Chương 9 SINH LÝ HỆ TIẾT NIỆU Bài 14 SINH LÝ THẬN Bài tập nhóm: 1.Làm sao để phân biệt được hồng cầu có trong nước tiểu có nguồn gốc từ cầu thận hay các nguồn gốc khác sỏi đường tiết niệ
Trang 1Chương 9 SINH LÝ HỆ TIẾT NIỆU
Bài 14 SINH LÝ THẬN
Bài tập nhóm:
1.Làm sao để phân biệt được hồng cầu có trong nước tiểu có nguồn gốc từ cầu thận hay các nguồn gốc khác (sỏi đường tiết niệu, nhiễm trùng niệu,u,…)
- Khi đái ra máu, ta sử dụng kính hiển vi đếm số lượng hồng cầu để quan sát hình thể hồng cầu trong nước tiểu: nếu trên 80% số hồng cầu có hình thể biến dạng, méo mó, co nhỏ hoặc có trụ hồng cầu trong nước tiểu là hồng cầu niệu có nguồn gốc từ cầu thận (bệnh cầu thận) Nếu hầu hết hồng cầu niệu có hình thể bình thường, không có trụ hồng cầu thì nguồn gốc của hồng cầu niệu là từ đường tiết niệu (bệnh lý ở đường tiết niệu)
2.Trình bày nguyên tắc và vẽ sơ đồ lọc thận nhân tạo?
Đưa máu ra khỏi cơ thể, bơm vào quả lọc nhân tạo để lấy đi các chất độc và nước dư thừa, sau đó trả máu đã lọc về lại cơ thể bệnh nhân
Dựa trên cơ chế trao đổi chất theo bậc thang nồng độ Dòng máu từ động mạch người bệnh chảy vào hệ thống ống dẫn Hệ thống này ngâm trong dung dịch thẩm tích và cuối cùng máu trong lòng ống chảy về tĩnh mạch của người bệnh
Sơ đồ lọc thận nhân tạo:
Trang 23.Tìm hiểu vai trò các chất đánh giá chức năng thận?
Đo hệ số thanh thải inulin
Inulin là một polyme của đường fructose, có đặc điểm không độc, không
bị chuyển hóa khi đưa vào cơ thể, trọng lượng phân tử là 5000 Da nên được lọc
tự do qua cầu thận, hoàn toàn không bị ống thận tái hấp thu hoặc bài tiết Với các đặc điểm trên, nên inulin là chất lý tưởng nhất được dùng để đo mức lọc cầu thận Hệ số thanh thải inulin đúng bằng mức lọc cầu thận
Giá trị bình thường của hệ số thanh thải inulin là 125±30 ml/ph
Đo hệ số thanh thải manitol
Manitol cũng là chất lý tưởng để đo mức lọc cầu thận
Giá trị bình thường của hệ số thanh thải manitol bằng hệ số thanh thải inulin
và bằng 125±30 ml/ph
Đo hệ số thanh thải natri thiosulphat
Natri thiosulphat được cầu thận lọc dễ dàng, chỉ được ống thận bài tiết rất
ít Lượng natri thiosulphat được ống thận bài tiết là không đáng kể, ngay cả khi nồng độ trong huyết thanh lớn hơn 0,2g/l
Tỉ số giữa hệ số thanh thải natri thiosulphat và hệ số thanh thải inulin là 1,03
Đo hệ số thanh thải creatinin nội sinh
Creatinin là sản phẩm thoái biến của creatin của cơ, không có vai trò của enzym Creatin được gan tổng hợp và tích trữ ở cơ, tổng lượng creatin trong cơ thể khoảng 100g, lượng creatin trong cơ chiếm 98% lượng creatin của cơ thể, nên có thể coi cơ là bể chứa creatin của cơ thể Chỉ có một lượng nhỏ creatin có nguồn gốc từ thức ăn, lượng thịt trong thức ăn cung cấp khoảng 0,6-0,8g
creatin/24 giờ Có 1,6% lượng creatin trong cơ thể được chuyển hóa để tạo
Trang 3thành creatinin mỗi ngày Do đó, nồng độ creatinin trong máu không phụ thuộc vào chế độ ăn mà chỉ phụ thuộc vào khối lượng cơ của cơ thể
Giá trị bình thường của hệ số thanh thải creatinin nội sinh là 120±30ml/ph
-microglobulin
Trong bốn thập kỷ gần đây, người ta nhận ra thận có vai trò quan trọng trong phân giải các peptid và protein, đặc biệt các peptid có trọng lượng phân tử thấp Các chất này được lọc qua cầu thận, sau đó được các tế bào ống lượn gần tái hấp thu và chuyển hóa thành các amino acid
Một số lớn các peptid, kể cả các hormon như parathyroid hormon,
insulin…, một số protein có trọng lượng phân tử thấp, kể cả a1-microglobulin đã được nghiên cứu Theo Schardijin và Statius (1987), thì b2-microglobulin là chất
có giá trị để đánh giá mức lọc cầu thận
B2-microglobulin có trọng lượng phân tử 11815 Da, là chuỗi peptid gồm
99 amino acid, có bán kính phân tử 2,1nm, do vậy được lọc qua cầu thận tự do như với nước (cầu thận có thể lọc các phân tử có kích thước £5,5 nm) Sau khi được lọc qua cầu thận, 99% lượng b2-microglobulin được ống thận tái hấp thu
và thoái giáng Vì được lọc qua cầu thận dễ dàng, nên ở người khỏe mạnh, nồng
độ b2-microglobulin trong huyết thanh thấp £2 mg/l, trung bình 1,5 mg/l Nồng
độ b2-microglobulin trong huyết thanh tăng khi mức lọc cầu thận giảm, và đạt tối đa 40 mg/l ở người tăng ure máu và bệnh nhân lọc máu chu kỳ
Logarit nồng độ b2-microglobulin huyết thanh có tương quan chặt với logarit của hệ số thanh thải inilin Do đó logarit nồng độ b2-microglobulin huyết thanh là thông số rất tốt để đánh giá rối loạn chức năng thận, đặc biệt khi mức lọc cầu thận giảm Nồng độ b2-microglobulin trong huyết thanh cho biết mức lọc cầu thận tương đối chính xác, nhất là ở người già khi mà khối lượng cơ giảm
và mức bài xuất creatinin của thận thấp Nồng độ b2-microglobulin trong huyết thanh không bị ảnh hưởng của khối lượng cơ, cũng không bị ảnh hưởng của giới tính
Định lượng b2-microglobulin trong huyết thanh để đánh giá mức lọc cầu thận chưa được ứng dụng rộng rãi trong lâm sàng, vì cho đến nay định lượng nồng độ b2-microglobulin bằng phương pháp miễn dịch phóng xạ (RIA) còn quá đắt, phương pháp định lượng ELISA rẻ hơn
Ở những bệnh nhân có khối u, đặc biệt là u lympho và những bệnh như lupus ban đỏ hệ thống, hội chứng Sjogren, viêm khớp dạng thấp, nồng độ b2 -microglobulin trong huyết thanh tăng cao hơn bình thường
Đo mức lọc cầu thận bằng phương pháp đồng vị phóng xạ
Trang 42.7.1 Sử dụng dược chất phóng xạ 51 Cr-EDTA
EDTA (ethylen diamine tetra acetat) được cầu thận lọc hoàn toàn giống như inulin, không độc, không bị chuyển hóa khi đưa vào cơ thể, không được ống thận tái hấp thu hay bài tiết, có thể dùng để đo mức lọc cầu thận giống như inulin
Sử dụng dược chất phóng xạ 125I-iothalamate để đánh giá mức lọc cầu thận tương tự như 51Cr-EDTA
DTPA (diethylene triamine penta acetic acid tin) gắn với 99Tcm đã được dùng để đo mức lọc cầu thận Mức lọc cầu thận được đo bằng 99Tcm-DTPA có tương quan rất chặt với mức lọc cầu thận đo bằng inulin
4.Trình bày cơ chế của các nhóm thuốc lợi tiểu quai, thiazide, kháng aldosteron, ức chế men carbonic anhydrase.
-Ức chế tái hấp thu Na+ do gắn kết vào vị trí kết hợp với Cl- trên chất chuyên chở Na+, K+, Cl- ở ngành lên quai henle
Thiazid ức chế tái hấp thu Na+ và kèm theo là cả Cl- (vị trí đồng vận chuyển) ở đoạn pha loãng (phần cuối của nhánh lên quai Henle và phần đầu của ống lượn xa), thải trừ Na+ và Cl- với số lượng gần ngang nh au nên còn gọi là thuốc lợi niệu thải trừ muối (saluretics) Khoảng 5- 10% Na+ lọc qua cầu thận bị thải trừ nên thuộc loại thuốc có tác dụng lợi niệu trung bình Thuốc có tác dụng ở cả môi trường acid và base Làm tăng thải trừ K + , theo 2 cơ chế: một phầ n do thuốc ức chế enzym CA, làm giảm bài tiết ion H+ nên tăng thải K+ (cơ chế thải trừ tranh chấp ở ống lượn xa); một phần do ức chế tái hấp thu Na+ làm đậm độ Na+ tăng cao ở ống lượn xa, gây phản ứng bù trừ bài xuất K+ để kéo Na+ lại
Công thức gần giống với aldosteron, tranh chấp với aldosteron tại
receptor ở ống lượn xa, nên còn gọi là thuốc kháng aldosteron Tác dụng thải trừ Na+ của thuốc phụ thuộc vào số lượng aldosteron bài tiết và bị ức chế Tác dụng xuất hiện chậm sau 12-24 giờ
- Aldosterone có tác dụng tăng hoạt động của bơm Na-K, mà bơm này thì có tác dụng làm tăng tái hấp thu Na, thải bớt K ra ngoài Aldosterone mất tác dụng, thì Na sẽ bị giữ lại trong lòng ống, dẫn đến lợi niệu
Trang 5 Ức chế men carbonic anhydrase
Ở ống lượn gần, trong tế bào ống thận, CA có tác dụng làm giải phóng ion H+ vào lòng ống thận theo phản ứng sau:
H2O + CO2 H2CO3HCO3 - + H+
H + được giải phóng vào lòng ống thận sẽ trao đổi với Na+ được tái hấp thu Khi enzym CA bị phong tỏa, lượng ion H + bài xuất bị giảm nên Na+ không được tái hấp thu, thải trừ ra nước tiểu dưới dạng bicarbonat, kéo theo nước nên lợi niệu Mặt khác, do sự bài xuất tranh chấp giữa H+ và K+ , khi thiếu H+ , K+ sẽ bị tăng thải trừ Tóm lại, thuốc làm tăng thải trừ Na+ , K+ và bicarbonat (có thể làm thải trừ tới 45% lượng HCO3 - qua thận), do đó làm giảm K+ máu và gây nhiễm acid chuyển hóa Tình trạng nhiễm acid này chỉ bù trừ sau 3- 7 ngày và sau đó là nguyên nhân tự giới hạn hiệu quả của thuốc: dùng thuốc liên tục, tác dụng bị giảm nhanh Do quá trình bù trừ, nồng độ Clhuyết tương tăng (do tăng tái hấp thu NaCl)
Trang 6Họ và tên: Nguyễn Trọng Cường
MSSV:1753010882 Lớp: YQ43
Chương 9 SINH LÝ HỆ TIẾT NIỆU
Bài 14 SINH LÝ THẬN
Bài tập cá nhân:
Câu 1: Trình bày lại bài học một cách tóm tắt bằng cách sử dụng các
sơ đồ hoặc hình ảnh về động học lọc tại cầu thận và cơ chế tái hấp thu và bài tiết các chất tại ống thận
Trang 7(Sơ đồ lọc tại cầu thận)
Câu 2: Trình bày ngắn gọn các rối loạn thăng bằng kiềm toan cơ bản
và cách điều chỉnh rối loạn thăng bằng này tại thận.
Các rối loạn thăng bằng cơ bản:
Nhiễm toan (pH < 7,35): Hô hấp (PCO2 tăng) và chuyển hóa (HCO3
giảm)
Nhiễm kiềm (pH > 7,45): Hô hấp (PCO2 giảm) và chuyển hóa (HCO3
tăng)
Điều chỉnh kiềm toan ở thận:
Trang 8 Khi cơ thể bị nhiễm toan (pH giảm) thì nồng độ HCO3- giảm và nồng độ
CO2 tăng trong dịch ngoại bào Kết quả là ở thận lượng HCO3- được lọc giảm đi
và ion H+ được bài tiết tăng lên rất nhiều Lượng ion H+ thừa ra sẽ kết hợp với các chất đệm của hệ đệm phosphat hoặc hệ đệm amoniac ở ống thận
Khi cơ thể nhiễm kiềm (pH tăng) nồng độ HCO3- trong dịch kẽ tăng lên
và nồng độ CO2 giảm đi Kết quả là ở thận lượng HCO3- được lọc nhiều hơn lượng ion H+ được bài tiết Các ion HCO3- không được trung hòa sẽ kết hợp với ion Na+ và các ion (+) khác ở ống thận và đào thải theo nước tiểu Ion HCO3
-không được tái hấp thu có nghĩa là thận đã làm giảm lượng HCO3- trong dịch ngoại bào và do đó là giảm pH