Lớp đào tạo luật sư Bài thu hoạch diễn án hồ sơ hành chính 10 Nguyễn Thị Ngợi2.1.Đối tượng khởi kiệnĐối tượng khởi kiện là GCN QSDĐ số AK 734508, tờ bản đồ số 03 ngày 30122007 huyện Gia Lộc cấp cho ông Nguyễn Hữu Phong và bà Nguyễn Thị Nghiệm.Đây là Quyết định hành chính cá biệt có ảnh hưởng trực tiếp đến quyền và lợi ích hợp pháp của bà Nguyễn Thị Ngợi.2.2.Tư cách đương sựNgười khởi kiện: Bà Nguyễn Thị Ngợi + Sinh năm: 1935CMND số: 140553403+ HKTT: xã Tân Hưng, thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương+ Người đại diện theo ủy quyền: Bà Nguyễn Thị Nhàn (Giấy ủy quyền – BL 2021).Người bị khởi kiện: UBND thành phố Hải Dương+ Người đại diện theo pháp luật: Ông Vũ Tiến Phụng – Chủ tịch UBND thành phố Hải Dương.+ Người đại diện theo ủy quyền: Ông Trần Hồ Đăng – Phó Chủ tịch UBND thành phố Hải Dương (Giấy ủy quyền – BL 16).
Trang 1BỘ TƯ PHÁP HỌC VIỆN TƯ PHÁP KHÓA ĐÀO TẠO NGHIỆP VỤ LUẬT SƯ
-o0o -BẢN THU HOẠCH
HỒ SƠ TÌNH HUỐNG LS.HC - 10 KHIẾU KIỆN GIẤY CHỨNG NHẬN QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT
VAI TRÒ CỦA LUẬT SƯ:
LUẬT SƯ BẢO VỆ QUYỀN VÀ LỢI ÍCH HỢP PHÁP CỦA NGƯỜI KHỞI KIỆN
Họ và tên Ngày sinh
Số báo danh Lớp
Trang 2MỤC LỤC
1 TÓM TẮT NỘI DUNG TRANH CHẤP VÀ YÊU CẦU KHỞI KIỆN CỦA
NGƯỜI KHỞI KIỆN 2
1.1 Tóm tắt nội dung tranh chấp 2
1.2 Yêu cầu khởi kiện 3
2 CÁC VẤN ĐỀ TỐ TỤNG 3
2.1 Đối tượng khởi kiện 3
2.2 Tư cách đương sự 3
2.3 Điều kiện khởi kiện 3
2.3.1 Chủ thể và quyền khởi kiện 3
2.3.2 Thời hiệu khởi kiện 4
2.3.3 Thẩm quyền 4
3 KẾ HOẠCH HỎI TẠI PHIÊN TÒA 4
3.1 Hỏi người bị khởi kiện 4
3.2 Hỏi người khởi kiện (bà Nguyễn Thị Ngợi ủy quyền cho bà Nguyễn Thị Nhàn) 5
3.3 Hỏi người có quyền và nghĩa vụ liên quan (ông Nguyễn Hữu Phong) 5
4 LUẬN CỨ BẢO VỆ NGƯỜI KHỞI KIỆN 6
PHẦN NHẬN XÉT DIỄN ÁN 12
Trang 31 TÓM TẮT NỘI DUNG TRANH CHẤP VÀ YÊU CẦU KHỞI KIỆN CỦA NGƯỜI KHỞI KIỆN
1.1 Tóm tắt nội dung tranh chấp
Người khởi kiện: Bà Nguyễn Thị Ngợi
Người bị khởi kiện: UBND thành phố Hải Dương
Nguồn gốc thửa đất số 195 và 192, số tờ 07 – Xứ Đồng, Thanh Liễu (kể từ đây được gọi là Thửa đất số 195 & 192) theo hồ sơ địa chính thuộc quyền sử dụng của vợ chồng ông Nguyễn Hữu Đặt (đã chết năm 2001) và bà Nguyễn Thị Ngợi Diện tích 785 m² đất thổ cư và 150 m² đất ao Gia đình bà Ngợi, ông Đặt có 05 người con, nhưng ông bà chưa giao quyền sử dụng đất cho ai
Ông Đặt và bà Ngợi có năm người con lần lượt là:
1) Nguyễn Thị Đón
2) Nguyễn Hữu Phong
3) Nguyễn Thị Phú
4) Nguyễn Thị Thao
5) Nguyễn Thị Thảo
Đều thường trú tại: thôn Thanh Liễu, xã Tân Hưng, thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương
Năm 2002, theo chủ trương cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (GCN QSDĐ) cho các hộ trên địa bàn xã Tân Hưng, bà Nguyễn Thị Nghiệm (vợ ông Nguyễn Hữu Phong) có đơn xin cấp GCN QSDĐ đối với hai thửa đất trên Từ đó, UBND xã Tân Hưng
đã lập danh sách gửi lên UBND huyện Gia Lộc
Năm 2007, UBND huyện Gia Lộc cấp GCN QSDĐ số AK 734508, tờ bản đồ số 03 mang tên vợ chồng ông Nguyễn Hữu Phong và bà Nguyễn Thị Nghiệm
UBND huyện Gia Lộc cấp GCN QSDĐ này dựa trên hồ sơ và đề nghị của UBND xã Tân Hưng Nay, xã Tân Hưng đã sáp nhập về thành phố Hải Dương
Năm 2016, bà Thoa từ nước ngoài về, khi muốn đề nghị cấp GCN QSDĐ cho các con, bà Ngợi mới biết việc vợ chồng ông Phong đã đăng ký GCN QSDĐ đối với hai thửa đất nói trên
Cho rằng việc cấp GCN QSDĐ như vậy là sai do đất này thuộc quyền sử dụng của
bà Ngợi và ông Đặt (chồng bà) Khi ông Đặt chết không để lại di chúc cho ai Ngày 23/05/2016, bà Nguyễn Thị Ngợi làm đơn khởi kiện UBND thành phố Hải Dương yêu
Trang 41.2 Yêu cầu khởi kiện
Bà Nguyễn Thị Ngợi yêu cầu hủy GCN QSDĐ số AK 734508, tờ bản đồ số 03 ngày 30/12/2007 của huyện Gia Lộc cấp cho ông Nguyễn Hữu Phong và bà Nguyễn Thị Nghiệm
2 CÁC VẤN ĐỀ TỐ TỤNG
2.1 Đối tượng khởi kiện
Đối tượng khởi kiện là GCN QSDĐ số AK 734508, tờ bản đồ số 03 ngày 30/12/2007 huyện Gia Lộc cấp cho ông Nguyễn Hữu Phong và bà Nguyễn Thị Nghiệm Đây là Quyết định hành chính cá biệt có ảnh hưởng trực tiếp đến quyền và lợi ích hợp pháp của bà Nguyễn Thị Ngợi
2.2 Tư cách đương sự
- Người khởi kiện: Bà Nguyễn Thị Ngợi
+ HKTT: xã Tân Hưng, thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương
+ Người đại diện theo ủy quyền: Bà Nguyễn Thị Nhàn (Giấy ủy quyền – BL
20-21)
- Người bị khởi kiện: UBND thành phố Hải Dương
+ Người đại diện theo pháp luật: Ông Vũ Tiến Phụng – Chủ tịch UBND thành
phố Hải Dương
+ Người đại diện theo ủy quyền: Ông Trần Hồ Đăng – Phó Chủ tịch UBND
thành phố Hải Dương (Giấy ủy quyền – BL 16)
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
+ Ông Nguyễn Hữu Phong – người đứng tên trên GCN QSDĐ số AK 734508 + Bà Nguyễn Thị Nghiệm – người đứng tên trên GCN QSDĐ số AK 734508 (ủy
quyền cho ông Phong theo Giấy ủy quyền – BL 17)
2.3 Điều kiện khởi kiện
2.3.1 Chủ thể và quyền khởi kiện
Người khởi kiện: Bà Nguyễn Thị Ngợi, sinh năm 1935, có đủ năng lực pháp luật tố tụng hành chính và năng lực hành vi tố tụng hành chính
GCN QSDĐ số AK 734508 ngày 20/12/2007 do UBND huyện Gia Lộc cấp cho ông Nguyễn Hữu Phong và bà Nguyễn Thị Nghiệm ảnh hưởng trực tiếp đến quyền và lợi ích hợp pháp của bà Ngợi
Trang 5Bà Ngợi có quyền khởi kiện yêu cầu thu hồi và hủy GCN QSDĐ số AK 734508,
tờ số 03 ngày 20/12/2007 theo quy định tại khoản 1 điều 115 Luật tố tụng hành chính năm 2015 (Luật TTHC 2015) về quyền khởi kiện vụ án.
2.3.2 Thời hiệu khởi kiện
Ngày 20/12/2007, UBND huyện Gia Lộc cấp GCN QSDĐ số AK 734508 cho ông Nguyễn Hữu Phong và bà Nguyễn Thị Nghiệm
Tuy nhiên, năm 2016 bà Ngợi mới được biết đến GCN QSDĐ nêu trên Ngày 23/05/2016, bà Ngợi làm đơn khởi kiện đối với GCN QSDĐ nêu trên
Theo quy định tại điểm a khoản 2 điều 116 Luật TTHC 2015 về thời hiệu khởi
kiện: Thời hiệu khởi kiện là 01 năm kể từ ngày nhận được hoặc biết được quyết định hành chính
Bởi vậy, bà Ngợi còn thời hiệu khởi kiện
2.3.3 Thẩm quyền
GCN QSDĐ số AK 734508 do UBND huyện Gia Lộc cấp cho vợ chồng ông bà Phong – Nghiệm
Tuy nhiên, xã Tân Hưng nay đã sáp nhập vào thành phố Hải Dương Theo pháp luật
đất đai hiện hành, cụ thể là Điều 106 Luật đất đai năm 2013 về Đính chính, thu hồi Giấy
chứng nhận đã cấp, thì UBND thành phố Hải Dương là cơ quan có thẩm quyền cấp cũng như thu hồi GCN QSDĐ đối với 2 thửa đất trên
Theo quy định tại Khoản 1 Điều 31 Luật TTHC 2015 về thẩm quyền của Tòa án
cấp huyện: khiếu kiện Quyết định hành chính, hành vi hành chính của cơ quan hành chính nhà nước từ cấp huyện trở xuống trên cùng phạm vi địa giới hành chính với Tòa án…
Do đó, Tòa án nhân dân thành phố Hải Dương thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền
3 KẾ HOẠCH HỎI TẠI PHIÊN TÒA
Mục đích: Làm sáng tỏ các sự việc, đồng thời chứng minh yêu cầu trong đơn khởi kiện của bà Ngợi là có căn cứ và hợp pháp
3.1 Hỏi người bị khởi kiện
1) Vị đại diện UBND thành phố Hải Dương cho biết về nguồn gốc thửa đất số 195,
192 tờ bản đồ số 7 và thửa đất số 334 tờ bản đồ số 3?
Trang 62) Vị đại diện UBND thành phố Hải Dương hãy cho biết việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho vợ chồng ông Nguyễn Hữu Phong và bà Nguyễn Thị Nghiệm thuộc trường hợp nào theo pháp luật?
3) Trường hợp cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho vợ chồng ông Nguyễn Hữu Phong và bà Nguyễn Thị Nghiệm, đã áp dụng văn bản nào?
4) Ông Phong và bà Nghiệm nộp đơn xin cấp đất có kèm theo giấy tờ gì nữa không? Nếu có, tại sao không thấy trong hồ sơ vụ án?
5) Trong Luật đất đai năm 2003 có quy định rõ về trình tự, thủ tục cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, vậy ông/bà có biết điều này hay không?
6) Việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có tiến hành đo vẽ hiện trạng thửa đất không? Có xác định vị trí đất không?
7) Ông Hồ Đăng Dũng – Phó Chủ tịch UBND thành phố Hải Dương trình bày quan điểm về vụ án này trong văn bản ngày 22/8/2016 (BL 42-43) đã khẳng định việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là sai? UBND thành phố Hải Dương có đồng thuận với ý kiến trong văn bản này không?
3.2 Hỏi người khởi kiện (bà Nguyễn Thị Ngợi ủy quyền cho bà Nguyễn Thị Nhàn)
1) Bà hãy cho biết nguồn gốc thửa đất số 195, 192 tờ bản đồ số 7 và thửa đất số 334
tờ bản đồ số 3?
2) Bà hãy cho biết việc phát hiện ra ông Phong và bà Nghiệm đứng tên trên GCN QSDĐ từ khi nào?
3) Việc ông Phong và vợ là bà Nghiệm nộp đơn làm Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có được sự đồng ý của bà Ngợi hay không?
4) Khi UBND xã Tân Hưng cử cán bộ xuống đo vẽ bản đồ đất có thông báo cho bà Ngợi biết về việc sẽ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho vợ chồng ông Phong hay không?
5) Trong những lần tiếp xúc, làm việc về việc cấp GCN QSDĐ, bà Ngợi có từng thể hiện ý định về việc đồng ý cho vợ chồng ông Phong quyền sử dụng đất không? 6) Tại phiên tòa hôm nay, ngoài yêu cầu về hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của vợ chồng ông Phong, bà Nghiệm ra thì người khởi kiện có còn yêu cầu gì khác nữa không?
3.3 Hỏi người có quyền và nghĩa vụ liên quan (ông Nguyễn Hữu Phong)
1) Ông Phong cho biết, mối quan hệ của ông với bà Ngợi là gì?
Trang 72) Ông cho biết nguồn gốc thửa đất thửa đất số 334 tờ bản đồ số 3 và các ngôi nhà xây dựng trên đó?
3) Ông Phong cho biết, ông nộp đơn xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày tháng năm nào?
4) Ông Phong cho biết ông được cấp diện tích đất bao nhiêu? thuộc tờ bản đồ số mấy, thửa số mấy?
5) Ông Phong cho biết, ông có nhận giấy ủy quyền hay giấy cho tặng từ cha mẹ đẻ (ông Đặt, bà Ngợi) không?
6) Ông Phong cho biết, khi ông Đặt (cha đẻ của ông) chết có để lại di chúc gì cho ông không? Có ai làm chứng không? Nếu có tại sao không có trong hồ sơ vụ án? 7) Ông cho biết, bà Ngợi có từng nhắc đến việc tặng cho ông quyền sử dụng đất không? Nếu có, có ai làm chứng không?
8) Tại sao trong đơn xin cấp đất ngày 01/02/2002 đứng tên ông mà ông lại không ký tên hay điểm chỉ, lại để cho một mình vợ ông ký tên
4 LUẬN CỨ BẢO VỆ NGƯỜI KHỞI KIỆN
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc Lập – Tự Do – Hạnh Phúc
BẢN LUẬN CỨ
Kính thưa: - Hội đồng xét xử
- Vị đại diện Viện Kiểm sát
- Toàn thể quý vị đang có mặt tại phiên tòa ngày hôm nay
Tôi là luật sư – Thuộc văn phòng Luật sư AN thuộc Đoàn Luật sư thành phố Hà Nội Tôi tham gia phiên toà hôm nay với tư cách là người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người khởi kiện là bà Nguyễn Thị Ngợi trong vụ án hành chính yêu cầu UBND thành phố Hải Dương hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AK
Trang 8734508, tờ bản đồ số 3 cấp cho ông Nguyễn Hữu Phong và bà Nguyễn Thị Nghiêm được Toà án nhân dân thành phố Hải Dương đưa ra xét xử ngày hôm nay
Qua nghiên cứu hồ sơ vụ án, trao đổi với các đương sự và theo dõi diễn biến phiên tòa ngày hôm nay, tôi xin đưa ra quan điểm để bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng, hợp pháp cho người khởi kiện là bà Nguyễn Thị Ngợi Chúng tôi xin khẳng định, GCN QSDĐ
số AK 734508 do UBND huyện Gia Lộc cấp cho ông Nguyễn Hữu Phong và bà Nguyễn Thị Nghiệm là không có căn cứ và vi phạm nghiêm trọng trình tự, thủ tục theo pháp luật
I CÁC VẤN ĐỀ VỀ TỐ TỤNG
Tòa án nhân dân thành phố Hải Dương đã đảm bảo đúng các quy định của pháp luật
tố tụng hành chính Trong quá trình giả quyết vụ việc cho đến thời điểm diễn ra phiên tòa ngày hôm nay, không phát sinh các tình tiết tố tụng làm ảnh hưởng đến quá trình giải quyết vụ án
II CÁC VẤN ĐỀ VỀ NỘI DUNG VỤ ÁN
GCN QSDĐ số AK 734508, tờ số 03 ngày 20/12/2007 do UBND huyện Gia Lộc cấp là hoàn toàn không có căn cứ và vi phạm nghiêm trọng trình tự, thủ tục theo pháp luật.
1 Nguồn gốc thửa đất
Thứ nhất: Về nguồn gốc đất, Bà Nguyễn Thị Ngợi và ông Nguyễn Hữu Đặt là hai
vợ chồng chung sống với nhau và được nhà nước cấp cho thửa đất số 195 và 192, tờ bản
đồ số 7 Vị Trí đất nằm ở Xứ Đồng – Thanh Liễu, xã Tân Hưng Diện tích 785 m² đất thổ
và 150 m² đất ao Việc này đã được thể hiện rõ trong:
- Các biên bản lấy lời khai của Bà Ngợi và các con của bà Ngợi Đặc biệt ông Phong
cũng thừa nhận việc này (BL 22-23, 28-29, 30-31, 32-35);
- Quan điểm của UBND TP Hải Dương ngày 22/08/2016 (BL 42-43);
- Đồng thời, trong Biên bản đối thoại lúc 9 giờ 30 phút ngày 23 tháng 8 năm 2016
(BL 53-57) thì các bên đã xác định rõ về nguồn gốc đất
Thứ hai: Bà Ngợi không hề chuyển quyền sử dụng thửa đất này cho vợ chồng ông
Phong
- Biên bản đối thoại lúc 09 giờ 30 phút ngày 23 tháng 8 năm 2016 (BL 53-57), chủ
tọa công bố ý kiến của UBND thành phố Hải Dương, trong đó khẳng định bà Ngợi không
hề có giấy tờ nào thể hiện việc chuyển quyền sử dụng đất cho ông Phong và bà Nghiệm
Trang 9- Đồng thời UBND thành phố Hải Dương cũng đồng ý với yêu cầu của người khởi
kiện (bà Nguyễn Thị Ngợi) là hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông Nguyễn Hữu Phong và bà Nguyễn Thị Nghiệm (BL 42-43)
- Trong các bản khai của ông Phong, thì ông trình bày rằng ông là con trai trong gia
đình bà Ngợi nên ông có quyền hưởng phần đất do cha mẹ để lại (BL 24-27) Tuy nhiên đây là hành vi hoàn toàn trái với quy định của pháp luật Trong pháp luật dân sự cũng như pháp luật đất đai không hề quy định việc hưởng tài sản của cha mẹ có sự phân biệt giữa con trai và con gái Theo quy định về thừa kế của luật dân sự thì tất cả các con đều có quyền và nghĩa vụ ngang nhau
Vậy, thửa đất trong GCN QSDĐ số QK 734508 có nguồn gốc là đất của ông Nguyễn Hữu Đặt và bà Nguyễn Thị Ngợi Không có bất kỳ sự tặng cho, hưởng thừa kế hay chuyển giao quyền sử dụng cho ông Nguyễn Hữu Phong và bà Nguyễn Thị Nghiệm
2 Trình tự, thủ tục cấp GCN QSDĐ số AK 734508
Thứ nhất: Về điều kiện để được cấp sổ là không đúng, vì ông Nguyễn Hữu Phong
và vợ là Nguyễn Thị Nghiệm chỉ nộp đơn đề nghị cấp sổ, mà không có giấy tờ xác minh
về thừa kế hoặc tặng cho
Cụ thể, căn cứ theo điểm c khoản 1 điều 50 Luật đất đai năm 2003 về Cấp giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư đang sử dụng đất, thì:
“1 Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất ổn định, được Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn xác nhận không có tranh chấp mà có một trong các loại giấy tờ sau đây thì được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và không phải nộp tiền sử dụng đất:
…
c) Giấy tờ hợp pháp về thừa kế, tặng cho quyền sử dụng đất hoặc tài sản gắn liền với đất; giấy tờ giao nhà tình nghĩa gắn liền với đất;
…”
Như vậy ông Phong và bà Nghiệm không đáp ứng được các điều kiện nêu tại điểm c khoản 1 điều 50 Luật đất đai năm 2003, do đó không đủ điều kiện để được cấp GCN
QSDĐ UBND huyện Gia Lộc thời điểm đó cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất như vậy là sai, hoàn toàn trái với Luật đất đai năm 2003
Trang 10Thứ hai: Trình tự thủ tục cấp sổ không đúng so với quy định của Luật đất đai năm
2003 Tại thời điểm cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Phong và Bà
Nghiệm thì UBND huyện Gia Lộc đã làm trái quy định, cụ thể là điểm b khoản 1 Điều
123 Luật đất đai năm 2003 về Trình tự, thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
cho người đang sử dụng đất:
“Điều 123 Trình tự, thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho người đang sử dụng đất
1 Việc nộp hồ sơ xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được quy định như sau:
…
b) Hồ sơ xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất gồm đơn xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, giấy tờ về quyền sử dụng đất quy định tại các khoản 1, 2 và 5 Điều 50 của Luật này (nếu có), văn bản uỷ quyền xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (nếu có).
…”
Về trình tự thủ tục cấp GCN QSDĐ, theo quy định tại Chương 3, Thông tư số
1990/2001/TT-TCĐC ngày 30/11/2001 Hướng dẫn đăng ký đất đai, lập hồ sơ địa chính
và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì thủ tục cấp GCN QSDĐ bao gồm các bước sau:
+ Bước 1: Người sử dụng đất có trách nhiệm nộp hồ sơ kê khai đăng ký quyền sử
dụng đất tại Uỷ ban nhân dân cấp xã nơi có đất Hồ sơ Hồ sơ kê khai đăng ký quyền sử dụng đất do người sử dụng đất lập gồm:
a) Đơn xin đăng ký quyền sử dụng đất (theo mẫu ban hành kèm theo Thông tư này); b) Bản sao giấy tờ về quyền sử dụng đất được Uỷ ban nhân dân cấp xã chứng thực bao gồm một trong những giấy tờ quy định tại Khoản 1, Điều 100, Luật đất đai 2013 c) Biên bản xác nhận ranh giới, mốc giới thửa đất sử dụng
Trong khi đó, hồ sơ xin cấp GCN QSDĐ của ông Phong và bà Nghiệm chỉ có Đơn
xin đăng ký quyền sử dụng đất và Thông báo về việc hộ gia đình tự kiểm tra thửa đất đang sử dụng để lập hồ sơ cấp GCN QSDĐ mà không có thêm tài liệu nào khác.
+ Bước 2: Uỷ ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm thẩm tra và xác nhận vào đơn xin
đăng ký quyền sử dụng đất những vấn đề như: Hiện trạng sử dụng đất: Tên người sử dụng