cho NHTM nhưng luận án này chỉ đề cập đến hai hoạt động chính, chiếm tỉ trọng cao và phổ biến trong hoạt động sử dụng vốn của NHTM là đầu tư
và cấp tín dụng Trong hoạt động cấp tín dụng của NHTM, luận án cũng chỉ đề cập đến một số loại nhất định vì có những loại cấp tín dụng của NHTM có những hoạt động giống với hoạt động của doanh nghiệp nói chung
Các hoạt động của NHTM được đề cập và phân tích trong luận án sẽ chỉ là những hoạt động nội bảng, không phải là hoạt động ngoại bảng (off-balance sheet) Vì “hoạt động ngoại bảng dùng để chỉ các hoạt động liên quan đến các dạng cam kết hay hợp đồng tạo ra nguồn thu nhập cho ngân hàng nhưng không được ghi nhận như tài sản hay
nợ theo thủ tục kế toán thông thường”43 Nói cách khác, về mặt pháp lý, các hoạt động
và nghiệp vụ ngoại bảng (quản lý ngân quỹ, môi giới và trung gian chứng khoán, ủy thác, đại diện, tư vấn) là những hoạt động và nghiệp vụ NH phát sinh mà không ảnh hưởng trực tiếp đến việc hình thành hay sử dụng nguồn vốn của NH Trong đó, các NH chủ yếu cung cấp dịch vụ và nhận thù lao, hoa hồng từ việc cung ứng dịch vụ Các hoạt động cung cấp dịch vụ của NHTM làm tăng thêm thu nhập cho các NHTM dưới hình thức hoa hồng hay thu phí không phải là đối tượng nghiên cứu của luận án này
Loại vốn của các NHTM được đề cập và phân tích trong luận án chủ yếu là vốn
tự có và vốn huy động từ các cá nhân, tổ chức trong xã hội Trong đó, nghiên cứu sinh chủ yếu đề cập phân tích nhiều quy định liên quan đến vốn tự có Luật các tổ chức tín dụng năm 199744 (sau đây gọi tắt là Luật các TCTD năm 1997) đã giải thích vốn tự có
là căn cứ để tính toán các tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động NH Luật các TCTD năm 2010 giải thích vốn tự có gồm giá trị thực của vốn điều lệ của TCTD và các quỹ dự trữ, một số tài sản nợ khác theo quy định của NHNN Tuy Luật các TCTD năm 2010 không minh thị ý vốn tự có là căn cứ để tính toán các tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động NH nhưng vẫn tiếp tục thể hiện ý này thông qua các QPPL cụ thể, đặc biệt là thông qua các QPPL về các tỷ lệ đảm bảo an toàn trong hoạt động NH
42 Trần Thị Lan (2018), luận án tiến sĩ kinh tế Chuyển dịch cơ cấu sử dụng vốn tại ngân hàng thương mại cổ phần Công thương Việt Nam, Học viện tài chính, người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Đinh Xuân Hạng, TS.Đàm Minh
Đức, 180 trang
43 Nguyễn Minh Sáng và Nguyễn Thị Lan Hương (2013), “Quản trị rủi ro hoạt động ngoại bảng trong ngân hàng
thương mại”, Thị trường tài chính tiền tệ, số 3+4 (372+373), tr.61
44 Được ban hành 12-12-1997, hiệu lực từ 01-10-1998, hết hiệu lực 01-01-2011
Trang 2323
Luật nước ngoài được sử dụng để tham khảo, so sánh chủ yếu sẽ là luật của Mỹ, Thụy Sĩ, Trung Quốc và Singapore Hệ thống NH Việt Nam không hoàn toàn giống với bất kỳ một quốc gia nào khác, song có những nét tương đồng với Trung Quốc về văn hóa, mối quan hệ của hệ thống NH và khối doanh nghiệp nhà nước Một điểm quan trọng khác là nền kinh tế Việt Nam và Trung Quốc đều đang trong quá trình chuyển đổi45 Trên cơ sở sự tương đồng và khác biệt giữa hai hệ thống NH Việt Nam và Trung Quốc, hai nền kinh tế chúng ta có thể rút ra một số khuyến nghị chính sách nào của Trung Quốc trong hoạt động sử dụng vốn của NH cho phù hợp với tình hình Việt Nam Nghiên cứu sinh chọn Singapore vì quốc gia này được xem như là “Thụy Sĩ ở châu Á” hoặc so với các nước trong khối ASEAN thì Singapore được xem là có thị trường tài chính phát triển nhất Mỹ được xem là quốc gia có hệ thống NH phát triển và có nhiều kinh nghiệm đặt ra các quy định pháp luật mới sau khi đã trải qua các cuộc khủng hoảng
NH
Về thời gian:
Luận án lấy bối cảnh hoạt động sử dụng vốn của các NHTM hiện nay (2018) để nghiên cứu Việc đề cập đến khung pháp lý về hoạt động sử dụng vốn của các NHTM trong những giai đoạn trước đây không nằm ngoài mục đích so sánh và phân biệt để làm
rõ những vấn đề về lý luận và thực tiễn
1.4 Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
1.4.1 Câu hỏi nghiên cứu
Trên cơ sở nền tảng nghiên cứu lý luận, thực tiễn về các quy định pháp luật ở Việt Nam về hoạt động sử dụng vốn của NHTM, nghiên cứu sinh sẽ trả lời câu hỏi
nghiên cứu lớn như sau: Hoạt động sử dụng vốn của NHTM là gì và tại sao cần có khung
pháp luật phù hợp với các nguyên tắc kinh tế, pháp luật để điều chỉnh hoạt động sử dụng
vốn của NHTM ở Việt Nam?
Trên cơ sở câu hỏi nghiên cứu tổng quát trên, luận án được thực hiện để giải quyết
ba câu hỏi nhỏ sau:
Câu hỏi 1: Vì sao phải dùng pháp luật để điều chỉnh hoạt động sử dụng vốn của các NHTM?
Vấn đề trên sẽ được phân tích trên cơ sở giải đáp những câu hỏi chi tiết sau: hoạt động sử dụng vốn của NHTM là gì và tại sao không sử dụng đạo đức, tập quán để điều chỉnh hoạt động sử dụng vốn của NHTM? Nếu nhà nước không quản lý hoạt động sử dụng vốn của các NHTM thì những chủ thể nào sẽ được hưởng lợi? Pháp luật có hiệu quả và vai trò như thế nào trong việc điều chỉnh/ điều tiết/ quản lý/ giám sát hoạt động
45 Trịnh Quang An (2006), “Giám sát ngân hàng: Kinh nghiệm của một số nền kinh tế chuyển đổi và hàm ý đối
với Việt Nam”, Kỷ yếu hội thảo khoa học “Giải pháp phát triển hệ thống giám sát tài chính-ngân hàng hữu hiệu”,
Nxb Văn hóa thông tin, tr 26, 27
Trang 2424
sử dụng vốn của NHTM? Giới hạn nào cho việc điều chỉnh bằng pháp luật đối với hoạt động sử dụng vốn của NHTM? Những khía cạnh, nội dung nào của hoạt động sử dụng vốn cần được giới hạn sự điều chỉnh bằng pháp luật?
Câu hỏi 2: Khung pháp luật điều chỉnh hoạt động sử dụng vốn của các NHTM ở Việt Nam trong thời gian qua và hiện nay như thế nào?
Vấn đề trên sẽ được phân tích trên cơ sở giải đáp những câu hỏi sau: Pháp luật
về hoạt động sử dụng vốn của các NHTM được thể hiện dưới những hình thức nào? Nội dung pháp luật về hoạt động sử dụng vốn của các NHTM bao gồm những vấn đề gì? Những quy định pháp luật hiện nay của Việt Nam có đảm bảo được an toàn vốn cho các NHTM hay không?, có đảm bảo được quyền tự do kinh doanh của các NHTM hoặc/ và của chủ sở hữu vốn?, Làm sao để cân bằng giữa quyền tự do kinh doanh của NHTM với mục tiêu của Nhà nước là quản lý được một cách an toàn hoạt động sử dụng vốn của NHTM nhằm bảo vệ người gửi tiền? Người gửi tiền có được khởi kiện đòi bồi thường khi NHTM sử dụng vốn nhưng không tuân thủ quy định của pháp luật không? Các NHTM có cần phải kiểm tra và đảm bảo dự án mà mình tài trợ có đáp ứng hay không các điều kiện mà pháp luật quy định khi các dự án thuộc lĩnh vực ngành nghề kinh doanh
có điều kiện?
Câu hỏi 3: Những nguyên tắc kinh tế và pháp luật nào tác động đến việc xây dựng
và hoàn thiện pháp luật về hoạt động sử dụng vốn của NHTM Việt Nam?
Vấn đề trên sẽ được phân tích trên cơ sở giải đáp những câu hỏi sau: Việc tuân thủ pháp luật về hoạt động sử dụng vốn của các NHTM có làm tăng chi phí hoạt động
và chi phí tuân thủ của các NHTM không? Pháp luật về hoạt động sử dụng vốn của các NHTM hiện nay tác động như thế nào đến hiệu quả kinh doanh của các NHTM? Việt Nam cần tuân thủ những nguyên tắc kinh tế và pháp luật nào khi hoàn thiện quy định pháp luật về hoạt động sử dụng vốn của NHTM? Những nội dung nào của pháp luật về hoạt động sử dụng vốn hiện nay của NHTM cần được sửa đổi, bổ sung, ban hành mới hoặc cần được loại bỏ?
Trên đây là những câu hỏi nghiên cứu cho đề tài này Việc giải đáp những câu hỏi trên sẽ góp phần giải quyết các vấn đề bất cập hiện nay về hoạt động sử dụng vốn của các NTHM ở Việt Nam Những câu hỏi này gắn với mục đích nghiên cứu ở phần 5.1
1.4.2 Giả thuyết nghiên cứu
Để giải đáp thỏa đáng các câu hỏi nghiên cứu trên, nghiên cứu sinh đề ra các giả thuyết nghiên cứu sau:
Giả thuyết 1: Pháp luật là công cụ hữu hiệu hơn các quy phạm xã hội khác trong việc
điều chỉnh hoạt động sử dụng vốn của NHTM ở Việt Nam Trái ngược với xu thế chung
là giảm thiểu thủ tục hành chính, tự do hóa kinh doanh, bãi bỏ các loại giấy phép, hoạt
Trang 2525
động sử dụng vốn của NHTM thông qua hoạt động cấp tín dụng, hoạt động đầu tư vẫn còn cần phải được giám sát chặt chẽ với các hình thức và công cụ phù hợp, đa dạng Trong nền kinh tế thị trường, hoạt động sử dụng vốn của các NHTM vẫn cần có sự điều
tiết của nhà nước bằng pháp luật
Giả thuyết 2: Dù đã được cập nhật, sửa đổi, bổ sung, cải thiện liên tục, đáp ứng yêu cầu
điều tiết của NHNN nói riêng, của NN nói chung nhưng pháp luật về hoạt động sử dụng vốn của các NHTM hiện còn nhiều bất cập, chưa đầy đủ, cần được đánh giá đầy đủ về mặt nguyên nhân, cách thức thực hiện để có các kiến nghị và điều chỉnh cho phù hợp
Giả thuyết 3: Pháp luật điều chỉnh hoạt động sử dụng vốn của các NHTM ở Việt Nam
hiện chưa phù hợp các nguyên tắc kinh tế, pháp luật để đáp ứng đòi hỏi của nền kinh tế
và xu thế hội nhập quốc tế Bên cạnh đó, dù có những điểm chung nhất định giữa Việt Nam và các quốc gia khác, nhưng quy định pháp luật của các quốc gia khác chặt chẽ hơn các quy định của Việt Nam khi điều chỉnh hoạt động sử dụng vốn của các NHTM
1.4.3 Lý thuyết nghiên cứu
1.4.3.1 Lý thuyết về pháp luật
Về nền tảng lý thuyết, luận án sử dụng quan điểm của Chủ nghĩa Mác-Lenin về mối quan hệ giữa nhà nước và pháp luật để luận giải về sự cần thiết phải có sự điều chỉnh bằng pháp luật đối với hoạt động sử dụng vốn của NHTM Bên cạnh đó, tác giả Phạm Duy Nghĩa đã nhận định rằng nghiên cứu pháp luật phải gắn liền với nghiên cứu chính sách46 Tác giả Đinh Dũng Sỹ cũng cho rằng không có pháp luật phi chính sách hay pháp luật ngoài chính sách47 Các hoạt động kinh doanh của các NHTM vừa chịu
sự tác động về mặt kinh tế, vừa chịu sự tác động của các yếu tố chính trị như chủ trương, chính sách của nhà nước Chính vì vậy, trong luận án này, ngoài việc nghiên cứu các quy định của pháp luật, nghiên cứu sinh còn nghiên cứu các chính sách gắn liền với hoạt động sử dụng vốn của NHTM, mà cụ thể là chính sách tín dụng, chính sách tiền tệ quốc gia của NHNN, chính sách liên quan đến BĐS, chính sách thuế để tác động vào hoạt động sử dụng vốn của NHTM
Các lý thuyết về pháp luật liên quan chặt chẽ đến luận án này bao gồm lý thuyết
về quyền tự do kinh doanh, lý thuyết về tự do hợp đồng (HĐ), lý thuyết về quyền sở hữu, lý thuyết về hiệu quả điều chỉnh của pháp luật
Lý thuyết về quyền tự do kinh doanh: Trước đây, trong nền kinh tế kế hoạch
hóa tập trung, nên kinh tế được vận hành theo theo cơ chế quan liêu, kế hoạch theo chỉ tiêu pháp lệnh, doanh nghiệp chỉ được kinh doanh trong phạm vi những ngành nghề được cho phép Điều 4 Luật công ty năm 1990 quy định trong khuôn khổ pháp luật, công
46 Phạm Duy Nghĩa (2014), Phương pháp nghiên cứu luật học, Nxb Công an nhân dân, tr.78
47 Đinh Dũng Sỹ (2008), “Chính sách và mối quan hệ giữa chính sách với pháp luật trong hoạt động lập pháp”, [https://thongtinphapluatdansu.edu.vn/2008/09/16/1673/], truy cập ngày 10-5-2018
Trang 2626
ty có quyền tự do kinh doanh và chủ động trong mọi hoạt động kinh doanh Sau này, quy định về quyền tự do kinh doanh đã được Hiếp pháp năm 1992 và Hiến pháp năm
2013 ghi nhận Sau đó, Luật Doanh nghiệp năm 2005 quy định doanh nghiệp có quyền
tự do kinh doanh trong những ngành nghề mà pháp luật không cấm, Luật Doanh nghiệp
năm 2014 quy định doanh nghiệp có quyền tự do kinh doanh trong những ngành, nghề
mà luật không cấm Theo tác giả Mai Hồng Quỳ, quyền tự do kinh doanh được thể hiện
qua: (i) quyền tự do trong việc thành lập doanh nghiệp, (ii) quyền của doanh nghiệp trong hoạt động đầu tư kinh doanh và (iii) quyền tự do HĐ48 Quyền tự do kinh doanh của doanh nghiệp được thể hiện ở nhiều lĩnh vực nhưng trong hoạt động sử dụng vốn của NHTM quyền này có những đặc trưng gì và có được tự do hoàn toàn hay không?
Câu trả lời sẽ được phân tích tại trang 44 của luận án này
Lý thuyết về tự do hợp đồng: tự do ý chí là nền tảng của tự do HĐ, hình thành
HĐ Theo Điều 1 Bộ luật dân sự số 91/2015/QH13 (sau đây gọi tắt là BLDS năm 2015), quyền, nghĩa vụ về nhân thân, về tài sản của cá nhân, pháp nhân trong các quan hệ được hình thành trên cơ sở tự do ý chí Theo tác giả Phan Huy Hồng và Nguyễn Thanh Tú, tự
do giao kết HĐ là một trong những quyền cơ bản của doanh nghiệp, theo nghĩa rộng, bao gồm cả quyền tự do lựa chọn đối tác49 Như trên đã phân tích, tự do HĐ có mối liên
hệ chặt chẽ với quyền tự do kinh doanh của doanh nghiệp Khi vận dụng lý thuyết này vào nghiên cứu đề tài luận án, nghiên cứu sinh sẽ phân tích quyền tự do HĐ này của các NHTM trong hoạt động sử dụng vốn có bị giới hạn hay không và giới hạn ở mức độ nào, các NHTM có được hoàn toàn tự do trong việc lựa chọn chủ thể để cấp tín dụng và
để đầu tư, góp vốn, mua cổ phần hay không?
Lý thuyết về quyền sở hữu: Theo truyền thống La Mã, quyền sở hữu được cấu
thành từ ba nhóm quyền năng, gọi là usus (quyền sử dụng tài sản), fructus (quyền thu nhận những lợi ích vật chất mà tải sản mang lại), và abusus (quyền định đoạt) bao gồm
định đoạt về mặt vật chất và quyền định đoạt về số phận pháp lý của tài sản50 Theo BLDS 200551 và 201552, quyền sở hữu bao gồm 3 quyền năng cụ thể là quyền chiếm
hữu, quyền sử dụng và định đoạt của chủ sở hữu theo quy định của luật Như vậy, dù có
quan điểm khác nhau ở quyền năng thứ 1 và thứ 2 nhưng giữa truyền thống La Mã và luật Việt Nam vẫn có cùng quan điểm là quyền sở hữu phải có quyền sử dụng và quyền
48 Mai Hồng Quỳ (2012), Tự do kinh doanh và vấn đề bảo đảm quyền con người tại Việt Nam, Nxb Lao Động,
tr.105, 106
49 Phan Huy Hồng, Nguyễn Thanh Tú (2008), “Pháp luật cạnh tranh và quyền tự do giao kết hợp đồng của doanh
nghiệp”, tạp chí Nhà nước và pháp luật, số 3/2008, tr.34
50 Nguyễn Ngọc Điện (2013), “Quyền sở hữu và quyền chiếm hữu, Bài học về tình huống luật xa rời thực tế”, [https://thongtinphapluatdansu.edu.vn/2013/02/28/quyen-so-huu-v-quyen-chiem-huu-bi-hoc-ve-tnh-huong-luat- xa-roi-cuoc-song/], truy cập ngày 21-10-2018
51 Đ i ề u 1 6 4 B L D S 2 0 0 5
52 Điều 158 BLDS 2015
Trang 27Trong luận án này, nghiên cứu sinh sử dụng cách tiếp cận pháp luật hoạt động sử dụng vốn của NHTM ở 2 góc độ: kinh tế và luật Cho nên, ngoài những lý thuyết về pháp luật, nghiên cứu sinh còn tham khảo, sử dụng các lý thuyết kinh tế để phân tích về hoạt động sử dụng vốn của NHTM Theo David M.Kotz, các lý thuyết về kinh tế có thể rất có ích cho việc định hướng chính sách thay đổi các định chế53
Lý thuyết về hiệu quả điều chỉnh của pháp luật: Hiệu quả của pháp luật là một
trong những vấn đề cơ bản của khoa học pháp lý và đã được nhiều nhà khoa học pháp
lý tập trung nghiên cứu54 Trên thế giới, các tác giả quan tâm đến hiệu quả pháp luật gồm có: Đ.A.Kerimov, A.E.Paxkôv, L.X Iavích, Ph.N.Phaculin, L.Đ.Truliukin, V.I.Kuđrias ép, B.I.Nikitinxki, I.X.Xamôxenkô, V.V.Glarưpin, V.V.Lapaeva55.Một số học giả đồng nhất hiệu quả của pháp luật với chất lượng của pháp luật Từ đó, các học giả này tập trung phân tích chất lượng điều chỉnh của pháp luật Họ cho rằng hiệu quả của pháp luật thể hiện sự đúng đắn, sự phù hợp của pháp luật56 Chất lượng của pháp luật điều chỉnh hoạt động sử dụng vốn của NHTM ở Việt Nam là điều mà luận án này tập trung đề cập Ở Việt Nam, PGS.TS Nguyễn Minh Đoan và PGS.TS Vũ Trọng Lâm
đã tập trung nghiên cứu về hiệu quả của pháp luật nói chung Nghiên cứu sinh sẽ vận dụng lý thuyết về hiệu quả của pháp luật để đánh giá chất lượng các quy định pháp luật liên quan đến hoạt động sử dụng vốn của NHTM ở Việt Nam Trên cơ sở đó, một số kiến nghị để hoàn thiện pháp luật về hoạt động sử dụng vốn của NHTM ở Việt Nam sẽ được đề xuất
53 David M Kotz (2006), “Ownership, Property Rights, and Economic Performance: Theory and Practice in the
USA and other Countries”, the paper in international conference "Ownership and Property Rights: Theory and Practice" taking place in Beijing, China, November 13-14, 2006
54 Nguyễn Minh Đoan, Vũ Trọng Lâm (2017), Hiệu quả của pháp luật, những vấn đề lý luận và thực tiễn, Nxb
Chính trị quốc gia sự thật, tr.7
55 Nguyễn Minh Đoan, Vũ Trọng Lâm (2017), tlđd 54, tr.233
56 Nguyễn Minh Đoan, Vũ Trọng Lâm (2017), tlđd 54, tr.15
Trang 2828
Thứ nhất, lý thuyết về các loại rủi ro: rủi ro thanh khoản, rủi ro hệ thống Rủi ro
thanh khoản là rủi ro khi NHTM không thể thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ tài chính trong
hệ thống thanh toán khi đến hạn Hay nói cách khác, rủi ro thanh khoản chính là rủi ro liên quan đến khả năng thanh toán nợ Rủi ro hệ thống là rủi ro khi một NHTM tham gia hệ thống thanh toán không có khả năng thực hiện các nghĩa vụ tài chính khi đến hạn
và điều này dẫn đến việc các thành viên tham gia khác cũng không thể thực hiện nghĩa
sẽ phát triển mà không cần có sự can thiệp của nhà nước Trái lại, lý thuyết về kinh tế
có điều tiết của nhà nước do J.M.Keynes đề ra cho rằng nhà nước có vai trò to lớn đối với nền kinh tế, nền kinh tế cũng như thị trường không thể hoạt động tốt nếu thiếu sự can thiệp của nhà nước, thiếu “bàn tay hữu hình” của nhà nước Tuy nhiên, học thuyết này lại cho rằng nhà nước không nên làm thay thị trường mà chỉ can thiệp thích hợp, can thiệp gián tiếp thông qua các đường lối, qua quy định của pháp luật và tạo môi trường cho nên kinh tế đi đúng hướng
Lý thuyết về kinh tế học vĩ mô tổng hợp: Paul Anthony Samuelson (sinh năm 1915) là người sáng lập trường phái kinh tế học vĩ mô tổng hợp, kết hợp kinh tế học vĩ
mô cổ điển với kinh tế học Keynes Theo lý thuyết này, Paul Anthony Samuelson quan niệm phải phối hợp giữa “bàn tay vô hình” của chủ nghĩa tự do và “bàn tay hữu hình” của chủ nghĩa điều tiết để điều tiết nền kinh tế Theo đó, kinh tế thị trường cũng có những khuyết tật và nó cần có sự điều chỉnh của nhà nước
Lý thuyết về “Bàn tay vô hình” của Adam Smith và lý thuyết về kinh tế học vĩ
mô tổng hợp của Paul Anthony Samuelson sẽ được dùng để phân tích và lý giải về việc nhà nước Việt Nam có nên tiếp tục dùng pháp luật để điều chỉnh hoạt động sử dụng vốn của NHTM hay không?
Thứ ba, lý thuyết về chi phí giao dịch của Ronald Harry Coase (sinh năm 1910):
Học thuyết về chi phí này được bắt đầu phát triển từ đầu thế kỷ 20 Theo đó, Ronald Coase xem việc tuân thủ luật pháp cũng là một yếu tố tạo nên chi phí trong kinh doanh.Các chi phí giao dịch bao gồm hai loại: chi phí liên quan đến thông tin và chi phí thực thi Các chi phí này càng cao thì giao dịch càng kém hiệu quả57 Lý thuyết về chi phí
57 Xem Lê Nết, Kinh tế luật, Nxb Tri Thức TP.HCM, [file:///C:/Users/user/Downloads/Documents/Kinh_te_Luat.pdf], truy cập ngày 20-3-2019, tr.34
Trang 291.4.4 Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu khoa học phải có phương pháp nghiên cứu phù hợp Để thực hiện luận án này, nghiên cứu sinh sẽ thực hiện các phương pháp sau:
Phương pháp phân tích- tổng hợp:
Phương pháp phân tích được sử dụng thường xuyên, phổ biến, được tiến hành đầu tiên và cũng là phương pháp quan trọng nhất trong luận án Để làm tiền đề cho các phương pháp so sánh luật học, nghiên cứu sinh sẽ dành một sự quan tâm đặc biệt cho việc phân tích các QPPL, các chế định luật, các điều luật Nếu hiểu đúng các QPPL thì việc tiến hành các phương pháp tiếp theo mới được tiến hành chính xác Chính vì lý do
đó, phương pháp này được áp dụng xuyên suốt trong toàn bộ luận án này Trong đó, nghiên cứu sinh sử dụng chủ yếu phương pháp phân tích truyền thống là phân tích luật viết58 và phân tích tình huống59 Tình huống cụ thể ở đây là các vụ đại án trong lĩnh vực
NH liên quan đến các bị cáo Nguyễn Đức Kiên, Phạm Công Danh, các tình huống liên quan đến hành vi vi phạm pháp luật NH của NH Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam (Agribank), NHTM cổ phần công thương Việt Nam (Vietinbank), NHTM cổ phần ngoại thương Việt Nam (Vietcombank)
Phương pháp tổng hợp giúp nghiên cứu sinh tìm hiểu các VB QPPL, các công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài này
Liên quan khía cạnh kinh tế: Phương pháp phân tích được nghiên cứu sinh triển khai
theo hai hướng là phân tích định tính và phân tích định lượng
Phân tích định tính được tiến hành khi đề cập đến khả năng chịu đựng rủi ro của NH;
khi nghiên cứu quy luật, mối quan hệ giữa các sự việc và hiện tượng liên quan hoạt động
sử dụng vốn của NH Phương pháp định tính gắn liền với quy trình quy nạp từ những kiến thức, số liệu, biểu mẫu, thông tin và hồ sơ vụ việc sẵn có
Phương pháp so sánh pháp lý: Tuy cùng là QPPL trong lĩnh vực NH nhưng các nước
có các cách hiểu khác nhau về nội hàm của các khái niệm (ví dụ khái niệm vốn điều lệ), các quy định, nền tảng kinh tế và điều kiện xã hội khác nhau Việc so sánh được tiến
58 Nguyễn Ngọc Điện (2006), Một số vấn đề lý luận về các phương pháp phân tích luật viết, Nxb Tư pháp, tr.73
59 Nguyễn Ngọc Điện (2006), tlđd 58, tr.128
Trang 3030
hành để tránh sự đồng nhất các khái niệm có nội hàm khác nhau Việc so sánh quy định pháp luật giữa các quốc gia về hoạt động sử dụng vốn của các NHTM, so sánh phương pháp và cách thức sử dụng vốn của NHTM ở Việt Nam và ở một số quốc gia, của NHTM với các TCTD khác để có những chọn lựa được những hoạt động sử dụng vốn nào, các QPPL nào phù hợp cho các NHTM ở Việt Nam
Nếu phương pháp phân tích được áp dụng xuyên suốt trong toàn bộ nội dung luận
án và có tính hiệu quả hơn thì chính phương pháp so sánh là phương pháp tối ưu nhất
và cũng được áp dụng trong toàn bộ nội dung luận án để giúp chọn lựa được những gợi
ý cũng như những quy định phù hợp cho tình hình Việt Nam Phương pháp so sánh được
sử dụng nhằm hiểu rõ hơn hệ thống pháp luật của Việt Nam, nhận diện được những bất cập của pháp luật Việt Nam, những quy định và quan điểm trái chiều, đa dạng từ một số quốc gia khác về hoạt động sử dụng vốn của NHTM để giải quyết những bất cập đó Việc so sánh được tiến hành ở ba mức độ là so sánh các QPPL, các chế định luật và so sánh hệ thống pháp luật Theo Michael Bogdan, sự so sánh luật ở đây là nhằm khám phá
sự tương đồng và khác biệt giữa các hệ thống pháp luật Tuy nhiên, công trình so sánh không chỉ dừng lại ở việc tìm ra sự tương đồng và khác biệt giữa các hệ thống luật được đưa ra so sánh60 Sự tương đồng và khác biệt này cần được nghiên cứu nhiều hơn về mặt
lý thuyết, để giải quyết các vấn đề sau: nguyên nhân của sự tương đồng và khác biệt đã tìm ra là gì? Giải pháp pháp lý của quốc gia nào là hợp lý nhất cho tình hình ở Việt Nam? Giải pháp pháp lý của quốc gia nào là không thể áp dụng cho Việt Nam61?
Phương pháp so sánh ở đây được tiến hành cụ thể thông qua các nội dung như là:
so sánh lịch sử (so sánh những quy phạm pháp luật trước và sau khi Luật các TCTD năm 2010 có hiệu lực); so sánh xuyên quốc gia (so sánh những QPPL về hoạt động sử dụng vốn của các NHTM Việt Nam với các QPPL của một số quốc gia chọn lọc)
Phương pháp Socrates:
Hay còn gọi là phương pháp bác bỏ bằng logic (elenchus), phương pháp loại bỏ các giả thuyết Từ đây, nghiên cứu sinh có ý định giải quyết các vấn đề của luận án này bằng cách chia nhỏ các vấn đề thành một hệ thống các câu hỏi, các câu trả lời sau đó dần dần sẽ gợi ra các giải pháp mà luận án này đang tìm kiếm Phương pháp này được
sử dụng chủ yếu ở phần câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu và tiến hành giải quyết, trả lời trong toàn bộ luận án
1.4.5 Hướng tiếp cận của đề tài nghiên cứu
Luận án không hướng đến “du nhập” tất cả các ưu điểm của hệ thống pháp luật nước ngoài về hoạt động sử dụng vốn của NHTM mà chỉ chọn lọc những quy định nào phù hợp với thực tiễn và tình hình riêng của Việt Nam Nói cách khác, đó là học hỏi có
60 Michael Bogdan (2002) (bản dịch), Luật so sánh, Kluver Norstedds Juridil Tano, tr.16
61 Michael Bogdan (2002), (bản dịch), tlđd 60, tr.16
Trang 3131
chọn lọc Kế đến, việc tham khảo này không chỉ đến từ những thành công của một số nước mà còn từ chính những thất bại của họ; lấy thất bại của các nước làm bài học ủa chúng ta
Bên cạnh đó, kinh tế và pháp luật là hai vấn đề có liên quan chặt chẽ, gắn bó với nhau Mối quan hệ này là quan hệ giữa hạ tầng và thượng tầng kiến trúc Trong những năm từ 1950 đến nay, kinh tế luật đã là một phương cách tiếp cận mới, bắt đầu từ 2 công trình nổi tiếng của Ronald Coase, “Bản chất doanh nghiệp ” (The nature of the Firm) và
“Chi phí xã hội” (The Problem of Social Cost)62 Vì thế, luận án không chỉ giới hạn trong việc nghiên cứu pháp luật đơn thuần mà còn gắn với việc lý giải những sự vật, hiện tượng từ góc độ kinh tế, đi từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng và từ tư duy trừu tượng quay ngược lại kiểm chứng trực quan sinh động Để từ đó đúc kết được những kinh nghiệm quý báu nhằm xây dựng một khung pháp lý để điều chỉnh hoạt động
sử dụng vốn của các NHTM tại Việt Nam “Một cách chính xác, Law and Economics, bao hàm cả một nội dung rất rộng lớn, được sử dụng để chỉ chung việc đưa phương pháp, cách tiếp cận và những nội dung phân tích kinh tế áp dụng vào các vấn đề luật pháp Với cùng nội dung, một cách dùng khác thường thấy trong các tài liệu nước ngoài
là “Phân tích kinh tế đối với luật pháp” (Economic Analysis of Law) Cũng tương tự là cách dùng “Nền tảng kinh tế đối với các quy định pháp luật” (The economic foundations
of legal rules)”63 Mục tiêu tiếp cận chủ yếu của kinh tế luật chính là hiệu quả của pháp luật64 Kinh tế luật kết hợp giữa hai khoa học luật và kinh tế, sử dụng lý thuyết, phương pháp của kinh tế học để giải quyết các vấn đề của luật pháp65 Chẳng hạn, trong việc cấp tín dụng của NHTM, việc cho vay hay mua trái phiếu Chính phủ giúp NHTM hạn chế rủi ro Câu trả lời sẽ dựa trên góc độ kinh tế để phân tích Trường phái kinh tế luật sử dụng những lý thuyết và phương pháp kinh tế để tư duy về luật pháp, khác biệt với tư duy truyền thống trong luật học kinh tế luật như một lĩnh vực trong đó nhiều trường phái kinh tế đưa ra những luận điểm giải quyết các bài toán của luật pháp66
1.5 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
1.5.1 Mục tiêu nghiên cứu
Luận án này được thực hiện nhằm giải quyết các mục tiêu nghiên cứu tổng quát
và mục tiêu cụ thể như sau:
Trang 3232
Mục tiêu tổng quát
Mục tiêu nghiên cứu của luận án là xây dựng các luận cứ khoa học và hình thành
mô hình lý thuyết cho việc điều chỉnh bằng pháp luật đối với hoạt động sử dụng vốn của NHTM Mục tiêu chính của luận án là xem xét, phân tích hoạt động sử dụng vốn của NHTM dưới góc độ các quan hệ kinh tế và pháp lý
- Đánh giá các quy định pháp luật về hoạt động sử dụng vốn của NHTM của Việt Nam, nhận diện, đánh giá, phân tích các bất cập, hạn chế, thiếu sót làm cơ sở cho các kiến nghị để hoàn thiện pháp luật Việt Nam về hoạt động sử dụng vốn của NHTM
- Luận án hướng đến phục vụ cho việc giảm thiểu rủi ro trong hoạt động sử dụng vốn của các NHTM
Mục tiêu chi tiết
- Làm rõ cơ sở lý luận về vốn và hoạt động sử dụng vốn của NHTM
- Xác định khái niệm và nội hàm của hoạt động sử dụng vốn của NHTM Từ đó, luận
án sẽ định hình khung pháp luật phù hợp để điều chỉnh hoạt động sử dụng vốn của NHTM
- Giải quyết các vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến nhu cầu, mục đích cần có sự can thiệp của nhà nước vào hoạt động sử dụng vốn của NHTM
- Phân tích, nhận định, đánh giá việc ban hành, tuân thủ các quy định pháp luật về hoạt động sử dụng vốn của NHTM
- Nghiên cứu các quy định pháp luật hiện hành về hoạt động sử dụng vốn của NHTM tại Việt Nam qua các thời kỳ và so sánh với pháp luật nước ngoài
- Đề xuất những giải pháp và quy định phù hợp để tổ chức giám sát, duy trì trật tự kinh
tế trong lĩnh vực NH, trong hoạt động sử dụng vốn của NHTM
- Xác định giới hạn can thiệp của nhà nước đối với hoạt động sử dụng vốn của NHTM
- Xác định các chuẩn mực và tiêu chí để điều chỉnh hoạt động sử dụng vốn của các NHTM
- Xác lập cơ chế kiểm tra, xử lý các vi phạm về hoạt động sử dụng vốn của các NHTM
- Nhận diện các chủ thể quản lý hoạt động sử dụng vốn của các NHTM
- Luận án sẽ làm rõ thực trạng hoạt động sử dụng vốn của các NHTM và cơ sở lý luận
có liên quan để từ đó chọn lựa những quy định phù hợp để đề xuất, kiến nghị cho phù hợp với đặc thù của Việt Nam
- Nghiên cứu xu hướng phát triển của nền kinh tế và xã hội trong thời gian tới để dự đoán sự thay đổi trong nội dung pháp luật điều chỉnh hoạt động sử dụng vốn của NHTM
- Nhận diện những nguyên tắc, tiêu chí cần được tuân thủ và bảo đảm khi hoàn thiện pháp luật về hoạt động sử dụng vốn của NHTM
Trang 3333
1.5.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Với những mục tiêu nghiên cứu như trên, luận án sẽ giải quyết các nhiệm vụ sau:
- Làm rõ bản chất pháp lý của hoạt động sử dụng vốn của NHTM
- Đánh giá thực trạng hoạt động sử dụng vốn của các NHTM và cơ sở lý luận có liên quan
- Đưa ra các nhận định và phân tích riêng về quy định liên quan đến hoạt động sử dụng vốn của các NHTM
- Khẳng định sự cần thiết có sự điều chỉnh bằng pháp luật đối với hoạt động sử dụng vốn của NHTM và đề ra phương hướng/ giải phá p hoàn thiện pháp luật về hoạt động
1.6 Những điểm mới của luận án
Trên cơ sở phân tích các lý thuyết về kinh tế và pháp luật cùng với việc sử dụng nhiều phương pháp nghiên cứu hiện đại, cách tiếp cận giữa lĩnh vực kinh tế và luật, luận
án có những đóng góp mới về mặt khoa học như sau:
Về mặt lý luận:
Thứ nhất: Luận án đã xây dựng và bổ sung vào hệ thống lý luận khái niệm về
hoạt động sử dụng vốn của NHTM Việt Nam tại mục 2.1.2.1 của luận án này, làm rõ nội hàm và hình thức của pháp luật về hoạt động sử dụng vốn của NHTM Việt Nam tại mục 2.3 của luận án này
Thứ hai: luận án đã phân tích và chứng minh tính đặc thù về vốn của NHTM so
với vốn của các chủ thể kinh doanh khác trong nền kinh tế tại mục 2.1.1 của luận án Từ
đó, nghiên cứu sinh nhấn mạnh tính cần thiết phải có các quy định đặc thù của pháp luật
về hoạt động sử dụng vốn của các NHTM Việt Nam
Thứ ba: Nghiên cứu sinh đã tổng hợp và phân tích các nguyên tắc cần phải được
tuân thủ trong hoạt động sử dụng vốn của NHTM tại mục 2.1.2.3 của luận án để làm nền tảng cho việc đề xuất các kiến nghị hoàn thiện pháp luật về hoạt động sử dụng vốn của NHTM Luận án đã xác định khi can thiệp vào hoạt động sử dụng vốn của NHTM, nhà nước nên thực hiện trên 2 nguyên tắc sau: nguyên tắc hỗ trợ và nguyên tắc tương hợp Theo đó, nguyên tắc hỗ trợ là tạo điều kiện cho hoạt động sử dụng vốn và hoạt động của NHTM hiệu quả hơn; nguyên tắc tương hợp là phải sử dụng những biện pháp nào phù hợp với thị trường và nền kinh tế Việt Nam để thúc đẩy hoạt động sử dụng vốn của NHTM hiệu quả hơn
Trang 3434
Thứ tư: Luận án đã đưa ra gợi ý về các tiêu chí để NHNN căn cứ vào để xem
xét việc chấp thuận cho NHTM góp vốn, mua cổ phần vào các doanh nghiệp kinh doanh trong các lĩnh vực khác tại mục 3.5.2 của luận án này
Thứ năm, luận án làm rõ cấu thành tội phạm và hình phạt liên quan đến hoạt
động sử dụng vốn của NHTM
Thứ sáu: Luận án đã xác định các luận cứ khoa học, đề xuất các giải pháp cụ thể
phù hợp với điều kiện của Việt Nam để hoàn thiện pháp luật Việt Nam về hoạt động sử dụng vốn của các NHTM nhằm tạo hành lang pháp lý thuận lợi cho các NHTM hoạt động, cho cơ quan hữu quan trong việc kiểm tra, giám sát tại mục 3.5 (các bất cập và kiến nghị liên quan quy định về hoạt động sử dụng vốn của NHTM để cấp đầu tư) và 4.5 (các bất cập và kiến nghị liên quan quy định về hoạt động sử dụng vốn của NHTM
để cấp tín dụng)
Về mặt thực tiễn:
Trên cơ sở phân tích việc các án lệ hiện nay ở Việt Nam, nghiên cứu sinh nhận thấy phần lớn các án lệ hiện hành chỉ liên quan đến ngành luật dân sự, hình sự, liên quan rất ít đến lĩnh vực tài chính NH và không có án lệ cụ thể nào về hoạt động sử dụng vốn của NHTM
Kết hợp giữa lý thuyết và thực tiễn:
Kết hợp kết quả nghiên cứu lý thuyết và thực tiễn nêu trên, nghiên cứu sinh đã
đề xuất một số khuyến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về hoạt động sử dụng vốn của NHTM
Đầu tiên, nghiên cứu sinh kiến nghị nghiên cứu, phân tích và đưa kết quả xét xử của vài bản án ở Việt Nam và trên thế giới liên quan đến hoạt động sử dụng vốn của NHTM để làm án lệ Cụ thể, nghiên cứu sinh đề xuất đưa kết quả xét xử một vụ án liên quan đến bị cáo Phạm Công Danh để tạo nên án lệ liên quan đến một câu hỏi pháp lý đã được nêu ra tại phiên tòa xét xử: vi phạm các quy định nội bộ của NHTM có bị xem là
vi phạm pháp luật hay không? Ngoài ra, nghiên cứu sinh còn kiến nghị nghiên cứu thêm
án lệ liên quan đến việc bồi thường thiệt hại cho môi trường khi đầu tư, cấp vốn và có liên đới trực tiếp đến một dự án gây ô nhiễm (vụ việc liên quan đến tập đoàn tài chính Fleet Factors); án lệ để hướng đến giải thích thế nào là những lĩnh vực kinh doanh khác của các NHTM
Kế đến, nghiên cứu sinh kiến nghị nâng mức vốn pháp định cho các NHTM; kiến nghị hạn chế và hướng tới gỡ bỏ các biện pháp can thiệp hành chính không cần thiết đối với hoạt động sử dụng vốn của các NHTM, hướng đến việc nhà nước chỉ nên quản lý hoạt động sử dụng vốn của các NHTM ở tầm vĩ mô và một số kiến nghị cụ thể khác liên quan đến hoạt động đầu tư và hoạt động cấp tín dụng như đã phân tích tại cuối chương
3 và chương 4
Trang 3535
1.7 Ý nghĩa khoa học và tính thực tiễn của luận án
Luận án là một công trình nghiên cứu một cách tổng quát về pháp luật liên quan đến các hoạt động sử dụng vốn của các NHTM Luận án có nhiều nội dung mà các công trình nghiên cứu trước đó chưa đề cập hoặc đề cập chưa sâu Tính đến thời điểm viết xong luận án này, luận án là công trình cứu khoa học ở cấp độ tiến sĩ mà vừa có sự kết hợp đầy đủ cách tiếp cận kinh tế và pháp lý trong việc nghiên cứu về hoạt động sử dụng vốn của NHTM Luận án hướng đến việc tiếp nhận pháp luật nước ngoài một cách có chọn lọc để đưa ra những kiến nghị cụ thể, rõ ràng liên quan đến khung pháp lý về hoạt động sử dụng vốn của các NHTM đến cơ quan lập pháp, cơ quan quản lý Nhà nước Trong luận án này, nghiên cứu sinh dự kiến trình bày các kết quả nghiên cứu về các vấn
Thứ hai, luận án sẽ làm rõ khái niệm pháp luật về hoạt động sử dụng vốn của
NHTM, phân tích các thành phần chính trong pháp luật về hoạt động sử dụng vốn của NHTM và hình thức của pháp luật về hoạt động sử dụng vốn của NHTM
Ý nghĩa của kết quả nghiên cứu: Thiết kế khái niệm chính thức về hoạt động sử dụng vốn của NHTM để xác định khung pháp luật về hoạt động này
Thứ ba, luận án sẽ nhận định, lý giải, phân tích, bình luận các quy định hiện hành
về hoạt động sử dụng vốn để đầu tư, cấp tín dụng
Ý nghĩa của kết quả nghiên cứu: Việc nhận định, phân tích, lý giải, bình luận này
sẽ là cơ sở để phát hiện ra các bất cập, hạn chế, chồng chéo, chưa phù hợp của pháp luật
về hoạt động sử dụng vốn của NHTM liên quan đến đầu tư và cấp tín dụng
Thứ tư, luận án đối chiếu, so sánh quy định hiện hành của Việt Nam về hoạt
động đầu tư, cấp tín dụng của NHTM với các quy định hiện hành, kinh nghiệm của một
số quốc gia, thông lệ quốc tế trong hoạt động có liên quan
Ý nghĩa của kết quả nghiên cứu: Trên cơ sở so sánh, đối chiếu pháp lý giữa các quốc gia, nghiên cứu sinh có những đề xuất, kiến nghị những quy định phù hợp để cân bằng giữa nhu cầu có lợi nhuận hợp lý của các NHTM mà vẫn đạt được sự an toàn trong hoạt động sử dụng vốn của các NHTM
Thứ năm, luận án trình bày các định hướng hoàn thiện pháp luật về hoạt động
sử dụng vốn của NHTM
Ý nghĩa của kết quả nghiên cứu: Các định hướng này dựa trên nguyên tắc về hoạt động sử dụng vốn của NHTM, các chủ trương, đường lối, chính sách của Việt Nam, các
Trang 36Thứ sáu, luận án đề xuất phương hướng hoàn thiện cơ cấu tín dụng, cơ cấu đầu
tư của các NHTM, cách thức để thực hiện quy định về việc cấp tín dụng cho các dự án đáp ứng yêu cầu về môi trường, cách thức phân định giữa tín dụng tiêu dùng và tín dụng cho kinh doanh BĐS
Ý nghĩa của kết quả nghiên cứu: Việc thực hiện luận án này nhằm xây dựng và hoàn thiện pháp luật về hoạt động sử dụng vốn của NHTM Nghiên cứu sinh có kỳ vọng góp phần kiến nghị giải quyết những vấn đề phát sinh từ thực tiễn như quy định về đầu
tư và cấp tín dụng chưa phù hợp để các NHTM nhằm gia tăng sự an toàn và giảm thiểu rủi ro trong quá trình sử dụng vốn của NHTM
Bên cạnh kết quả đó, luận án này hướng đến đạt được các kết quả nghiên cứu sau:
Kết quả mang tính học thuật
Luận án sẽ xây dựng các luận cứ khoa học, hình thành mô hình lý thuyết cho việc điều chỉnh bằng pháp luật đối với hoạt động sử dụng vốn của NHTM, xem xét, phân tích hoạt động sử dụng vốn của NHTM dưới góc độ các quan hệ kinh tế và pháp lý
Luận án này dự kiến là nguồn tài liệu tham khảo cho các sinh viên và những ai
có quan tâm trong việc học tập, nghiên cứu, giảng dạy về lĩnh vực này Các kết quả nghiên cứu của luận án được kỳ vọng sẽ có giá trị tham khảo thêm cho các nghiên cứu sinh, những học viên cao học, các sinh viên đại học sau này
Trang 3737
Hơn thế nữa, những điểm bất cập và những kiến nghị hoàn thiện mà tác giả đưa
ra trong đề tài sẽ có ý nghĩa trong quá trình xem xét, bổ sung và hoàn thiện các chế định pháp lý nhằm kiểm soát các hoạt động góp vốn, mua cổ phần một cách có hiệu quả trên thực tế, góp phần trong quản lý Nhà nước về hoạt động các NHTM, đồng thời bảo vệ sự
an toàn của các NHTM
Luận án này được kỳ vọng sẽ thực sự rất có ý nghĩa thực tiễn và khoa học, là tài liệu tham khảo cho những cá nhân cùng có quan tâm đến chủ đề này
Trang 3838
Kết luận chương 1
Về tính cấp thiết, hoạt động sử dụng vốn của NHTM luôn nhận được sự quan tâm của nhà nước, các NHTM và của toàn xã hội Đặc biệt, trong tình hình mới và xu thế hội nhập quốc tế, tính cấp thiết này trở nên rõ ràng hơn
Trong chương 1, nghiên cứu sinh đã nêu và phân tích tổng quan tình hình nghiên cứu tại Việt Nam và ở nước ngoài liên quan đến đề tài luận án, trình bày phương pháp nghiên cứu của đề tài luận án, đặt ra các câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu
Kết quả nghiên cứu tại chương 1 cho thấy các công trình nghiên cứu trong nước
và nước ngoài phần lớn chưa tập trung nghiên cứu riêng về pháp luật liên quan đến hoạt động sử dụng vốn của NHTM tại Việt Nam Các công trình đã qua chủ yếu chỉ giải quyết một số khía cạnh kinh tế và pháp luật liên quan đến từng hoạt động sử dụng vốn của các NHTM tại Việt Nam, hoặc chỉ đề cập đến pháp luật Việt Nam và chưa tham khảo kinh nghiệm nước ngoài và/ hoặc ngược lại Nhiều công trình nghiên cứu chưa có
sự nghiên cứu một cách hệ thống, tập trung riêng về pháp luật liên quan đến chính hoạt động sử dụng vốn của NHTM tại Việt Nam Do đó, việc nghiên cứu “Pháp luật về hoạt động sử dụng vốn của các ngân hàng thương mại Việt Nam” sẽ vừa có tính kế thừa các công trình nghiên cứu trước vừa mang tính đặc thù do có sự kết hợp giữa lĩnh vực luật, kinh tế và đặt trong bối cảnh tình hình mới trên cơ sở đảm bảo sự cân bằng quyền lợi của NHTM, của người dân, người gửi tiền và nhu cầu kiểm soát của nhà nước
Việc nghiên cứu đề tài “Pháp luật về hoạt động sử dụng vốn của ngân hàng thương mại Việt Nam” sẽ kết hợp cách tiếp cận kinh tế, chính sách và pháp lý để phân tích, bình luận, đánh giá và có một số kiến nghị để hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam hiện nay liên quan đến hoạt động sử dụng vốn của NHTM
Nghiên cứu sinh xác định việc thực hiện luận án này nhằm trình bày các kết quả nghiên cứu về pháp luật liên quan hoạt động sử dụng vốn của NHTM, xây dựng và hoàn thiện pháp luật về hoạt động sử dụng vốn của NHTM, góp phần kiến nghị giải quyết những vấn đề phát sinh từ thực tiễn như đầu tư và cấp tín dụng chưa đúng của các NHTM nhằm gia tăng sự an toàn và giảm thiểu rủi ro trong quá trình sử dụng vốn của NHTM Luận án hướng về phân tích các quy định pháp lý hiện hành, kiến nghị thay đổi, cập nhật, hoàn thiện, gợi ý giải thích mới hoặc thay thế bằng những quy định phù hợp hơn
Trong phạm vi luận án, nghiên cứu sinh không đi sâu nghiên cứu các hoạt động
về cấp dịch vụ của các NHTM mà chỉ tập trung vào hai mảng hoạt động chính của NHTM là cấp tín dụng và đầu tư, không tập trung nghiên cứu các nghiệp vụ kinh doanh của NHTM
Trong số các phương pháp được sử dụng trong luận án, phương pháp so sánh được thực hiện không chỉ nhằm mục đích tham khảo kinh nghiệm trong phạm vi của vài
Trang 3939
quốc gia như Mỹ, Thụy Sĩ và Trung Quốc mà của những quốc gia khác khi cần thiết Việc nghiên cứu các quy định pháp lý của các quốc gia về hoạt động sử dụng vốn sẽ được thực hiện theo từng mảng vấn đề, không trình bày theo từng quốc gia Phương pháp này được thực hiện trong tất cả các chương trong luận án, đặc biệt khi cần đưa ra các kiến nghị và giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về hoạt động sử dụng vốn của các NHTM
Trang 402.1 Lý luận về hoạt động sử dụng vốn của NHTM
2.1.1 Lý luận về vốn của ngân hàng thương mại
Theo từ điển tiếng Việt thì vốn là tổng thể nói chung những tài sản được bỏ ra lúc đầu, thường biểu hiện bằng tiền, dùng trong sản xuất, kinh doanh nói chung trong hoạt động sinh lợi67 Theo Thomas Piketty68, vốn được định nghĩa là tổng số tài sản có thể được sở hữu và trao đổi trên một số thị trường Vốn bao gồm tất cả các hình thức BĐS (bao gồm cả BĐS dùng để ở) cũng như vốn tài chính và chuyên môn (nhà máy, cơ
sở hạ tầng, máy móc, bằng sáng chế, v.v.) được các công ty và cơ quan chính phủ sử dụng Như vậy, vốn bao gồm các tài sản dùng cho hoạt động sản xuất kinh doanh nói chung và có nhiều hình thức thể hiện như động sản, BĐS, tiền, vốn tài chính Theo quan điểm của Mark, “Vốn chính là tư bản, là giá trị đem lại giá trị thặng dư, là một đầu vào của quá trình sản xuất” Nhưng quan niệm của Mark mới chỉ đề cập đến giá trị thặng dư
từ khu vực sản xuất vật chất, trong khi ở các lĩnh vực khác như NH thì vẫn tạo ra giá trị thặng dư Như vậy, vốn và tài sản vẫn có điểm khác nhau Vốn được sử dụng để đầu tư, kinh doanh nhằm tạo ra lợi nhuận, giá trị thặng dư Trong khi tài sản là là vật, tiền, giấy
tờ có giá và quyền tài sản (Điều 105 BLDS năm 2015), là những đối tượng mà một chủ thể cụ thể được quyền sở hữu
Phân tích trên liên quan đến khái niệm chung về vốn của các loại hình doanh nghiệp Đối với lĩnh vực NH, vốn có những khái niệm, những ý nghĩa riêng và chức năng mang tính đặc thù xét dưới góc độ kinh tế, pháp lý, kế toán và nguồn gốc
Về mặt kinh tế, trong hoạt động NH, vốn được hiểu là toàn bộ giá trị tiền tệ mà
NH huy động và tạo lập được để phục vụ cho hoạt động kinh doanh nhằm mục tiêu sinh lợi69 Vốn của NHTM, đặc biệt là vốn huy động từ công chúng có tính chất hai chiều ngược nhau: được gửi vào NHTM và được dùng để cấp tín dụng cho các chủ thể khác hoặc cho chính chủ thể gửi tiết kiệm vào NHTM
Về mặt pháp lý, mối quan hệ giữa vốn tự có, vốn điều lệ, vốn chủ sở hữu có thể
được thể hiện như sau:
67 Ủy ban Khoa học xã hội Việt Nam (1988), Từ điển tiếng Việt, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, tr.1161
68 Thomas Piketty (translated by Arthur Goldhammer), Capital of the first twenty century, The Belknap Press of
Harvard University Press, Cambridge, Massachusetts London, England, 2014, p 46
69 Lê Hải Trung (2014), “Làm rõ khái niệm vốn kinh tế và vai trò trong hoạt động quản trị rủi ro trong kinh doanh
ngân hàng”, Tạp chí ngân hàng số 11, tháng 6/2014, tr.16