Cục Phòng vệ thương mại có nhiệm vụ chủ trì, phối hợp với các cơquan liên quan tổ chức thực hiện các quy định của pháp luật về chống bán phágiá, chống trợ cấp và áp dụng các biện pháp tự
Trang 1ĐẠI HỌC HUẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Thừa Thiên Huế, năm 2019
Trang 2ĐẠI HỌC HUẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Sinh viên thực hiện: Lương Thế Hùng Giảng viên hướng dẫn: NCS Mai Xuân Hợi
Trang 3Thừa Thiên Huế, năm 2019 LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan mọi kết quả của đề tài: “Cơ quan điều tra, áp dụng
biện pháp phòng vệ thương mại theo pháp luật Việt Nam” dưới sự hướng
dẫn khoa học của NCS Mai Xuân Hợi là công trình nghiên cứu của cá nhântôi và chưa từng được công bố trong bất cứ công trình khoa học nào khác chotới thời điểm này
Tôi xin chịu trách nhiệm nếu lời cam đoan trên không đúng sự thật
Thừa Thiên Huế, tháng 4 năm 2019
Người cam đoan
Lương Thế Hùng
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Để thực hiện và hoàn thành Khóa luận tốt nghiệp này, tôi đã nhận được sự
hỗ trợ, giúp đỡ cũng như là quan tâm, động viên từ gia đình, bạn bè và thầy cô Khóa luận tốt nghiệp cũng được hoàn thành dựa trên sự tham khảo, học tập kinh nghiệm từ các kết quả nghiên cứu liên quan, các sách, báo chuyên ngành của nhiều tác giả.
Trước hết, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến Giảng viên Mai Xuân Hợi – người trực tiếp hướng dẫn khoa học đã luôn dành nhiều thời gian, công sức hướng dẫn tôi trong suốt quá trình thực hiện nghiên cứu và hoàn thành Khóa luận tốt nghiệp của mình.
Tôi xin trân trọng cám ơn Ban giám hiệu trường Đại học Luật – Huế cùng toàn thể các thầy cô giáo công tác trong trường đã tận tình truyền đạt những kiến thức quý báu, giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu.
Tuy có nhiều cố gắng, nhưng trong đề tài nghiên cứu này không tránh khỏi những thiếu sót tôi kính mong Quý thầy cô, các chuyên gia, những người quan tâm đến đề tài, đồng nghiệp, gia đình và bạn bè tiếp tục có những ý kiến đóng góp, giúp đỡ để Khóa luận này được hoàn thiện hơn.
Một lần nữa em xin chân thành cám ơn!
Huế, Tháng 04 năm 2019
Tác giả
Lương Thế Hùng
Trang 5THỐNG KÊ TRÍCH DẪN
STT Tác giả tài liệu trích dẫn Trang Khóa luận trích dẫnTần suất
3 Hội đồng Tư vấn về các Biện
Trang 6MỤC LỤC
DANH MỤC VIẾT TẮT 4
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU 5
A PHẦN MỞ ĐẦU 6
1 Tính cấp thiết của đề tài 6
2 Tình hình nghiên cứu đề tài 8
3 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu đề tài 10
3.1 Mục tiêu nghiên cứu đề tài 10
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu đề tài 10
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 11
4.1 Đối tượng nghiên cứu 11
4.2 Phạm vi nghiên cứu 11
5 Phương pháp nghiên cứu 12
6 Bố cục đề tài 13
B PHẦN NỌI DUNG 14
CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ CƠ QUAN ĐIỀU TRA, ÁP DỤNG BIỆN PHÁP PHÒNG VỆ THƯƠNG MẠI.14 1.1 LÝ LUẬN VỀ CƠ QUAN ĐIỀU TRA, ÁP DỤNG BIỆN PHÁP PHÒNG VỆ THƯƠNG MẠI 14
1.1.1 Khái niệm, đặc điểm về Cơ quan điều tra, áp dụng biện pháp phòng vệ thương mại 14
1.1.2 Nguồn gốc hình thành và phát triển Cơ quan điều tra, áp dụng biện pháp phòng vệ thương mại 19
1.1.3 Vai trò của Cơ quan điều tra trong việc điều tra, áp dụng biện pháp phòng vệ thương mại 24
1.2 LÝ LUẬN PHÁP LUẬT VỀ CƠ QUAN ĐIỀU TRA, ÁP DỤNG BIỆN PHÁP PHÒNG VỆ THƯƠNG MẠI 26
1
Trang 71.2.1 Khái niệm, đặc điểm pháp luật về Cơ quan điều tra, áp dụng biện phápphòng vệ thương mại 261.2.2 Nội dung pháp luật về Cơ quan điều, áp dụng biện pháp phòng vệthương mại 281.2.3 Một số mô hình tổ chức Cơ quan điều tra, áp dụng biện pháp phòng vệthương mại của một số quốc gia trên thế giới và bài học khảo cứu cho ViệtNam 35Kết luận Chương 1 42CHƯƠNG 2 THỰC TIỄN PHÁP LUẬT VỀ CƠ QUAN ĐIỀU TRA, ÁPDỤNG BIỆN PHÁP PHÒNG VỆ THƯƠNG MẠI TẠI VIỆT NAM 442.1 THỰC TRẠNG QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ CƠ QUAN ĐIỀU TRA,
ÁP DỤNG BIỆN PHÁP PHÒNG VỆ THƯƠNG MẠI TẠI VIỆT NAM 442.1.1 Những quy định về cơ quan quản lý Nhà nước trực tiếp thực hiện hoạtđộng điều tra, áp dụng biện pháp phòng vệ thương mại 442.1.2 Quy định về cơ quan quản lý Nhà nước phối hợp trong hoạt động điềutra, áp dụng biện pháp phòng vệ thương mại 522.1.3 Những quy định về các tổ chức xã hội liên quan trong hoạt động điềutra, áp dụng biện pháp phòng vệ thương mại 542.1.4 Đánh giá chung thực trạng pháp luật về Cơ quan điều tra, áp dụng biệnpháp phòng vệ thương mại 562.2 THỰC TIỄN HOẠT ĐỘNG ĐIỀU TRA, ÁP DỤNG BIỆN PHÁPPHÒNG VỆ THƯƠNG MẠI TẠI VIỆT NAM 572.2.1 Những kết quả đạt được thời gian qua 572.2.2 Những tồn tại và nguyên nhân của hoạt động điều tra, áp dụng biệnpháp phòng vệ thương mại 60Kết luận Chương 2 70
2
Trang 8CHƯƠNG 3 GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA CƠ QUAN ĐIỀU TRA, ÁP DỤNG BIỆN
PHÁP PHÒNG VỆ THƯƠNG MẠI TẠI VIỆT NAM 71
3.1 ĐỊNH HƯỚNG HOÀN HIỆN PHÁP LUẬT VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ CỦA CƠ QUAN ĐIỀU TRA ĐIỀU TRA, ÁP DỤNG BIỆN PHÁP PHÒNG VỆ THƯƠNG MẠI 71
3.2 GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ CƠ QUAN ĐIỀU TRA, ÁP DỤNG BIỆN PHÁP PHÒNG VỆ THƯƠNG MẠI THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM 74
3.2.1 Hoàn thiện về cơ quan pháp luật về cơ quan trực điều tra, áp dụng biện pháp phòng vệ thương mại 74
3.2.2 Hoàn thiện pháp luật về cơ quan hỗ trợ và tổ chức xã hội liên quan trong hoạt động điều tra, áp dụng biện pháp phòng vệ thương mại 77
3.3 GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG ĐIỀU TRA, ÁP DỤNG BIỆN PHÁP PHÒNG VỆ THƯƠNG MẠI TẠI VIỆT NAM 79
3.3.1 Về phía Nhà nước 79
3.3.2 Về phía doanh nghiệp 83
Kết luận Chương 3 85
C KẾT LUẬN 88
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 89
3
Trang 9DANH MỤC VIẾT TẮT
CIT : Toà án Thương mại Quốc tế Hoa Kỳ (US Court of
International Trade)
EU : Liên minh Châu Âu (European Union)
FTA : Hiệp định thương mại tự do (Free trade agreement)
GATT : Hiệp ước chung về thuế quan và mậu dịch (General
Agreement on Tariffs and Trade)
METI : Bộ Kinh tế, Thương mại và Công nghiệp Nhật Bản
(The Ministry of Economy, Trade and Industry)
MOF : Bộ Tài chính (Nhật Bản) - The Ministry of Finance
PVTM : Phòng vệ thương mại
USDOC : Bộ Thương mại Hoa Kỳ (United States Department
of Commerc)
USITC : Uỷ ban Thương mại Quốc tế Hoa Kỳ ( United States
International Trade Center)
WTO : Tổ chức Thương mại Thế giới
(World Trade Organization)
4
Trang 10DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
1 Bảng 1.1.2.1 Sơ đồ cơ quan PVTM trước tháng 8/2017
theo pháp luật Việt Nam
21
2 Bảng 1.1.2.2 Sơ đồ cơ quan PVTM trước tháng 8/2017
theo pháp luật Việt Nam
22
3 Bảng 1.2.1.1 Hệ thống pháp luật PVTM trước năm 2018 27
4 Bảng 1.2.1.2 Hệ thống pháp luật PVTM hiện nay 27
5 Bảng 1.2.2.1 Quy trình triển khai vụ việc điều tra chống
7 Biểu đồ 2.2.1.1 So sánh vụ việc PVTM Việt Nam khởi
xướng điều tra với hoàng hóa của Việt Nam bị điều tra
10 Bảng.2.2.2.1 Mức độ hiểu biết của doanh nghiệp về
PVTM ở Việt Nam đối với hàng hóa nước ngoài
66
11 Bảng 2.2.2.2 Khả nằng tập hợp lực lượng của doanh
nghiệp và lý do
68
12 Bảng 2.2.2.3 Năng lực tập hợp bằng chứng của doanh
nghiệp Việt Nam nếu đi kiện PVTM
69
A PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Quá trình thực hiện chính sách mở cửa, hội nhập với nền kinh tế thếgiới giúp nền kinh tế phát triển, đặc biệt các doanh nghiệp sản xuất hàng hóa
5
Trang 11có cơ hội tăng thị phần, mở rộng thị trường kinh doanh Bên cạnh đó, để thựchiện các cam kết theo hiệp định thương mại, các quốc gia phải loại bỏ hàngrào phi thuế quan, giảm thuế nhập khẩu Điều này không chỉ làm cho hànghóa từ các quốc gia có cơ hội cạnh tranh với nhau trên “đất khách” mà còn là
sự cạnh tranh của hàng hóa nội địa với “những vị khách” của mình Đứngtrước thách thức về cạnh tranh ngày càng khốc liệt trên thị trường nội địa khi
mà các hàng rào thuế quan và phi thuế quan được nới lỏng dần dần tiến tới
dỡ bỏ, các quốc gia đã tăng cường sử dụng các công cụ bảo hộ thông qua cácbiện pháp bảo đảm thương mại công bằng của WTO, một trong số đó cóphòng vệ thương mại
Việt Nam gia nhập WTO vào năm 2007, với chính sách kinh tế mởcửa, tham gia vào nền kinh tế khu vực và thế giới, thúc đẩy sự tự do hóathương mại, thu hút đầu tư nước ngoài, tạo bàn đạp cho nền kinh tế Vớichính sách này, Việt Nam ngày càng tham gia vào nhiều hiệp định tự dothương mại FTA ví dụ như Khu vực mậu dịch tự do ASEAN (AFTA), Khuvực mậu dịch tự do ASEAN – Trung Quốc, Hợp tác toàn diện ASEAN – NhậtBản, Liên minh kinh tế Á – Âu, Hiệp định đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyênThái Bình Dương (CPTPP), Hiệp định thương mại tự do Việt Nam – EU
(EVFTA)…vv Tuy nhiên, đây cũng là thách thức không hề nhỏ cho Việt
Nam khi phải bước ra sân chơi lớn cạnh tranh rất khốc liệt khi mà năng lựccạnh tranh của các doanh nghiệp Việt Nam, đặc biệt là các doanh nghiệp vừa
và nhỏ còn khá là hạn chế so với các doanh nghiệp nước ngoài Chưa kể cả sựcạnh tranh không lạnh mạnh Không những thế, sản phẩm xuất khẩu của ViệtNam có lợi thế bởi giá nhân công rẻ, điều kiện tự nhiên ưu đãi đã và đang làmục tiêu của nhiều vụ kiện phòng vệ thương mại, đặc biệt là các vụ kiệnchống bán phá giá của nhiều quốc gia trên thế giới
6
Trang 12Để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của các doanh nghiệp sản xuấttrong nước trước áp lực cạnh tranh của hàng hóa nhập khẩu việc sử dụng cácbiện pháp phòng vệ thương mại (chống bán phá giá, chống trợ cấp và tự vệ) làtất yếu
Trên thực tế, pháp luật về chống bán phá giá, chống trợ cấp và tự vệ làmột trong những phần phức tạp nhất trong hệ thống pháp luật thương mạiquốc tế Chính vì vậy, cho đến nay các biện pháp này dường như vẫn bịdoanh nghiệp Việt Nam bỏ ngỏ, thờ ơ Để đáp ứng xu thế hội nhập và ứngphó với những diễn biến khó lường của thương mại quốc tế và khu vực, việcthành lập một cơ quan chuyên trách về lĩnh vực phòng vệ thương mại trongbối cảnh hiện nay là yêu cầu cấp bách
Trước yêu cầu cấp thiết đó, Bộ Công Thương đã thành lập mới CụcPhòng vệ thương mại là cơ quan giúp Bộ trưởng Bộ Công Thương thực hiệnchức năng quản lý nhà nước về phòng vệ thương mại, góp phần triển khaihiệu quả các quy định pháp luật về phòng vệ thương mại của Việt Nam đểbảo vệ lợi ích của các doanh nghiệp trong bối cảnh hội nhập Cùng với BộCông thương, Cục PVTM là cơ quan trực tiếp thực hiện hoạt động điều tra, ápdụng biện pháp PVTM
Cục Phòng vệ thương mại có nhiệm vụ chủ trì, phối hợp với các cơquan liên quan tổ chức thực hiện các quy định của pháp luật về chống bán phágiá, chống trợ cấp và áp dụng các biện pháp tự vệ đối với hàng hóa nhập khẩuvào Việt Nam; tổ chức điều tra việc nhập khẩu hàng hóa nước ngoài vào ViệtNam để đề xuất áp dụng các biện pháp chống bán phá giá, chống trợ cấp và tự
vệ theo quy định của pháp luật
Tuy nhiên, việc thành lập cơ quan quản lý Nhà nước trực tiếp thực hiệnhoạt động điều tra, áp dụng biện pháp PVTM còn nhiều vấn đề cần hoàn thiệnhơn nhằm bảo vệ hàng hóa nội địa khỏi các đối thủ cạnh tranh nước ngoài, tạo
7
Trang 13môi trường cạnh tranh lành mạnh Ngoài ra, không chỉ có hệ thống cơ quanquản lý Nhà nước trực tiếp thực hiện hoạ động điều tra, áp dụng biện phápPVTM mà còn có hệ thông cơ quan quản lý Nhà nước phối hợp và các tổchức xã hội liên quan trong hoạt động điều tra, áp dụng biện pháp PVTM tồntại những vấn đề cần phải làm rõ và khắc phục nhằm nâng cao hiệu quả hoạtdộng điều tra, áp dụng biện pháp PVTM trong bối cảnh tự do hoá thương mại.
Chính sự nhìn nhận đó, thiết nghĩ việc nghiên cứu đề tài “Cơ quan điều tra,
áp dụng biện pháp phòng vệ thương mại theo pháp luật Việt Nam” là hết
sức cần thiết
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế, nhiều quốc gia ngày càng xíchlại gần nhau thông qua việc ký kết các hiệp định thương mại, tạo điều kiệncho hàng hóa di chuyển qua lại tự do Chính vì lẽ đó mà biện pháp PVTM lạicàng được quan tâm hơn hết tại Việt Nam Mặt khác, nhằm hỗ trợ các doanhnghiệp trong bối cảnh cạnh tranh khốc liệt với hàng hóa nhập khẩu việc ápdụng các biện pháp phòng vệ thương mại tại Việt Nam, đặc biệt là về cơ chếhoạt động của cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền về phòng vệ thươngmại đã có rất nhiều các chuyên gia nghiên cứu, phân tích , đánh giá về vấn đềnày Cụ thể là các công trình nghiên cứu của một số tác giả:
1 Nguyễn Quý Trọng, Pháp luật về tự vệ trong nhập khẩu hàng nước
ngoài vào Việt Nam – Những vấn đề lý luận và thực tiễn.
Công trình này đã phân tích khá chi tiết và chuyên sâu về các quy địnhliên quan đến cơ cấu tổ chức và nhiệm vụ của cơ quan thực thi pháp luật vềchống bán phá giá và tự vệ thương mại của Việt Nam Từ đó, các tác giả chorằng cần thiết phải có hoạt động giám sát độc lập khi thực thi biện pháp chốngbán phá giá, tự vệ thương mại đối với cơ quan điều tra vụ việc PVTM, nếukhông sẽ dẫn tới lạm dụng quyền lực trong quá trình điều tra vụ việc PVTM
8
Trang 142 Mai Xuân Hợi, Địa vị pháp lý của cơ quan điều tra vụ việc phòng vệ
thương mại, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật.
Khi phân tích các bất cập của pháp luật PVTM về địa vị pháp lý củaCục quản lý cạnh tranh – cơ quan điều tra vụ kiện PVTM đã đề xuất giải phápxây dựng một cơ quan điều tra vụ việc PVTM độc lập về cơ cấu tổ chức, vềnguồn ngân sách, đồng thời chuyên trách về chức năng nhiệm vụ
3 Đoàn Trung Kiên, Pháp luật về chống bán phá giá hàng nhập khẩu
vào Việt Nam – Những vấn đề lý luận và thực tiễn.
Trong bài viết tác giả Đoàn Trung Kiên kết luận như sau: “Quyền hạncủa cơ quan điều tra là rất lớn, trong khi không có cơ quan nào giám sát hay
tư vấn độc lập cho quá trình điều tra, có thể sẽ dẫn tới lạm dụng quyền lực”
4 Phùng Gia Đức, Hoàn thiện pháp luật để chủ động áp dụng biện
pháp phòng vệ thương mại đối với hàng hóa nhập khẩu, Tạp chí Pháp luật và
Phát triển, số 7, 7/2016
Công trình đã phân tích những bất cập về địa vị pháp lý của PhòngĐiều tra vụ kiện PVTM của doanh nghiệp trong nước (Phòng 2), từ đó đềxuất cần xây dựng Cơ quan Điều tra Việt Nam về PVTM được độc lập với Bộchủ quản và đặt ở vị trí tương đương với cấp Tổng cục trực thuộc Chính phủ,chịu sự chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ
5 Đinh Thị Mỹ Loan, Xây dựng mô hình cơ quan quản lý Nhà nước về
cạnh tranh, chống bán phá giá, chống trợ cấp và tự vệ trong thương mại quốc tế Kinh nghiệm quốc tế và đề xuất cho Việt Nam, đề tài nghiên cứu khoa
học cấp Bộ mã số 2005 - 78 – 001
Đề tài đã khẳng định: “để xây dựng một môi trường cạnh tranh lành
mạnh công bằng, xây dựng nếp văn hóa cạnh tranh, một vấn đề quan trọng trước mắt là làm sao xây dựng được một mô hình cơ quan cạnh tranh, cơ
9
Trang 15quan quản lý chống bán phá giá, chống trợ cấp vừa phù hợp với điều kiện thực tế của Việt Nam vừa đảm bảo yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế”.
Điểm lại các kết quả nghiên cứu nêu trên tác giả nhận thấy, đã cónhững nghiên cứu trực tiếp hoặc gián tiếp về cơ quan điều tra, áp dụng cácbiện pháp PVTM, kết quả nghiên cứu của những công trình này là tài liệu hữuích để sinh viên nghiên cứu kế thừa, tham khảo từ đó tiếp tục có nhữngnghiên cứu toàn diện và chuyên sâu giúp đạt được mục tiêu nghiên cứu của
Khóa luận này.
3 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu đề tài
3.1 Mục tiêu nghiên cứu đề tài
Đề tài “Cơ quan điều tra, áp dụng biện pháp phòng vệ thương mại
theo pháp luật Việt Nam” tiến hành nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực
tiễn hoạt động của cơ quan điều tra, áp dụng biện pháp PVTM tại Việt Nam,giới thiệu một số mô hình về cơ quan điều tra, áp dụng biện pháp PVTM trênthế giới và đưa ra những bài học khảo cứu đối với hệ thống cơ quan này tạiViệt Nam, từ đó làm cơ sở đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng caohiệu quả hoạt động điều tra, áp dụng biện pháp PVTM ở Việt Nam trong thờigian tới
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu đề tài
Để đạt được mục tiêu nghiên cứu đã đề ra, đề tài cần phải thực hiệnnhững nhiệm vụ cụ thể sau:
Thứ nhất, làm rõ những vấn đề lý luận về cơ quan điều tra, áp dụng
biện pháp PVTM: khái niệm, đặc điểm, nguồn gốc hình thành và phát triển,vai trò của cơ quan điều tra, áp dụng biện pháp PVTM
Thứ hai, làm rõ quy định pháp luật về cơ quan điều tra, áp dụng biện
pháp PVTM: khái niệm, đặc điểm, nội dung pháp luật của cơ quan điều tra, áp
10
Trang 16dụng biện pháp PVTM; giới thiệu một số mô hình về hệ thống cơ quan nàytrên thế giới và đưa ra một số bài học khảo cứu cho Việt Nam
Thứ ba, đánh giá thực trạng quy định của pháp luật về cơ quan điều tra,
áp dụng biện pháp PVTM tại Việt Nam
Thứ tư, đánh giá thực tiễn hoạt động của cơ quan điều tra, áp dụng biện
pháp PVTM tại Việt Nam
Thứ năm, đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật về cơ quan điều tra, áp
dụng biện pháp PVTM tại Việt Nam
Thứ sáu, đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của cơ quan
điều tra, áp dụng biện pháp PVTM tại Việt Nam
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Căn cứ vào mục tiêu nghiên cứu và nhiệm vụ nghiên cứu, Khóa luậnnày tập trung nghiên cứu về cơ quan điều tra, áp dụng biện pháp PVTM theopháp luật Việt Nam
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Về nội dung nghiên cứu: Đề tài tập trung nghiên cứu chủ yếu các quy
định của pháp luật và thực tiễn hoạt động của cơ quan điều tra, áp dụng biệnpháp PVTM tại Việt Nam
Ngoài ra, còn nghiên cứu các mô hình tổ chức cơ quan, áp dụng biệnpháp PVTM của Việt Nam cũng như của các quốc gia trên thế giới để làmsang tỏ về mặt lí luận, cũng như làm nguồn khảo cứu nhằm đề xuất giải pháphoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả điều tra, áp dụng biện pháp PVTMcủa cơ quan điều tra theo pháp luật Việt Nam
11
Trang 17Về không gian nghiên cứu: Nghiên cứu thực trạng pháp luật về cơ quan
điều tra, áp dụng biện pháp PVTM và thực tiễn hoạt động điều tra, áp dụngbiện pháp PVTM tại Việt Nam
Về thời gian nghiên cứu: Nghiên cứu thực trạng pháp luật về cơ quan
điều tra, áp dụng biện pháp PVTM và thực tiễn hoạt động điều tra, áp dụngbiện pháp PVTM tại Việt Nam từ năm 2012 đến năm 2018 Tuy nhiên, đểđảm bảo tính chuyên sâu và có sự so sánh tổng thể một số nội dung trongKhóa luận này còn sử dụng các số liệu từ năm 2006
5 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu dựa trên nền tảng phương pháp luận là phương phápduy vật biện chứng và phương pháp duy vật lịch sử của Chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh kết hợp với các phương pháp nghiên cứu khoa học
cụ thể như: diễn giải, quy nạp, so sánh, phân tích quy phạm, thống kê, dự báokhoa học
Phương pháp diễn giải và phương pháp quy nạp chủ yếu được sử dụng
để diễn giải các vấn đề lí luận xuyên suốt trong cả Chương 1
Phương pháp so sánh được sử dụng để so sánh các mô hình tổ chức cơquan điều tra, áp dụng biện pháp PVTM giữa Việt Nam và một số quốc giakhác
Phương pháp phân tích quy phạm được sử dụng trong cả Chương 2 đểphân tích, đánh giá các quy định của pháp luật về thực trạng pháp luật về cơquan điều tra, áp dụng biện pháp PVTM và thực tiễn hoạt động điều tra, ápdụng biện pháp PVTM tại Việt Nam Tại Chương 3 dùng để lí giải cho cáchoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả điều tra, áp dụng biện pháp PVTMcủa cơ quan điều tra theo pháp luật Việt Nam
12
Trang 18Phương pháp thống kê được sử dụng chủ yếu để thống kê các quy địnhcủa pháp luật về cơ quan điều tra, áp dụng biện pháp PVTM theo pháp luậtViệt Nam.
Phương pháp dự báo khoa học chủ yếu sử dụng trong Chương 3 để đưa
ra các giải pháp hoàn thiện
Ngoài ra, đề tài còn sử dụng đồng thời các phương pháp quan sát, đánhgiá logic, phân tích để mổ xẻ các quy định pháp luật về địa vị pháp lý của cơquan điều tra, áp dụng biện pháp PVTM theo pháp luật Việt Nam
6 Bố cục đề tài
Bố cục đề tài được kết cấu thành ba phần Phần mở đầu, phần nội dung
và phần kết luận Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, phần nội dung Khóaluận được kết cấu thành ba chương, cụ thể:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận và pháp luật về cơ quan điều tra, ápdụng biện pháp phòng vệ thương mại
Chương 2: Thực tiễn áp dụng pháp luật về cơ quan điều tra, áp dụngbiện pháp phòng vệ thương mại tại Việt Nam
Chương 3: Giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả điềutra, áp dụng biện pháp PVTM của cơ quan điều tra theo pháp luật Việt Nam
13
Trang 19B PHẦN NỌI DUNG CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ CƠ QUAN ĐIỀU TRA, ÁP DỤNG BIỆN PHÁP PHÒNG VỆ THƯƠNG MẠI
1.1 LÝ LUẬN VỀ CƠ QUAN ĐIỀU TRA, ÁP DỤNG BIỆN PHÁP PHÒNG VỆ THƯƠNG MẠI
1.1.1 Khái niệm, đặc điểm về Cơ quan điều tra, áp dụng biện pháp phòng vệ thương mại
1.1.1.1 Khái niệm về cơ quan điều tra, áp dụng biện pháp PVTM
Qua khảo sát các công trình nghiên cứu cũng như quy định của phápluật thì chưa có một khái niệm chính thức nào về cơ quan điều tra, áp dụngbiện pháp PVTM Xuất phát từ mục đích nghiên cứu của đề tài nên việc tìmhiểu khái niệm và đặc điểm của cơ quan điều tra, áp dụng biện pháp PVTM làrất cần thiết Điều này giúp nhận diện đúng về cơ quan điều tra, áp dụng biệnpháp PVTM từ đó có những đánh giá và phân tích sát thực góp phần đề xuấtcác giải pháp thiết thực nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của cơ quan nàytrên thực tế Để đạt được mục đích đó, tác giả đã tiến hành nghiên cứu kháiniệm và đặc điểm của cơ quan điều tra, áp dụng biện pháp PVTM thông quaviệc phân tích bản chất và vị trí pháp lý của cơ quan này trong bộ máy Nhànước
Qua tìm hiểu về bản chất pháp lý, tùy vào từng bộ máy Nhà nước của
mỗi quốc gia cũng như tùy vào tính chất, địa vị mà quốc gia đó ghi nhận đốivới cơ quan điều tra, áp dụng biện pháp PVTM của mình mà có những tên gọikhác nhau.Ví dụ như tại Liên minh Châu Âu (EU), các cơ quan chính của EUcũng đồng thời là các cơ quan có thẩm quyền liên quan đến điều tra và ápdụng biện pháp PVTM Quá trình điều tra được thực hiện hoàn toàn bởi Ủyban châu Âu (European Commission), sau đó với tư vấn của Ủy ban tư vấn
14
Trang 20(Advisory Committee) về các biện pháp PVTM, Ủy ban châu Âu sẽ đệ trình
đề xuất lên Hội đồng châu Âu (European Council) để cơ quan đó ra quyếtđịnh cuối cùng hay tại Cộng hòa dân chủ nhân dân Trung Hoa là Bộ Thươngmại Trung Quốc và Uỷ ban Thuế quan Hội đồng Nhà nước; tại Hợp chúngquốc Hoa Kỳ là Bộ Thương mại (United States Department of Commerce -USDOC) và Uỷ ban Thương mại Quốc tế Hoa Kỳ ( United StatesInternational Trade Center - USITC), Tổng thống có quyền quyết định cuốicùng có tiến hành điều tra hay không, quyết định về hình thức và thời hạn áp
dụng các biện pháp tự vệ tạm thời/chính thức; tại Canada, cơ quan có thẩm
quyền điều tra, áp dụng biện pháp PVTM bao gồm: Cục dịch vụ Biên giớiCanada (Canada Border Services Agency - CBSA) và Tòa án Thương mạiquốc tế Canada (Canadian International Trade Tribunal – CITT)
Nhìn chung tên gọi khác nhau nhưng các cơ quan này đều mang tính
“lưỡng tính” hay bản chất là “hành chính bán tư pháp” Điều này có nghĩa là
cơ quan điều tra, áp dụng biện pháp PVTM vừa là cơ quan hành chính, chịutrách nhiệm thực thi các chính sách, pháp luật theo chỉ đạo của cơ quan chủquản, vừa là cơ quan hoạt động mang tính tài phán khi có quyền ra quyết địnhđiều tra, áp dụng biện pháp PVTM đối với các bên có hành vi vi phạm phápluật Sự kết hợp hai đặc tính “hành chính” và “tư pháp” là yếu tố đảm bảo cho
cơ quan điều tra, áp dụng biện pháp PVTM thực hiện đầy đủ các chức năng,nhiệm vụ của mình
Về vị trí pháp lý, thực tiễn cho thấy, cơ quan điều tra, áp dụng biện
pháp PVTM được thành lập và tổ chức theo những mô hình riêng biệt và cótính đặc thù Vị trí pháp lý của những cơ quan này có thể là cơ quan trựcthuộc Bộ hay là cơ quan trực thuộc Chính phủ\Tổng thống hay là cơ quan trựcthuộc Quốc Hội Bên cạnh đó, để Nhà nước quản lý về PVTM nói chung vàđiều tra, áp dụng biện pháp PVTM nói riêng, tùy vào từng mô hình quản lý
15
Trang 21mà có một hoặc hai hay nhiều cơ quan được giao nhiệm vụ này Việc lựachọn này là tùy thược vào mỗi quốc gia tuy nhiên vẫn phải đảm bảo được tínhđộc lập trong việc quản lý và xử lý về điều tra, áp dụng biện pháp PVTM củamình, tính công bằng, minh bạch Bởi lẽ, pháp luật về chống bán phá giá,chống trợ cấp và tự vệ là một trong những phần phức tạp nhất trong hệ thốngpháp luật thương mại quốc tế, không những để đảm bảo quyền và lợi ích hợppháp của các doanh nghiệp sản xuất trong nước trước áp lực cạnh tranh củahàng hóa nhập khẩu mà còn đảm bảo sự hợp tác các quốc trong bối cảnh hộinhập kinh tế quốc tế.
Từ những nghiên cứu ở trên, ta có thể đưa ra kết luận: Cơ quan điều
tra, áp dụng biện pháp PVTM là một hay một hệ thống các cơ quan nằm trong hệ thống bộ máy quản lý Nhà nước của mỗi quốc gia và mang tính chất hành chính bán tư pháp Tùy vào cơ chế tổ chức và chính sách của mỗi quốc gia mà cơ quan điều tra, áp dụng biện pháp PVTM có thể thuộc Bộ hoặc thuộc Chính phủ/ Tổng thống hoặc thuộc Quốc hội Cơ quan này có nhiệm vụ phát hiện, thụ lý đơn khởi kiện vụ việc PVTM, điều tra mức độ bán phá giá, mức trợ cấp, mức tăng trưởng nhập khẩu, điều tra thiệt hại do các hành vi trên gây ra đối với ngành sản xuất trong nước và ra quyết định xử lý vụ việc dựa trên cơ sở điều tra của cơ quan trên.
Trên cơ sở pháp luật Việt Nam hiện hành và những phân tích ở trên, tácgiả đưa ra khái niệm về cơ quan điều tra, áp dụng biện pháp PVTM như sau:
Cơ quan điều tra, áp dụng biện pháp PVTM là hệ thống các cơ quan, tổ chức trực tiếp hoặc hỗ trợ trong hoạt động điều tra, áp dụng biện pháp PVTM Từ
khái niệm này, chúng ta có thể nhận diện các nhóm cơ quan điều tra, áp dụngbiện pháp PVTM như sau:
Nhóm thứ nhất, cơ quan quản lý Nhà nước trực tiếp thực hiện hoạt
động điều tra, áp dụng biện pháp PVTM Bao gồm: Cục PVTM, Bộ Côngthương
16
Trang 22Nhóm thứ hai, cơ quan quản lý Nhà nước phối hợp trong hoạt động
điều tra, áp dụng biện pháp PVTM Bao gồm một số cơ quan sau: Hải quan,các Bộ, cơ quan ngang bộ, UBND cấp tỉnh, các cơ quan quản lý nhà nước cóthẩm quyền khác, cơ quan đại diện Việt Nam tại nước ngoài, phòng Thươngmại và công nghiệp,…
Nhóm thứ ba, các tổ chức xã hội liên quan trong hoạt động điều tra, áp
dụng biện pháp PVTM Bao gồm các hiệp hội ngành, nghề
1.1.1.2 Đặc điểm về cơ quan điều tra, áp dụng biện pháp PVTM
Các cơ quan điều tra, áp dụng biện pháp PVTM dù được thành lập và
tổ chức theo mô hình nào đi chăng nữa thì cũng mang trong mình những đặcđiểm riêng biệt so với các cơ quan khác trong hệ thống Nhà nước Cụ thể:
Thứ nhất, cơ quan điều tra, áp dụng biện pháp PVTM là một hay một
hệ thống các cơ quan nằm trong hệ thống bộ máy quản lý Nhà nước của mỗiquốc gia
Bởi lẽ, sử dụng công cụ PVTM là một phần trong chính sách thươngmại của quốc gia PVTM có mục đích nhằm bảo vệ các ngành công nghiệpnội địa khỏi các đối thủ cạnh tranh nước ngoài Để đảm bảo thực hiện mộtcách hiệu quả nhất vai trò của cơ quan Nhà nước là không thể thiếu Dưới sựquản lý của cơ quan này bằng một hệ thống pháp luật PVTM hiệu lực cao, cácdoanh nghiệp sẽ có một sân chơi bình đẳng, lành mạnh, vươn tầm thế giới cóthể cung cấp các sản phẩm đáp ứng nhu cầu thị trường nội địa cũng như thìtrường nước ngoài
Tùy vào cơ cấu tổ chức bộ máy Nhà nước, điều kiện của mỗi quốc gia
mà việc điều tra, áp dụng biên pháp PVTM có thể giao cho một cơ quan cóthẩm quyền chung tiến hành hoặc là được giao cho 2 hoặc 3 cơ quan riêngbiệt
17
Trang 23Thứ hai, Cơ quan điều tra, áp dụng biện pháp PVTM có nhiệm vụ phát
hiện, thụ lý đơn khởi kiện vụ việc PVTM, điều tra mức độ bán phá giá, mứctrợ cấp, mức tăng trưởng nhập khẩu, điều tra thiệt hại do các hành vi trên gây
ra đối với ngành sản xuất trong nước và ra quyết định xử lý vụ việc dựa trên
cơ sở điều tra của cơ quan điều tra
Với những mô hình khác nhau về cơ quan điều tra, áp dụng biện phápPVTM thì chức năng, nhiệm vụ của mỗi cơ quan này trong hệ thống quản lýNhà nước về PVTM cũng có sự khác nhau Tuy nhiên, nhìn chung các cơquan này có chức năng, nhiệm vụ cơ bản như trên
Thứ ba, cơ quan điều tra, áp dụng biện pháp PVTM mang tính chất
hành chính bán tư pháp Điều này có nghĩa là cơ quan điều tra, áp dụng biệnpháp PVTM vừa mang trong mình tính chất của một cơ quan hành pháp vùamang trong mình tính chất của cơ quan tư pháp
Qua thực tiễn nghiên cứu cho thấy, cơ quan điều tra, áp dụng biện phápPVTM có thể thuộc Bộ hoặc thuộc Chính phủ/ Tổng thống hoặc thuộc Quốchội, có chức năng chính đó là quản lý Nhà nước về PVTM, là công cụ để Nhànước thực thi những chính sách, pháp luật về PVTM của mỗi quốc gia (tínhchất hành pháp) Ngoài ra, cơ quan điều tra, áp dụng biện pháp PVTM cónhững hoạt động mang tính tài phán Cụ thể, ngoài nhiệm vụ phát hiện, điềutra mức độ bán phá giá, mức trợ cấp, mức tăng trưởng nhập khẩu, điều trathiệt hại do các hành vi trên gây ra đối với ngành sản xuất trong nước thì cơquan này còn có nhiệm vụ thụ lý đơn khởi kiện vụ việc PVTM và ra quyếtđịnh xử lý vụ việc dựa trên cơ sở điều tra của cơ quan điều tra Để có thể raquyết định xử lý vụ viện về PVTM, cơ quan này phải thông qua các trình tựthủ tục chặt chẽ, được pháp luật quy định và thủ tục điều trần hay tham vấn(có tính chất như một phiên tòa khi mà các bên liên quan có quyền trình bàyquan điểm, cung cấp chứng cứ, tài liệu liên quan đến vụ việc PVTM) đối với
18
Trang 24các bên liên quan là không thể thiếu và các quyết định xử lý vụ việc PVTM
có thể bị khiếu nại, khởi kiện (tính chất tư pháp)
1.1.2 Nguồn gốc hình thành và phát triển Cơ quan điều tra, áp dụng biện pháp phòng vệ thương mại
Trên thế giới, sự ra đời và phát triển của cơ quan điều tra, áp dụng biệnpháp PVTM có sự khác biệt Chẳng hạn ở Canada, ngày 10/8/1904, các quyđịnh đầu tiên về chống bán phá giá đã được thông qua Những quy địnhchống bán phá giá này được hình thành từ việc sửa đổi Đạo luật thuế hải quannăm 1897 của nước này Tiếp theo đó, vào năm 1905 và năm 1906, các quyđịnh chống bán phá giá đã lần lượt được New Zealand và Australia áp dụng
Năm 1890, Hoa Kỳ áp dụng một mức thuế chống trợ cấp chung đối vớiđường nhập khẩu được nước ngoài trợ cấp vào Hoa Kỳ Sau đó, năm 1897,Hoa kỳ ban hành quy định theo đó tất cả các mặt hàng nhập khẩu được nướcngoài trợ cấp đều có thể bị đánh thuế chống trợ cấp Các quy định về thuếchống trợ cấp sau đó được thay thế bởi Mục 303 Luật Thuế Fordney –McCumber năm 1922 (mở rộng diện điều chỉnh với cả trợ cấp sản xuất), vàsau đó được thay thế bởi Mục 303 Luật Thuế quan năm 1930 Tiếp sau Hoa
Kỳ, đã có nhiều nước khác có quy định về áp dụng thuế chống trợ cấp
Năm 1947, với sự ra đời của GATT (General Agreement of Tariffs andTrade - Hiệp định chung về thuế quan và thương mại), vấn đề chống bán phá
và tự vệ mới được đặt dưới sự chi phối của luật quốc tế, thông qua Điều 6 vàĐiều 19 của Hiệp định này Hiệp định chung về thuế quan và thương mại lúc
ấy chưa đề cập đến vấn đề trợ cấp Tại thời điểm đó, hai chủ đề chống bánphá giá và tự vệ chưa được đưa ra tranh cãi nhiều mà chỉ về sau này, khi cácdòng chảy thương mại phát triển ngày càng nhanh, sự cạnh tranh ngày càngtrở nên gay gắt hơn và khốc liệt hơn và các nước thành viên của GATT cũngđông hơn thì các biện pháp đảm bảo công bằng trong thương mại quốc tế mới
19
Trang 25thực sự trở thành mối quan tâm chính, ngày càng lớn qua các vòng thươngthảo tiếp nối nhau.
Hiệp định chung về Thuế quan và Thương mại (GATT) được ký kết từnăm 1947 và ngay sau đó, năm 1948 hệ thống thương mại đa biên được thiếtlập Điều 6 và Điều 19 GATT đã có quy định liên quan đến trường hợp mộtngành công nghiệp cho rằng việc bán phá giá đã gây thiệt hại cho ngành sảnxuất của họ hoặc việc nhập khẩu quá mức gây thiệt hại nghiêm trọng đối vớingành sản xuất nội địa Những điều khoản này cho phép chính phủ được ápđặt “thuế chống bán phá giá” hoặc “thuế tự vệ” lên hàng hóa nhập khẩu nhằmloại bỏ tác động tiêu cực
Hiệp định GATT 1947 không có các quy định về thủ tục áp dụng biệnpháp chống bán phá giá và tự vệ Hiệp định mặc nhiên thừa nhận quyền tự docủa các quốc gia trong việc xây dựng các thủ tục điều tra, áp dụng thuế chốngbán phá giá và áp dụng biện pháp tự vệ Tình trạng này là nguyên nhân chủyếu để nhiều nước lợi dụng áp dụng pháp luật chống bán phá giá và tự vệ như
là công cụ thực hiện chính sách bảo hộ thái quá thị trường nội địa
Kết thúc vòng đàm phán Tokyo các bên cũng đã cho ra đời Hiệp địnhTokyo (có hiệu lực từ năm 1980) và Hiệp định này đã cho thấy một sự tiến
bộ, thể hiện ở việc cung cấp khá nhiều hướng dẫn chi tiết cụ thể hoá hiệp địnhchung Hiệp định đã đưa ra quy trình, thủ tục tiến hành và các vấn đề cầnđược hoàn thiện trong giai đoạn điều tra cùng với sự ra đời của Tổ chứcThương mại Thế giới (WTO) các bên đã ký kết Hiệp định về Chống bán phágiá, chống trợ cấp và tự vệ chính thức ra đời.1
Để thực thi pháp luật về PVTM mà các quốc gia đã quy định cũng như
đã tham gia ký kết tại các Hiệp định quốc tế thì không thể thiếu cơ chế quản
lý và hoạt động cơ quan có thẩm quyền về PVTM của từng quốc gia
1 Vũ Thu Trang (2012), “Pháp luật về Cơ quan quản lý cạnh tranh, chống bán phá giá, chống trợ cấp và tự
vệ thương mại ở Việt Nam – thực trạng và giải pháp”, Luận văn thạc sĩ luật học, Hà Nội,tr18-19;
20
Trang 26Lịch sử hình thành và phát triển của cơ quan điều tra, áp dụng biệnpháp PVTM bắt đầu từ năm 1916 với việc Hoa Kỳ lập ra Ủy ban Thuế quan(sau này đổi tên thành Ủy ban Thương mại quốc tế Hoa Kỳ - USITC) Sau đóCanada cũng thành lập Cục dịch vụ biên giới (Canada Border ServicesAgency - CBSA) năm 1921, Nam Phi thành lập Ban Thương mại và Côngnghiệp năm 1923 2 Với sự hình thành và phát triển của pháp luật về chốngbán phá giá, chống trợ cấp và tự vệ thì kể từ đây nhiều nước trên thế giới đãthành lập các cơ quan chuyên trách về vấn đề PVTM Tuy nhiên, mô hìnhhoạt động của cơ quan quản lý về PVTM trên thê giới rất đa dạng Nhìnchung không không có mô hình quốc gia nào giống hoàn toàn nhau mà mỗiquốc gia đều xây dựng một mô hình riêng biệt phù hợp với yêu cầu, nhiệm vụ
và điều kiện của nước mình
Ở Việt Nam, mô hình về cơ quan điều tra, áp dụng biện pháp PVTM rađời khá muộn so với các nước khác Điều này được thể hiện qua sơ đồ sau:
Bảng 1.1.2.1 Sơ đồ cơ quan PVTM trước tháng 8/2017 theo pháp luật Việt Nam
2 Đinh Thị Mỹ Loan (2007), “Xây dựng mô hình cơ quan quản lý Nhà nước về cạnh tranh, chống bán phá
giá, chống trợ cấp và tự vệ trong thương mại quốc tế Kinh nghiệm quốc tế và đề xuất cho Việt Nam”, Đề tài
nghiên cứu khoa học cấp Bộ, Hà Nội, tr81;
21
Trang 27Bảng 1.1.2.2 Sơ đồ cơ quan PVTM trước tháng 8/2017 theo pháp luật Việt Nam 3
Trước đây, cơ quan điều PVTM đó chính là Cục quản lý cạnhtranh cụ thể là phòng điều tra vụ kiện PVTM, phòng xử lý vụ kiện PVTM vàHội đồng xử lý vụ việc chống bán phá giá, chống trợ cấp và tự vệ thương mại.Tiền thân của Cục quản lý cạnh tranh là Ban Quản lý cạnh tranh được thànhlập trực thuộc Bộ Thương mại (nay là Bộ Công Thương) được thành lập năm
2003.Theo khoản 1 Điều 1 Nghị định số 06/2006/NĐ-CP ngày 9/1/2006 vềviệc thành lập, quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chứccủa Cục quản lý cạnh tranh, Cục Quản lý cạnh tranh ngoài chức năng giúp Bộtrưởng Bộ Công thương thực hiện quản lý nhà nước về cạnh tranh, còn thựchiện chức năng chống bán phá giá, chống trợ cấp, áp dụng các biện pháp tự vệđối với hàng hóa nhập khẩu vào Việt Nam; bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng;phối hợp với các doanh nghiệp, hiệp hội ngành hàng trong việc đối phó vớicác vụ kiện trong thương mại quốc tế liên quan đến bán phá giá, trợ cấp và ápdụng các biện pháp tự vệ Cục Quản lý cạnh tranh do Chính phủ thành lập và
3 Phạm Thị Quỳnh Chi, Những điểm mới trong pháp luật Việt Nam về PVTM – đánh giá tác động đối với việc kiện PVTM ở Việt Nam, http://chongbanphagia.vn/Modules/News/Uploaded/38/201811151646267141- slide-cuc-pvtm vie.pdf , truy cập ngày 28/02/2019.
22
Trang 28quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức Cục trưởng CụcQuản lý cạnh tranh do Thủ tướng Chính phủ bổ nhiệm theo đề nghị của Bộtrưởng Bộ Công thương Cũng theo Nghị định này chức năng, nhiệm vụ chínhcủa Cục Quản lý cạnh tranh được thể hiện trên ba lĩnh vực chính đó là: cạnhtranh, phòng vệ thương mại và bảo vệ người tiêu dùng Hội đồng xử lý vụviệc chống bán phá giá, chống trợ cấp và tự vệ thương mại là tổ chức trựcthuộc Bộ Công thương có chức năng giúp Bộ trưởng Bộ Công thương xemxét việc áp dụng thuế chống bán phá giá, thuế chống trợ cấp và áp dụng cácbiện pháp tự vệ đối với hàng hóa nhập khẩu vào Việt Nam trên cơ sở các kếtluận và kết quả điều tra vụ việc chống bán phá giá, chống trợ cấp và áp dụngcác biện pháp tự vệ của Cục Quản lý cạnh tranh Tuy nhiên, mô hình này hiệnnay ở Việt Nam đã có sự thay đổi lớn.
Sỡ dĩ có sự thay đổi này là do theo đề nghị của Bộ trưởng Bộ Côngthương, ngày 18 tháng 8 năm 2017 Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Nghịđịnh số 98/2017/NĐ-CP quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu
tổ chức Bộ Công thương Theo đó đã tách Cục Phòng vệ thương mại và CụcCạnh tranh và Bảo vệ người tiêu dùng trên cơ sở Cục Quản lý Cạnh tranh.Căn cứ vào quyết định số 3752/QĐ-BCT của Bộ trưởng Bộ Công thương quyđịnh chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Cục Phòng vệthương mại thì Cục Phòng vệ thương mại là tổ chức thuộc Bộ Công Thương,thực hiện chức năng tham mưu, giúp Bộ trưởng Bộ Công Thương quản lý nhànước và tổ chức thực thi pháp luật đối với lĩnh vực chống bán phá giá, chốngtrợ cấp và tự vệ; tổ chức, quản lý hoạt động sự nghiệp dịch vụ công thuộc lĩnhvực, phạm vi quản lý của Cục theo quy định của pháp luật và phân cấp, ủyquyền của Bộ trưởng Cục Phòng vệ thương mại có cơ cấu tổ chức bao gồm:Văn phòng; Phòng Điều tra bán phá giá và trợ cấp; Phòng Điều tra thiệt hại và
tự vệ; Phòng Xử lý phòng vệ thương mại nước ngoài; Phòng Pháp chế; Trungtâm Thông tin và Cảnh báo
23
Trang 291.1.3 Vai trò của Cơ quan điều tra trong việc điều tra, áp dụng biện pháp phòng vệ thương mại
Quá trình thực hiện chính sách mở cửa, hội nhập với nền kinh tế thếgiới giúp nền kinh tế phát triển, đặc biệt các doanh nghiệp sản xuất hàng hóa
có cơ hội tăng thị phần, mở rộng thị trường kinh doanh Bên cạnh đó, để thựchiện các cam kết theo hiệp định thương mại, các quốc gia phải loại bỏ hàngrào phi thuế quan, giảm thuế nhập khẩu Điều này không chỉ làm cho hànghóa từ các quốc gia có cơ hội cạnh tranh với nhau trên “đất khách” mà còn là
sự cạnh tranh của hàng hóa nội địa với “những vị khách” của mình Đứngtrước thách thức về cạnh tranh ngày càng khốc liệt trên thị trường nội địa khi
mà các hàng rào thuế quan và phi thuế quan được nới lỏng dần dần tiến tới
dỡ bỏ, các quốc gia đã tăng cường sử dụng các công cụ bảo hộ thông qua cácbiện pháp bảo đảm thương mại công bằng của WTO, một trong số đó cóphòng vệ thương mại
Để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của các doanh nghiệp sản xuấttrong nước trước áp lực cạnh tranh của hàng hóa nhập khẩu việc sử dụng cácbiện pháp phòng vệ thương mại là tất yếu
Trên thực tế, pháp luật về chống bán phá giá, chống trợ cấp và tự vệ làmột trong những phần phức tạp nhất trong hệ thống pháp luật thương mạiquốc tế Để đáp ứng xu thế hội nhập và ứng phó với những diễn biến khólường của thương mại quốc tế và khu vực, việc xuất hiện cơ quan chuyêntrách về lĩnh vực phòng vệ thương mại là yêu cầu cấp bách
Chính với những lí do này mà cơ quan điều tra trong việc điều tra, ápdụng biện pháp PVTM có vai trò sau:
Thứ nhất, đối với nền kinh tế thị trường, sự có mặt của cơ quan điều tra
trong việc điều tra, áp dụng biện pháp PVTM đồng thời với việc thực thi vàgiám sát thực hiện pháp luật PVTM của các chủ thể tham gia thị trường sẽ tạonền tàng cơ bản cho quá trình cạnh tranh với hàng hóa nước ngoài cũng như
24
Trang 30qua trình hội nhập nền kinh tế thế giới Thông qua thông qua việc thực thi cácchính sách PVTM của cơ quan này mà Nhà nước có thể quản lý về chống bánphá giá, chống trợ cấp và tự vệ đối với hàng hóa nhập khẩu và hàng hóa xuấtkhẩu Các biện pháp PVTM này nhằm bảo vệ/hỗ trợ ngành sản xuất trongnước của các nước thành viên trước những hành vi thương mại không lànhmạnh (bán phá giá, trợ cấp) hoặc ứng phó với sự gia tăng nhập khẩu đột biến(tự vệ).
Rõ ràng là cơ quan điều tra trong việc điều tra, áp dụng biện phápPVTM giữ một vai trò quan trọng đối với nền kinh tế thị trường Dưới sự điềuchỉnh của cơ quan này bằng một hệ thống pháp luật PVTM hiệu lực cao, cácdoanh nghiệp sẽ có một sân chơi bình đẳng, lành mạnh, vươn tầm thế giới cóthể cung cấp các sản phẩm đáp ứng nhu cầu thị trường nội địa cũng như thìtrường nước ngoài trong đó người tiêu dùng sẽ mua hàng hóa/dịch vụ với chấtlượng tốt nhất và giá cả rẻ nhất có thể
Thứ hai, đối với xã hội, việc thực thi hệ thống pháp luật PVTM của cơ
quan điều tra trong việc điều tra, áp dụng biện pháp PVTM thông qua những
cơ chế giám sát, phát hiện xử lý hay đưa ra các phán quyết sẽ là một áp lựckhông nhỏ đối với các doanh nghiệp xuất nhập khẩu Khi một cuộc điều trađược tiến hành thì ngay lập tức nó sẽ gây ra sự bất ổn đối với các mặt hàngxuất khẩu là đối tượng điều tra từ các nước xuất khẩu, từ đó sẽ có sự dịchchuyển đáng kể nguồn lực xã hội vào sản xuất kinh doanh hàng hóa, dịch vụcòn thiếu, qua đó nâng cao năng lực sản xuất của toàn xã hội Việc tạo ra mộtmôi trường kinh doanh bình đẳng, công bằng tất yếu sẽ xuất hiện nhữngdoanh nghiệp chấp nhận và thích nghi được với môi trường mới và rõ ràngnhững doanh nghiệp này sẽ ngày càng lớn mạnh nhờ làm ăn hiệu quả
Ngoài ra, việc cơ quan điều tra trong việc điều tra, áp dụng biện phápPVTM thực thi nghiêm túc các chính sách PVTM sẽ góp phần tạo dựng sựphát triển bền vững của nền kinh tế, mang lại lợi ích cho đất nước
25
Trang 31Thứ ba, đối với doanh nghiệp, các doanh nghiệp là những người được
hưởng lợi trước tiên đối với những việc thi hành các chính sách PVTM của cơquan điều tra trong việc điều tra, áp dụng biện pháp PVTM Các biện phápphòng vệ thương mại bao gồm chống bán phá giá; chống trợ cấp và tự vệđóng vai trò quan trọng để đảm bảo nền kinh tế có thể hội nhập hiệu quả,giảm thiểu tác động tiêu cực tới các doanh nghiệp Đây cũng là các biện phápđược WTO, luật pháp các nước cho phép và đã được các nước trên thế giới,đặc biệt là các nền kinh tế lớn áp dụng thường xuyên, phổ biến trong thươngmại quốc tế Việc áp dụng công cụ phòng vệ thương mại là để bảo vệ sản xuất
và việc làm trong nước, đồng thời giảm mức độ phụ thuộc vào hàng hóa nhậpkhẩu
Như vậy, các biện pháp phòng vệ thương mại được áp dụng kịp thời đãgóp phần ngăn chặn những tác động tiêu cực của hàng nhập khẩu, cạnh tranhkhông lành mạnh với hàng hóa trong nước và đảm bảo giữ vững sản xuấttrong nước cũng như năng lực cạnh tranh
1.2 LÝ LUẬN PHÁP LUẬT VỀ CƠ QUAN ĐIỀU TRA, ÁP DỤNG BIỆN PHÁP PHÒNG VỆ THƯƠNG MẠI
1.2.1 Khái niệm, đặc điểm pháp luật về Cơ quan điều tra, áp dụng biện pháp phòng vệ thương mại
Căn cứ vào cơ sở lý luận Nhà nước và pháp luật, ta có thể hiểu phápluật về cơ quan điều tra, áp dụng biện pháp PVTM là tổng hợp các quy phạmpháp luật nhằm điều chỉnh hoạt động, chức năng, nhiệm vụ, cơ cấu tổ chứccủa các cơ quan trong quá trình thực thi pháp luật về PVTM
Từ khái niệm trên, ta có thể khái quát được một số đặc điểm pháp luật
về cơ quan điều tra, áp dụng biện pháp PVTM như sau:
Thứ nhất, pháp luật về cơ quan điều tra, áp dụng biện pháp PVTM là
một trong 04 nội dung cơ bản của pháp luật về PVTM, bao gồm pháp luật về
26
Trang 32chống bán phá giá; pháp luật về chống trợ cấp; pháp luật về tự về và pháp luật
về cơ quan có thẩm quyền điều tra, áp dụng biện pháp PVTM
Thứ hai, pháp luật về cơ quan điều tra, áp dụng biện pháp PVTM được
quy định tại nhiều văn bản pháp luật khác nhau Qua thực tế nghiên cứu, quátrình hình thành và phát triển của pháp luật về cơ quan điều tra, áp dụng biệnpháp PVTM gắn liền song song với quá trình hình thành và pháp triển củapháp luật về các biện pháp PVTM Quá trình hình thành và phát triển đó đượckhái quá như sau:
Bảng 1.2.1.1 Hệ thống pháp luật PVTM trước năm 2018
Bảng 1.2.1.2 Hệ thống pháp luật PVTM hiện nay 4
4 Phạm Thị Quỳnh Chi, Những điểm mới trong pháp luật Việt Nam về PVTM – đánh giá tác động đối với việc kiện PVTM ở Việt Nam, http://chongbanphagia.vn/Modules/News/Uploaded/38/201811151646267141- slide-cuc-pvtm vie.pdf , truy cập ngày 28/02/2019.
27
Trang 33Thứ ba, xuất pháp từ mục đích cũng như ý nghĩa của cơ qua điều tra, áp
dụng biện pháp PVTM, nội dung của pháp luật về cơ quan này chủ yếu là cácquy phạm quy định về địa vị pháp lý, chức năng, quyền hạn và cơ cấu tổ chứccủa các cơ quan này
1.2.2 Nội dung pháp luật về Cơ quan điều, áp dụng biện pháp phòng vệ thương mại
Pháp luật về cơ quan điều tra, áp dụng biện pháp PVTM chứa đựngnhững nội dung cơ bản về cơ quan có thẩm quyền thực thi pháp luật PVTM,nội dung thực thi pháp luật về PVTM của các cơ quan này
Với vai trò của mình trong bối cảnh hội nhập kinh tế thế giới, pháp luậtViệt Nam cũng như đa số các nước trên thế giới đều quy định về cơ quan điều
tra, áp dụng biện pháp PVTM Ở mục “1.2.3 Một số mô hình tổ chức Cơ
quan điều tra, áp dụng biện pháp phòng vệ thương mại của một số quốc gia trên thế giới và bài học khảo cứu cho Việt Nam” sẽ giới thiệu về mô hình
cũng như các quy định về cơ quan điều tra, áp dụng biện pháp PVTM của một
số quốc gia trên thế giới Sau đây tác giả xin giới thiệu về quy định của phápluật về cơ quan điều tra, áp dụng biện pháp PVTM theo pháp luật Việt Namdựa trên 03 nhóm đã được phân loại ở mục 1.1.1.1 như sau:
Thứ nhất, cơ quan quản lý Nhà nước trực tiếp thực hiện hoạt động điều
tra, áp dụng biện pháp PVTM
Một là, Cục PVTM – Bộ Công thương: theo quy định tại Điều 01 quyết
định số 3752/QĐ-BCT ngày 02 tháng 10 năm 2017 của Bộ trưởng Bộ Côngthương quy đinh chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của CụcPVTM thì Cục PVTM là tổ chức thuộc Bộ Công Thương, thực hiện chứcnăng tham mưu, giúp Bộ trưởng Bộ Công Thương quản lý nhà nước và tổchức thực thi pháp luật đối với lĩnh vực chống bán phá giá, chống trợ cấp và
tự vệ; tổ chức, quản lý hoạt động sự nghiệp dịch vụ công thuộc lĩnh vực,
28
Trang 34phạm vi quản lý của Cục theo quy định của pháp luật và phân cấp, ủy quyềncủa Bộ trưởng Cục PVTM có tư cách pháp nhân, con dấu và tài khoản riêngtheo quy định của pháp luật, kinh phí hoạt động do ngân sách nhà nước cấp và
từ các nguồn khác theo quy định của Nhà nước Tên giao dịch quốc tế viếtbằng tiếng Anh: Trade Remedies Authority of Viet Nam (TRAV) Trụ sởchính tại Hà Nội
Về cơ cấu tổ chức bao gồm: Văn phòng; Phòng Điều tra bán phá giá vàtrợ cấp; Phòng Điều tra thiệt hại và tự vệ; Phòng Xử lý phòng vệ thương mạinước ngoài; Phòng Pháp chế; tổ chức sự nghiệp thuộc Cục: Trung tâm Thôngtin và Cảnh báo Việc thành lập, tổ chức lại hoặc giải thể các đơn vị trựcthuộc Cục do Bộ trưởng Bộ Công Thương xem xét và quyết định theo đề nghịcủa Cục trưởng
Về nhiệm vụ và quyền hạn được quy định tại Khoản 02 Điều 73 Luậtquản lý ngoại thương, cụ thể hơn tại Điều 02 quyết định số 3752/QĐ-BCT vớinhiệm vụ, quyền hạn về quản lý Nhà nước về PVTM.5
Khi mà Luật quản lý ngoại thương chưa xuất hiện, các quy định củapháp luật về PVTM được quy định tại các pháp lệnh số 42/2002/PL-UBTVQH10 pháp lệnh về tự vệ trong nhập khẩu hàng hoá nước ngoài vàoViệt Nam; pháp lệnh số 20/2004/PL-UBTVQH11 pháp lệnh về Chống bánphá giá hàng hoá nhập khẩu vào Việt Nam; pháp lệnh số 22/2004/PL-UBTVQH11 pháp lệnh về chống trợ cấp hàng hoá nhập khẩu vào Việt Nam.Bên cạnh đó cơ quan quản lý Nhà nước có thẩm quyền trực tiếp trong hoạtđộng điều tra, áp dụng biện pháp PVTM là Cục quản lý cạnh tranh, Hội đồng
xử lý và Bộ trưởng Bộ Thương mại (nay là Bộ Công thương) Sau hơn 12năm tồn tại, Cục quản lý cạnh tranh đã bộc lộ nhiều bất cập về địa vị pháp lý,đặc biệt về chức năng, nhiệm vụ, và điều này đã được lý giải rằng ‘với mộtkhối lượng nhiệm vụ được giao theo quy định việc thực thi các nhiệm vụ đó
5 Xem thêm tại quyết định số 3752/QĐ-BCT;
29
Trang 35trên thực tế là không thể đạt hiểu quả cao nếu không nói là quyền hạn, nhiệm
vụ mà pháp luật quy định cho Cục quản lý cạnh tranh là quá “ôm đồm”,không phù hợp với thực lực cũng như khả năng của các đơn vị thuộc Cụcquản lý cạnh tranh hiện có 6Chính vì lẽ đó sự xuất hiện Cục PVTM là một tấtyếu
Về ngân sách hoạt động: Để vụ việc điều tra đạt hiệu quả cao, phụthuộc vào nhiều yếu tố, trong đó yếu tố tài chính của cơ quan điều tra đóngvai trò quan trọng.Theo quy định hiện hành, thì nguồn ngân sách hoạt độngcủa cơ quan điều tra được bố trí theo ngân sách hoạt động hàng năm của BộCông thương
Hai là, Bộ Công thương, căn cứ vào Luật quản lý ngoại thương 2017,
nghị định số 10/2018/NĐ-CP, nghị định số 98/2017/NĐ-CP, thông tư06/2018/TT-BCT của Bộ trưởng Bộ Công thương thì Bộ trưởng Bộ Côngthương có quyền quyết định cho hưởng miễn trừ theo các quy định của phápluật; quyết định áp dụng thuế chống bán phá giá, thuế chống trợ cấp tạm thời/chính thức và quyết định áp dụng các biện pháp tự vệ tạm thời/chính thứctheo quy định của pháp luật; quyết định biên chế của Cục PVTM; bổ nhiệm,miễn nhiệm, điều động, luân chuyển, khen thưởng, kỷ luật Cục trưởng và cácphó Cục trưởng theo quy định của pháp luật,
Thứ hai, cơ quan quản lý Nhà nước phối hợp trong hoạt động điều tra,
6 Xem thêm, Mai Xuân Hợi (2016), “Địa vị pháp lý của cơ quan điều tra vụ việc Phòng vệ thương mại”,
http://tcdcpl.moj.gov.vn/qt/tintuc/Pages/phap-luat-kinh-te.aspx?ItemID=140, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật điện tử, truy cập lúc 21h ngày 13/03/2019;
30
Trang 37Bảng 1.2.2.1 Quy trình triển khai vụ việc điều tra chống bán phá giá 7
7 Nguồn:http://www.trav.gov.vn/?page=procedure , truy cập ngày 13/03/2019;
32
Trang 38Qua quy trình trên, để thu thập các thông tin phục vụ việc điều tra cũngnhư việc thẩm định tính xác thực của những thông tin đó để đưa ra nhữngquyết định chính xác nhất đòi hỏi phải có sự phối hợp của nhiều cơ quan, ban
ngành liên quan khác Ví dụ như Cơ quan hải quan Việt Nam phối hợp với Bộ
Công Thương trong việc giám sát thực hiện chế độ khai báo nhập khẩu đốivới hàng hóa bị điều tra; kiểm soát, quản lý việc áp dụng biện pháp hạn ngạchnhập khẩu, hạn ngạch thuế quan; cung cấp số liệu, thông tin về hàng hóa bịđiều tra nhập khẩu vào Việt Nam theo đề nghị của Cơ quan điều tra một cáchđầy đủ, kịp thời; phối hợp với Cơ quan điều tra cung cấp các số liệu, thông tinkhông định danh về số lượng, khối lượng, trị giá hàng hóa nhập khẩu, xuấtkhẩu liên quan đến việc điều tra, áp dụng và xử lý các biện pháp phòng vệ
thương mại theo yêu cầu của doanh nghiệp, hiệp hội ngành, nghề Các bộ
(điển hình như Bộ Tài chính, Bộ Ngoại giao, Bộ Tư pháp), cơ quan ngang bộ,
Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, các cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền khác, trong phạm vi quyền hạn, chức năng, chịu trách nhiệm cung cấp thông
tin, tài liệu, ý kiến đánh giá trên cơ sở đề nghị của Bộ Công Thương, giảitrình các nội dung khi cơ quan điều tra nước ngoài điều tra tại chỗ theo sự
điều phối của Bộ Công Thương; Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt
Nam, trong phạm vi chức năng, quyền hạn, phối hợp với Bộ Công Thương
hướng dẫn, trợ giúp các thương nhân khi bị nước ngoài điều tra, áp dụng cácbiện pháp phòng vệ thương mại, thực hiện các hoạt động trợ giúp khác theo
đề nghị của Bộ Công Thương; cung cấp các thông tin, số liệu về xuất nhậpkhẩu, tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của các ngành hàng phụ trách
theo đề nghị của Cơ quan điều tra Cơ quan đại diện Việt Nam tại nước ngoài
có trách nhiệm thu thập, theo dõi thông tin, thông báo của cơ quan liên quancủa nước nhập khẩu về các biện pháp phòng vệ thương mại và kịp thời thôngbáo về Bộ Công Thương, hỗ trợ tìm hiểu các dịch vụ tư vấn pháp lý theo đềnghị của Bộ Công Thương
33
Trang 39Việc phối hợp, hỗ trợ của các cơ quan thuộc hệ thống bộ máy quản lýNhà nước trong hoạt động điều tra, áp dụng biện pháp PVTM giúp cho hoạtđộng này hiệu quả hơn, từ đó đảm bảo cho ngành sản xuất hàng hóa nội địa
có môi trường phát triển thuận lợi trong bối cảnh tự do hóa thương mại, hợptác quốc tế
Thứ ba, các tổ chức xã hội liên quan trong hoạt động điều tra, áp dụng
biện pháp PVTM
Một trong các cam kết quan trọng khi Việt Nam gia nhập WTO là Nhànước sẽ không can thiệp sâu vào hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, vìthế vai trò của các hiệp hội càng được nâng cao Điều này đã được thể hiệnqua việc số đông các trường hợp tranh chấp, dàn xếp trong thương mại quốc
tế là do các hiệp hội đứng ra thực hiện, cùng với sự hỗ trợ của Nhà nước Do
đó, để cạnh tranh, tồn tại và phát triển được, doanh nghiệp phải giải quyết tốtmối quan hệ đan xen giữa doanh nghiệp với doanh nghiệp, giữa doanh nghiệpvới Nhà nước, giữa doanh nghiệp với xã hội Trong mối quan hệ này hội, hiệphội đóng vai trò trung gian tích cực góp phần thỏa mãn nhu cầu bảo vệ quyền,lợi ích của các doanh nghiệp thành viên hiệp hội Từ đó cho thấy sự ra đời củacác hội, hiệp hội là xu thế tất yếu mang tính khách quan nhằm tác động vàosản xuất, tổ chức lưu thông sản phẩm và tham mưu cho cơ quan quản lý Nhànước trong việc xây dựng và ban hành cơ chế chính sách khuyến khích pháttriển các ngành, lĩnh vực hoạt động của hội, hiệp hội
Trong xu thế tự do hóa thương mại, mở rộng hợp tác quốc tế, Nhà nướccần có sự tham gia, giám sát của các lực lượng khác ngoài xã hội, của các hộiđoàn vào quá trình xây dựng và hoạch định chính sách, đồng thời các nhómlợi ích trong xã hội cũng có nhu cầu bảo vệ quyền lợi ích của mình Khi đóhiệp hội ngành nghề với tư cách đại diện cho các doanh nghiệp sẽ phản ánhcác khó khăn, vướng mắc cũng như bình luận, góp ý các chính sách, quy định
34
Trang 40của các cơ quan Nhà nước, hành vi của cán bộ, công chức Nhà nước trongquản lý cũng như hoạch định chính sách
Chính vì lẽ đó, Nhà nước đã có những quy định tại Luật quản lý ngoạithương 2017, nghị định 10/2018/NĐ-CP, nghị định 69/2018/NĐ-CP,…yêucầu các Hiệp hội ngành hàng phải phối hợp, hỗ trợ cơ quan Nhà nước có thẩmquyền trong hoạt động điều tra, áp dụng biện pháp PVMT Cụ thể, các hiệphội ngành hàng trong phạm vi chức năng, quyền hạn, phối hợp với Cơ quanđiều tra cung cấp các thông tin, số liệu về xuất nhập khẩu, tình hình hoạt độngsản xuất kinh doanh của các ngành hàng phụ trách theo đề nghị của Cơ quanđiều tra; hiệp hội ngành hàng phối hợp với Bộ Công Thương theo dõi cácthông tin về thị trường xuất khẩu để đánh giá nguy cơ nước ngoài điều tra ápdụng biện pháp phòng vệ thương mại với hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam,thông báo các thông tin liên quan đến vụ việc nước ngoài điều tra, áp dụngbiện pháp phòng vệ thương mại tới các thành viên, xem xét tham gia bên liênquan trong vụ việc, thực hiện các hoạt động khác theo đề nghị của Bộ CôngThương Nhờ những quy định này mà lợi ích cũng như khả năng sử dụng biệnpháp PVTM đã có nhiều chuyến biến theo hướng tích cực
1.2.3 Một số mô hình tổ chức Cơ quan điều tra, áp dụng biện pháp phòng vệ thương mại của một số quốc gia trên thế giới và bài học khảo cứu cho Việt Nam
1.2.3.1 Mô hình Cơ quan điều tra trong việc điều tra, áp dụng biện pháp phòng vệ thương mại của Hoa Kỳ 8
Theo quy định của pháp luật Hoa Kỳ, có nhiều cơ quan có thẩm quyềnliên quan đến việc điều tra và áp dụng các biện pháp phòng vệ ở hai cấp độ:
8 Hội đồng Tư vấn về các Biện pháp Phòng vệ Thương mại (2009), ấn phẩm“Cẩm nang kháng kiện chống
bán phá giá và chống trợ cấp tại Hoa Kỳ”, tr21-22;
35