1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Tài liệu nâng cao CUỘC KHAI THÁC THUỘC ĐỊA LẦNTHỨ 2 CỦA THỰC DÂN PHÁP 1919 1930

101 76 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 101
Dung lượng 164,49 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

- Hậu quả của Chiến tranh thế giới thứ nhất, khủng hoảng kinh tế ở các nước tư bản chủ nghĩa và ảnh hưởng của Cách mạng tháng Mười Nga đã làm cho phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc

Trang 1

- Hậu quả của Chiến tranh thế giới thứ nhất, khủng hoảng kinh tế ở các nước tư bản chủ nghĩa và ảnh hưởng của Cách mạng tháng Mười Nga đã làm cho phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc ở các nước phương Đông và phong trào đấu tranhcủa công nhân các nước tư bản phương Tây phát triển mạnh mẽ và gắn bó mật thiếtvới nhau trong cuộc đấu tranh chống kẻ thù chung là chủ nghĩa đế quốc.

- Lực lượng các mạng của giai cấp vô sản các nước đều tìm con đường tập hợp nhau lại để thành lập tổ chức riêng của mình Do đó tháng 3/1919, Quốc tế Cộng sản được hình thành ở Mátxcơva, đánh dấu giai đoạn mới trong phong trào cách mạng thế giới

- Ở Pháp, Đảng Xã hội bị phân hoá xâu sắc Tại Đại hội Tua tháng 12/1920, một

bộ phận tích cực nhất bỏ phiếu tán thành gia nhập Quốc tế Cộng sản và tách ra để thành lập Đảng Cộng sản Việt Các Đảng Cộng sản nối tiếp nhau ra đời (Đảng Cộng sản Pháp 1920, Đảng Cộng sản Trung Quốc 1921 ), càng tạo thêm điều kiệnthuận lợi cho việc truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin vào

- Cách mạng tháng Mười Nga và sự phát trển của phong trào Cách mạng vô sản thế giới đã tác động mạnh mẽ đến sự lựa chọn con đường giải phóng dân tộc của Nguyễn Ái Quốc Người đã tin theo Quốc tế Cộng sản, gia nhập Đảng Cộng sản Pháp và tích cực để truyền bá tư tưởng Mác - Lênin vào Việt Nam mở đường giải quyết cuộc khủng hoảng về đường lối giải phóng dân tộc ở Việt Nam

Trang 2

Câu 2: Trình bày chính sách thác thuộc địa lần thứ hai của Pháp và tác động của nó đến tình hình kinh tế Việt Nam.

a) Bối cảnh

- Sau chiến tranh thế giới thứ nhất, nước Pháp bị tổn thất nặng nề: hàng loạt nhà máy, đường sá, cầu cống và làng mạc bị tàn phá, sản xuất công nghiệp bị đình trệ, lạm phát tràn lan, giá cả gia tăng

- Cuộc khủng hoảng trong giới tư bản làm cho Pháp lâm vào tình trạng khó khăn và trở thành con nợ lớn, trước hết là Mỹ

- Để nhanh chóng khắc phục những thiệt hại do chiến tranh gây ra, ổn định tình hình kinh tế - xã hội, lấy lại địa vị trong giới tư bản, chính quyền Pháp đã ra sức khôi phục và thúc đẩy sản xuất trong nước, đồng thời tăng cường đầu tư khai thác các nước thuộc địa của Pháp ở Đông Dương và Châu Phi

b Chính sách khai thác của Pháp ở Đông Dương

- Chính sách khai thác thuộc địa của Pháp do Anbe XaRo đề ra, thời gian từ sau CTTG2 đến trước cuộc khủng hoảng kinh tế Tg 1929-1933

- Tư bản Pháp đầu tư mạnh, tốc độ nhanh, quy mô lớn vào và Việt nam, chủ yếu vào lĩnh vực nông nghiệp và khai thác khoáng sản: trong 6 năm (1924 - 1929), tổng số vốn đầu tư vào Đông Dương, trong đó chủ yếu là Việt Nam lên đến 4 tỉ Phờ - răng (tăng 6 lần so với 20 năm trước chiến tranh) Với số vốn trên Pháp đầu

tư chủ yếu vào các lĩnh vực sau :

* Trong nông nghiệp

Năm 1927, số vốn đầu tư vào nông nghiệp mà chủ yếu là lập các đồn điền cao sulên đến 400 triệu phờ-răng, tăng 10 lần so với trước chiến tranh; diện tích cao su năm 1930 tăng lên 120.000 ha (năm 1918: 15.000 ha) và nhiều công ty cao su mới

ra đời như: Đất Đỏ, Misơlanh, Công ty trồng trọt cây nhiệt đới

* Trong công nghiệp:

Tập trung khai thác mỏ (chủ yếu là mỏ than), nhiều công ty khai thác than ra đờinhư công ty than Tuyên Quang, Hạ Long – Đồng Đăng…

Trang 3

- Mở mang một số ngành công nghiệp chế biến quặng kẽm, thiếc; sản xuất tơ, sợi, gỗ, diêm, đường, xay xát….

* Tiểu thủ công nghiệp: Thực dân Pháp mở thêm nhiều cơ sở gia công, chế biến:+ Nhà máy sợi ở Nam Định, Hải Phòng; nhà máy rượu ở Hà Nội, Nam Định,

Hà Đông; nhà máy diêm ở Hà Nội, Hàm Rồng, Bến Thủy

+ Nhà máy đường Tuy Hòa, nhà máy xay xác, chế biến gạo Chợ Lớn…

* Thương nghiệp:

Giao lưu buôn bán nội địa được đẩy mạnh, đặc biệt là ngoại thương: trước chiến tranh, hàng hóa Pháp nhập vào Đông Dương chiếm 37%, đến năm 1930 đã lên đến 63%

Pháp thực hiện chính sách đánh thuế nặng đối với hàng hoá nước ngoài nhập vào Việt Nam để tạo thuận lợi cho hàng hóa Pháp nhập khẩu vào Việt Nam

* Giao thông vận tải:

Tiếp tục được đầu tư phát triển, đặc biệt là hệ thống đường sắt và đường thủy nhằm phục vụ cho công cuộc khai thác, vận chuyển vật liệu và hàng hoá Các đô thị được mở rộng và cư dân thành thị cũng tăng nhanh

* Tài chính ngân hang:

Ngân hàng Đông Dương nắm quyền chỉ huy nền kinh tế Đông Dương: nắm quyền phát hành giấy bạc và có nhiều cổ phần trong hầu hết các công ty tư bản Pháp

- Ngoài ra, thực dân Pháp còn bóc lột nhân dân ta bằng các loại thuế khóa nặng

nề Nhờ vậy, ngân sách Đông Dương thu được năm 1930 tăng gấp 3 lần so với năm1912

Câu 3 Cho biết thái độ và khả năng của các tầng lớp, giai cấp trong xã hội Việt sau Chiến tranh thế giới thứ nhất Vấn đề này đã được đề ra trong

Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng Cộng sản Việt (tháng 2/1930) như thế nào ?

a) Đặc điểm, khả năng cách mạng của các giai cấp :

Dưới tác động của quá trình khai thác thuộc địa lần 2, xã hội Việt Nam phân hóangày càng sâu sắc Các giai cũ vẫn còn và xuất hiện thêm cấp mới ra đời Do địa vị

Trang 4

kinh tế, chính trị khác nhau nên khả năng cách mạng của các giai cấp cũng có phầnkhác nhau

- Giai cấp địa chủ :

+ Tiếp tục bị phân hóa thành ba bộ phận: Đại địa chủ, trung và tiểu địa chủ Đại địa chủ là những người có thế lực, sở hữu rất nhiều ruộng đất, được thực dân Pháp dung dưỡng và che chở nên thế lực ngày càng tăng cường Đại địa chủ câu kết chặt chẽ với thực dân Pháp, là tay sai của chúng Đây là đối tượng của cách mạng nước ta Trung và tiểu địa chủ là những địa chủ vừa và nhỏ, thường xuyên bị thực dân và đại địa chủ thôn tính đất đai nên ít nhiều có mâu thuẫn với chúng Trung và tiểu địa chủ sẽ tham gia cách mạng khi có điều kiện

+ Trung và tiểu địa chủ bị TDP và đại địa chủ thôn tính đất đai là không đúng chỉ có nông dân là bị thông tính đất đai Do bộ phận này được sinh ra trong một đấtnước có truyền thống đấu tranh chống ngoại xâm nên ít nhiều họ sẽ có tinh thần dân tộc thôi)

- Giai cấp nông dân :

+ Chiếm hơn 90% dân số nước ta Họ bị áp bức bóc lột cho nên đời sống bần cùng, không lối thoát Đứng trước tình cảnh đó, một bộ phận nông dân rồi làng quê

ra thành phố kiếm việc và trở thành giai cấp công nhân Còn đa số vẫn bám trụ làng quê để làm kiếp tá điền cực nhọc Mâu thuẫn giữa nông dân và đế quốc phongkiến hết sức gay gắt Tuy nhiên, nông dân không đại diện cho giai cấp phong kiến, không có hệ tư tưởng dẫn đường nên họ không thể tự giải phóng mình

+ Do hạn chế về đặc điểm giai cấp, nên giai cấp nông dân không thể trở thành lực lượng lãnh đạo cách mạng, song họ là một lực lượng hăng hái, đông đảo nhất của cách mạng

- Giai cấp tư sản : bao gồm những người làm trung gian, đại lý, nhận vận

chuyển, chuyển biến gia công, hàng hóa cho tư bản Pháp Do quyền lợi kinh tế và thái độ chính trị nên giai cấp tư sản Việt chia làm hai bộ phận:

+ Bộ phận tư sản mại bản: Có quyền lợi gắn liền với đế quốc nên câu kết chặt chẽ với đế quốc

+ Bộ phận tư sản dân tộc: Có khuynh hướng làm ăn riêng, kinh doanh độc lập,bị Pháp chèn ép nên ít nhiều có tinh thần dân tộc, dân chủ nhưng tư tưởng cải lương dễ thỏa hiệp khi được Pháp nhượng cho 1 ít quyền lợi

- Giai cấp tiểu tư sản thành thị :bao gồm học sinh, sinh viên công nhân viên chức, những người buôn bán nhỏ, chủ xưởng nhỏ Sau chiến tranh thế giới thứ nhất, các cơ quan hành chính của Pháp được mở rộng nên số lượng tiểu tư sản

Trang 5

ngày càng đông đảo Giai cấp này hầu hết sống ở thành phố Cuộc sống của họ bấpbênh, đồng lương ít ỏi, thường bị bạc đãi, thường xuyên phải đối diện với thất nghiệp, phá sản Tiểu tư sản đại đa số đều có học thức ( nhất là học sinh, sinh viên, trí thức), nhạy cảm với thời cuộc, tha thiết canh tân đất nước nên hăng hái đấu tranh vì tự do, độc lập Đây là lực lượng quan trọng của cách mạng Việt Nam

- Giai cấp công nhân :

+ Ra đời trong đợt khai thác thuộc địa lần thứ nhất, phát triển nhanh chóng về

số lượng và chất lượng trong đợt khai thác thuộc địa lần thứ hai (trước chiến tranh

có 10 vạn, đến năm 1929 có hơn 22 vạn)

+ Ngoài những đặc điểm chung của giai cấp công nhân quốc tế, như đại diện cho lực lượng sản xuất tiến bộ nhất của xã hội, có hệ tư tưởng riêng, có điều kiện lao động và sinh sống tập trung, có ý thức tổ chức và kỹ luật cao, tinh thần cách mạng triệt để…, giai cấp công nhân Việt Nam còn có những đặc điểm riêng :

- Bị ba tầng áp bức bóc lột của đế quốc, phong kiến và tư sản người Việt

- Có quan hệ tự nhiên gắn bó với giai cấp nông dân

- Kế thừa truyền thống yêu nước anh hùng, bất khuất của dân tộc

- Có điều kiện tiếp thu chủ nghĩa Mác - Lênin và trào lưu cách mạng thế giới, đặc biệt là Cách mạng tháng Mười Nga

+ Do hoàn cảnh ra đời, cùng với những phẩm chất nói trên, giai cấp công nhân Việt sớm trở thành một lực lượng xã hội độc lập và tiên tiến nhất Vì vậy giai cấp công nhân hoàn toàn có khả năng nắm lấy ngọn cờ lãnh đạo cách mạng

=> Tóm lại : Sau chiến tranh thế giới thứ nhất, ở Việt Nam diễn ra những biến đổi quan trọng về kinh tế, xã hội, văn hoá, giáo dục Mâu thuẫn trong xã hội

Việt tiếp tục diễn ra sâu sắc, trong đó chủ yếu là mâu thuẫn giữa nhân dân ta với thực dân Pháp và phản động tay sai Cuộc đấu tranh chống đế quốc và tay sai tiếp tục diễn ra gay gắt, phong phú về nội dung và hình thức

b) Thái độ chính trị, khả năng cách mạng được cụ thể hóa trong Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng Cộng sản việt nam:

- Giai cấp địa chủ phong kiến phản động và tầng lớp tư sản phản cách mạng thì phải đánh đổ

- Phải hết sức liên lạc với tiểu tư sản, trung nông… để kéo họ về phe vô sản -Đối với phú nông, trung, tiểu địa chủ và tư bản An Nam mà chưa rõ mặt phản cách mạng thì lợi dụng, ít ra cũng làm cho họ trung lập

Trang 6

- Dựng lên chính phủ công nông binh; tổ chức quân đội công nông.

-Đảng của giai cấp vô sản là lực lượng lãnh đạo cách mạng Đảng phải có trách nhiệm thu phục được đại đa số giai cấp của mình, phải làm cho giai cấp mìnhlãnh đạo được quần chúng

- Từ những phân tích thái độ chính trị, khả năng cách mạng của các giai cấp tầnglớp trên, Đảng đã đoàn kết họ lại, tổ chức họ đấu tranh chống đế quốc phong kiến, phản động

Câu 4: Dưới tác động của đợt khai thác thuộc địa lần thứ hai của thực dân Pháp, tình hình kinh tế và giai cấp của xã hội Việt Nam có gì thay đổi?

a) Chuyển biến về kinh tế

- Thực dân Pháp đã du nhập vào Việt Nam quan hệ sản xuất Tư bản chủ nghĩatrong một chừng mực nhất định đan xen với quan hệ sản xuất phong kiến

Các ngành kinh tế - kĩ thuật của tư bản Pháp ở Việt Nam phát triển hơn trước

- Mặc dù vậy, nền kinh tế Việt Nam vẫn rất lạc hậu, mất cân đối và lệ thuộc vào nền kinh tế Pháp, nhân dân ta càng đói khổ hơn

b) Chuyển biến về giai cấp

Công cuộc khai thác lần thứ hai của thực dân Pháp đã làm cho xã hội Việt Nam

có sự phân hoá sâu sắc, bên cạnh các giai cấp cũ (Địa chủ - phong kiến và nông dân) đã xuất hiện các giai cấp mới (Tư sản, tiểu tư sản và công nhân) với quyền lợi, địa vị và thái độ chính trị khác nhau

b.1 Địa chủ phong kiến:

Giai cấp địa chủ phong kiến tồn tại hàng nghìn năm trong lịch sử từ địa vị là giai cấp thống trị nay trở thành tay sai cho thực dân Pháp câu kết với thực dân Pháp bóclột nhân dân ta Giai cấp địa chủ được chia thành:

+ Đại địa chủ: có nhiều ruộng đất, câu kết với thực dân Pháp bóc lột nhân dân ta+ Trung địa chủ

+ Tiểu địa chủ

- Những địa chủ phong kiến phản cách mạng được thực dân Pháp dung dưỡng và nuôi béo vì vậy đây chính là đối tượng của cách mạng

Trang 7

- Những địa chủ phong kiến bị đế quốc chèn ép có tinh thần dân tộc và tinh thần cách mạng Tuy nhiên cũng không trở thành lực lượng lãnh đạo cách mạng.

b.2 Giai cấp tư sản

- Ra đời trong cuộc khai thác thuộc địa của thực dân Pháp sau chiến tranh thế giới thứ nhất họ đã trở thành một giai cấp rõ rệt trước đó họ chỉ được gọi là một tầng lớp

- Tư sản mại bản là những tư bản hoạt động trong lĩnh vực thầu khoán, công

nghiệp và xây dựng có quyền lợi gắn liền với thực dân Pháp trở thành đối tượng của cách mạng

- Tư sản dân tộc là những nhà tư sản vừa và nhỏ có xu hướng kinh doanh độc lập

bị tư sản Pháp chèn ép nên họ có tinh thần dân tộc chống thực dân Pháp, chống phong kiến Giai cấp này có tư tưởng dao động do đó cũng không thể trở thành lực lượng lãnh đạo cách mạng

b.3 Giai cấp tiểu tư sản

- Hình thành trong cuộc khai thác thuộc địa của thực dân Pháp sau chiến tranh thế giới thứ nhất bao gồm: Trí thức, học sinh-sinh viên, công chức, tiểu thương, tiểu chủ, dân nghèo thành thị Họ sống chủ yếu ở thành thị và khu công nghiệp bị thực dân Pháp chèn ép dễ bị rơi vào tình trạng thất nghiệp

- Giai cấp tiểu tư sản cũng rất hăng hái tham gia cách mạng và là một trong những động lực đáng kể của cách mạng, họ là đồng minh của giai cấp công nhân

có thể đi với giai cấp công nhân đến xã hội chủ nghĩa.Tuy nhiên tư tưởng của họ rất dao động do đó cũng không thể trở thành lực lượng lãnh đạo cách mạng

b.4 Giai cấp nông dân

- Chiếm 90% trong xã hội phong kiến thực dân Việt Nam bao gồm: Phú nông, trung nông, bần nông, cố nông

- Giai cấp nông dân bị địa chủ phong kiến và đế quốc bóc lột nặng nề, đế quốc bóc lột nhân dân bằng sưu cao thuế nặng, địa chủ bóc lột nhân dân bằng cướp đoạt ruộng đất, địa tô, cướp đoạt ruộng đất dẫn đến giai cấp nông dân bị đẩy vào đường cùng

- Giai cấp nông dân là lực lượng đông đảo nhất và hăng hái nhất có vai trò quyết định đến cuộc giải phóng dân tộc, bị đế quốc và địa chủ chèn ép mâu thuẫn đặc biệt với đế quốc thực dân và phong kiến tay sai phản động vừa có mâu thuẫn về dân tộc vừa có mâu thuẫn về giai cấp trong đó mâu thuẫn dân tộc là lớn nhất Tuy

Trang 8

nhiên giai cấp nông dân cũng không thể trở thành lực lượng lãnh đạo cách mạng dotrình độ văn hoá thấp.

b.5 Giai cấp công nhân

- Ra đời trong cuộc khai thác thuộc địa của thực dân Pháp ngay từ cuộc khai thác thuộc địa lần thứ nhất

- Giai cấp công nhân Việt Nam còn rất trẻ chiếm 1% dân số, trình độ văn hoá kỹ thuật rất thấp

- Đặc điểm của giai cấp công nhân Việt Nam: Ngoài những đặc điểm chung với giai cấp công nhân thế giới giai cấp công nhân Việt Nam còn có những đặc điểm riêng biệt khác so với giai cấp công nhân thế giới

* Đặc điểm riêng của giai cấp công nhân Việt Nam

- Chịu 3 tầng áp bức bóc lột (Đế quốc, tư bản trong nước, địa chủ phong kiến)

- Phần lớn xuất thân từ giai cấp nông dân cho nên họ gắn bó với dân tộc có mới quan hệ gần gũi với nhân dân và có mối thâm thù với thực dân Pháp

- Ra đời trước tư sản lực lượng đồng nhất không bị phân tán về lực lượng và sức mạnh

- Kế thừa truyền thống yêu nước đấu tranh của dân tộc

- Do ra đời muộn giai cấp công nhân Việt Nam tiếp thu được ảnh hưởng của phongtrào cách mạng thế giới, ảnh hưởng của chủ nghĩa Mác-Lênin và cách mạng tháng Mười Nga

- Giai cấp công nhân Việt Nam đã sớm trở thành một lực lượng chính trị độc lập,

có đủ điều kiện và năng lực để lãnh đạo cách mạng

=>Tóm lại

- Sự biến đổi về kinh tế, nhất là sự biến đổi cơ cấu kinh tế quyết định sự biến đổi

về xã hội, nhất là sự phân hoá giai cấp ngày càng sau sắc, làm cho xã hội Việt Nam

có đầy đủ những giai cấp của một xã hội hiện đại

- Những giai cấp mới là cơ sở vật chất để tiếp thu những tư tưởng mới vào Việt Nam (kể cả tư tưởng tư sản và tư tưởng vô sản), làm cho phong trào dân tộc Việt Nam mang những màu sắc mới mà các phong trào yêu nước trước kia không thể nào có được

- Những giai cấp mới cùng những hệ tư tưởng mới làm xuất hiện hai khuynh hướng tư sản và vô sản Cả hai khuynh hướng đều cố gắng vươn lên giải quyết nhiệm vụ giành độc lập dân tộc do lịch sử đặt ra Đó chính là cuộc đấu tranh giành

Trang 9

quyền lãnh đạo duy nhất đối với cách mạng Việt Nam.Đây là đặc điểm lớn nhất của phong trào yêu nước Việt Nam trong thời gian 1919-1930.

- Sự phân hoá các giai cấp trong xã hội Việt Nam là kết quả của quá trình khai thác thuộc địa của thực dân Pháp Trong đó sự xuất hiện của giai cấp công nhân giai cấp mang sứ mạng lịch sử là đoàn kết và lãnh đạo các giai cấp khác đứng lên đấu tranh chống đế quốc Pháp giải phóng dân tộc Ngoài ra các giai cấp nông dân

có lực lượng đông đảo có ý nghĩa quyết định đến thắng lợi của cách mạng Các giaicấp khác nếu đi theo cách mạng cần phải lôi kéo về phía cách mạng, còn lực lượng nào chống đối cách mạng sẽ là đối tượng của cách mạng

Câu 5 Những mâu thuẩn cơ bản trong xã hội Việt Nam sau Chiến tranh thế giới thứ nhất ? Vì sao lại có những mâu thuẩn đó ?

1.Tác động của chính sách thống trị thuộc địa đối với Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX dẫn đến những mâu thuẫn của xã hội Việt Nam

Từ một xã hội phong kiến độc lập, Việt Nam đã mất hẳn chủ quyền thống nhất

và trở thành một xã hội thộc địa nửa phong kiến , phụ thuộc vào nước Pháp

-Do đó đã có những biến đổi sâu sắc về kinh tế-xã hội

+Về kinh tế : Mang tính chất tư bản, thực dân, nhưng đồng thời còn mang một phần tính chất phong kiến

+Về xã hội : Bên cạnh mâu thuẫn cơ bản vốn có là giữa nhân dân , trước hết là nông dân với địa chủ phong kiến vẫn tiếp tục tồn tại , nay xuất hiện một mâu thuẫnmới, bao trùm lên tất cả là mâu thuẫn giữa toàn thể dân tộc ta với đế quốc thực dânPháp Đây vừa là mâu thuẫn cơ bản, vừa là mâu thuẫn chủ yếu của xã hội Việt Nam-Một xã hội thuộc địa của Pháp

+Về giai cấp :

-Các giai cấp xã hội bị biến đổi:

- Giai cấp địa chủ phong kiến :Vốn là giai cấp thống trị nay đầu hàng đế quốc , dựa vào chúng để áp bức bóc lột nhân dân ta Vì vậy đây là đối tượng của cách mạng Song do chính sách cai trị phần đông của thực dân Pháp, một bộ phận địa chủ nhỏ và vừa đã có những phản ứng đối với chính sách thống trị của thực dân Pháp

+Giai cấp công nhân: chiếm hơn 90% dân số , bị đế quốc , địa chủ bóc lột nặng

nề vì vậy căm thù thực dân, phong kiến , khao khát độc lập và ruộng đất, họ tham

Trang 10

gia tích cực vào các cuộc đấu tranh chống đế quốc , phong kiến Nhưng trong cuộc cách mạng dân tộc dân chủ , họ không thể đóng vai trò lãnh đạo vì không đại diện cho một phương thức sản xuất tiên tiến, chỉ có đi theo giai cấp công nhân , nông dân mới phát huy được vai trò tích cực của mình.

+Các giai cấp mới xuất hiện: Giai cấp công nhân , giai cấp tư sản ra đời, giai cấptiểu tư sản ngày càng đông đảo

Do vậy, xã hội Việt Nam có hai mâu thuẫn cơ bản chính là:

-Một là: Mâu thuẫn giữa toàn thể dân tộc Việt Nam với đế quốc Pháp xâm lược

và bọn tay sai

-Hai là: mâu thuẫn giữa nhân dân Việt Nam chủ yếu là giai cấp nông dân với

giai cấp địa chủ phong kiến

Hai mâu thuẫn đó gắn chặt với nhau Trong đó mâu thuẫn giữa toàn thể dân tộc Việt Nam với đế quốc Pháp và tay sai là mâu thuẫn chủ yếu Mâu thuẫn đó ngày càng trở nên sâu sắc và gay gắt

1.Nhiệm vụ chiến lược của cách mạng Việt Nam

-Từ lâu dân tộc Việt Nam vốn có truyền thống yêu nước nồng nàn, một tinh thầnđấu tranh anh hùng và bất khuất Từ sau khi thực dân Pháp nổ súng xâm lược, nhândân ta đã đứng lên kháng chiến không ngừng để bảo vệ nền độc lập dân tộc

-Hoà nhập phong trào dân tộc ở Việ Nam vào các cao trào Phương Đông thức tỉnh trên cơ sở một xã hội với kết cấu giai cấp đã biến chuyển theo một trào lưu tư tưởng mới mang nội dung và hình thức tổ chức chính trị mới

-Thức tỉnh đối với những sĩ phu yêu nước và tiến bộ của Việt Nam bằng các tràolưu tư sản Trung Quốc, tư tưởng cải lương của Lương Khải Siêu

-Phát động các phong trào đấu tranh dân tộc bằng cách đề xướng và tập hợp của nhiều tổ chức chính trị theo khuynh hướng dân chủ tư sản mang các màu sắc và các mức độ khác nhau

Câu 6 Phân tích mối quan hệ giữa nhiệm vụ chống đế quốc và chống phong kiến ?

- Dưới thời Pháp thuộc xã hội Việt Nam có hai mâu thuẫn cơ bản: Mâu thuẫn giữa dân tộc ta với chủ nghĩa đế quốc và mâu thuẫn giữa dân tộc ta với giai cấp địachủ phong kiến

Trang 11

- Đảng nhận định nước ta là nước nông nghiệp chiếm hơn 90% số dân, chủ nghĩa đế quốc dựa vào chế độ phong kiến chủ yếu để bóc lột nhân dân.

- Nguyện vọng tha thiết và trực tiếp của nhân dân là độc lập dân tộc, người cày

có ruộng từ đó chỉ ra con đường cách mạng Viêt Nam là tư sản dân quyền, cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cách mạng bằng bạo lực cách mạng đánh đuổi đế quốc Pháp và xóa bỏ chế độ phong kiến Việt Nam tiến đến cách mạng xã hội chủ nghĩa, bỏ qua tư bản chủ nghĩa

- Đảng xác định nhiệm vụ chống đế quốc và chống phong kiến không thể tách rời nhau Nhưng nhiệm vụ chống đế quốc là quan trọng nhất Nhiêm vụ chống phong kiến phải phục tùng nhiêm vụ chống đế quốc và phải thực hiện từng bước với những khẩu hiệu cụ thể như: giảm tô, giảm tức, chia ruộng đất của bọn phản quốc cho dân cày nghèo tiến đến cải cách ruộng đất

- Giải phóng dân tộc là nhiệm vụ cốt lõi của cương lĩnh chính trị

- Mâu thuẫn chủ yếu ở thuộc địa là mâu thuẫn dân tộc quy định tính chất và nhiệm

vụ hàng đầu của cách mạng là giải phóng dân tộc

- Giải phóng dân tộc khỏi ách thống trị của chủ nghĩa thực dân là điều kiện giải phóng giai cấp Vì thế lợi ích của giai cấp phải phục tùng lợi ích của dân tộc

- Giai cấp nông dân là bộ phận có số lượng lớn nhất trong dân tộc,nên giải

phóng dân tộc chủ yếu là giải phóng nông dân

- Nông dân có nhu cầu về ruộng đất, nhưng nhiệm vụ ruộng đất cần tiến hành thíchhợp Khi đánh đổ ách thống trị của chủ nghĩa đế quốc, yêu cầu đó được đáp ứng một phần,vì ruộng đất của bọn đế quốc và bọn tay sai sẽ thuộc về tay nhân dân Đế quốc và tay sai là kẻ thù số một của nông dân, lật đổ chế độ thuộc địa là nguyện vọng của nhân dân

Trang 12

CĐ 2 PHONG TRÀO YÊU NƯỚC THEO KHUYNH HƯỚNG DÂN CHỦ TƯ SẢN

Câu 1: Trình bày bối cảnh quốc tế và Việt Nam sau CTTG 1 đã tác động như thế nào đến Việt Nam?

-“Cách mạng Tháng Mười đã mở ra (…) thời đại cách mạng chống đế quốc, thời đại giải phóng dân tộc” (Hồ Chí Minh)

-Sự thành lập Quốc tế Cộng sản (Quốc tế III – 3/1919) đem lại cho cách mạngthuộc địa những thuận lợi lớn, ảnh hưởng trực tiép đến sự phát triển của cách mạng Việt Nam

-Sự thành lập Đảng Cộng sản Pháp (12/1920) với sự đóng góp của Nguyễn ÁiQuốc, tạo ra những thuận lợi cho cuộc đấu tranh của nhân dân Việt Nam, đặc biệtgiúp cho chủ nghĩa Marx Lenin thâm nhập vào Việt Nam

-Sự ra đời của Đảng Cộng sản Trung Quốc (7/1921) và sự phát triển của phong tràn cách mạng Trung Quốc vào những năm 20 là điều kiện rất thuận lợi cho những người cách mạng Việt Nam xây dựng những cơ sở cách mạng đầu tiên

và từ đó phát triển phong trào cách mạng về nước

Trang 13

-Phong trào cách mạng thế giới lên cao và sự phân hoá xã hội sâu sắc ở Việt Nam đã thúc đẩy cách mạng Việt Nam chuyển sang thời kỳ mới: cách mạng Việt Nam là một bộ phận của cách mạng thế giới.

-Cách mạng Tháng Mười Nga và phong trào cách mạng thế giới đã tác động mạnh mẽ đến Việt nam, thúc đẩy sự chuyển biến mạnh mẽ của cách mạng Việt Nam, đến sự lựa chọn con đường giải phóng dân tộc của Nguyễn Ái Quốc

-Muốn giải phóng dân tộc không có con đường nào khác ngoài con đường cách mạng vô sản Nguyễn Ái Quốc đã đứng về Quốc tế III, tham gia thành lập Đảng Cộng sản Pháp

-Người đã tích cực truyền bá chủ nghĩa Mac Lenin về nước

-Những thay đổi bên ngoài và bên trong Việt Nam đòi hỏi cách mạng Việt Nam phải có con đường cứu nước mới, đúng đắn: phong trào giải phóng dân tộc theo khuynh hướng xã hội chủ nghĩa đã ra đời và ngày càng phát triển

-Tháng 1/1930, Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, lãnh đạo công cuộc giải phóng dân tộc Việt Nam

-Đảng Cộng Sản VN ra đời là thành quả của sự sàng lọc, lựa chọn của lịch sử, của dân tộc Việt Nam, đánh dấu bước ngoặt vĩ đại của phong trào giải phóng dân tộc Việt Nam vào đầu thập niên 30

Câu 2: Sau chiến tranh thế giới thứ I đến đầu năm 1930, phong trào yêu nước theo khuynh hướng dân chủ tư sản ở nước ta đã diễn ra như thế nào?

a Tình hình giai cấp tư sản và tiểu tư sản Việt Nam từ sau chiến tranh thế giới thứ I đến đầu năm 1930

Trang 14

Hai giai cấp tư sản và tiểu tư sản ra đời gần như cùng một lúc trên vũ đài chính trị Việt Nam, trong đợt khai thác thuộc địa sau chiến tranh thế giới thứ I (1914-1918) của Pháp.

a.1 Giai cầp tư sản

Sau chiến tranh, tư sản Việt Nam cũng muốn nhân đà phát triển trong 4 năm chiến tranh mà vươn lên Nhưng họ đã vấp phải sức cạnh tranh, kìm hãm của tư bản Pháp

-Tư sản Việt Nam lần lượt có mặt ở nhiều lĩnh vực sản xuất kinh doanh khác nhau

-Một số đông công ty, hãng buôn, xí nghiệp của tư sản VN được thành lập và hoạt động khá mạnh

-Phần lớn là các ngành dịch vụ (sửa chữa ô tô, buôn tơ lụa, thực phẩm…), chế biến nông sản (xay xát lúa gạo, nấu đường, nấu rượu…), công nghiệp nhẹ (dệt, xàphòng, thuộc da, nhuộm…)

-Nhìn chung giai cấp tư sản Việt Nam ra đời sau chiến tranh vẫn là giai cấp nhỏ yếu (vốn liếng chỉ bằng 5 % vốn của tư bản nưới ngoài), không ít trường hợp

bị tư bản Pháp cạnh tranh ác liệt làm cho phá sản như Bạch Thái Bưởi

-Giai cấp tư sản Việt Nam phát triển tới một trình độ nào đó thì phân hoá thành hai bộ phận:

+Tư sản mại bản gắn liền với quyền lợi đế quốc và là một thế lực phản cách mạng ở nước ta

+Tư sản dân tộc có khuynh hướng kinh doanh độc lập, ít nhiều có tinh thần dân tộc dân chủ chống đế quốc và phong kiến nhưng dễ thỏa hiệp

a.2 Giai cấp tiểu tư sản

Sau chiến tranh trong đợt khai thác lần hai của Pháp ở Việt Nam, giai cấp tiểu

tư sản Việt Nam có điều kiện ra đời

-Số lượng phát triển rất nhanh, tập trung ở các thành thị lớn như: Hà Nội, Sài Gòn, Chợ Lớn, Nam Định, Huế, Đà Nẵng, Vinh… bao gồm nhiều tầng lớp khác nhau (giáo viên, học sinh, sinh viên, viên chức, dân nghèo thành thị, tiểu thương, tiểu chủ, những người nghèo làm nghề tự do)

-Họ cũng bị tư sản Pháp chèn ép, bạc đãi, khinh rẻ, đời sống bấp bênh, dễ bị

xô đẩy vào con đường phá sản, thất nghiệp

-Phần đông giai cấp tiểu tư sản – đặc biệt là tầng lớp trí thức, học sinh, sinh viên đã nhận ra cảnh áp bức, bóc lột, bất bình đẳng của chế độ thuộc địa

Trang 15

-Vì vậy, họ rất hăng hái tham gia cách mạng, và là một bộ phận quan trọng trong lực lượng cách mạng Việt Nam.

b Phong trào yêu nước theo khuynh hướng dân chủ tư sản ở nước ta từ sau chiến tranh thế giới thứ nhất đến đầu năm 1930

Từ sau CTTG 1 , phong trào dân tộc dân chủ ở nước ta phát triển mạnh mẽ, lôi cuốn mọi tầng lớp nhân dân tham gia ngày càng đông với nhiều hình thức đấu tranh sôi nổi và phong phú

b.1 Phong trào công khai

Trong giai đoạn này, giai cấp tư sản dân tộc và tiểu tư sản đã lãnh đạo phong trào chống thực dân Pháp theo khuynh hướng dân chủ tư sản

-Nhằm mục đích chống lại sự chèn ép, kìm hãm của tư sản Pháp, tư sản Việt Nam đã tổ chức những phong trào chấn hưng nội hoá, bài trừ ngoại hoá (1919), đấu tranh chống độc quyền thương cảng Sài Gòn, chống độc quyền xuất cảng lúa gạo Nam Kì của tư bản Pháp (1923)…

-Phong trào báo chí của tư sản cũng phát triển để bênh vực quyền lợi của mình

-Đảng Lập hiến (đại biểu là Bùi Quang Chiêu, Nguyễn Phan Long) ra đời ở Nam Kì tập hợp lực lượng của tư sản và địa chủ, đã đưa ra một số khẩu hiệu đòi

tự do dân chủ để tranh thủ đồng tình ủng hộ của quần chúng, nhưng khi Pháp nhượng bộ cho một số quyền lợi thì họ sẵn sàng thỏa hiệp với Pháp

-Các hoạt động trên của giai cấp tư sản chỉ mang tính chất cải lương, nên nhanh chóng bị phong trào quần chúng vượt qua

-Tầng lớp tiểu tư sản trí thức được tập hợp trong các tổ chức chính trị như ViệtNam Nghĩa đoàn, Phục Việt, Hưng Nam, Thanh niên Cao vọng, Đảng Thanh niên, Tâm tâm xã…

-Họ đã có nhiều hoạt động sôi nổi: mít tinh, biểu tình, bãi khoá, bãi thị, ra báo ( Chuông rè, An Nam trẻ, Người nhà quê, Tiếng dân), lập các nhà xuất bản tiến

bộ (Nam Đồng thư xã, Cường học thư xã)… để cổ động tinh thần yêu nước, đòi các quyền tự do dân chủ

+Một số sự kiện có tiếng vang lớn là:

-6/1924, tiếng bom Phạm Hồng Thái ở Sa Diện (Quảng Châu, Trung Quốc) đã

cổ vũ mạnh mẽ phong trào yêu nước

-Đấu tranh đòi Pháp phải thả nhà yêu nước Phan Bội Châu (11/1925)

-Lễ đưa tang và truy điệu nhà yêu nước Phan Chu Trinh (3/1926)

Trang 16

tư sản lớp trên.

-Việt Nam Quốc dân Đảng sớm bị thực dân Pháp khủng bố

-9/2/1930, khởi nghĩa Yên Bái nổ ra nhưng nhanh chóng bị dập tắt kéo theo sựtan rã của Việt Nam Quốc dân Đảng

Cuộc khởi nghĩa đó tuy thất bại, song nó đã góp phần cổ vũ lòng yêu nước đồng thời cũng biểu lộ tính non yếu, không vững chắc của phong trào dân tộc dânchủ của tư sản dân tộc Việt Nam

b.3 Phong trào văn hoá tiến bộ

- Song song và kế tiếp phong trào đấu tranh chính trị là phong trào văn hoá tiến

bộ tuyên truyền tư tưởng dân tộc dân chủ

- Trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, tầng lớp trí thức yêu nước, tiến bộ

đã sử dụng báo chí sách vở để trình bày quan điểm chính trị của mình và giác ngộ, vận động quần chúng cách mạng

+ Báo chí của trí thức có tư tưởng dân chủ tư sản, quốc gia cải lương

+ Những người này đã dùng những tờ báo tiếng Pháp để vạch trần những tên quan cai trị tàn ác, phản động và đòi thực dân thi hành một số quyền tự do dân chủ

- Những tờ báo tiêu biểu là: Diễn đàn bản xứcủa Nguyễn Phú Khai, Bùi QuangChiêu, Diễn đàn Đông Dương Tiếng vang An Nam

+ Báo chí của những trí thức có tư tưởng tiến bộ

- Những người này đã dùng những tờ báo tiếng Pháp để phê phán, lên án chế

độ thực dân và bọn quan lại thối nát, phản động chủ trương xây dựng nền văn hoádân tộc tiến bộ, đả phá chủ nghĩa “Pháp – Việt đề huề”, trích đăng các bài trên báo “Nhân đạo” của Đảng Cộng sản Pháp, một số tài liệu về Cách mạng tháng Mười, về chủ nghĩa Mac Le nin và tác phẩm của Nguyễn Ái Quốc

Những tờ báo tiêu biểu là: Chuông rè của Nguyễn An Ninh, An Nam của PhanVăn Trường, An Nam trẻ Người Nhà quê (Le Nhaque) của Nguyễn Khánh

Toàn…

Trang 17

+ Những tờ báo tiếng Việt.

Những tờ báo tiếng Việt đã truyền bá nề văn hoá tiến bộ và tư tưởng dân chủ.Những tờ báo tiêu biểu là: Hữu Thanh của Tản Đà (Hà Nội), Tiếng Dân của Huỳnh Thúc Kháng (Huế), Đông Pháp thời báo của Trần Huy Liệu (Sài Gòn)… + Các nhà xuất bản tiến bộ

Xuất bản, mua bán các sách báo yêu nước cách mạng Tiêu biểu là: Nam

Đồng thư xã của Phạm Tuấn Tài (Hà Nội), Quan hải tùng thư của Đào Duy Anh (Huế), Cường Học thư xã của Trần Huy Liệu (Sài Gòn)

b.4 Kết luận

Phong trào văn hoá tiến bộ đã khích lệ lòng yêu nước, đấu tranh giành độc lập,dân chủ của nhân dân và thanh niên, đồng thời truyền bá những trào lưu tư tưởng cách mạng mới, góp phần đưa phong trào yêu nước dân chủ ở nước ta phát triển mạnh

Câu 3 Giải thích tại sao các phong trào yêu nước theo khuynh hướng dân chủ tư sản ở Việt Nam lại thất bại?

-Các phong trào dân tộc dân chủ theo khuynh hướng tư sản ở Việt Nam, tiêu biểu là hoạt động của Việt Nam Quốc dân Đảng, đã phát triển mạnh từ sau chiến tranh thế giới thứ I, đều lần lượt đi đến thất bại vì:

+ Giai cấp tư sản dân tộc Việt Nam rất non yếu về kinh tế, què quặt về chính trị

+ Thiếu cơ sở vững chắc trong mọi tầng lớp nhân dân

+ Tổ chức kém, không khoa học, hàng ngũ phức tạp, thường bị bọn tay sai Pháp chui vào phá hoại

+ Phong trào không đủ sức chống đỡ trước mọi thủ đoạn khủng bố của kẻthù để tồn tại và phát triển

+ Ngọn cờ tư tưởng tư sản tuy đối với người Việt Nam còn rất mới mẻ, nhưng không

đủ khả năng giúp nhân dân Việt Nam thoát khỏi kiếp nô lệ

+ Về khách quan, đây là lúc thực dân Pháp đang mạnh, đang củng cố được nền thốngtrị ở Đông Dương So sánh lực lượng chưa có lợi cho phong trào yêu nước, thời cơ cách mạng cũng chưa xuất hiện

Trang 18

-Sự thất bại của phong trào dân tộc theo khuynh hướng tư sản bắt nguồn sâu

xa từ cơ sở kinh tế và giai cấp của xã hội Việt Nam sau chiến tranh

-Phong trào đấu tranh của tư sản dân tộc tuy thể hiện lòng yêu nước nhưng mang tính cải lương, bồng bột và nhất thời, dễ thỏa hiệp nên ngày càng xa rời quần chúng

-Hoạt động đấu tranh của tiểu tư sản tuy mạnh mẽ, chúa đựng nhiều yếu tố tiến bộ hơn (thể hiện lòng yêu nước, tinh thần dân tộc, chống Pháp), được quần chúng ủng hộ nhưng cũng không thể đưa cuộc đấu tranh đi đến thắng lợi do thiếuđường lối chính trị đúng đắn nên không tập hợp được đông đảo nhân dân, không

đủ sức chống lại sự đàn áp của thực dân Pháp để giành độc lập

-Phong trào dân tộc theo khuynh hướng dân chủ tư sản ở Việt Nam đã thể hiệntính chất non yếu, không vững chắc nên không thể đáp ứng được yêu cầu khách quan của sự nghiệp giải phóng dân tộc

Câu 4 Phong trào yêu nước theo khuynh hướng tư sản có ý nghĩa lịch sử như thế nào đối với phong trào yêu nước Việt Nam đầu thế kỉ XX?

+ Cổ vũ mạnh mẽ tinh thần yêu nước của nhân dân Việt Nam, bồi đắp thêm cho chủ nghĩa yêu nước Việt Nam

+ Đào tạo, rèn luyện một đội ngũ những nhà yêu nước cho những phong trào đấu tranh mới về sau

+ Góp phần khảo nghiệm một con đường cứu nước, chứng tỏ con đường giải phóng dân tộc theo khuynh hướng tư sản là không thành công

+ Giúp cho những người yêu nước Việt Nam hướng đến một con đường mới, tiếp thu lý luận giải phóng dân tộc theo khuynh hướng vô sản, làm cho phong trào yêu nước trở thành một trong những điều kiện dẫn đến sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam

Trang 19

+ Không thấy được lực lượng cơ bản của cách mạng là công nông.

+ Không có phương pháp cách mạng đúng đắn và những biện pháp tổ chức khoa học

+ Không nhận thức được xu thế phát triển của thời đại mới

Vì vậy, chỉ có giai cấp công nhân Việt Nam, với những phẩm chất tốt đẹp

cùng những đặc điểm riêng biệt độc đáo, mới thực sự là người đại biểu đầy đủ và trọn vẹn nhất cho lợi ích của toàn thể dân tộc, mới là giai cấp có khả năng lãnh đạo và đưa sự nghiệp giải phóng dân tộc đến thắng lợi hoàn toàn

Nhưng để trở thành người lãnh đạo cách mạng, giai cấp công nhân phải tự tổ chức thành chính đảng cách mạng, bằng cách tiếp thu và giác ngộ chủ nghĩa Mac

Le nin

Câu 5Trình bày sự thành lập của tổ chức Việt Nam Quốc Dân Đảng ?

Nguyên nhân thất bại và ý nghĩa lịch sử của tổ chức VNQDĐ?

a) Hoàn cảnh

- Sau CTTG1 xã hội Việt nam mang tính chất thuộc địa nửa phong kiến đặt ra 2 nhiệm vụ chống đế quốc và phong kiến Pt yêu nước dân chủ công khai của tư sản dân tộc và TTS trí thức diễn ra sôi nổi từ 1919 – 1926

- Nhà xuất bản Nam đồng thư xã của anh em Phạm Tuấn Tài ở Hà Nội ra sách báo tiến bộ nên đã tập hợp đc những trí thức thanh niên yêu nc nhưng chưa có đường lối chính trị rõ rệt Ngày 25/12/1927 họ tuyên bố thành lập VNQD đảng

b) Mục đích

- VNQD đảng không có mục đích rõ ràng Ban đầu họ nên lên tư tưởng chủ nghĩa xã hội dân chủ năm 1928, đến 1929 lại nên lên nguyên tắc “ tự do, bình đẳng, bác ái”

c) Thành phần

- Là 1 tổ chức đảng nhưng thành phần đảng viên ô hợp đủ thể loại, không tậphợp được đông đảo quần chúng nhân dân tham gia

d)Tổ chức

- 1 tổ chức đảng hoạt động bí mật nhưng tổ chức lòng lẻo, thiếu kỉ luật, ít cơ

sở trong quần chúng, kết nạp đảng viên thiếu thận trọng

e) Phương thức hoạt động

- Thiên về bạo động ám sát, chú trọng dựa vào binh lính việt trong quân độipháp, khủng bố ám sát cá nhân

Trang 20

- không chú trọng vào tuyên truyền, huấn luyện đảng viên và quần chúng,không có nhiều cơ sở trong quần chúng nhân dân, lý luận nghèo nàn

g) Địa bàn và hoạt động chính

- Địa bàn bó hẹp trong số địa phương ở Bắc Kỳ, cơ sở Nam Kỳ và trung kìhầu như không đáng kể

- Hoạt động của đảng chủ yếu là thiên về khủng bố ám sát cá nhân điển hình là vụ

ám sát tên trùm mộ phu Badanh ở bắc kì ngày 9/2/1929 Sự kiện này gây tiếngvang lớn trong pt yêu nc

- Sau sự kiện này đảng bị tổn thất nặng nề do pháp tiến hành khủng bố trắng có khoảng 1000 đảng viên sa lưới thực dân Đảng đứng trước nguy cơ tan dã hoàn toàn Các thành viên còn lại của đảng quyết đinh dốc hết lực lượng còn lại làm cuộc bạo động cuối cùng ko thành công cũng thành nhân

- Mặc dù chưa chuẩn bị đầy đủ nhưng vì tình thế cấp bách nên VNQD đảng phải khởi nghĩa vào ngày 9/2/1930 ở Yên Bái, rồi Phú Thọ, Thái Bình, HN cũng có némbom phối hợp tại Yên Bái nghĩa quân đã giết đượcc 1 số sĩ quan binh lính P

nhưng khởi nghĩa nhanh chóng thất bại, VNQD đảng tan dã hoàn toàn

f) Nguyên nhân thất bại của VNQD Đ (khuynh hướng cứu nc DCTS)

- Về khách quan thực dân Pháp còn mạnh lại nhiều thủ đoạn và có tay sai phong kiến nên có đủ sức đàn áp phong trào cách mạng nói chung và khuynh hướng DCTS, VNQD Đ nói riêng khi thời cơ chưa chin muồi

- Con đường DCTS ở Việt Nam thiếu cơ sở kinh tế xã hội tư bản đủ mạnh để tồn tại

và phát triển thắng lợi vì nềnkinh tế tư bản ở Việt Nam còn nhỏ bé, què quặt yếu ớt

lệ thuộc vào Pháp xã hội tư bản mà đại diện là tư sản nhỏ bé về kinh tế nên bạc nhược về chính trị bản thân nó lại chia thành 2 tầng lớp là tư bản mại bản và tư bảndân tộc Tư sản mại bản theo đế quốc, tư sản dân tộc có tinh thần chống ĐQ, PK nhưng không triệt để cải lương thỏa hiệp khi đế quốc mạnh

- Khuynh hướng DCTS thiếu đường lối và tổ chức lãnh đạo đúng đắn VNQD Đ đccoi là chính đảng tiêu biểu nhất của khuynh hướng này nhưng non kém về mọi mặtđường lối chính trị ko rõ ràng

Trang 21

- Con đường DCTS tiến bộ hơn con đường PK nhưng đã tỏ ra nỗi thời và phản động

so với thế giới khi chủ nghĩa tư bản tự do cạnh tranh chuyển sang giai đoạn ĐQxuất hiện cách mạng vô sản lật đổ tư bản trong khi đó ở VN con đường vô sản đãxuất hiện từ 1920 qua 10 năm cạnh tranh vs con đường tư sản đã giành thắng lợi.cách mạng lựa chọn con đường vô sản đó là sự lựa chọn ngiêm khắc của ls, củanhân dân ta

Câu 6 : Hoàn cảnh, diễn biến, ý nghĩa, kết quả của cuộc khởi nghĩa Yên Bái?

a)Hoàn cảnh

- Ngày 25/12/1927 VNQDĐ ra đời dưới sự lãnh đạo của Nguyễn Thái Học ,Phạm Tuấn Tài, Đây là chính đảng yêu nc cách mạng theo khuynh hướng DCTS hoạt động thiên về quân sự nhất là ám sát cá nhân điển hình là vụ ám sát tên trùm mộ phu Badanh ở bắc kỳ 9/2/1929 sau sự kiện này đảng bị tổn thất nặng nề vì pháp khủng bố trắng

- Những yếu nhân còn lại của đảng quyết định ko thể ngồi yên chờ chết mà phải dốc hết ll còn lại làm bạo động cuối cùng may ra thì thành công ko thì cũng thành nhân Trong quá trình chuẩn bị cho k/n một số cơ sở bị phát giác nên đảng viên tiếptục bị tổn thất , tình thế buộc đảng phải khẩn trương k/n tiến hành bạo động non.b) Diễn biến

- Theo kế hoạch đã định khởi nghĩa của VNQD Đ đã bùng nổ ngày 9/2/1930 tại yên bái Đây là trọng tâm của khởi nghĩa quân khởi nghĩa đã giết đc 1 số binh lính

và sĩ quan pháp, chiếm được trại línhnhưng khônh làm chủ đc tỉnh lị nên hôm sau

bị quân pháp phản công và dập tắt

- Ở Phú Thọ, Hải Dương, Hà Nội cũng có ném bom phối hợp còn các nơi khác nghĩa quân chỉ làm đc vài huyện lị nhỏ rồi nhanh chóng bị Pháp đàn áp Tất cả những người khởi nghĩa bị Pháp bắt hoặc xử chém, giam vào nhà lao

- Lãnh tụ của đảng là Nguyễn Thái Học khi lên đoạn đầu đài đã hô to “ Việt Nam vạn tuế”, Đảng CSVN kêu gọi quần chúng ủng hộ các chiến sĩ yên bái

c) Nguyên nhân thất bại

- Đâu là cuộc bạo động non bất đắc dĩ của 1 chính đảng non kém về mọi mặt trong khi kẻ thù còn mạnh đủ sức để đàn áp nhanh chóng

Trang 22

- Thất bại của k/n Yên Bái ko chỉ là thất bại của VNQD Đ mà còn là thất bại của khuynh hướng cứu nc DCTS có nhiều hạn chế

d)Ý nghĩa

Tuy thất bại nhưng k/n Yên Bái đã thể hiện khả năng và tinh thần cách mạng của VNQD Đ để lại những bài học kinh nghiệm và cổ vũ phong trào yêu nước

Câu 7 Tại sao lại có phong trào dân tộc dân chủ trong những năm 1919 -

1925 ? Hãy nhận xét về phong trào này trên các mặt: quy mô, tính chất,

nguyên nhân thất bại, vị trí và ý nghĩa của phong trào.

* Nguyên nhân:

+ Do ảnh hưởng của Cách mạng tháng Mười Nga, phong trào cách mạng thếgiới, chính sách khai thác bóc lột thuộc địa của thực dân Pháp đã làm cho mâuthuẫn giữa dân tộc Việt Nam và thực dân Pháp ngày càng gay gắt Đây chính lànguồn gốc, động lực dẫn đến sự bùng nổ của phong trào yêu nước sau chiến tranhthế giới thứ nhất

* Nhận xét:

+ Phong trào dân tộc dân chủ trong những năm 1919 đến 1925 đã diễn ra sôi

nổi, thu hút đông đảo các tầng lớp tham gia đấu tranh, chủ yếu là tư sản và tiểu tưsản dân tộc

+ Quy mô của phong trào rộng lớn, không chỉ bó hẹp ở trong nước mà cả ở nướcngoài với các hoạt động của Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh, của tổ chức Tâmtâm xã nhưng kết quả là tất cảc các phong trào đều thất bại

* Nguyên nhân thất bại:

+ Khách quan: Hệ tư tưởng dân chủ tư sản đã lỗi thời không còn hấp dẫn nhưtrước Mặt khác, thực dân Pháp còn mạnh, còn đủ sức để đối phó với phong trào.+ Chủ quan: Giai cấp tư sản Việt Nam còn nhỏ bé, không có tinh thần đấu tranhtriệt để Giai cấp tiểu tư sản do đời sống bấp bênh nên chưa kiên định đấu tranh Sựthất bại này thể hiện tính non yếu, không vững chắc của phong trào tư sản và cũng

là sự thất bại của giai cấp tư sản dân tộc trong cuộc đấu tranh giành quyền lãnh đạocách mạng Việt Nam với giai cấp vô sản

* Vị trí và ý nghĩa:

Trang 23

+ Có vị trí quan trọng trong phong trào dân tộc, dân chủ những năm 20 của thế

kỉ XX

+Ý nghĩa: Khơi dậy lòng yêu nước, truyền thống đấu tranh bất khuất của dân tộc, góp phần truyền bá tư tưởng tiến bộ vào nước ta, hỗ trợ và thúc đẩy phong tràocông nhân phát triển; làm nảy sinh những tổ chức chính trị; xuất hiện một bộ phận tiên tiến đi đầu trong sự nghiệp cứu nước và là một trong ba nhân tố dẫn tới sự thành lập của Đảng Cộng sản sau này

Câu 8 : Phát biểu ý kiến về quan điểm của Phan Bội Châu “ Trông bánh xe trước đã đổ, thay đổi con đường thất bại, tìm kiếm con đường thành công “

-Phan Bội Châu là đại điện của bộ phận sĩ phu tư sản hóa đầu thế kỉ 20, có tư tưởng yêu nước tiến bộ, từ thất bại của phong trào cần vương mà ông cho rằng

"Trông bánh xe trước đã đổ, thay đổi con đường thất bại, tìm kiếm con đường thành công " đó là 1 quan điểm đúng đắn tiến bộ

- “ Bánh xe đã đổ trước “ là thất bại của phong tròa yêu nước chống Pháp cuối thế kỉ XIX theo khuynh hướng phong kiến , chứng to con đường cứu nước theo ngọn cờ phong kiến không thành công Không thể đi theo con đường cũ là một nhận thức mới của Phan Bội Châu trong điều kiện lịch sử mới khi hệ tư tưởng dân chủ tư sản từ bên ngoài tràn vào VN

- “Thay đổi con đường thất bại, tìm kiếm con đường thành công”là rút kinh nghiệm từ thất bại của con đường cứu nước cũ và từ bỏ con đường đó để đi tìm 1 con đường mới để cứu nước cứu dân Đây là yêu cầu khách quan của sự nghiệp giải phóng dân tộc Việt Nam đầu thế kỉ XX

- Mặc dù lúc đầu chưađoạn tuyệt hoàn toàn với tu tưởng phong kiến nhưng PhanBội Châu không đi theo vết xe đổ của phong trào Cần Vương, mà nhận thức được vấn đề dân chủ dân quyền và mối quan hệ dân – nước, nên đã lực chọn con đường cứu nước mới theo khuynh hướng dân chủ tư sản với xu hướng bạo động

- Tuy không thành công nhưng những hoạt động của Phan Bội Châu cũng như của các nhà êu nước đàu thế kỉ XX đã góp phần khảo nghiệm cho 1 con đường cứunước mới , giúp cho những người yêu nước Việt Nam mà tiêu biểu là Nguyễn Ái QUốc , hướng đến 1 con đường mới, xác định cứu nước, giải phóng dân tộc theo khuynh hướng vô sản và đưa sự nghiệp cứu nước đến với bến bờ thành công

Trang 24

CĐ 3 PHONG TRÀO CÔNG NHÂN

Câu1 Khái quát sự ra đời của giai cấp công nhân Việt Nam ?

- Sau khi bình định và đặt xong ách thống trị trên đất nước ta, thực dân Pháp

đã tiến hành các cuộc khai thác thuộc địa ở Đông Dương để bóc lột, vơ vét tài nguyên và sức lao động của nhân dân ta

- Từ sau chiến tranh thế giới thứ nhất, Pháp đẩy mạnh khai thác thuộc địa lần

2 với quy mô lớn và tốc độ nhanh

- Vốn đầu tư của Pháp vào nước ta từ 1924 – 1929, gấp 6 lần tứ 1898 - 1918, chủ yếu là để mở các đồn điền trồng cây công nghiệp, đẩy mạnh khai thác mỏ, chủ yếu là mỏ than và các ngành công thương nghiệp khác

- Chính quyền phong kiến bị thu hẹp dần, phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa đã ra đời ở Việt Nam

- Xã hội Việt Nam đã biến thành xã hội thuộc địa và nửa phong kiến

- Cơ cấu giai cấp xã hội đã có sự biến đổi mới Một số giai cấp mới đã ra đời

- Giai cấp vô sản công nghiệp ra đời từ cuối thế kỷ XIX trong quá trình khai thác thuộc địa lần I của Pháp và đã trưởng thành nhanh chóng cả về số lượng và chất lượng trong những năm đầu thế kỷ XX

- Đến trước chiến tranh thế giới thứ I, giai cấp công nhân Việt Nam có số lượng khoảng 10 vạn người, sống khá tập trung ở các khu Hòn Gai, Hải Phòng, Nam Định, Vinh, Sài Gòn, Chợ Lớn …

- Đến năm 1929, số lượng công nhân Việt Nam đã lên đến 22 vạn người

- Giai cấp công nhân Việt Nam ra đời trước giai cấp tư sản Việt Nam Nó xuấthiện khi có sự xâm nhập của chủ nghĩa tư bản Pháp

- Tuy còn trẻ, số lượng chỉ khoảng 1% dân số, trình độ văn hóa kỹ thuật thấp nhưng giai cấp công nhân là đại biểu cho lực lượng sản xuất tiên tiến nhất:

+ Sống tập trung, nằm trong các yết hầu kinh tế của chủ nghĩa tư bản Pháp ở Việt Nam

+ Có ý thức tổ chức kỷ luật, có tinh thần triệt để cách mạng

Trang 25

+ Sinh trưởng trong một nước thuộc địa và nửa phong kiến, giai cấp công nhân

bị ba tầng áp bức và bóc lột của đế quốc, phong kiến và tư sản bản xứ

+ Phần lớn từ nông dân mà ra nên có mối liên hệ gần gũi với nông dân, có truyền thống yêu nước bất khuất

+ Ra đời và bước lên vũ đài chính trị giữa lúc Cách mạng tháng Mười Nga đã giành thắng lợi nên sớm có điều kiện để tiếp thu chủ nghĩa Marx Lenin

- Tính chất và đặc điểm trên đã làm giai cấp công nhân Việt Nam có sức mạnh chính trị và tinh thần to lớn, giúp nó giành được quyền lãnh đạo cách mạng Việt Nam

Câu 2Những nét chính về sự ra đời và quá trình phát triển từ “tự phát” đến “tự giác” của giai cấp công nhân Việt Nam Vị trí của phong trào công nhân đối với sự ra đời của ĐCSVN đầu năm 1930?

- Các cuộc khai thác thuộc địa của Pháp từ sau khi đặt được ách thống trị trên đất nước ta đã làm xuất hiện thêm ba giai cấp mới: công nhân, tư sản và tiểu tư sản

- Phong trào đấu tranh của công nhân đã nổ ra và nhanh chóng trở thành lực lượng chính trị độc lập, đưa giai cấp công nhân sớm trở thành giai cấp nắm quyềnlãnh đạo cách mạng Việt Nam

- Từ khi mới ra đời đến năm 1930, công nhân Việt Nam đã đấu tranh vì lợi ích dân tộc và giai cấp, đi từ đấu tranh lẻ tẻ dần dần phát triển rộng rãi, liên kết các ngành nghề khác nhau và ý thức chính trị ngày càng thể hiện rõ rệt

- Từ cuối thế kỷ XIX đến đầu thế kỷ XX, ta thấy xuất hiện một số cuộc đấu tranh bỏ việc hoặc bãi công của công nhân:

+ Công nhân làm đá ở On Lâu (Hải Hưng) bãi công (1900)

+ Công nhân xe lửa Yên Bái bỏ việc (1905)

+ Công nhân Nam Kỳ bỏ việc (1907)

+ Nữ công nhân viên hãng Delbaux (Nam Định) bãi công (1/5/1909)

+ Công nhân viên chức hãng LUCI ở Hà Nội bãi công (5/1909)

+ Công nhân lò nung xi măng Hải Phòng, công nhân và học sinh học nghề xưởng Ba Son (Sài Gòn) bãi công (1912)

+ Công nhân mỏ thiếc Tĩnh Cúc (Cao Bằng) bỏ việc tập thể (1914)

Trang 26

- Từ sau chiến tranh, do việc đẩy mạnh cuộc khai thác thuộc địa lần thứ hai nên

số lượng công nhân tăng nhanh, phong trào công nhân cũng đã nổ ra nhiều hơn trước

-Từ 1919 – 1925 có khoảng 25 cuộc đấu tranh của công nhân:

+Bãi công của thủy thủ tàu Sharnhort đậu ở Hải Phòng (8/1919)

+Bãi công của 600 thợ nhuộm ở Chợ Lớn (1922)

+ Công nhân xưởng tơ Nam Định, nhà máy xay Nam Định, nhà máy rượu Hải Dương, phân xưởng bông nhà máy dệt Nam Định bãi công (1924)

+ Tháng 8/1925, công nhân Ba Son bãi công, có Tôn Đức Thắng và Công hội

Đỏ lãnh đạo, đòi tăng lương 20%, được công nhân nhiều nơi ở Sài Gòn ủng hộ Cuộc bãi công đó đã biểu hiện mầm móng của ý thức chính trị tự giác của giai cấp công nhân (ngăn cản tàu Michelet của Pháp sang đàn áp cách mạng Trung Quốc), tính tổ chức đã bắt đầu xuất hiện

-Tuy nhiên, các cuộc đấu tranh của công nhân thời kì này còn ở mức độ thấp

và còn phụ thuộc vào phong trào yêu nước nói chung

-Nhìn chung, phong trào công nhân giai đoạn 1919 – 1925 tuy đã phát triển nhưng còn trong thời kì mang tính “tự phát”, chưa tỏ rõ được là một lực lượng chính trị độc lập, chưa có ý thức rõ rệt về sứ mệnh lịch sử của giai cấp mình.-Cuộc bãi công của công nhân xưởng Ba Son tháng 8/1925 đã thể hiện một bước trưởng thành quan trọng của công nhân Việt Nam, đã tỏ rõ ý thức về sức mạnh giai cấp của mình và tinh thần quốc tế vô sản của nó, giai cấp công nhân nước ta từ đây bước đầu đi vào đấu tranh tự giác

-Bằng thiên tài trí tuệ và hoạt động cách mạng của mình, được Cách mạng Tháng Mười soi sáng, Nguyễn Ai Quốc đã đi vào con đường cách mạng vô sản, đứng về phía Quốc tế Cộng sản, tham gia thành lập Đảng Cộng sản Pháp và tìm cách truyền bá chủ nghĩa Mac lenin vào Việt Nam

-Năm 1924, Nguyễn Ái Quốc về Quảng Châu (Trung Quốc) và lập Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên (6/1925) đào tạo cán bộ đưa về nước tuyên truyền chủ nghĩa Mac lenin, xây dựng cơ sở của Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên trong công nhân, nông dân, tổ chức và lãnh đạo quần chúng đấu tranh theo chủ nghĩa Mac – Le nin

-Từ 1926 – 1930, phong trào công nhân tiếp tục phát triển và ngày càng rộng lớn, có tổ chức, có lãnh đạo hơn:

Trang 27

+ Năm 1926 có các cuộc bãi công của công nhân nhà máy sợi Nam Định, đồn điền cao su Cam Tiên, hãng Ba Son….

+ Năm 1927 có gần chục cuộc bãi công lôi cuốn hàng trăm công nhân tham gia

+ Năm 1928 – 1929 có hàng chục cuộc bãi công với hàng ngàn người tham gia, trong đó tiêu biểu là bãi công của công nhân nhà máy xi măng Hải Phòng,nhà máy sợi Nam Định, xe lửa Trường Thi (Vinh), Avia Hà Nội , Phú Riềng (Biên Hòa)

Năm 1929 đến đầu năm 1930 có gần 40 cuộc đấu tranh của công nhân

- Đặc điểm của phong trào công nhân thời kì 1927 – 1929 là sự biến chuyển

về vật chất, biểu hiện ở các cuộc bãi công nổ ra liên tục, rộng khắp với số lượng người tham gia đông, có phối hợp giữa các địa phương, đơn vị đấu tranh, có lãnh đạo chặt chẽ của tổ chức Công hội hay Thanh niên

-Phong trào đấu tranh của công nhân bao gồm nhiều ngành khác nhau

- Khẩu hiệu đấu tranh có tính chất chính trị rõ rệt

- Các tổ chức công hội đã được thành lập ở nhiều xí nghiệp hầm mỏ…

- Cơ sở tổ chức Việt Nam Cách mạng Thanh niên Hội càng được mở rộng Số hội viên của Hội năm 1929 có đến 1700 người

- Số lượng và quy mô các cuộc đấu tranh của công nhân ngày càng lớn

- Ý thức giác ngộ giai cấp của công nhân ngày càng cao

- Giai cấp công nhân dần dần trở thành một lực lượng chính trị độc lập, có tác dụng lôi cuốn, quy tụ và dẫn đầu phong trào yêu nước

- Tình hình đó chứng tỏ chủ nghĩa Marx Lenin đã thật sự thâm nhập vào phongtrào công nhân, phong trào yêu nước

- Do đo, yêu cầu thành lập chính đảng của giai cấp công nhân đã đặt ra gay gắt,đưa đến sự ra đời của các tổ chức cộng sản:

+Tổ chức Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên phân liệt

+Tháng 3/ 1929, Chi bộ Cộng sản đầu tiên xuất hiện ở Hà Nội

+6/1929, Đông Dương Cộng sản Đảng ra đời ở Hà Nội

+Tiếp đến An Nam Cộng sản Đảng cũng ra đời vào 8/1929

+Tổ chức Tân Việt phân hóa, 1 bộ phận đứng ra sáng lập Đông Dương Cộng sản Liên đoàn vào tháng 9/1929

Tuy nhiên, sự hoạt động riêng rẽ của các tổ chức cộng sản đã gây ra những trở ngại cho sự phát triển của phong trào

Trang 28

-Yêu cầu của phong trào cách mạng và công nhân nước ta đòi hỏi phải có một Đảng Cộng sản thống nhất.

-Tháng 1/1930, Nguyễn Ái Quốc hợp nhất các tổ chức cộng sản ở Việt Nam thành Đảng Cộng sản Việt Nam

-Đó là đội tiên phong cao nhất và có tổ chức nhất của giai cấp công nhân

-Sự kiện đó chứng tỏ giai cấp công nhân đã trưởng thành, đã trở thành giai cấp

tự giác, đảm nhận sứ mệnh lãnh đạo cách mạng Việt Nam

b) Vị trí đối với sự ra đời của Đảng cộng sản VN

-Giai cấp công nhân Việt Nam là giai cấp tiên tiến nhất trong xã hội Việt Nam,

ra đời trong quá trình khai thác thuộc địa của đế quốc Pháp, đã nhanh chóng phát triển về số lượng và chất lượng, sớm nắm được quyền lãnh đạo cách mạng Việt Nam

-Từ phong trào đấu tranh của công nhân, các tổ chức chính trị của giai cấp vô sản đã xuất hiện và đòi hỏi sự ra đời của một chính đảng vô sản

-Phong trào công nhân là cơ sở để tiếp thu chủ nghĩa Marx Lenin, lí luận giải phóng dân tộc của Nguyễn Ái Quốc, là một nhân tố hình thành Đảng Cộng sản Việt Nam

c) Vai trò và vị trí của phong trào của phong trào công nhân đối với cách mạng Việt Nam

Xét về nội bộ phong trào yêu nước thì PTCN là một bộ phận trong PTYN, nếu phong trào công nhân phát triển thì sẽ thúc đẩy PTYN phát triển

Xét về điều kiện trong và ngoài nước thì PTCN là điều kiện bên trong, là mảnh đất màu mỡ để đón nhận CN Mác Lênin từ bên ngoài truyền bá vào Việt Nam Cùng với sự tăng tiến của các cuộc bãi công, CN Mác Lênin được truyền bá vào Việt Nam qua hoạt động của tổ chức Thanh niên và nhất là khi có phong trào vô sản hoá, phong trào công nhân càng lên cao, ý thức giai cấp tăng lên rõ rệt, ảnh hưởng của phong trào CMTG Vì thế có thể nói phong trào CN là cơ sở để tiếp thu

CN Mác Lênin

Phong trào CN là một trong ba yếu tố quan trọng để hình thành ĐCS bởi vì sự phát triển của phong trào CN đã thúc đẩy nhanh chóng việc hình thành các tổ chức Cộng sản, để đến đàu 1930 ĐCSVN được thành lập ĐCSVN thành lập là sản phẩm sự kết hợp 3 nhân tố: PTYN, PTCNvà CN Mác Lê nin

Trang 29

Câu 3 Cuộc đấu tranh của công nhân Ba Son đánh dấu phong trào công nhân Việt Nam chuyển từ tự phát sang tự giác vì:

- Lãnh đạo là tổ chức Công hội do Tôn Đức Thắng đứng đầu.Như vậy đây là lần đầu tiên cuộc đấu tranh của công nhân đã có sự lãnh đạo của một tổ chức chính trị của giai cấp công nhân

- Mục đích đấu tranh: Trên danh nghĩa là đòi tăng lương 20% nhưng thực chất làmuốn kéo dài thời gian sửa chữa chiến hạm Michelet ngăn cản không cho thực dânPháp dùng con tàu này chở binh lính sang đàn áp phong trào đấu tranh của nhân dân Trung Quốc Như vậy,cuộc bãi công của công nhân không phải vì mục đích kinh tế mà là vì mục tiêu chính trị

- Lực lượng tham gia: Bao gồm toàn bộ công nhân của nhà máy đóng tàu Ba Son,điều đó thể hiện tinh thần đoàn kết,ý thức giác ngộ của công nhân Việt Nam

- Kết quả: Thực dân Pháp buộc phải tăng lương 10% cho công nhân; khi chiến hạm được sửa chữa xong thì cuộc biểu tình đình công ở Trung Quốc đã thắng lợi

Ý nghĩa: Thể hiện tinh thần đoàn kết quốc tế và ý thức giác ngộ của giai cấp công nhân Việt Nam

=> Vì vậy cuộc đấu tranh của công nhân Ba Son đánh dấu phong trào công nhân Việt nam chuyển từ tự phát sang tự giác

Câu 4 : Phong trào công nhân từng bước trưởng thành, sẵn sàng tiếp nhận Chủ nghĩa Mác-Lênin và lãnh đạo cách mạng Việt Nam như thế nào?

Cùng với phong trào đấu tranh của giai cấp tư sản và tiểu tư sản, phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân Việt Nam cũng từng bước trưởng thành:

+ Năm 1919, công nhân ở nhiều nơi đã đấu tranh đòi tăng lương, giảm giờ làm, nhưng vẫn còn mang tính lẻ tẻ, thiếu tổ chức và liên kết (25 vụ đấu tranh)

+ Năm 1920, công nhân Sài Gòn - Chợ Lớn đã thành lập Công hội đỏ (bí mật)

Trang 30

+ Đặc biệt, tháng 8/1925, công nhân Ba Son (Sài Gòn) đã lấy cớ đòi quyền lợi

để bãi công nhằm ngăn cản tàu chiến của Pháp chở quân sang đàn áp phong trào đấu tranh của các thủy thủ Trung Quốc

=> Cuộc bãi công kết thúc thắng lợi với sự hưởng ứng và hỗ trợ của công nhân các ngành khác ở Sài Gòn

- Đây là cuộc bãi công có tổ chức và mục tiêu chính trị rõ ràng, không còn mang tính tự phát, vì mục đích kinh tế đơn thuần như trước đây Sự kiện này đánh dấu bước chuyển quan trọng của giai cấp công nhân Việt Nam

- Sự lớn mạnh về quy mô và trưởng thành về tổ chức và chính trị của phong trào công nhân Việt Nam là điều kiện thuận lợi cho quá trình truyền bá và phát triển chủnghĩa Mác-Lênin ở Việt Nam của Nguyễn Ái Quốc trong giai đoạn sau này

Câu 5 Chứng tỏ rằng phong trào công nhân nước ta đã phát triển lên một bước cao hơn từ sau Chiến tranh thế giới thứ nhất Cuộc bãi công của công nhân Ba Son (8/1925) có những điểm gì mới so với các phong trào trước đó ?

a Giai đoạn 1919 - 1925 :

Các cuộc đấu tranh tuy lẻ tẻ và tự phát nhưng ý thức giai cấp đang phát triển.+ 1920, công nhân Sài Gòn – Chợ Lớn thành lập Công hội, do Tôn Đức Thắng đứng đầu

+ 1922, công nhân viên chức các sở công thương Bắc Kì đòi nghỉ chủ nhật có trảlương

+ 1924, nhiều cuộc bãi công của công nhân ở Nam Định, Hà Nội, Hải Dương.+ 1925, nổi bật nhất là cuộc bãi công của thợ máy xưởng Ba Son

b Giai đoạn 1925 - 1929 :

- Từ năm 1926 đến năm 1927 : Liên tiếp nổ ra nhiều cuộc bãi công của công nhân viên chức và học sinh học nghề Lớn nhất là cuộc bãi công của công nhân sợi Nam Định, đồn điền Cam Tiêm, Phú Riềng…

- Từ năm 1928 đến 1929 : Phong trào đã có tính thống nhất trong toàn quốc, có

30 cuộc bãi công nổ ra từ Bắc chí Nam: Nhà máy xi măng, nhà máy sợi Hải Phòng,nhà máy sợi Nam Định Các phong trào thời kì này đã liên kết được nhiều ngành, nhiều địa phương, trình độ giác ngộ của công nhân đã được nâng cao Giai cấp công nhân trở thành một lực lượng chính trị độc lập

c Cuộc bãi công của thợ máy xưởng Ba Son (tháng 8/1925) có mục đích ngăn cản tàu Pháp đưa lính sang đàn áp cách mạng ở Trung Quốc Cuộc bãi công thắng

Trang 31

lợi đã đánh dấu một bước tiến mới của phong trào công nhân nước ta Giai cấp công nhân từ đây đã đấu tranh có tổ chức và có mục đích chính trị rõ ràng.

Câu 6 : Trình bày sự phát triển của phong trào công nhân trở thành một lực lượng độc lập 1925 – 1929.

Những hoạt động truyền bá chủ nghĩa Mác – Lênin của Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên đã tác động mạnh mẽ đến sự giác ngộ chính trị của giai cấp công nhân Việt Nam Thêm vào đó là sự tác động trực tiếp của cuộc cách mạng dân tộc dân chủ ở Quảng Châu và những Nghị quyết về phong trào cách mạng ở các nước thuộc địa của Đại hội Quốc tế Cộng sản lần thứ 5 , phong trào công nhân Việt Nam phát triển mạnh mẽ hơn trong giai đoạn 1926 – 1929:

* Trong hai năm 1926 – 1927: Nhiều cuộc bãi công của công nhân viên chức

đã nổ ra liên tiếp ở nhiều nơi như: Nhà máy sợi Nam Định, đồn điền cao su Cam Triêm, Phú Riềng, đồn điền cà phê Rayan (Thái Nguyên)

* Trong hai năm 1928 – 1929: Có đến 40 cuộc đấu tranh nổ ra trên khắp cả nước, tiêu biểu như các cuộc bãi công của công nhân ở nhà máy ximăng, sợi Hải Phòng, nhà máy sợi Nam Định, nhà máy diêm - cưa Bến Thủy, đóng xe lửa TrườngThi (Vinh), Xưởng sửa chữa ôtô Avia (Hà Nội), Xưởng đóng, sửa chữa tàu Ba Son (Sài Gòn), Đồn điền Phú Riềng

Đặc điểm của phong trào công nhân trong giai đoạn này là đã vượt ra khỏi phạm

vi của một nhà máy, công xưởng, bước đầu có sự liên kết giữa nhiều ngành, nhiều địa phương và đã trở thành một phong trào liên tục, mạnh mẽ Điều đó chứng tỏ trình độ giác ngộ của công nhân đã nâng lên rõ rệt và giai cấp công nhân đã trở thành một lực lượng chính trị độc lập

Cùng với sự lớn mạnh và trưởng thành của phong trào công nhân, phong trào đấu tranh của nông dân, tiểu tư sản và các tầng lớp yêu nước khác cũng phát triển, tạo nên một làn sóng cách mạng dân tộc khắp cả nước

Câu 7:Trong những năm 1919-1920,ở Việt Nam có những lực lượng chủ yếu nào đã tham gia vào phong trào dân tộc dân chủ.Nêu và nhận xét về mục tiêu đấu tranh của các lực lượng đó

Trang 32

-Lực lượng chủ yếu tham gia vào phong trào dân tộc dân chủ ở Việt Nam năm

1919-1925 là tư sản,tiểu tư sản và công nhân Việt Nam

-Mục tiêu đấu tranh:

+Giai cấp tư sản:chống tư bản nước ngoài,tư sản mại bản,đòi quyền lợi kinh tế là chủ yếu

+ Giai cấp tiểu tư sản:đòi dân sinh,dân chủ,đòi quyền lợi kinh tế,quyền lợi chính trị,độc lập,dân chủ,dân sinh

+ Giai cấp công nhân:Chống đế quốc,phong kiến tay sai,tự do dân sinh,dân

chủ,giải phóng dân tộc

-Nhận xét

+ Các giai cấp,tầng lớp tham gia phong trào dân tộc dân chủ có những mục tiêu giống nhau là chống Pháp,đòi tự do,dân chủ.Bên cạnh đó,các giai cấp khác nhau còn có những mục tiêu đấu tranh khác nhau.Suy cho cùng thì tất cả đều là phong trào yêu nước,phong trào dân tộc,dân chủ,bước đầu cho cách mạng vô sản

Câu 8Lập bảng thống kê mục tiêu, tính chất của giai cấp tư sản, tầng lớp tiểu tư sản và giai cấp công nhân Việt Nam trong những năm 1920 - 1925 và nêu nhận xét.

Phong

Mục tiêu

Chủ yếu là đòi quyền lợi về kinh tế

Chống cường quyền,

áp bức và đòi các quyền tự do, dân chủ

Nặng về mục đích kinh tế

Tính chất

Đấu tranh theo khuynh hướng dân chủ tư sản, các hoạt động của họ mang tính chất cải lương, thỏa hiệp

Theo khuynh hướng dân chủ tư sản, mang tính chất yêu nước, dânchủ rõ rệt

- Tự phát

- Tiến dần đến tự giác

Nhận xét + Tích cực: Đấu

tranh chống sự cạnh tranh, chèn ép của tư

+ Tích cực: Có tác dụng thức tỉnh lòng yêu nước, truyền bá tư

Phong trào mang tính chất tự phát, do

đó chưa có sự phối

Trang 33

bá những tư tưởng cáchmạng mới.

+ Hạn chế: Phong trào không có một tổ chức lãnh đạo thống nhất, có bề rộng, thiếu chiều sâu, chỉ bột phát nhất thời, thiếu cơ sở vững chắc trong quần chúng

hợp đấu tranh ở các nơi, chưa thấy rõ vị trí(vai trò) của giai cấp công nhân

Trang 34

CĐ 4 NGUYỄN ÁI QUỐC – HỒ CHÍ MINH

Câu 1: Tại sao Nguyễn Ái Quốc lại ra đi tìm con đường cứu nước mới ? Trình bày về quá trình hoạt động từ năm 1911 – 1930 ?

a) Tại sao Nguyễn Ái Quốc lại ra đi tìm con đường cứu nước mới ?

-Nguyễn Ái Quốc tên thật là Nguyễn Sinh Cung, sau đổi là Nguyễn Tất Thành,sinh ngày 19/5/1890 tại Kim Liên, Nam Đàn, Nghệ An Cha là Nguyễn SinhSắc, mẹ là Hoàng Thị Loan, một người phụ nữ đảm đang, chăm lo chồng con hết mực…

- Nguyễn Tất Thành từ rất sớm có trí đuổi thực dân Pháp, giải phóng đồng bào…

- Người khâm phục tinh thần yêu nước của các chí sĩ Phan Đình Phùng,

Hoàng Hoa Thám, Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh, nhưng lại không tán thành con đường cứu nước của họ Các phong trào Đông Du, Duy Tân, các cuộc khởi nghĩa đều bị thực dân Pháp dập tắt cách mạng lâm vào tình trạng khủng hoảng, thiếu hẵn một phương pháp cách mạng khoa học Một đòi hỏi tất yếu là phải tìm ra con đường giải phóng cho dân tộc

=> Trong bối cảnh lịch sử đó, thầy giáo Nguyễn Tất Thành đã ra đi tìm đường cứu dân, cứu nước, giải phóng cho dân tộc việt nam

b) Những hoạt động của Nguyễn Ái Quốc từ năm 1911 – 1930 :

- Ngày 5/6/1911, Người lấy tên là Ba, xin làm việc phụ bếp trên tàu đô đốc Latusơ Tơrêvin, rời bến cảng Nhà Rồng bắt đầu cuộc hành trình tìm đường cứu nước Tháng 7/1911, Người cập cảng Mácxây của Pháp

- Năm 1912, Người tiếp tục đi một số nước ở châu Âu, châu Phi và châu Mĩ…

- Năm 1917, Nguyễn Ái Quốc trở lại Pháp Tại đây, Người tích cực hoạt động tốcáo thực dân Pháp và tuyên truyền cho cách mạng Việt Nam, tham gia vào phong trào công nhân Pháp, tiếp nhận ảnh hường Cách mạng Tháng Mười Nga  Tư tưởng của Người dần dần biến đổi

- Tháng 11/1917, Cách mạng tháng Mười Nga thành công đã ảnh hưởng quyết định đến xu hướng hoạt động của Người

Trang 35

- Ngày 18/6/1919 các nước đế quốc thắng trận họp Hội nghị Vécxaiđể chia nhauthị trường thế giới Nguyễn Ái Quốc gửi tới Hội nghị này Bản yêu sách gồm 8 điểm đòi các quyền tự do dân chủ cho nhân dân Việt Nam Bản yêu sách không được chấp nhận nhưng đây là đòn đánh trực tiếp đầu tiên của người thanh niên trẻ tuổi Việt nam vào các nước đế quốc,

- Tháng 7/1920, Người đọc Sơ thảo luận cương về vấn đề dân tộc và thuộc địa của Lênin Từ đó Người hoàn toàn tin theo Lênin, dứt khoát đứng về Quốc tế thứ ba

- Tháng 12/1920, tại Đại hội của Đảng Xã hội Pháp họp ở Tua, Nguyễn Ái Quốc

đã bỏ phiếu tán thành Quốc tế thứ ba và lập ra Đảng Cộng sản Pháp Sau đó Người

đã tham gia Đảng Cộng sản Pháp và là người cộng sản Việt Nam đầu tiên đánh dấu bước ngoặt trong hoạt động Nguyễn Ái Quốc, từ chủ nghĩa yêu nước đến chủ nghĩa Mác - Lênin và đi theo cách mạng vô sản

 Sự kiện đó cũng đánh dấu bước mở đường giải quyết cuộc khủng hoảng về đường lối giải phóng dân tộc

- Năm 1921, Nguyễn Ái Quốc cùng với một số người yêu nước của các thuộc địa Pháp sáng lập Hội liên hiệp thuộc địa ở Pari để tuyên truyền, tập hợp lực lượng chống chủ nghĩa đế quốc

- Năm 1922, ra báo Người Cùng Khổ (Le Paria)

- Tháng 6/1923, Người đi Liên Xô dự Hội nghị Quốc tế nông dân, sau đó làm việc ở Quốc tế cộng sản viết nhiều cho báo Sự Thật (Paravda) và Tạp chí Thư tín quốc tế

- Năm 1924, Người dự và đọc tham luận tại Đại hội Quốc tế Cộng sản lần thứ V.Sau đó, Người từ Liên Xô về Quảng Châu để trực tiếp chuẩn bị về chính trị, tư tưởng và tổ chức cho việc thành lập chính đảng vô sản ở Việt Nam

- Ngày 11/11/1924, Người về Quảng Châu (Trung Quốc) trực tiếp tuyên truyền, giáo dục lý luận, xây dựng tổ chức cách mạng giải phóng dân tộc Việt Nam

- Tháng 6/1925 : Thành lập Hội Việt Nam Cách mạng thanh niên nhằm tổ chức

và lãnh đạo quần chúng đấu tranh chống Pháp

- Ngày 9/7/1925, Người và một số nhà yêu nước Triều Tiên, Inđônêxia lập ra Hội Liên hiệp các dân tộc bị áp bức Á Đông

- Ngày 6/1 đến ngày 3/2/1930, Người chủ trì Hội nghị hợp nhất ba tổ chức cộng sản cộng sản, soạn thảo Chính cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt của Đảng Cộng sảnViệt Nam…

c).Tác dụng của những hoạt động trên đối với cách mạng Việt nam

Trang 36

* Về chính trị : Trong giai đoạn này, những hoạt động của Người chủ yếu trên mặt trận chính trị tư tưởng nhằm truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin vào nước ta nư viết bài cho báo “Nhân đạo”, “Đời sống công nhân” và “Bản án chế độ thực dân Pháp” Những tư tưởng mà người truyền bá sẽ là nền tảng tư tưởng của Đảng ta sau này Những tư tưởng đó là:

Chủ nghĩa tư bản, chủ nghĩa đế quốc là kẻ thù chung của giai cấp vô sản và nhân dân các nước thuộc địa

Chỉ có làm cách mạng đánh đổ chủ nghĩa tư bản, chủ nghĩa đế quốc thì mới

có thể giải phóng giai cấp vô sản và nhân dân các nước thuộc địa Đó chính là mối quan hệ giữa cách mạng chính quốc và cách mạng thuộc địa

Xác định giai cấp công nhân và nông dân là lực lượng nòng cốt của cách mạng

Giai cấp công nhân có đủ khả năng lãnh đạo cách mạng thông qua đội tiên phong là Đảng cộng sản được vũ trang bằng học thuyết Mác - Lênin

* Về tổ chức :

- Khi về tới Quảng Châu (Trung Quốc), người đã tập hợp một số thanh niên ViệtNam yêu nước thành lập Hội Việt Nam Cách mạng thanh niên là tổ chức tiền thân của Đảng Cộng Sản Việt Nam Trong đó có hạt nhân là Cộng sản Đoàn

-> Tóm lại, những hoạt động của Nguyễn Ái Quốc đã có tác dụng quyết định trong việc chuẩn bị về chính trị, tư tưởng và tổ chức cho việc thành lập chính Đảngcủa giai cấp vô sản ở Việt Nam

CÂU 2 : Công lao của Nguyễn Ái Quốc đối với phong trào giải phóng dân tộc Việt Nam giai đoạn 1911- 1930 ?

- Tìm được con đường cứu nước đúng đắn : Kết hợp độc lập dân tộc với chủ nghĩa xã hội, kết hợp tinh thần yêu nước với tinh thần quốc tế vô sản

-Chuẩn bị về chính trị, tư tưởng, tổ chức và cán bộ cho việc thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam vào đầu năm 1930

Trang 37

- Có công trong việc thống nhất các tổ chức cộng sản, chủ trì hội nghị thành lập Đảng cộng sản VN

- Khởi thảo cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng

 Công lao to lớn nhất của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đối với dân tộc Việt Nam

là gì ? Tại sao ?

+ Người đã tìm ra con đường cứu nước đúng đắn cho công cuộc đấu tranh giảiphóng dân tộc Việt Nam : Đó là con đường Kết hợp độc lập dân tộc với chủ nghĩa

xã hội, kết hợp tinh thần yêu nước với tinh thần quốc tế vô sản

+ Nhờ tìm được con đường cứu nước đúng đắn như đã nêu trên, nên mới dẫn tới việc thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam năm 1930, làm nên cuộc Cách mạng tháng Tám 1945 thành công, tiến hành cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mĩ thắng lợi

Câu 3 Sau một thập kỉ đi tìm đường cứu nước, đến Đại hội Đảng Xã hội Pháp họp ở Tua (12/1920) lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã có những quyết định lựa chọn như thế nào? Phân tích ý nghĩa của những quyết định lựa chọn đó

1.Tán thành tin tưởng và đi theo Mác - Lê Nin Lựa chọn con đường giải phóng dân tộc là con đường CMVS

2 Bỏ phiếu tán thành và gia nhập Quốc tế CS

3 Thành lập ĐCS Pháp

4 Ý nghĩa của những quyết định lựa chọn đó: Là bước ngoặt trên con đường đi tìmđường cứu nước của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc, vượt qua những hạn chế của các bậctiền bối, từ chủ nghĩa yêu nước người đã đến với chủ nghĩa Mác-Lê nin Trở thành người cộng sản Việt nam đầu tiên Sự kiện này đã đặt cơ sở chấm dứt thời kì khủnghoảng đường lối và khủng hoảng lãnh đạo trong phong trào GPDT Việt Nam

Câu 4: Trình bày hoàn cảnh lịch sử và phân tích các yếu tố đã góp phần để lãnh tụ Nguyễn ái Quốc tiếp thu được chủ nghĩa Mác-Lênin và tìm cho cách mạng Việt Nam một con đường đúng đắn?

1.Hoàn cảnh lịch sử

a.Hoàn cảnh quốc tế

Trang 38

- Cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX là thời kỳ chủ nghĩa tư bản chuyển sang chủ nghĩa đế quốc Cùng với những mâu thuẫn vốn có giữa giai cấp vô sản và tư sản, còn xuất hiện những mâu thuẫn mới, trong đó có những mâu thuẫn giữa các dân tộc thuộc địa với chủ nghĩa đế quốc

- Giai cấp công nhân đã phát triển mạnh mẽ về số lượng và chất lượng, được trang bị lý luận Mác-Lênin, ý thức tổ chức , chính trị và giác ngộ cách mạng khôngngừng được nâng cao, chứng tỏ là một lực lượng chính trị độc lập có khả năng tập hợp, đoàn kết những người bị áp bức, lật đổ chủ nghĩa tư bản, xây dựng xã hội mới

-Sự thắng lợi của cách mạng Tháng Mười Nga (1917) mở ra một thời đại mới trong lịch sử loài người

- Quốc tế cộng sản được thành lập (1919) đã đóng vai trò to lớn đối với phong trào cộng sản và sự ra đời của hàng loạt Đảng cộng sản trên thế giới

a.Hoàn cảnh trong nước.

- Sau thất bại của phong trào yêu nước theo các khuynh hướng chính trị khác nhau, cách mạng nước ta đang lâm vào tình trạng khủng hoảng sâu sắc về đường lối cứu nước

- Nhu cầu bức thiết đặt ra lúc này là cần phải tìm ra một đường lối cứu nước đúng đắn, đáp ứng được những nhu cầu của cách mạng Việt Nam và phù hợp với

xu thế phát triển của thời đại Nhiều chiến sĩ yêu nước vẫn tiếp tục đi tìm đường cứu nước Nguyễn ái Quốc là một trong những chiến sĩ đó

2.Các yếu tố đã góp phần để lãnh tụ Nguyễn ái Quốc tiếp thu được chủ nghĩa Mác-Lênin

a.Yếu tố dân tộc.

- Nguyễn ái Quốc là người kế thừa một cách xuất xắc những giá trị truyền thống văn hoá đẹp của dân tộc Đó là truyền thống bất khuất, cần cù lao động , yêu hoà bình, trọng đạo lý mà nổi bật hơn cả là truyền thống yêu nước

Trang 39

hạn chế, sai lầm của các nhà cách mạng tiền bối nên đã chọn hướng đi sang Tây

Âu vừa để tâm xem xét tình hình, nghiên cứu lý luận và kinh nghiệm của các cuộc cách mạng điển hình trên thế giới , vừa tham gia lao động và đấu tranh trong hàng ngũ giai cấp công nhân và nhân dân lao động các nước để tìm đường cứu nước Đó

là sự lựa chọn sáng suốt, đúng đắn, mang tầm vóc lịch sử

- Ngay từ thời trẻ Người đã bộc lộ những phẩm chất giàu lòng nhân ái, ham hiểubiết, có hoài bão lớn, có chí cứu nước những phẩm chất đó đã được rèn luyện và phát huy trong quá trình hoạt động cách mạng của Người Nhờ vậy, giữa nhiều họcthuyết, quan điểm khác nhau, Người đã biết tìm hiểu, phân tích kết hợp lý luận với thực tiễn để tìm ra chân lý “Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản”

a.Yếu tố thời đại.

- Nguyễn ái Quốc sinh ra và lớn lên trong thời đại có nhiều chuyển biến quan trọng Trong hành trình đi tìm đường cứu nước, Người đã có mặt ở Châu Âu-trung tâm của những sự kiện lịch sử làm chấn động thế giới Được tiếp cận với những biến cố lớn của thời đại, trực tiếp tham gia vào những hoạt động chính trị sôi nổi, được nghiên cứu lý luận đã giúp Nguyễn ái Quốc dần dần nhận thức được qui luật phát triển của lịch sử và chân lý của thời đại Đặc biệt, Luận cương của Lênin về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa đã mở ra cánh cửa để Người đi đến với chủ nghĩa Mác-Lênin và cách mạng vô sản

- Năm 1920 tại Đại hội Đảng Xã hội Pháp với việc bỏ phiếu tán thành gia nhập Quốc tế Cộng sản và thành lập Đảng cộng sản Pháp, Người khẳng định sự lựa chọndứt khoát: Đứng hẳn về phía Chủ nghĩa Mác-Lênin và quốc tế cộng sản

Câu 5: Phân tích và chứng minh rằng: con đường cứu nước của Việt Nam

do lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc lựa chọn phù hợp với yêu cầu phát triển của lịch

Trang 40

- Đánh đuổi thực dân Pháp xâm lược, giành lại nền độc lập cho nước nhà là một đòi hỏi bức thiết của dân tộc ta.

- Ngay từ khi thực dân Pháp bắt đầu xâm lược nước ta, tuy phong trào yêu nước chống Pháp đã diễn ra mạnh mẽ liên tục nhưng đều không giành được thắng lợi Một trong những nguyên nhân thất bại là nhân dân ta chưa có một đường lối cách mạng thích hợp với thời đại mới của lịch sử , thời đại đế quốc chủ nghĩa và cách mạng vô sản , chưa có một lực lượng lãnh đạo có đủ điều kiện đưa cách mạng giải phóng dân tộc đến thành công

- Sự nghiệp giải phóng dân tộc càng lâm vào cuộc khủng hoảng sâu sắc về

đường lối cứu nước Vấn đề đặt ra lúc này là: Cần phải tìm một con đường cứu nước khác với con đường phong kiến và con đường dân chủ tư sản Đó là một đòi hỏi tất yếu của cách mạng Việt Nam đầu thế kỷ XX

b) Hồ Chí Minh đã tìm thấy con đường cứu nước đúng đắn

- Ngày 5-6-1911: Hồ Chí Minh ra đi tìm đường cứu nước cho dân tộc Người sang Pháp , hướng về nơi có những tư tưởng tiến bộ “Tự do”, “Bình đẳng”, “Bác ái” Người đi nhiều nước Châu Âu, Châu Mỹ, Châu Phi Người muốn “xem xét”

họ làm như thế nào để trở về giúp đồng bào “cứu nước”

- Trong thời gian sống và lao động ở nước ngoài Người đã tham gia vào các hoạt động chính trị và phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân và lao động cácnước, được tiếp xúc với nhiều sự kiện lịch sử quan trọng

- Qua thực tiễn đấu tranh , qua học tập và nghiên cứu các học thuyết cách mạng khác nhau Hồ Chí Minh đã sớm nhận thức được những chân lý về giai cấp , dân tộc và thời đại Người thấy rõ chủ nghĩa đế quốc , chủ nghĩa thực dân là nguồn gốc của mọi sự đau khổ của giai cấp công nhân và nhân dân lao động ở chính quốc cũng như ở thuộc địa Người khâm phục các cuộc cách mạng tư sản , nhưng Ngườicho rằng những cuộc cách mạng này là “không đến nơi”, vì nó không thực sự mang lại hạnh phúc cho nhân dân Và quyết định: Cách mạng Việt Nam không thể

đi theo con đường này

- Cách mạng tháng Mười thắng lợi là một sự kiện đặc biệt quan trọng Nó mở ra một thời đại mới trong lịch sử nhân loại, thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội trên phạm vi thế giới

- Cách mạng tháng Mười có ý nghĩa quyết định đối với sự phát triển tư tưởng chính trị của Hồ Chí Minh Người đã tìm thấy ở đấy những tư tưởng mới chỉ ra conđường giải phóng cho các dân tộc bị áp bức trên thế giới

Ngày đăng: 13/05/2019, 22:49

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w