1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu sử dụng chế phẩm nguồn gốc thảo dược phòng và trị bệnh viêm tử cung bò sữa

136 95 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 136
Dung lượng 4,49 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM NGUYỄN NGỌC SƠN NGHIÊN CỨU SỬ DỤNG CHẾ PHẨM NGUỒN GỐC THẢO DƯỢC PHÒNG VÀ TRỊ BỆNH VIÊM TỬ CUNG BÒ SỮA Chuyên ngành: Sinh sản và bệnh sinh sản gia súc Ngư

Trang 1

HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

NGUYỄN NGỌC SƠN

NGHIÊN CỨU SỬ DỤNG CHẾ PHẨM NGUỒN GỐC

THẢO DƯỢC PHÒNG VÀ TRỊ BỆNH VIÊM TỬ CUNG BÒ SỮA

LUẬN ÁN TIẾN SĨ

NHÀ XUẤT BẢN HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP – 2019

Trang 2

HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

NGUYỄN NGỌC SƠN

NGHIÊN CỨU SỬ DỤNG CHẾ PHẨM NGUỒN GỐC

THẢO DƯỢC PHÒNG VÀ TRỊ BỆNH VIÊM TỬ CUNG BÒ SỮA

Chuyên ngành: Sinh sản và bệnh sinh sản gia súc

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Văn Thanh

TS Nguyễn Hữu Cường

NHÀ XUẤT BẢN HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP - 2019

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các kết quả nghiên cứu được trình bày trong luận án là trung thực, khách quan và chưa từng dùng bảo vệ để lấy bất kỳ học vị nào

Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận án đã được cảm

ơn, các thông tin trích dẫn trong luận án này đều được chỉ rõ nguồn gốc

Hà Nội, ngày 25 tháng 4 năm 2019

Tác giả luận án

Nguyễn Ngọc Sơn

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến các thầy giáo, cô giáo trong Học viện

Nông nghiệp Việt Nam, những người đã giảng dạy và dìu dắt tôi trong suốt hai năm học cao học, đồng thời tạo điều kiện để tôi tiếp tục học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận

án này

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến PGS.TS Nguyễn Văn Thanh và

TS Nguyễn Hữu Cường - người thầy hướng dẫn khoa học, đã tận tình động viên, giúp

đỡ tôi trong cuộc sống cũng như quá trình hoàn thành luận án

Tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới ban lãnh đạo cùng toàn thể cán bộ Chi cục Thú y Hà Nội, cơ quan công tác của tôi đã tạo điều kiện thuận lợi nhất để tôi vừa hoàn thành nhiệm vụ công việc, vừa hoàn thành công trình nghiên cứu của mình

Tôi xin chân thành cảm ơn các đơn vị sau đây đã nhiệt tình giúp đỡ tôi để hoàn thành luận án này:

- Ban Giám đốc, Học viên Nông nghiệp Việt Nam;

- Ban Quản lý đào tạo, Học viện Nông nghiệp Việt Nam;

- Khoa Thú y, Học viện Nông nghiệp Việt Nam;

- Bộ môn Ngoại sản, Khoa Thú y, Học viện Nông nghiệp Việt Nam;

- Trung tâm Nghiên cứu Bò và Đồng cỏ Ba Vì;

- Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Hà Nội

- Trung tâm Phát triển nông nghiệp Hà Nội;

- Chi cục Chăn nuôi và Thú y Hà Nội;

- Các hộ chăn nuôi thuộc huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội và huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc;

- Hợp tác xã Đầu tư nông trại xanh và phát triển bò Ba Vì, thành phố Hà Nội Xin cảm ơn gia đình, người thân, các đồng nghiệp đã động viên, tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình công tác cũng như hoàn thành bản luận án này

Hà Nội, ngày 25 tháng 4 năm 2019

Tác giả luận án

Nguyễn Ngọc Sơn

Trang 5

MỤC LỤC

Trang

Lời cam đoan i

Lời cảm ơn ii

Mục lục iii

Danh mục các chữ viết tắt vii

Danh mục bảng viii

Danh mục hình x

Trích yếu luận án xii

Thesis abstract xiv

Phần 1 Mở đầu 1

1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1

1.2 Mục tiêu nghiên cứu 3

1.2.1 Mục tiêu chung 3

1.2.2 Mục tiêu cụ thể 4

1.3 Phạm vi nghiên cứu 4

1.3.1 Đối tượng nghiên cứu 4

1.3.2 Phạm vi nghiên cứu 4

1.4 Những đóng góp mới của luận án 5

1.5 Ý nghĩa khoa học, ý nghĩa thực tiễn 5

1.5.1 Ý nghĩa khoa học 5

1.5.2 Ý nghĩa thực tiễn 5

Phần 2 Tổng quan tài liệu 6

2.1 Khái quát về bệnh viêm tử cung ở bò 6

2.1.1 Khái niệm về viêm tử cung 6

2.1.2 Phân loại viêm tử cung 6

2.1.3 Chẩn đoán bệnh viêm tử cung 9

2.2 Một số yếu tố ảnh hưởng đến bệnh viêm tử cung ở bò sữa 10

2.2.1 Ảnh hưởng của giống 10

2.2.2 Ảnh hưởng của mùa vụ 10

Trang 6

2.2.4 Ảnh hưởng của quá trình đẻ 10

2.2.5 Ảnh hưởng của sản lượng sữa 11

2.2.6 Ảnh hưởng của một số bệnh sản khoa 11

2.3 Điều trị bệnh viêm tử cung 13

2.3.1 Điều trị viêm tử cung bằng hormone 13

2.3.2 Điều trị viêm tử cung bằng hóa dược 14

2.3.3 Điều trị viêm tử cung bằng kháng sinh 15

2.3.4 Điều trị viêm tử cung bằng thuốc có nguồn gốc thảo dược 16

2.4 Hiện tượng kháng thuốc của vi khuẩn và tồn dư kháng sinh trong sản phẩm chăn nuôi 17

2.4.1 Hiện tượng kháng thuốc kháng sinh của vi khuẩn 17

2.4.2 Vấn đề tồn dư kháng sinh trong các sản phẩm chăn nuôi 18

2.5 Tình hình nghiên cứu bệnh viêm tử cung bò trên thế giới và tại Việt Nam 19

2.5.1 Tình tình nghiên cứu điều trị viêm cung bò trên thế giới 19

2.5.2 Tình hình nghiên cứu viêm tử cung bò tại Việt Nam 19

2.6 Sử dụng chế phẩm thảo dược để điều trị bệnh viêm tử cung bò 20

2.6.1 Tình hình sử dụng thảo dược để điều trị bệnh cho gia súc, gia cầm 20

2.6.2 Các chế phẩm thảo dược được sử dụng trong nghiên cứu 21

Phần 3 Vật liệu, nội dung và phương pháp nghiên cứu 32

3.1 Vật liệu nghiên cứu 32

3.2 Nội dung nghiên cứu 32

3.2.1 Thực trạng bệnh viêm tử cung ở bò sữa tại huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội và huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc 32

3.2.2 Một số yếu tố ảnh hưởng tới tỷ lệ viêm tử cung ở bò sữa 32

3.2.3 Sự biến đổi một số chỉ tiêu lâm sàng, vi khuẩn học trong bệnh viêm tử cung ở bò sữa 32

3.2.4 Tính mẫn cảm với kháng sinh của một số vi khuẩn hiếu khí được phân lập từ dịch tử cung bò sữa 33

3.2.5 Thử nghiệm sử dụng chế phẩm có nguồn gốc thảo dược phòng và trị bệnh viêm nội mạc tử cung ở bò sữa 33

3.3 Phương pháp nghiên cứu 34

Trang 7

3.3.1 Phương pháp nghiên cứu thực trạng bệnh viêm tử cung ở bò sữa tại huyện

Ba Vì, thành phố Hà Nội và huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc 34

3.3.2 Phương pháp nghiên cứu một số yếu tố ảnh hưởng tới tỷ lệ viêm tử cung ở bò sữa 34

3.3.3 Phương pháp nghiên cứu sự biến đổi một số chỉ tiêu lâm sàng, vi khuẩn học trong bệnh viêm tử cung ở bò sữa 35

3.3.4 Phương pháp xác định tính mẫn cảm với kháng sinh của một số vi khuẩn hiếu khí được phân lập từ dịch tử cung bò sữa 35

3.3.5 Thử nghiệm sử dụng chế phẩm có nguồn gốc thảo dược phòng và trị bệnh viêm nội mạc tử cung ở bò sữa 35

3.3.6 Phương pháp xử lí số liệu 48

Phần 4 Kết quả và thảo luận 49

4.1 Thực trạng bệnh viêm tử cung trên đàn bò sữa tại huyện Ba Vì thành phố Hà Hội và huyện Vĩnh Tường tỉnh Vĩnh Phúc 49

4.1.1 Tỉ lệ mắc bệnh viêm tử cung trên đàn bò sữa tại huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội và huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc 49

4.1.2 Kết quả khảo sát tỷ lệ mắc bệnh viêm tử cung bò sữa ở các giai đoạn khác nhau 50

4.1.3 Kết quả khảo sát tỷ lệ mắc các thể viêm tử cung ở bò sữa 52

4.2 Một số yếu tố ảnh hưởng đến tỉ lệ viêm tử cung ở bò sữa 53

4.2.1 Ảnh hưởng của lứa đẻ đối với viêm tử cung ở bò sữa 53

4.2.2 Ảnh hưởng của sản lượng sữa đối với tỉ lệ mắc bệnh viêm tử cung ở

bò sữa 54

4.2.3 Ảnh hưởng của bò đẻ khó và sát nhau đối với viêm tử cung ở bò sữa 56

4.3 Biến đổi một số chỉ tiêu lâm sàng, vi khuẩn học trong bệnh viêm tử cung ở bò sữa 57

4.3.1 Kết quả xác định sự thay đổi một số chỉ tiêu lâm sàng khi bò sữa bị viêm tử cung 57

4.3.2 Kết quả xác định sự biến đổi về tổng số vi khuẩn hiếu khí có trong dịch tử cung của bò sữa 60

4.3.3 Kết quả xác định sự biến đổi về thành phần vi khuẩn hiếu khí có trong dịch viêm tử cung của bò sữa 61

Trang 8

4.4 Tính mẫn cảm với kháng sinh của một số vi khuẩn hiếu khí được phân lập

từ dịch tử cung bò sữa 64

4.4.1 Kết quả xác định tính mẫn cảm của các vi khuẩn phân lập được từ dịch tử cung bò sữa với một số thuốc kháng sinh thông dụng 64

4.4.2 Kết quả xác định tính mẫn cảm của tập đoàn vi khuẩn có trong dịch viêm đường sinh dục bò sữa với một số thuốc kháng sinh 65

4.5 Thử nghiệm sử dụng chế phẩm nguồn gốc thảo dược để phòng và trị bệnh viêm nội mạc tử cung ở bò sữa 67

4.5.1 Khả năng ức chế vi khuẩn in vitro của cao dịch chiết thảo dược ở các nồng độ 100 mg/ml với vi khuẩn Staphylococcus spp và Streptococcus spp phân lập từ dịch viêm tử cung bò 67

4.5.2 Khả năng ức chế vi khuẩn in vitro của cao dịch chiết thảo dược ở các nồng độ khác nhau đối với vi khuẩn Staphylococcus spp phân lập từ dịch viêm tử cung bò 69

4.5.3 Khả năng ức chế vi khuẩn in vitro của cao dịch chiết thảo dược ở các nồng độ khác nhau đối với vi khuẩn Streptococcus spp phân lập từ dịch viêm tử cung bò 71

4.5.4 Đánh giá khả năng ức chế vi khuẩn in vitro của cao khô dịch chiết dược liệu khi phối hợp 74

4.5.5 Khả năng ức chế vi khuẩn in vitro của cao khô dược liệu khi pha loãng 77

4.5.6 Kết quả thử độ an toàn của chế phẩm có nguồn gốc thảo dược đến một số chỉ tiêu lâm sàng của bò 80

4.5.7 Nghiên cứu phòng bệnh viêm tử cung bò bằng chế phẩm có nguồn gốc thảo dược 87

4.5.8 Thử nghiệm điều trị bệnh viêm tử cung bằng chế phẩm có nguồn gốc thảo dược 92

Phần 5 Kết luận và kiến nghị 99

5.1 Kết luận 99

5.2 Kiến nghị 99

Danh mục các công trình đã công bố liên quan đến luận án 101

Tài liệu tham khảo 102

Phụ lục 110

Trang 9

Đối chứng

Escherichia coli

Gonadotropin-releasing hormone

Kháng sinh Holstein Friesian High-performance liquid chromatography Lysogeny Broth

Minimum Inhibitory Concentration Optical Density

Prostaglandin F2alpha Thí nghiệm

Thụ tinh nhân tạo

Vi khuẩn Việt Nam Đồng World Health Organization White Site Test

United States Dollar

Trang 10

DANH MỤC BẢNG

TT Tên bảng Trang

2.1 Chẩn đoán phân biệt các thể viêm tử cung 9

4.1 Tỷ lệ mắc bệnh viêm tử cung ở bò sữa trong chăn nuôi nông hộ tại huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội và huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc 49

4.2 Tỷ lệ mắc bệnh viêm tử cung bò sữa ở các giai đoạn khác nhau (n=189) 51

4.3 Tỷ lệ mắc các thể viêm tử cung ở bò sữa (n=189) 53

4.4 Sự ảnh hưởng của lứa đẻ đối với bệnh viêm tử cung ở bò sữa 53

4.5 Ảnh hưởng của sản lượng sữa đối với tỉ lệ mắc bệnh viêm tử cung ở bò sữa 55

4.6a Ảnh hưởng của đẻ khó đối với bệnh viêm tử cung ở bò sữa 56

4.6b Ảnh hưởng của sát nhau đối với bệnh viêm tử cung ở bò sữa 56

4.7 Kết quả theo dõi sự thay đổi một số chỉ tiêu lâm sàng của bò mắc bệnh viêm tử cung 58

4.8 Tổng số vi khuẩn hiếu khí có trong dịch tử cung của bò 60

4.9 Tần suất xuất hiện của một số vi khuẩn hiếu khí trong dịch tử cung 62

4.10 Tính mẫn cảm của vi khuẩn Staphylococcus spp và Streptococcus spp phân lập được từ dịch viêm tử cung bò sữa với một số thuốc kháng sinh 65

4.11 Kết quả xác định tính mẫn cảm của tập đoàn vi khuẩn 66

4.12 Khả năng ức chế vi khuẩn in vitro của cao dịch chiết thảo dược ở các nồng độ 100 mg/ml với vi khuẩn Staphylococcus spp và Streptococcus spp phân lập từ dịch viêm tử cung bò 68

4.13 Khả năng ức chế vi khuẩn in vitro của cao dịch chiết thảo dược ở các nồng độ khác nhau đối với vi khuẩn Staphylococcus spp phân lập từ dịch viêm tử cung bò 70

4.14 Khả năng ức chế vi khuẩn in vitro của cao dịch chiết thảo dược ở các nồng độ khác nhau đối với vi khuẩn Streptococcus spp phân lập từ dịch viêm tử cung bò 72

4.15 Khả năng ức chế in vitro vi khuẩn Staphylococcus spp phân lập từ dịch viêm tử cung bò của các công thức thí nghiệm 75

4.16 Khả năng ức chế in vitro vi khuẩn Streptococcus spp phân lập từ dịch viêm tử cung bò của các công thức thí nghiệm 76

Trang 11

4.17 Tỷ lệ phối hợp các loại cao khô của công thức lựa chọn 77

4.18 Khả năng ức chế vi khuẩn in vitro của cao dịch chiết thảo dược ở các nồng

độ khác nhau đối với vi khuẩn Staphylococcus spp phân lập từ dịch viêm

tử cung bò 78

4.19 Khả năng ức chế vi khuẩn in vitro của cao dịch chiết thảo dược ở các nồng

độ khác nhau đối với vi khuẩn Streptococcus spp phân lập từ dịch viêm tử

cung bò 78 4.20 Kết quả theo dõi sự biến đổi thân nhiệt của bò khi sử dụng thảo dược dạng

huyền phù và dạng viên 81 4.21 Kết quả theo dõi sự biến đổi tần số hô hấp của bò khi sử dụng sản phẩm có

nguồn gốc thảo dược 82 4.22 Tổng hợp kết quả theo dõi sự biến đổi tần số mạch đập của những bò khi

sử dụng sản phẩm có nguồn gốc thảo dược 83 4.23 Kết quả theo dõi sự biến đổi tần số nhu động dạ cỏ của bò khi sử dụng sản

phẩm có nguồn gốc thảo dược 85 4.24 Ảnh hưởng của chế phẩm có nguồn gốc thảo dược đến phản ứng co bóp

của tử cung bò tại thời điểm ngày 1 sau khi thụt 86 4.25 Ảnh hưởng của chế phẩm có nguồn gốc thảo dược đến thời gian chảy sản

dịch của bò sau khi đẻ 88 4.26 Ảnh hưởng của chế phẩm có nguồn gốc thảo dược đến tỷ lệ mắc bệnh viêm

tử cung của bò sau khi đẻ 90 4.27 Quy chuẩn thức dây đo vòng ngực bò để tính khối lượng cơ thể của bò sữa 91 4.28 Tổng số vi khuẩn hiếu khí có trong dịch tử cung của bò trước khi sử dụng

chế phẩm có nguồn gốc thảo dược 92 4.29 Tổng số vi khuẩn hiếu khí có trong dịch tử cung của bò sau khi dùng sản

phẩm có nguồn gốc thảo dược 94 4.30 Hiệu quả của chế phẩm có nguồn gốc thảo dược điều trị bệnh viêm nội mạc

tử cung sau khi đẻ của bò 95 4.31 Kết quả đánh giá khả năng sinh sản của bò sau khi điều trị khỏi bệnh viêm

nội mạc tử cung 96

Trang 12

DANH MỤC HÌNH

TT Tên hình Trang

2.1 Viêm nội mạc tử cung 7

2.2 Viêm cơ tử cung 8

2.3 Đẻ khó do kích thước của bào thai không bình thường (thai quá to) 12

2.4 Đẻ khó do tư thế thai không bình thường 12

2.5 Cây Mò hoa trắng 22

2.6 Cây Bồ công anh 24

2.7 Cây Đơn đỏ 25

2.8 Cây Tô mộc 26

2.9 Cây Sài đất 27

2.10 Cây Mỏ quạ 28

2.11 Cây và các bộ phận của cây Huyền diệp 30

2.12 Cây Xuân hoa 31

3.1 Quy trình tách chiết các loại thảo dược 36

3.2 Cao thảo dược sau đông khô được phân tán trở lại dạng lỏng hòa vào ethanol 20% đến hỗn dịch chứa dược chất có nồng độ ban đầu là 1000mg/ml 39

3.3 Huyền phù sử dụng công thức 3 tại nồng độ 300 mg/ml 41

3.4 Viên thuốc bào chế bằng tá dược gelatin - glyceryl 43

3.5 Khuôn thuốc đặt thủ công loại 6 viên 44

3.6 Khuôn thuốc được mở nắp trong quá trình lấy viên thuốc ra khỏi khuôn 45

3.7 Sáu viên thuốc thu được sau một lần đổ khuôn 45

4.1 Bò sữa sau khi đẻ mắc viêm tử cung 51

4.2 Bò sữa sau đẻ mắc viêm tử cung 52

4.3 Bò đẻ lứa đầu bị viêm tử cung 54

4.4 Bò sữa có sản lượng sữa cao > 30 kg/ngày bị viêm tử cung 55

4.5 Bò sữa bị bệnh viêm tử cung 59

4.6 Tử cung bò sữa bị bệnh viêm tử cung 59

4.7 Kết quả thử phản ứng WST phát hiện bệnh viêm tử cung 61

4.8 Hình ảnh phân lập Streptococcus và Staphylococcus trên môi trường

thạch máu 63

Trang 13

4.9 Phân lập Salmonella trên môi trường SS agar 64 4.10 Phân lập E.coli trên môi trường EM agar 64 4.11 Tác dụng ức chế vi khuẩn in vitro của cao khô dịch chiết lá cây Đơn đỏ khi

pha loãng 73

4.12 Tác dụng ức chế vi khuẩn in vitro của cao khô dịch chiết lá cây Huyền diệp

khi pha loãng 73

4.13 Hình ảnh thử khả năng ức chế vi khuẩn Staphylococcus spp của các chế

phẩm có nguồn gốc thảo dược 79

4.14 Hình ảnh thử khả năng ức chế vi khuẩn Streptococcus spp của các chế

phẩm có nguồn gốc thảo dược 80 4.15 Bò chảy sản dịch màu trắng 88 4.16 Bò chảy sản dịch màu hồng 88 4.17 Một số hình ảnh bò được điều trị khỏi bệnh viêm nội mạc tử cung và đang

mang thai 97

Trang 14

TRÍCH YẾU LUẬN ÁN

Tên tác giả: Nguyễn Ngọc Sơn

Tên Luận án: Nghiên cứu sử dụng chế phẩm nguồn gốc thảo dược phòng và trị bệnh

viêm tử cung bò sữa

Chuyên ngành: Sinh sản và bệnh sinh sản gia súc Mã số: 9 64 01 06

Tên cơ sở đào tạo: Học viện Nông nghiệp Việt Nam

Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp điều tra, phỏng vấn trực tiếp người chăn nuôi kết hợp với việc theo dõi trực tiếp để xác định các chỉ tiêu lâm sàng của bò mắc bệnh viêm tử cung;

Phương pháp Whiteside test;

Phương pháp thử kháng sinh đồ;

Phương pháp tách chiết, bào chế, pha loãng dịch chiết thảo dược;

Phương pháp nuôi cấy vi khuẩn;

Phương pháp xác định mật độ vi khuẩn

Xác định sự biến đổi một số chỉ tiêu lâm sàng của trâu bò mắc bệnh viêm tử cung bằng phương pháp thường quy đếm nhiều lần hoặc quan sát vào một thời điểm quy định và lấy số bình quân

Phương pháp xử lí số liệu

Kết quả chính và kết luận

Tỷ lệ bò sữa bị mắc bệnh viêm tử cung khi nuôi trong nông hộ trên địa bàn huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội và huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc là khá cao, trung bình 22,05%, bệnh thường tập trung trong giai đoạn ≤ 24 ngày sau đẻ (30,93%), bò đẻ

từ 5 lứa trở lên (32,00%), bò có sản lượng sữa cao >30 kg (30,32%), bò đẻ khó và bò bị sát nhau

Trang 15

Trong tổng số các trường hợp bò sữa bị viêm tử cung, tỷ lệ mắc thể viêm nội mạc tử cung chiếm tỷ lệ cao nhất (80,43%), tiếp đến là thể viêm cơ tử cung (15,34%) và thấp nhất là viêm tương mạc tử cung (4,23%)

Khi bò bị viêm tử cung, các chỉ tiêu sinh lý lâm sàng có sự thay đổi rõ rệt Thân nhiệt, tần số mạch đập và tần số hô hấp của bò viêm tử cung đều tăng lên so với

Đối với dịch tử cung, tỷ lệ mẫu phát hiện thấy Staphylococcus và Streptococcus ở

bò không bị viêm tử cung lần lượt là 24,00% và 16,00%, khi bị viêm tử cung phát hiện là 100% mẫu bệnh phẩm

Norfloxacin là loại kháng sinh có tính mẫn cảm cao nhất đối với cả 2 loại vi

khuẩn: Staphylococcus và Streptococcus phân lập được từ dịch viêm tử cung bò

Bồ công anh, Đơn đỏ, Huyền diệp, Mò hoa trắng và Sài đất là 05 loại dược liệu

có khả năng ức chế vi khuẩn khuẩn in vitro đối với cả hai chủng vi khuẩn

Staphylococcus spp và Streptococcus spp phân lập từ dịch viêm tử cung bò

Chế phẩm có nguồn gốc thảo dược dạng viên và dạng huyền phù không gây ảnh hưởng tới các chỉ tiêu sinh lí của bò như thân nhiệt, hô hấp, tim mạch, nhu động dạ cỏ

và phản ứng co của tử cung

Chế phẩm có nguồn gốc thảo dược dạng viên hoặc dạng Huyền phù được đặt hay thụt vào tử cung đảm bảo tiêu chí an toàn, có tác dụng phòng và trị bệnh viêm tử cung tương đương với kết quả khi sử dụng kháng sinh

Khả năng sinh sản của bò sau khi điều trị khỏi bằng chế phẩm có nguồn gốc thảo dược là khá cao, kết quả tương đương, thậm chí có phần cao hơn nhóm bò sử dụng kháng sinh

Trang 16

THESIS ABSTRACT

PhD candidate: Nguyen Ngoc Son

Thesis Title: Study on the use of herbal products for prevention and treatment of

metritis in dairy cows

Major: Veterinary Theriogenology Code: 9 64 01 06

Educational organization: Vietnam National University of Agriculture (VNUA) Research Objectives

To evaluate the status of metritis in dairy cows in Ba Vi district, Hanoi and dairy herds in Vinh Tuong district, Vinh Phuc province

To determine some factors affecting metritis in dairy herds in Ba Vi district, Hanoi and dairy herds in Vinh Tuong district, Vinh Phuc province

To determine the composition, quantity, susceptibility to some antiretroviral drugs and herbal origin drugs of the bacterial group causing metritis in cows

To evaluate the effectivity of herbal products for prevention and the treatment of metritis in daily cows

Materials and Methods

To use survey method, direct interview of livestock farmers in combination with direct monitoring to determine the clinical parameters of cows infected with metritis;

Whiteside test method;

Antimicrobial test method;

Method of extraction, preparation, dilution of herbal extracts;

Bacterial culture method;

Determination of bacterial density

Determination of some of the clinical parameters of daily cows with metritis by routine method or observation at a prescribed time and on an average basis

Main findings and conclusions

The rate of dairy cows infected with metritis in households in Ba Vi, Ha Noi and Vinh Tuong district, Vinh Phuc province is quite high, an average of 22.05% The disease is often concentrated in period ≤24 days postpartum (30.93%), cows from 5 farrowings or more (32.00%), high milk cows (> 30 kg) (30.32%), difficult calving, placenta placental retention

Trang 17

Of the total number of cases of metritis, the incidence of endometritis was highest (80.43%), followed by cervicitis (15.34%) and lowest in metritis (4.23%)

When cows become infected with metritis, the clinical physiological parameters change dramatically Body temperature, pulse rate and respiratory rate of metritis infected cows are increased compared to normal cows

The total number of aerobic bacteria in the uterine mucus was 112.93 times higher than in the non-infected cows (7.95 ± 2.71) x 108 compared with (7.04 ± 2.95) x

106 CFU/ml

For uterine mucus, the rate of Staphylococcus and Streptococcus in

non-infectious cows was 24.00% and 16.00%, respectively In case of the metritis was found

to be 100% samples

Norfloxacin is the most susceptible antibiotic for both bacterial strains:

Staphylococcus and Streptococcus isolated from cows infected with metritis

Dandelion, Excoecaria cochinchinensis, Green Champa, Clerodendron fragrans

Vent, and Wedelia chinensis are 05 kinds of drugs that inhibit bacteria in vitro for both strains of Staphylococcus spp and Streptococcus spp isolated from cows infected with

metritis

Medicinal compositions derived from herbal tablets or suspensions do not affect the physiological indicators of cows such as body temperature, respiratory, cardiovascular, rumen motility and uterine contraction

Medicinal compositions derived from herbal tablets or suspensions placed or implanted in uterus ensures safety criteria, operates to prevent and treat metritis in cows equivalent to the results when using antibiotics

Reproductive performance of cows after treatment with herbal extracts was relatively high, with a similar result, even somewhat higher than that of cows using antibiotics

Trang 18

PHẦN 1 MỞ ĐẦU

1.1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI

Trong những qua, ngành chăn nuôi bò sữa và chế biến sữa ở nước ta đã đạt được nhiều nhiều thành tựu lớn về tổng đàn, năng suất, chất lượng, an toàn thực phẩm, năng lực đầu tư công nghệ cao, năng lực chế biến sữa và đa dạng hóa sản phẩm của các doanh nghiệp chế biến sữa Những thành tựu này của Ngành sữa Việt Nam đã được cộng đồng quốc tế đánh giá là dẫn đầu vùng Đông Nam Á

về quy mô chăn nuôi, công nghệ áp dụng và thương mại hóa sản phẩm Theo báo cáo của Cục Chăn nuôi trong giai đoạn từ 2001-2017, tổng đàn bò sữa tăng trưởng 13,24 %/năm, sản lượng sữa tăng 17,73 %/năm, cao nhất trong tất cả các lĩnh vực trong chăn nuôi Điều này góp phần quan trọng cho tăng trưởng tổng doanh thu của ngành sữa đạt tốc độ 17,6 %/năm, đạt 95.000 tỷ VNĐ Trong năm

2017, toàn ngành sữa tại Việt Nam đạt doanh thu 100 ngàn tỷ VNĐ (tương đương 4,4 tỷ USD), tăng trưởng 10% so với năm 2016 Tăng trưởng ngành sữa nước ta trong năm 2017 chủ yếu dựa vào 2 sản phẩm chủ yếu là sữa dạng lỏng và sữa bột, chiếm tới 75% doanh thu của toàn ngành Việt Nam tiêu dùng trên 1,33

tỷ lít sữa, tăng 6,6% so với năm 2016 và tiêu dùng 127,4 ngàn tấn sữa bột, tăng 10,4% so với năm 2016

Trong 5 năm gần đây, đàn bò sữa nước ta tăng cả về số lượng và chất lượng, cụ thể năm 2013 đàn bò sữa đạt 186 ngàn con, tăng 11,62% so với cùng

kỳ năm 2012, năm 2014 tăng 22,1% lên 227,6 ngàn con, năm 2015 đạt 275,3 ngàn con tăng gần 21% so với năm 2014; sản lượng sữa đạt 723,153 ngàn tấn, tăng 31,59% so với cùng kỳ năm 2014 Năm 2017, chăn nuôi bò sữa phát triển ổn định, đàn bò sữa tiếp tục phát triển tốt do một số doanh nghiệp tăng cường đầu tư

và mở rộng quy mô chăn nuôi kết hợp với điều kiện thuận lợi tại một số địa phương và những tác động nhất định của Chương trình sữa học đường Quốc gia; đàn bò sữa tiếp tục phát triển tốt và mở rộng thêm ở một số địa phương như: Phú Yên, Thanh Hóa, Lâm Đồng, Hà Giang Theo số liệu của Tổng cục Thống kê tại thời điểm 01/10/2017, tổng đàn bò sữa cả nước đạt 283 ngàn con tăng 6,6% so với cùng kỳ năm 2016 cho sản lượng sữa bò đạt 881,3 ngàn tấn, tăng gần 12,6% so với cùng kỳ 2016

Trang 19

Chất lượng đàn bò sữa ngày càng được cải thiện do quá trình chọn lọc và cải tiến quy trình nuôi dưỡng Năng suất sữa ở bò lai từ 3,25 tấn/chu kỳ năm 2001 lên 4,0 tấn/chu kỳ năm 2010 và 4,28 tấn/chu kỳ năm 2013; ở bò thuần HF từ 4,26 tấn/chu kỳ năm 2001 lên 5,57 tấn/chu kỳ năm 2010 và 5,60 tấn/chu kỳ năm 2013, năng suất sữa bò trung bình cả nước là 5,186 tấn/chu kỳ năm 2013 Một số cơ sở chăn nuôi bò sữa tập trung, áp dụng công nghệ cao, năng suất của bò thuần HF đạt 7.000-8.000 kg sữa/chu kỳ, cá biệt có nhiều con đạt 11.000 kg/chu kỳ, con cao nhất đạt 13.000 kg/chu kỳ ở Công ty Cổ phần bò sữa Mộc Châu

Cùng với những thành tựu trên, ngành chăn nuôi bò sữa cũng còn gặp không ít khó khăn, trở ngại Ngoài các yếu tố về thời tiết, dinh dưỡng, quản lý thì các bệnh trên bò sữa cũng có ảnh hưởng rất lớn trong chăn nuôi bò sữa Bệnh ở đường sinh dục bò là nguyên nhân lớn gây ra các thiệt hại về năng suất sinh sản, năng suất sữa Trong số các bệnh ở đường sinh dục bò cái, bệnh thường gặp và gây thiệt hại về kinh tế lớn nhất là bệnh viêm tử cung Bệnh viêm tử cung có tỉ lệ mắc ở bò sau đẻ thường rất cao và mọi quá trình bệnh lý ở tử cung đều ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng sinh sản, sản lượng và chất lượng sữa bò

Thông thường, bò bị viêm tử cung thường sẽ được điều trị bằng kháng sinh

và các loại thuốc bổ trợ Tuy nhiên, điều này làm nảy sinh ba vấn đề quan trọng đó

là thiệt hại kinh tế, mất an toàn vệ sinh thực phẩm và kháng kháng sinh ở vi khuẩn Bên cạnh đó, trong thời gian bò điều trị bệnh viêm tử cung, sữa của bò bệnh sẽ kém chất lượng không đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm nên số sữa này không thể bán được cho các công ty thu mua sữa gây thiệt hại kinh tế cho người chăn nuôi Hơn nữa nếu sữa kém chất lượng dùng để chế biến thành thực phẩm thì sẽ là một mối nguy hại lớn cho sức khỏe của người tiêu dùng

Về điều trị bệnh viêm tử cung bò, hiện nay có rất nhiều loại kháng sinh được

sử dụng có hiệu quả, song không phải kháng sinh nào cũng có thể được kiểm nghiệm vì trên thực tế người chăn nuôi còn hạn chế về kiến thức sử dụng kháng sinh, thiếu các dụng cụ chuyên ngành, các loại kiểm tra (test) để nhận dạng sự có mặt của kháng sinh trong sữa Như vậy, sữa có chứa kháng sinh sẽ tự do lưu thông trên thị trường, gây ra mối nguy cơ về an toàn sức khỏe cho người tiêu dùng Mặt khác, việc sử dụng nhiều loại kháng sinh không theo những qui định nghiêm ngặt dẫn đến tăng nguy cơ kháng kháng sinh ở vi khuẩn Trên thực tế nhiều bò sữa bị bệnh viêm tử cung sau quá trình điều trị kháng sinh đã bị nhờn thuốc khi bò tái

Trang 20

phát các bệnh khác tỷ lệ chữa khỏi thấp, thời gian điều trị kéo dài làm ảnh hưởng không nhỏ đến thời gian sinh trưởng và phát triển của con vật, tốn kém trong quá trình điều trị

Nhằm tháo gỡ những khó khăn đó, nhiều nhà khoa học đã tiến hành nghiên cứu, sử dụng chiết xuất của các thảo dược nhằm điều trị viêm tử cung ở bò Với những nguồn gốc tự nhiên, chiết xuất thảo dược được cho là an toàn đối với bò và người sử dụng sữa, thịt bò Có khá nhiều thảo dược đã được các nhà nghiên cứu trên toàn thế giới chứng minh là có tác dụng với vi khuẩn gây bệnh Việc sử dụng cây thuốc trong điều trị các bệnh do vi khuẩn đang ngày càng được ưa chuộng bởi tính an toàn, ít tác dụng phụ và khả năng gây kháng chậm (Nguyễn Văn Thanh và Nguyễn Thanh Hải, 2014) Các chất có nguồn gốc thiên nhiên, dù được sử dụng dưới dạng truyền thống hay các dạng đã được tinh chế và chiết tách được đánh giá

là một nguồn đáng kể cho việc tìm hiểu và khám phá ra các thuốc thay thế các chất hóa học tổng hợp Thảo dược đang ngày càng chứng minh vai trò quan trọng của mình trong nền công nghiệp dược phẩm như là một giải pháp an toàn thay thế cho

các thuốc hóa học tổng hợp (Mahesh and Satish, 2008; Nguyễn Thanh Hải và Bùi

Thị Tho, 2013) Ở nước ta, những nghiên cứu về cây thuốc trong phòng và trị bệnh viêm tử cung ở bò sữa còn ít và cũng chỉ giới hạn trong việc khai thác, áp dụng các bài thuốc cổ truyền, còn thiếu cơ sở khoa học nên kết quả phòng và điều trị bệnh không như mong đợi

Để nghiên cứu sâu hơn về bệnh viêm tử cung ở bò sữa và sử dụng phối hợp các sản phẩm kháng sinh có nguồn gốc thảo dược đạt hiệu quả cao trong phòng,

điều trị bệnh viêm tử cung trên bò sữa, chúng tôi thực hiện đề tài

1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

1.2.1 Mục tiêu chung

Xác định những yếu tố ảnh hưởng đến bệnh viêm tử cung ở bò sữa trong chăn nuôi nông hộ để tìm các giải pháp ngăn chặn bệnh, hạn chế rủi ro, nâng cao hiệu quả kinh tế cho người chăn nuôi

Đánh giá kết quả khi sử dụng chế phẩm có nguồn gốc thảo dược để phòng và trị bệnh viêm tử cung cho bò sữa có hiệu quả, nhằm hạn chế sử dụng kháng sinh, hạn chế tồn dư kháng sinh trong sữa, trong thực phẩm góp phần đảm bảo an toàn thực phẩm cho người tiêu dùng

Trang 21

Đánh giá kết quả của việc sử dụng chế phẩm có nguồn gốc thảo dược trong phòng, trị bệnh viêm tử cung bò sữa Đi sâu nghiên cứu kết quả sử dụng thảo dược ở hai dạng huyền phù và dạng viên

1.3 PHẠM VI NGHIÊN CỨU

1.3.1 Đối tƣợng nghiên cứu

Đàn bò cái lai hướng sữa Holstein Friesian nuôi tại các nông hộ thuộc huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội và ở huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc

Với 8 loại dược liệu khảo sát chọn lọc ra 05 loại có tác dụng kháng khuẩn tốt nhất để nghiên cứu sâu và chế biến thành dạng viên và dạng huyền phù ứng dụng phòng, trị bệnh viêm tử cung

1.3.2 Phạm vi nghiên cứu

* Địa điểm nghiên cứu

- Học Viện Nông nghiệp Việt Nam

+ Phòng thí nghiệm trọng điểm Công nghệ sinh học Thú y, Khoa Thú y, Học viện Nông nghiệp Việt Nam;

+ Phòng thí nghiệm bộ môn Ngoại Sản;

+ Phòng thí nghiệm Công nghệ Sinh học Thực vật, Khoa Công nghệ sinh học

- Các nông hộ chăn nuôi bò sữa

+ Huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội;

+ Huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc

* Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 3/2016 đến tháng 8/2018

Trang 22

1.4 NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI CỦA LUẬN ÁN

Luận án đã tiếp cận một nghiên cứu mới trong việc sử dụng thảo dược để phòng và điều trị bệnh viêm tử cung ở bò sữa Với những kết quả thu được từ nghiên cứu này, dự kiến sẽ giảm được chi phí điều trị bệnh viêm tử cung ở bò sữa, nhất là trong chăn nuôi nông hộ, tránh hiện tượng kháng kháng sinh và tồn

dư chất kháng sinh trong sữa bò Đảm bảo an toàn thực phẩm cho người tiêu dùng, nâng cao hiệu quả kinh tế cho người chăn nuôi

1.5 Ý NGHĨA KHOA HỌC, Ý NGHĨA THỰC TIỄN

1.5.1 Ý nghĩa khoa học

Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ góp phần bổ sung số liệu, tài liệu khoa học về tỷ lệ mắc và các yếu tố ảnh hưởng đến bệnh viêm tử cung trên đàn bò sữa tại huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội và đàn bò sữa huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc; thành phần, số lượng, tính mẫn cảm với một số thuốc kháng sinh và chế phẩm có nguồn gốc thảo dược của nhóm vi khuẩn gây bệnh viêm tử cung ở bò

Đề tài cung cấp thêm những kiến thức khoa học trong việc sử dụng chế phẩm có nguồn gốc thảo dược để phòng và trị bệnh cho bò sữa

Kết quả của luận án là tài liệu tham khảo cho các nhà chuyên môn tham khảo dùng trong giảng dạy, học tập, nghiên cứu và ứng dụng trong thực tiễn sản xuất

1.5.2 Ý nghĩa thực tiễn

Sự thành công của đề tài sẽ làm cơ sở để sản xuất các chế phẩm có nguồn gốc thảo dược điều trị bệnh viêm tử cung ở bò sữa góp phần giải quyết được 3 vấn đề đó là:

- Làm giảm thiệt hại kinh tế cho người chăn nuôi bò sữa do bệnh viêm tử cung gây ra ở bò sữa;

- Hạn chế sử dụng kháng sinh trong điều trị bệnh viêm tử cung từ đó làm giảm nguy cơ kháng kháng sinh của vi khuẩn;

- Giảm thiểu sự tồn dư kháng sinh trong các sản phẩm sữa và làm tăng giá trị của sữa bò góp phần đảm bảo an toàn thực phẩm, bảo vệ sức khỏe cho người tiêu dùng

Kết quả nghiên cứu của luận án còn là cơ sở cho việc xây dựng các chính sách, các quy định về việc hạn chế sử dụng kháng sinh trong chăn nuôi nói chung, chăn nuôi bò sữa nói riêng, đáp ứng yêu cầu của thực tiễn và nhu cầu ngày càng cao của xã hội

Trang 23

PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1 KHÁI QUÁT VỀ BỆNH VIÊM TỬ CUNG Ở BÕ

2.1.1 Khái niệm về viêm tử cung

Theo Sheldon et al (2006), viêm tử cung là một trong những bệnh sinh

sản thường gặp ở gia súc sinh sản nói chung và bò sữa nói riêng Đây là quá trình bệnh lý ở tử cung gây ra bởi các loại vi khuẩn làm tử cung chảy dịch, mùi khó chịu, gia súc sốt, uể oải, mệt mỏi, giảm ăn, nhịp tim tăng và sản lượng sữa giảm

2.1.2 Phân loại viêm tử cung

Theo Theo Black et al (1953), Nguyễn Văn Thanh và cs (2016), viêm tử

cung được chia ra ba thể: Viêm nội mạc tử cung, viêm cơ tử cung và viêm tương mạc tử cung

2.1.2.1 Viêm nội mạc tử cung (Endomestritis)

Theo Black et al (1953), viêm nội mạc tử cung là viêm lớp niêm mạc của

tử cung Đây là một trong những nguyên nhân chủ yếu làm suy giảm khả năng sinh sản của gia súc cái

Viêm nội mạc tử cung phổ biến và chiếm tỷ lệ cao nhất trong các thể viêm ở

tử cung Samad et al (1987) theo dõi 17.293 trâu mắc bệnh đường sinh dục, rối loạn

sinh sản cho biết: Tỷ lệ trâu bị viêm nội mạc tử cung là cao nhất và chiếm 35,9% Bệnh viêm nội mạc tử cung thường xảy ra sau khi gia súc sinh đẻ, nhất là trong những trường hợp đẻ khó phải can thiệp bằng tay hoặc dụng cụ làm niêm mạc tử cung bị xây sát, tổn thương Sau đó là do sự tác động của các vi khuẩn

Streptococcus, Staphylococcus, E.coli, Salmonella, Brucella, roi trùng gây viêm nội

mạc tử cung (Nguyễn Văn Thanh và Lê Trần Tiến, 2007)

Căn cứ vào tính chất, trạng thái của quá trình bệnh lý, viêm nội mạc tử cung

có thể chia ra làm hai loại: Viêm nội mạc tử cung thể cata cấp tính có mủ và viêm nội mạc tử cung có màng giả

* Viêm nội mạc tử cung thể cata cấp tính có mủ (Endomestritis Puerperalis)

Bệnh này gặp nhiều ở bò sau sinh đẻ, niêm mạc cổ tử cung và âm đạo bị tổn thương, xây sát dẫn đến nhiễm khuẩn nhất là khi gia súc bị sát nhau, đẻ khó phải can thiệp

Trang 24

Khi bị bệnh, gia súc biểu hiện một số triệu chứng chủ yếu: thân nhiệt tăng nhẹ, ăn uống giảm, lượng sữa giảm Con vật có trạng thái đau đớn nhẹ, đôi khi cong lưng rặn, tỏ vẻ không yên tĩnh Từ cơ quan sinh dục thải ra ngoài hỗn dịch, niêm dịch lẫn với dịch viêm, mủ, lợn cợn những mảnh tổ chức chết Khi con vật nằm, dịch viêm thải ra càng nhiều, xung quanh âm môn, gốc đuôi, hai bên mông dính nhiều dịch viêm có khi khô lại hình thành từng đám vẩy, màu trắng xám Kiểm tra qua âm đạo, niêm dịch và dịch viêm thải ra nhiều Cổ tử cung hơi mở

và có mủ chảy qua cổ tử cung Niêm mạc âm đạo bình thường, kiểm tra qua trực tràng có thể phát hiện được một hay cả hai sừng tử cung sưng to, hai sừng tử cung không cân xứng nhau, thành tử cung dày và mềm hơn bình thường Khi kích thích nhẹ lên sừng tử cung thì mức độ phản ứng co lại của chúng yếu ớt Trường hợp trong tử cung tích lại nhiều dịch viêm, nhiều mủ thì có thể phát hiện được trạng thái chuyển động sóng

* Viêm nội mạc tử cung màng gi

Thể viêm này, niêm mạc tử cung thường bị hoại tử Vết thương đã ăn sâu vào tầng cơ của tử cung và chuyển thành hoại tử, lúc này con vật xuất hiện triệu chứng toàn thân rõ: thân nhiệt lên cao, lượng sữa giảm có khi hoàn toàn mất sữa,

kế phát viêm vú, con vật ăn uống kém và không nhai lại, biểu hiện trạng thái đau đớn, luôn rặn, lưng và đuôi cong lên Từ cơ quan sinh dục luôn thải ra ngoài hỗn dịch: dịch viêm, máu, mủ, lợn cợn những mảnh tổ chức hoại tử, niêm dịch

Hình 2.1 Viêm nội mạc tử cung

Nguồn: Nguyễn Văn Thanh và cs (2016)

Trang 25

2.1.2.2 Viêm cơ tử cung (Myomestritis Puerperalis)

Theo Nguyễn Văn Thanh và Nguyễn Thanh Hải (2016), viêm cơ tử cung thường kế phát từ viêm nội mạc tử cung, niêm mạc tử cung bị thấm dịch thẩm xuất, vi khuẩn xâm nhập và phát triển sâu vào tử cung làm niêm mạc bị phân giải, thối rữa gây tổn thương mạch quản và lâm ba quản Từ đó làm cho các lớp

cơ và một ít lớp tương mạc tử cung bị hoại tử Trường hợp này có thể dẫn đến hiện tượng nhiễm trùng toàn thân, huyết nhiễm trùng hoặc huyết nhiễm mủ Có khi vì lớp cơ và lớp tương mạc tử cung bị phân giải, bị hoại tử mà tử cung bị thủng hay bị hoại tử từng đám

Hình 2.2 Viêm cơ tử cung

Nguồn: Nguyễn Văn Thanh và cs (2016)

2.1.2.3 Viêm tương mạc tử cung (Perimestritis Puerperali)

Viêm tương mạc tử cung thường kế phát từ viêm cơ tử cung Thể viêm này thường cấp tính, cục bộ, toàn thân xuất hiện những triệu chứng điển hình và nặng Bò sữa biểu hiện triệu chứng toàn thân: nhiệt độ tăng cao, mạch nhanh, con vật ủ rũ, mệt mỏi, uể oải, đại tiểu tiện khó khăn, ăn uống kém hoặc bỏ ăn Lượng sữa rất ít hoặc mất hẳn, thường kế phát viêm vú Con vật luôn biểu hiện trạng thái đau đớn, khó chịu, lưng và đuôi cong, rặn liên tục Từ âm hộ thải ra ngoài rất nhiều hỗn dịch lẫn mủ và tổ chức hoại tử, có màu nâu và mùi thối khắm Khi kích thích vào thành bụng thấy con vật có phản xạ đau rõ hơn, rặn nhanh hơn, từ âm hộ dịch chảy ra nhiều hơn Trường hợp một số vùng của

Trang 26

tương mạc đã dính với các bộ phận xung quanh thì có thể phát hiện được trạng thái thay đổi về vị trí và hình dáng của tử cung, có khi không tìm thấy một hoặc

cả hai buồng trứng Nếu điều trị không kịp thời sẽ chuyển thành viêm mãn tính, tương mạc đã dính với các bộ phận xung quanh thì quá trình thụ tinh và sinh đẻ lần sau sẽ gặp nhiều khó khăn, có thể dẫn tới vô sinh Thể viêm này thường kế phát bệnh viêm phúc mạc, bại huyết, huyết nhiễm mủ

2.1.3 Chẩn đoán bệnh viêm tử cung

Trong vòng vài ngày đầu sau khi bò đẻ, sản dịch chảy ra có màu hồng, lẫn máu, sau đó biến thành màu vàng nhạt, cuối giai đoạn là màu trong suốt, cuối giai đoạn sản dịch không chảy ra nữa Lúc đầu sản dịch chảy ra không có vi khuẩn, sau đó sản dịch chảy ra có vi khuẩn xâm nhập nhưng cơ thể mẹ không có biến đổi, thân nhiệt không tăng lên, con vật không có triệu chứng gì, vì vi khuẩn

có số lượng ít Nhưng nếu sản dịch chảy ra kéo dài thì tử cung bò có thể bị viêm (Nguyễn Văn Thanh và cs., 2016)

Để chẩn đoán phân biệt các thể viêm tử cung người ta dựa vào những triệu chứng điển hình ở cục bộ và toàn thân Việc chẩn đoán phân biệt các thể viêm tử cung có một ý nghĩa quan trọng trong việc áp dụng những phác đồ điều trị thích hợp với từng thể viêm nhằm đạt kết quả điều trị cao: Thời gian điều trị ngắn, chi phí cho điều trị thấp đặc biệt là đảm bảo khả năng sinh sản cho gia súc cái

Bảng 2.1 Chẩn đoán phân biệt các thể viêm tử cung Triệu chứng Viêm nội mạc Viêm cơ Viêm tương mạc

Hồng, nâu đỏ Tanh thối

Nâu rỉ sắt Thối khắm

Phản ứng đau Đau nhẹ Đau rõ Rất đau kèm theo triệu

chứng viêm phúc mạc Phản ứng co nhỏ của

Nguồn: Nguyễn Văn Thanh và cs (2016)

Trang 27

2.2 MỘT SỐ YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN BỆNH VIÊM TỬ CUNG Ở

BÕ SỮA

2.2.1 Ảnh hưởng của giống

Mỗi một giống bò có nguồn gốc xuất xứ khác nhau và thích nghi với điều kiện khí hậu cũng như điều kiện chăm sóc, nuôi dưỡng đặc trưng của vùng đó Khi di chuyển hay thay đổi môi trường sống, bò có thể không thích nghi được hoặc bị xáo trộn nặng dẫn đến giảm sức đề kháng Từ đó, những nguyên nhân gây bệnh có cơ hội xâm nhập và gây bệnh cho bò Những giống bò sữa cao sản thường dễ bị viêm tử cung hơn

2.2.2 Ảnh hưởng của mùa vụ

Thời tiết trong giai đoạn thu đông thì nhiệt độ mát mẻ làm sức đề kháng của con vật được nâng cao Mặt khác, có những thời điểm nhiệt độ hạ thấp xuống rất thấp gây sự bất lợi cho các vi khuẩn gây bệnh phát triển Vì thế mà các bệnh xảy ra trên đàn bò sữa cũng giảm Điều đó cho thấy tỷ lệ bệnh viêm tử cung ở hai thời điểm khác nhau có sự khác nhau rõ rệt (Hossein-Zadeh and Ardalan, 2011)

2.2.3 Ảnh hưởng của lứa đẻ

Tác giả Bruun et al (2002) thấy rằng, bò đẻ lứa đầu và bò đẻ lứa thứ 3 trở

đi có nguy cơ mắc viêm tử cung cao hơn ở lứa thứ 2 Trong một nghiên cứu ở

Argentina, Giuliodori et al (2013) cho biết bò đẻ ở lứa sau có xu hướng mắc

viêm tử cung thấp hơn so với lứa đẻ đầu (tỉ suất chênh = 0,65, khoảng tin cậy

95% = 0,37-1,25, P = 0,08) Tuy nhiên, Gröhn et al (1990) khi nghiên cứu trên

61.124 bò ở Phần Lan thấy rằng không có mối liên hệ nào giữa lứa đẻ và tỉ lệ mắc bệnh viêm tử cung

2.2.4 Ảnh hưởng của quá trình đẻ

Bò sữa đẻ bình thường sẽ làm khả năng nhiễm bệnh đường sinh dục thấp hơn khi bò đẻ phải can thiệp Tuy nhiên, thời gian đẻ kéo dài và có một số yếu tố khác dẫn đến cần sự can thiệp của người chăn nuôi, cán bộ kỹ thuật Người chăn nuôi hoặc cán bộ kỹ thuật dùng tay hoặc dây kéo, các thiết bị hỗ trợ khác để đưa thai ra đều có thể làm gây xây xát niêm mạc và dễ nhiễm vi khuẩn từ ngoài môi trường vào gây viêm tử cung

Trang 28

Theo các tác giả Fishwick (1997), Nguyễn Văn Thanh và Nguyễn Thanh Hải (2016), nguyên nhân dẫn đến hiện tượng viêm tử cung thường là do niêm mạc

âm đạo, tử cung bị xây xát trong các trường hợp can thiệp đẻ khó bằng tay hay dụng

cụ sản khoa

2.2.5 Ảnh hưởng của sản lượng sữa

Suriyasathaporn et al (2000) cho biết, xeton huyết làm giảm khả năng hấp

dẫn bạch cầu vào trong các tổ chức khi có tác động của nguyên nhân gây viêm dẫn đến làm giảm số lượng bạch cầu đa nhân trong các tổ chức bị viêm, bạch cầu cũng giảm sản xuất các cytokines quan trọng trong quá trình viêm và phòng ngự của cơ thể như interferon, interleukin, tumor necrosis factor, những bò có năng suất sữa cao thì bị stress nhiều hơn các bò có năng suất thấp Stress làm tăng tiết hormone cortisol, tình trạng này kéo dài dẫn đến suy giảm miễn dịch và làm tăng nguy viêm tử cung ở bò sữa

Theo Norgaard et al (1999), những bò có năng suất sữa cao thì bị stress

nhiều hơn các bò có năng suất thấp Stress làm tăng tiết hormone cortisol, tình trạng này kéo dài dẫn đến suy giảm miễn dịch và làm tăng nguy viêm tử cung ở

Trong quá trình tiến hành thủ thuật đỡ đẻ, do không nắm vững các thao tác

kỹ thuật nên làm sây sát niêm mạc tử cung, vi khuẩn xâm nhập từ ngoài vào gây viêm Chính vì vậy, có thể nói đẻ khó là một trong những nguyên nhân chính gây viêm tử cung ở gia súc sinh sản nói chung và bò sữa nói riêng

Trang 29

Hình 2.3 Đẻ khó do kích thước của bào thai không bình thường

(thai quá to)

Nguồn: Nguyễn Văn Thanh và cs (2016)

Hình 2.4 Đẻ khó do tư thế thai không bình thường

Nguồn: Nguyễn Văn Thanh và cs (2016)

* Viêm âm môn, tiền đình và âm đạo

Trong quá trình gia súc sinh đẻ, khi can thiệp những trường hợp đẻ khó, khi đỡ đẻ bình thường hoặc khi phối giống không đúng kỹ thuật thường làm cho niêm mạc âm môn, tiền đình, âm đạo bị sây sát, bị tổn thương và nhiễm khuẩn Quá trình viêm âm môn, tiền đình, âm đạo nếu không điều trị kịp thời sẽ kế phát bệnh viêm tử cung ở bò sữa

Trang 30

2.3 ĐIỀU TRỊ BỆNH VIÊM TỬ CUNG

2.3.1 Điều trị viêm tử cung bằng hormone

Trong một nghiên cứu trên 445 bò cái Holstein mắc bệnh đẻ khó, sót nhau

hoặc cả hai, tác giả Risco et al (1994) sử dụng PGF2α và GnRH riêng lẻ hoặc

kết hợp Trong nghiên cứu này, các chỉ tiêu đẻ khó và sót nhau được dùng để xác định bò không có sự hồi phục tử cung một cách bình thường PGF2α được sử dụng vào ngày 12 và 26 sau khi đẻ cho kết quả thụ thai cao hơn bò không được điều trị Đối với bò được dùng GnRH riêng lẻ và bò dùng PGF2α 10 ngày sau khi dùng GnRH, kết quả thụ thai không thay đổi so với bò không được điều trị Ở những bò được sử dụng GnRH, sự rụng trứng và thể vàng hóa nang trứng xảy ra đồng thời với thời gian tử cung bị nhiễm trùng Khi hàm lượng progesterone tăng cao trong thời điểm tử cung đang nhiễm trùng càng làm cho sự viêm nhiễm trùng

ở tử cung trầm trọng hơn do đó mà làm giảm tỉ lệ thụ thai Nghiên cứu trước đây cho thấy hầu hết bò sữa ở thời gian 26-30 ngày sau đẻ đều có thể vàng có thể

phản ứng với PGF2α (Risco et al., 1994) Sử dụng PGF2α vào khoảng thời gian

30 ngày sau đẻ để điều trị các loại viêm tử cung khác nhau có thể kích thích bò động dục

Trong nghiên cứu của Risco et al (1994), tác giả không đánh giá hiệu quả

của PGF2α đơn lẻ tại ngày 12 hoặc 26, nhóm tác giả kết luận rằng khi sử dụng PGF2α vào ngày 12 và tiếp theo là mũi PGF2α thứ 2 vào ngày 26 có thể cải thiện được tỉ lệ thụ thai ở lần thụ tinh đầu tiên đối với bò bị sót nhau

Ở Việt Nam đã có nghiên cứu sử dụng hormone PGF2α trong điều trị bệnh viêm tử cung bò Tác giả Nguyễn Văn Thanh và Lê Trần Tiến (2007) thử nghiệm sử dụng 03 phác đồ điều trị bệnh viêm tử cung bò

* Phác đồ 1: Thụt rửa tử cung bằng dung dịch Rivanol 0,1% ngày 1 lần,

sau khi thụt rửa kích thích cho dung dịch thụt rửa chảy hết ra ngoài, dùng

Norfloxacin 5mg/kg thể trọng pha với 100ml nước cất bơm vào tử cung; kết hợp

điều trị toàn thân bằng ADE, B.complex Liệu trình điều trị không quá 5 ngày

* Phác đồ 2: Dùng 6ml Oxytocin tiêm dưới da, thụt rửa tử cung 500ml dung dịch Lugol 0,1%, Norfloxacin 5mg/kg thể trọng pha với 100ml nước cất

bơm vào tử cung ngày một lần; kết hợp điều trị toàn thân bằng ADE, B.complex Liệu trình điều trị không quá 5 ngày

Trang 31

* Phác đồ 3: Dùng Lutalyze một dẫn xuất của PGF2α tiêm dưới da 2ml

(25mg), tiêm 1 lần; thụt rửa tử cung 500ml dung dịch Lugol 0,1%, dùng

Norfloxacin5mg/kg thể trọng pha với 100ml nước cất bơm vào tử cung ngày một lần;

kết hợp điều trị toàn thân bằng ADE, B.complex Liệu trình điều tối đa là 5 ngày

Kết quả cho thấy trong 03 phác đồ thử nghiệm, phác đồ 3 (phác đồ có sử dụng PGF2α) có hiệu quả tốt nhất, thể hiện ở các chỉ tiêu: tỷ lệ khỏi bệnh cao (100%); số ngày điều trị ngắn, tỷ lệ động bò động dục lại cao đồng thời thời tỷ lệ phối lần đầu có thai lại là cao nhất Theo các tác giả nêu trên sở dĩ phác đồ 3 có hiệu quả điều trị cao theo chúng tôi do chế phẩm Lutalyze chứa hoạt chất PGF2α

có tác dụng kích thích tử cung co bóp, tống hết dịch viêm ra ngoài, đồng thời có tác dụng phá vỡ thể vàng, kích thích nang trứng phát triển gây hiện tượng động dục Lugol có chứa nguyên tố Iod có tác dụng sát trùng, đồng thời thông qua niêm mạc tử cung cơ thể hấp thu được dung dịch Iod giúp cho cơ quan sinh dục mau chóng hồi phục làm xuất hiện chu kỳ sinh dục sớm hơn

2.3.2 Điều trị viêm tử cung bằng hóa dƣợc

Các chất hóa dược được được sử dụng trong điều trị viêm tử cung bao gồm Iodine, Chlorhexidine và Saline (Pulfer and Riese, 1991) Tuy vậy, ít có các nghiên cứu được thực hiện nhằm đánh giá hiệu quả của các chất này trong điều trị bệnh viêm tử cung cho bò Hiện nay có một hóa dược không phải là kháng sinh được cấp phép để điều trị viêm tử cung trên bò sữa ở Mỹ, đó là Chlorhexidine (Bouters and Vandeplassche, 1977) Không chỉ trực tiếp diệt vi khuẩn, các chất này gây kích ứng niêm mạc của tử cung và được cho là sẽ làm tăng sự co bóp, cung cấp máu và kích thích hệ miễn dịch ở tử cung của bò Khả năng tiêu diệt vi khuẩn và phản ứng viêm được gây ra bởi Chlorhexidine được cho là làm giảm số lượng vi khuẩn ở trong tử cung và giúp cho quá trình loại thải các dịch viêm ở trong tử cung ra ngoài Các nghiên cứu cho thấy khi sử dụng các hóa chất kích ứng tử cung có thể rút ngắn quãng thời gian tử khi điều trị đến khi

bò động dục lại Tuy nhiên, nhìn chung việc sử dụng các hóa chất để điều trị viêm tử cung không được khuyến khích Việc điều trị này có thể gây ra tổn thương trên đường sinh dục của bò cái và có thể làm tăng nguy cơ nhiễm trùng thứ phát bởi các loại vi khuẩn khác

Trang 32

2.3.3 Điều trị viêm tử cung bằng kháng sinh

Việc sử dụng kháng sinh để điều trị bệnh viêm tử cung ở bò hiện nay là rất phổ biến và có nhiều loại kháng sinh đã được sử dụng

Oxytetracycline cũng được sử dụng nhiều trong điều trị viêm tử cung trên

bò Thuốc được sử dụng nhiều nhất đối với các thể bệnh viêm tử cung nhẹ

(Gilbert and Schwark, 1992) Nghiên cứu bởi Bretzlaff et al (1993) cho thấy liều

11mg/kg tiêm tĩnh mạch, 2 lần/ngày mới đủ để điều trị bệnh Khi sử dụng liều trên, tiêm 1 lần/ngày, hiệu quả điều trị bệnh sẽ thấp, đây là một liệu trình không

có tính thực tiễn cao Chính vì vậy, mặc dù là thuốc duy nhất được Cục quản lí thực phẩm và dược phẩm Mỹ cấp phép cho sử dụng điều trị viêm tử cung sau đẻ

ở bò sữa, nhưng Oxytetracycline không phải là kháng sinh ưa thích trong điều trị viêm tử cung ở đối tượng này

Các kháng sinh có thể được kết hợp với nhau để điều trị viêm tử cung ở

bò Nhiều tác giả khuyến cáo việc dùng Penicillin kết hợp với Oxytetracycline tại

chỗ để điều trị bệnh (Thurmond et al., 1993) Tuy nhiên việc sử dụng liệu trình

này gây ra vấn đề tồn lưu kháng sinh trong sữa trong một thời gian dài làm giảm lợi nhuận từ sữa Hơn nữa, nếu không biết được thời gian cần loại bỏ sữa hoặc không quan tâm tới thời gian cần loại bỏ sữa, hoặc không có kit để chẩn đoán kháng sinh trong sữa thì sẽ làm tăng nguy cơ tồn lưu kháng sinh trong các sản phẩm sữa Chính vì các lí do đó mà việc sử dụng kháng sinh để điều trị viêm tử cung trên bò cần phải được xem xét cẩn thận Ceftiofur cũng được sử dụng để điều trị viêm tử cung trên bò (Reppert, 2015) Đối với kháng sinh này, không cần phải loại bỏ sữa sau khi điều trị Tuy nhiên cần phải chú ý rằng, Ceftiofur không phải là kháng sinh được cấp phép cho sử dụng để điều trị viêm tử cung ở bò Vì vậy, việc sử dụng kháng sinh này được coi là không tuân thủ theo hướng dẫn

Việc sử dụng kháng sinh để điều trị toàn thân hay điều trị cục bộ để điều trị viêm tử cung cần phải được cân nhắc Có nhiều yếu tố ảnh hưởng tới hiệu quả điều trị bệnh Việc lựa chọn phương pháp điều trị viêm tử cung cần căn cứ vào nguyên nhân gây bệnh, sự mẫn cảm của nguyên nhân gây bệnh, sự tương tác giữa kháng sinh và môi trường của tử cung, động lực học của thuốc, sự miễn dịch của cơ thể bò và sự tồn dư kháng sinh trong sữa và thịt Chính vì các yếu tố đó, việc lựa chọn kháng sinh hiệu quả để điều trị viêm tử cung ở bò sữa là một vấn

đề rất nan giải

Trang 33

2.3.4 Điều trị viêm tử cung bằng thuốc có nguồn gốc thảo dƣợc

Ahmed et al (2014) sử dụng một số chiết suất thảo dược từ các cây Sầu đông (Aradirachta indica), Bông cận đông (Gossypium berbaceum), Bạch hoa xà (Plumbago zeylanica) và Keo (Aacacia catechu) để điều trị bệnh viêm tử cung

cho bò Các tác giả cho biết với các tính chất kháng nấm, kháng vi khuẩn, kháng virus và kháng viêm của các hoạt tính trong các chiết suất từ các thảo dược trên, chúng đều có khả năng điều trị bệnh viêm tử cung cho bò

Sử dụng chiết suất từ tỏi và hormone PGF2α để điều trị bệnh viêm tử cung

cho bò, Sarkar et al (2006) cho thấy tỉ lệ bò khỏi bệnh ở hai nhóm là tương đương nhau Marquez et al (2007) cho biết chiết suất từ cây Sim (Montanoa tomentosa) cho hiệu quả điều trị bệnh viêm tử cung ở bò sữa rất cao mà không

làm ảnh hưởng đến chức năng của buồng trứng

Cui et al (2014) cho biết dịch chiết từ cây Ích mẫu (Herba Leonuri), Đương qui (Angelicae Sinensis Radix), Hồng hoa (Flos Carthami), Cỏ gấu (Rhizoma Cyperi) và Mộc dược (Myrrha) hòa tan trong cồn 70 làm tăng nhanh

quá trình đào thải nhau thai ở bò bị sát nhau Bò được xác định là sát nhau nếu sau 12h từ khi đẻ mà nhau chưa được đẩy ra ngoài Mỗi bò sát nhau được dùng 450ml dung dịch tương đương với 0,45g bột hỗn hợp của các thảo dược/kg thể trọng trong 1 lần hoặc có thể dùng lần 2 nếu sau 4-6h mà nhau vẫn chưa ra Ở nhóm đối chứng, bò được dùng 2.000 mg Oxytetracyclin trong 3 ngày liên tục Kết quả so sánh giữa nhóm dùng dịch chiết thảo dược và nhóm dùng Oxytetracyclin cho thấy bò ở nhóm dùng thảo dược có thời gian động dục lại sau

đẻ ngắn hơn và tỉ lệ thụ thai cao hơn so với nhóm dùng kháng sinh

Esparza-Borges et al (1996) cho biết dịch chiết của Tỏi (Allium sativum, L), Khuynh diệp (Eucalyptus globules) và Rau khúc (Gnaphalium conoideum) có

tác dụng rút ngắn thời gian động dục lại sau đẻ của bò bị viêm tử cung

Một nghiên cứu khác cho thấy Kim ngân hoa (honeysuckle), Hoa mai (forsythia), Bồ công anh (dandelion), hoa Violet Tokyo (Tokyo violet), Ngải cứu (motherwort), Đương qui (angelica), Xuyên khung (chuanxiong), Địa hoàng (rehmannia), Hồng hoa (safflower), Cam thảo (radix glycyrrhizae) có tác dụng

tăng cường khả năng miễn dịch của các tế bào biểu mô tử cung của bò, do đó có

thể dùng để điều trị bệnh viêm tử cung (Du et al., 2010)

Đã có một số nghiên cứu so sánh tác dụng điều trị bệnh viêm tử cung của

bò bằng thảo dược và bằng kháng sinh cho kết quả rất khả quan, ủng hộ quan

Trang 34

điểm sử dụng thảo dược Một nhóm tác giả cho thấy dịch chiết của tỏi kết hợp với sâm Ấn Độ có tác dụng tốt hơn Ciprofloxacin trong điều trị viêm tử cung của những bò phối giống nhiều lần không chửa Trong nghiên cứu trên, những bò được điều trị bằng thảo dược thì lượng dịch viêm tử cung ít hơn, nhanh hết hơn,

số lượng vi khuẩn cũng giảm nhanh hơn ở nhóm dùng kháng sinh Một điều quan trọng hơn nữa là tỷ lệ chửa sau khi chữa khỏi bệnh ở nhóm dùng thảo dược cũng cao hơn ở nhóm dùng kháng sinh

2.4 HIỆN TƢỢNG KHÁNG THUỐC CỦA VI KHUẨN VÀ TỒN DƢ KHÁNG SINH TRONG SẢN PHẨM CHĂN NUÔI

2.4.1 Hiện tƣợng kháng thuốc kháng sinh của vi khuẩn

Tổ chức Y tế thế giới (WHO) ngày 30/4/2014 ra cảnh báo kháng thuốc kháng sinh là mối đe dọa nghiêm trọng đến sức khỏe cộng đồng Sau khi thu thập

dữ liệu tại 114 quốc gia trên toàn cầu về tình trạng kháng thuốc, trong đó đặc biệt

là kháng sinh, báo cáo của WHO nêu rõ mối đe dọa nghiêm trọng này không còn

là dự báo cho tương lai mà đang diễn ra ở mọi khu vực trên thế giới, có nguy cơ ảnh hưởng tới mọi người dân ở mọi lứa tuổi và các quốc gia khác nhau Theo ông Keiji Fukuda (Trợ lý Tổng Giám đốc WHO), nếu không phối hợp hành động tức thời, thế giới sẽ đối mặt với một kỷ nguyên “hậu thuốc kháng sinh”, khi đó các bệnh truyền nhiễm thông thường hoặc những vết thương nhỏ trước đó có thể chữa trị được thì nay có thể gây chết người do kháng thuốc kháng sinh (WHO, 2014)

Nghiên cứu của Phạm Khắc Hiếu và Bùi Thị Tho (1999) đã tìm thấy chủng vi khuẩn kháng lại 11 loại kháng sinh, đồng thời cũng chứng minh khả năng di truyền tính kháng thuốc giữa các vi khuẩn thông qua plasmid

Theo nghiên cứu của Cù Hữu Phú và cs (1999), 80-90% vi khuẩn

Salmonella phân lập được kháng mạnh với Penicillin và Ampicillin

Nguyễn Ngọc Nhiên và cs (1999) khi nghiên cứu các chủng phân lập từ sữa bò bị viêm vú cho thấy hầu hết các chủng phân lập được đều kháng lại nhiều loại kháng sinh như Chloramphenicol, Sulfadimethoxine, Tetracycline

Các chủng vi khuẩn Salmonella có độ mẫn cảm cao với Furazolidon

(100%), Chloramphenicol (87,5%), ít mẫn cảm với Penicillin (25%) và hoàn toàn kháng lại Tetracyclin (Đỗ Trung Cứ và cs., 2003)

Trang 35

Nghiên cứu tính kháng kháng sinh của 106 chủng vi khuẩn phân lập được

từ lợn con theo mẹ bị tiêu chảy ở một số tỉnh phía Bắc, Việt Nam Đỗ Ngọc Thúy (2002) đã thu được kết quả các chủng có xu hướng kháng mạnh với các loại kháng sinh thông thường dùng để điều trị đặc biệt với Streptomycin lên tới 88,68% Hiện tượng kháng thuốc của vi khuẩn với trên 3 loại kháng sinh là khá phổ biến (chiếm 90,57%)

Theo số liệu giám sát trong năm 2012 tại bệnh viện Nhiệt đới Trung ương

(2012), tỷ lệ kháng ampicilin của E.coli lên tới 81,4%; kháng

amoxicillin/clavunanic và ampicillin/sulbactam khoảng 40% Các kháng sinh nhóm cephalosporin thế hệ ba cũng bị kháng đến gần một nửa, và nhóm fluoro-quinolon cũng bị kháng khoảng 45%

2.4.2 Vấn đề tồn dƣ kháng sinh trong các sản phẩm chăn nuôi

Ngày nay, chất kháng sinh được sử dụng rộng rãi trong ngành nông nghiệp như chăn nuôi, trồng trọt, nuôi trồng thủy hải sản, có tác dụng rất lớn là giúp cho vật nuôi chống lại bệnh tật từ vi sinh vật Tuy vậy, chất kháng sinh như một con dao hai lưỡi Một mặt giúp sinh vật chống lại bệnh tật, mặt khác, có thể làm cho sinh vật xuất hiện phản ứng phụ và đặc biệt là lượng chất kháng sinh tồn

dư sinh vật có thể ảnh hưởng đến chất lượng thực phẩm, nhất là sức khỏe người tiêu dùng

Theo báo cáo của Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn thành phố Hồ Chí Minh (2014), trong đợt kiểm tra an toàn thực phẩm những tháng đầu năm

2014, cơ quan chức năng đã phát hiện nhiều mẫu thịt có tồn dư kháng sinh vượt ngưỡng Cụ thể, khi lấy ngẫu nhiên 60 mẫu thịt (30 mẫu thịt lợn, 30 mẫu thịt gia cầm) từ thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh đem về giết mổ tại 2 cơ sở giết mổ lớn trên địa bàn thành phố, qua kiểm tra cơ quan chức năng phát hiện 13/30 mẫu thịt lợn (tỷ lệ 43,33%) và 01/30 mẫu thịt gia cầm (3,33%) có hàm lượng kháng sinh sulfadimidin vượt giới hạn cho phép

Kháng sinh Tetracycline trong 290 mẫu thịt lợn trên thị trường thuộc các quận huyện nội, ngoại thành Hà Nội được xác định bằng phương pháp kiểm tra khả năng ức chế vi khuẩn trên đĩa thạch (agar inhibition test) với chủng Bacillus cereus (ACTT 11778) Các mẫu nghi ngờ được xác định bằng phương pháp sắc ký lỏng hiệu năng cao (high-performance liquid chromatography - HPLC) 5,5% số

Trang 36

mẫu nói trên cho kết quả dương tính (có tồn dư kháng sinh tetracycline) (Duong Van Nhiem, 2005)

2.5 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU BỆNH VIÊM TỬ CUNG BÕ TRÊN THẾ GIỚI VÀ TẠI VIỆT NAM

2.5.1 Tình tình nghiên cứu điều trị viêm cung bò trên thế giới

Vấn đề về bệnh sinh sản của gia súc, bệnh viêm tử cung cũng là chủ đề được các nhà thú y đặc biệt quan tâm Tác giả Chaffaux and Bhat (1987) đã tiến hành sinh thiết niêm mạc tử cung bò bị bệnh sản khoa để tìm hiểu quá trình sinh bệnh cho biết: hậu quả của thụ tinh nhân tạo thô bạo, sai nguyên tắc đã làm tăng tỷ lệ bệnh viêm tử

cung trong chăn nuôi bò sữa Bhattacharyya et al (2011) nghiên cứu điều trị lâm sàng bệnh viêm tử cung bò Barman et al (2013) nghiên cứu tính kháng kháng sinh của vi khuẩn được phân lập từ dịch viêm tử cung bò Bhat et al (2014) nghiên cứu

sử dụng phương pháp WST chẩn đoán phát hiện bệnh viêm tử cung bò

Đã có nhiều công trình nghiên cứu ứng dụng thảo dược trong điều trị bệnh

viêm tử cung bò, sử dụng cây sầu đông (Aradirachta indica), bông Cận Đông (Gossypium berbaceum), bạch hoa xà (Plumbago zeylanica) và keo (Aacacia catechu) (Ahmed et al., 2014); dịch chiết xuất từ tỏi (Sarkar et al., 2006); cây sim (Montanoa tomentosa) (Marquez et al., 2007); cây ích mẫu (Herba Leonuri), đương qui (Angelicae Sinensis Radix), hồng hoa (Flos Carthami), cỏ gấu (Rhizoma Cyperi) và mộc dược (Myrrha) (Cui et al., 2014)

2.5.2 Tình hình nghiên cứu viêm tử cung bò tại Việt Nam

Hơn 10 năm trở lại đây, phong trào chăn nuôi bò sữa tại Việt Nam đang phát triển mạnh về số lượng và chất lượng ở trang trại cũng như trong nông hộ Tình hình dịch bệnh đang diễn ra phức tạp, đặc biệt là các bệnh về lĩnh vực sinh sản, bệnh viêm tử cung là một trong những bệnh đang được các nhà khoa học và người chăn nuôi quan tâm

Một số nghiên cứu về tỷ lệ mắc bệnh viêm tử cung trên đàn bò sữa thông báo: tại Việt Nam, tỷ lệ mắc bệnh viêm tử cung trên đàn bò sữa sau đẻ là khá cao tùy thuộc vào từng địa phương: 21,32% tại Hà Nội và Bắc Ninh (Nguyễn Văn Thanh và Lê Trần Tiến, 2007)

Ở một nghiên cứu khác, khi khảo sát tình hình mắc bệnh đường sinh dục của đàn bò sữa tại một số cơ sở giết mổ thuộc thành phố Hà Nội và tỉnh Bắc

Trang 37

Ninh Nguyễn Văn Thanh (2007) cho biết, trong các bệnh sinh sản của bò sữa, bệnh viêm tử cung chiếm tỷ lệ cao nhất (47,23%)

Tác giả Nguyễn Văn Thanh và cs (2016) nghiên cứu thành phần, số lượng

và tính mẫn cảm với kháng sinh của một số vi khuẩn hiếu khí được phân lập từ dịch tử cung bò sữa thông báo: số lượng vi khuẩn hiếu khí trong dịch tử cung bị viêm tăng lên gấp nhiều lần số lượng vi khuẩn có trong dịch tử cung của bò không

bị viêm và ở dịch viêm tử cung vi khuẩn Staphylococcus và Streptococcus được

phát hiện ở 100% mẫu bệnh phẩm đồng thời cho biết tính mẫn cảm với kháng sinh của vi khuẩn hiếu khí được phân lập từ dịch tử cung bò sữa là không cao

Tác giả Nguyễn Văn Thanh và Nguyễn Thanh Hải (2016) nghiên cứu ảnh

hưởng của dung môi đến hiệu suất chiết và tác dụng kháng khuẩn invitro của cao khô dịch chiết cây đơn đỏ (Excoecaria cochinchinensis Lour) với vi khuẩn Staphylococcus spp và Streptococcus spp, phân lập từ dịch viêm tử cung bò, Nguyễn Thị Thanh Hà và cs (2017) nghiên cứu khả năng ức chế in vitro của dịch chiết một số thảo dược đối với vi khuẩn Streptococcus spp, Staphylococcus spp phân lập từ dịch viêm tử cung bò Nguyễn Văn Thanh (2018) nghiên cứu tính kháng khuẩn của cây Bồ công anh đối với vi khuẩn Streptococcus spp., Staphylococcus spp phân lập từ dịch viêm tử cung bò

2.6 SỬ DỤNG CHẾ PHẨM THẢO DƢỢC ĐỂ ĐIỀU TRỊ BỆNH VIÊM

TỬ CUNG BÕ

2.6.1 Tình hình sử dụng thảo dƣợc để điều trị bệnh cho gia súc, gia cầm

Việc sử dụng thuốc có nguồn gốc hóa chất để điều trị bệnh cho gia súc, gia cầm tuy mang lại nhiều kết quả khả quan, nhưng lại làm dấy lên lo ngại về việc tồn dư kháng sinh, an toàn thực phẩm và kháng kháng sinh của vi khuẩn gây bệnh Hiện tượng vi khuẩn kháng lại kháng sinh hiện đang trở thành vấn đề lớn trên toàn thế giới

Nhằm tháo gỡ những khó khăn đó, nhiều nhà khoa học đã tiến hành nghiên cứu, sử dụng chiết suất của các thảo dược nhằm điều trị bệnh cho gia súc, gia cầm nói chung và bệnh viêm tử cung bò nói riêng Rất nhiều thảo dược đã được các nhà nghiên cứu trên toàn thế giới chứng minh là có tác dụng với vi khuẩn gây

bệnh Các bộ phận của cây Huyền diệp (Polyalthia longifolia) được sử dụng để

điều trị sốt, bệnh lậu, hạ huyết áp, đái đường và rong kinh đã được biết đến để sử

Trang 38

dụng như một loại thảo dược khá thông dụng ở Ấn Độ (Jain et al., 2009). Tác giả

Du et al (2010) cho biết Bồ công anh (dandelion) có tác dụng là tăng cường khả

năng miễn dịch của các tế bào biểu mô tử cung của bò, do đó có thể dùng để điều trị bệnh viêm tử cung Theo dân gian, vỏ Polyalthia longifolia có tác dụng tốt để

chữa cao huyết áp, kích thích hô hấp và đặc trị làm hạ cơn sốt, bệnh ngoài da,

bệnh tiểu đường và cao huyết áp (Nair et al., 2004) Tại Ấn Độ, hạt của cây này

đã được sử dụng để giải nhiệt (Raghunathan and Mitra, 1982) Vỏ thân cây được nghiền thành bột và trộn với bơ để điều trị bệnh lậu vùng Genitalial Ấn Độ

(Singh et al., 1998; Katewa and Jain, 2006)

Ở Việt Nam, đã có một số công trình nghiên cứu sử dụng dịch chiết thảo dược để chữa bệnh trên gia súc Tác giả Vĩnh Định và cs (2002) cho biết thành phần của flavanon của lá cây Đơn đỏ có chứa liquiritigenin Bùi Thị Tho và

Nguyễn Thị Thanh Hà (2009) đã nghiên cứu tác dụng của Bồ công anh (Lactuca indica L.) chống tồn dư kháng sinh enrofloxacin trong điều trị tiêu chảy ở gà Ở

một nghiên cứu khác, lá Xuân hoa cho thấy có tác dụng điều trị bệnh tiêu chảy ở lợn con (Bùi Thị Tho và Nguyễn Thành Trung, 2010) Bùi Thị Tho và Nguyễn Thị Thanh Hà (2009) đã nghiên cứu tác dụng lợi tiểu, tiêu độc của Bồ công anh, ứng dụng chế phẩm của Bồ công anh để phòng hội chứng tiêu chảy trong chăn nuôi gà công nghiệp hướng thịt và chống tồn lưu kháng sinh (enrofloxacin) trong thịt gà Nguyễn Văn Thanh và Nguyễn Thanh Hải (2014) cho biết, dịch chiết cây Mò

hoa trắng tiêu diệt vi khuẩn Salmonella in vitro và cho kết quả điều trị cao đối

với lợn con bị bệnh phân trắng

2.6.2 Các chế phẩm thảo dƣợc đƣợc sử dụng trong nghiên cứu

Từ các nguồn tư liệu trên, chúng tôi đã chọn ra 8 loại dược liệu để khảo sát

tác dụng kháng khuẩn gồm: cây Mò hoa trắng (Clerodendrum viscosum Vent.),

Bồ công anh (Taraxacum dens – leonis Desf.), Huyền diệp (Polyalthia longifolia var pendula Hort.), Đơn đỏ (E cochinchinensis Lour var cochichinensis và

E cochinchinensis Lour var viridis), Tô mộc (Caesalpinia sappan L.), Mỏ quạ (Cudrania tricuspidata (Carr.) Bur), Sài đất (Wedelia calendalacea (L.) Less), Xuân hoa (Pseuderanthemum palatiferum (Nees) Radlk)

Với 8 loại dược liệu khảo sát trên chọn lọc ra 05 loại có tác dụng kháng khuẩn tốt nhất để nghiên cứu sâu về tác dụng diệt khuẩn gây bệnh viêm tử cung của các loại thảo dược này Vì nếu sử dụng thảo dược dạng tươi có chứa hàm

Trang 39

lượng nước lớn, hàm lượng dược liệu nhỏ, dạng sử dụng không tiện lợi nên chúng tôi tiến hành bào chế thảo dược dạng huyền phù và dạng viên để khắc phục những hạn chế nêu trên khi sử dụng dạng tươi để ứng dụng phòng, trị bệnh viêm tử cung

2.6.2.1 Cây Mò hoa trắng

Ở Việt Nam có 4 loại được gọi là Mò hoa trắng Đó là Clerodendrum Viscosum, Clerodendrum fragrans, Clerodendvim cannescens và Clerodendrum philippinum Chúng tôi lựa chọn cây Clerodendrum philippinum – Var để nghiên cứu Cây này được chính thức ghi trong Dược điển Việt Nam (2002) Mò hoa trắng còn có các tên gọi khác là Bạch đồng nữ, Bấn trắng, Leo trắng

Từ cây Clerodendrum philippinum – Var được chế biến thành dược liệu

Mò hoa trắng với tên khoa học là Herba Clerodendrum philippinum – Var

Theo Dược điển Việt Nam (2002), dược liệu Mò hoa trắng phải đạt các tiêu chuẩn sau:

Nguồn gốc phân loại:

Cây Mò hoa trắng có tên khoa học: Clerodendrum viscosum Vent Clerodendrum canescens Wall Thuộc họ: Cỏ Roi ngựa (Verbenaceae)

Mô tả thực vật:

Cây bụi nhỏ, cao khoảng 1m; thường rụng lá Nhánh vuông, có lông vàng

Lá mọc đối, hình tim, có lông cứng và tuyến nhỏ, mép có răng nhọn hay nguyên Chuỳ hoa to, hình tháp có lông màu vàng hung Hoa trắng vàng vàng, đài có tuyến hình khiên; tràng có lông nhiều, nhị thò ra Quả hạch đen, mang đài màu

đỏ tồn tại ở trên Cây ra hoa tháng 2-3 (Đỗ Tất Lợi, 1999)

Hình 2.5 Cây Mò hoa trắng

Nguồn: Nguyễn Đức Quang (2009)

Trang 40

Nước sắc 3/1 của Cleodendrum philippinum đã được thử kháng sinh đồ trên các chủng vi khuẩn phân lập từ các vết thương nhiễm khuẩn, thấy có tác dụng ức chế sự phát triển các vi khuẩn Pseudononas aeruginosa, Staphylococus

aureus, Escherichia coli và các Proteus

Theo tài liệu nước ngoài, lá, hoa và rễ Xích đồng nam giống như cây Bạch đồng nữ, Mò hoa trắng có tác dụng chống co thắt hồi tràng cô lập súc vật thí nghiệm gây nên bởi Acetylcholin hoặc Histamin

Chất đắng Clerodin chiết xuất từ lá cũng có tác dụng trị giun (Tài nguyên cây thuốc Việt Nam)

Dịch ép lá tươi được bơm vào hậu môn có tác dụng trị giun đũa (Tài nguyên cây thuốc Việt Nam)

2.6.2.2 Cây Bồ công anh

Nguồn gốc phân loại:

Tên khoa học: Taraxacum offcinal Wig (Taraxacum dens-leonis Desf) Họ khoa học: Bồ công anh thuộc họ Cúc (Compositae)

Mô tả thực vật:

Cây Bồ công anh thuộc dạng cây cỏ sống dai, rễ đơn, dài, khỏe, thuộc loại

rễ hình trụ Lá mọc từ rễ nhẵn, thuôn dài hình trái xoan ngược, có khía răng uốn lượn hoặc xẻ lông chim, mép giống như bị xé rách Đầu màu đơn độc ở ngọn, cuống dài rỗng, từ rễ mọc lên Tổng bao hình chuông gồm nhiều dãy lá bắc, những cái ở phía ngoài xòe ra và cong xuống, còn các cái ở trong thì mọc đứng Hoa hình nhỏ ở phía ngoài có màu nâu ở mặt lưng, quả bé 10 cạnh, có mỏ dài Các tơ của màu lông sắp theo 1 dẫy, ra hoa từ tháng 3-10 Phân bố: Bồ công anh mọc hoang ở những nơi vùng núi cao như Đà Lạt, Tam Đảo, Sa Pa, mọc hoang nhiều ở Trung Quốc (Đỗ Tất Lợi, 1999)

Ngày đăng: 13/05/2019, 11:33

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w