Tìm hiểu và hoàn thiện hệ thống quản lý công nợ tại Cty TNHH TM-DV Kỹ Thuật Công Nghệ TTNN
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU
Trong phần này, tôi sẽ lược sơ qua tổng quan về bài báo cáo của tôi
Chúng bao gồm nền tảng của đề tài, thực tiễn cũng như những hạn chế mà đề tài
của tôi gặp phải Cuối cùng trong phần mở đầu sẽ là dàn bài tổng thể của báo
cáo tôi đưa ra
Lí do chọn đề tài:
Hiện nay, khi mà Việt Nam đang dần chuyển hướng sang nền kinh tế thị
trường bao gồm ba loại hình hoạt động chính là sản xuất, thương mại và dịch vụ
Trong đó, mỗi loại hình doanh nghiệp đều có những đặc trưng riêng Những
doanh nghiệp sản xuất thì cung cấp các sản phẩm do chính họ sản xuất ra như
Cty TNHH Tân Hiệp Phát, Cty Coca Cola Việt Nam…, các doanh nghiệp
thương mại cung cấp các sản phẩm được mua từ các doanh nghiệp khác như Cty
TNHH Kỹ Thuật Công Nghệ TTNN, Cty Cổ phần Thế Giới Di Động… còn các
doanh nghiệp dịch vụ cung cấp các sản phẩm dịch vụ đáp ứng tùy theo nhu cầu
của khách hàng như Cty Chuyển phát nhanh AT Express hay như các công ty
chứng khoán nóng bỏng vào những năm 2007
Nền kinh tế Việt Nam cũng đang nằm trong hệ thống của toàn cầu nên
cũng bị ảnh hưởng bởi xu hướng khủng hoảng toàn cầu hiện nay Vì vậy, các
doanh nghiệp Việt Nam cũng đang gặp phải một số khó khăn, nhất là về tài
chính hiện nay Một xu hướng tất yếu đối với các doanh nghiệp Việt Nam là bắt
đầu bán hàng hóa và dịch vụ cho nợ trả sau (trong kinh doanh gọi là “gối đầu”
Và hiện giờ với áp lực cạnh tranh nhiều như vậy, sự chọn lựa giữa nhà cung cấp
mua hàng nợ và phải trả ngay bằng tiền mặt cũng là một tiêu chí với các doanh
nghiệp hiện nay Thực tế hiện nay là phần các khoản phải thu là một trong ba
loại tài sản lớn trong báo cáo cân đối kế toán của doanh nghiệp Trong khảo sát
của Fortune 500 (500 công ty lớn nhất thế giới) vào năm 2004 cho thấy các
khoản phải thu là một trong ba tài sản lớn nhất chiếm đến 75% trong số 100
công ty được phỏng vấn Việc cân bằng các khoản phải thu và phải chi trong
doanh nghiệp là vấn đề cần phải được quan tâm trên hết Lưu thông tiền tệ trong
Trang 2tiền đó bị trì trệ hay ngừng hẳn dễ khiến cho các doanh nghiệp rơi vào tình trạng
phá sản, nhất là ở các doanh nghiệp vừa vả nhỏ cũng là điều dễ hiểu Tại Việt
Nam các doanh nghiệp vừa và nhỏ áp dụng các hệ thống công nợ khác nhau Do
tính chất đa dạng về nội dung đối tượng phải thu cũng như những rủi ro có thể
xảy ra nên cần phải quản lý và kiểm soát chặt chẽ tình hình nợ phải thu từ lúc
phát sinh các giao dịch có thể phát sinh các khoản phải thu, phải có những biện
pháp thu hồi nợ nhanh chóng và phải lập dự phòng cho những khoản có thể
không thu hồi được Và càng ngạc nhiên hơn là ban lãnh đạo của các công ty
thuộc dạng SME (small medium enterprise – doanh nghiệp vừa và nhỏ) ít khi
nào nhận được sự quan tâm đúng mức của các trưởng phòng ban bên được về
quản lý công nợ, chỉ khi nó đã xãy ra rồi
Như mọi người đều biết, lĩnh vực thương mại là một loại hình kém phức
tạp hơn sản xuất nhưng lại phức tạp hơn dịch vụ thuần túy Trong thời gian thực
tập tại Cty TNHH Kỹ Thuật Công Nghệ TTNN, tôi đã được tiếp xúc với công
tác kế toán tại đây, đặc biệt là kế toán về quản lý nợ phải thu khách hàng Hệ
thống công nợ bao gồm tất cả các quá trình, nghiệp vụ có liên quan đến nợ phải
thu khách hàng Sau khi tìm hiểu sơ bộ, tôi nhận thấy giải pháp hiện thời chỉ có
thể là tổ chức lại các dữ liệu trong hệ thống theo hệ thống nhất, chính xác và có
thể chia sẻ và đưa ra giải pháp dựa trên những lý thuyết quản lý công nợ vào
thực tại Từ những nhận xét trên, tôi đã đi vào nghiên cứu đề tài: “Tìm hiểu và
hoàn thiện hệ thống quản lý công nợ”
Nền tảng của đề tài trên:
Một điều mà chắc không ai có thể chối cãi là tạo doanh thu chính là điều
quan trọng nhất với bất kỳ công ty nào sau đó là quản lý chi phí ra sao mà thôi
Nhiều doanh nghiệp cũng đã bỏ hàng tỷ đồng chi phí để nâng cao doanh thu của
công ty lên như chi phí tiếp thị, chi phi nghiên cứu Nhưng doanh thu thì phải
chuyển qua tiền mặt vì đó mới chính là dòng máu của doanh nghiệp Chính vì lẽ
đó, mỗi đồng doanh thu khi chuyển qua khoản phải thu cần được quản lý và thu
hồi cẩn thận
Mục tiêu của đề tài:
Trang 3Vì trực tiếp làm bộ phận công nợ của công ty TTNN, nên trong quá trình
làm việc, tôi có những ý kiến đề xuất dựa trên những lý thuyết về quản lý công
nợ được trình bày trong đề tài này Với một hệ thống công nợ phù hợp, rủi ro
phá sản vì công nợ sẽ được giảm rất nhiều điều này khiến các doanh nghiệp yên
tâm làm việc và nâng cao môi trường kinh doanh giữa các doanh nghiệp với
nhau Mặc khác, khi giảm được rủi ro phá sản của doanh nghiệp sẽ giúp môi
trường đầu tư (thị trường chứng khoán và thị trường vốn) tốt hơn giúp có thể thu
hút các nguồn lực về tài chính cũng như nhân lực chảy về Việt Nam
Đối với doanh nghiệp nói riêng, một khi quản lý tốt công nợ sẽ giúp cho
doanh nghiệp tăng tính thanh khoản cho doanh nghiệp mình (tăng tính hiệu quả
cho dòng tiền mặt ra vào), đồng thời doanh nghiệp có thể tăng mua bán trên
công nợ để có thể quay vòng vốn hiệu quả hơn Giảm được những khoản nợ xấu
không những giúp doanh nghiệp bảo đảm tính thanh khoản cho doanh nghiệp
của mình mà còn tránh đi những trường hợp phá sản mặc dù công ty vẫn có lợi
nhuận trên báo cáo kinh doanh Một sự thật hiển nhiên là nếu giảm được công
nợ thì công ty sẽ cắt giảm được rất nhiều những khoản chi phí quản lý khác như
chi phí thu hồi công nợ, dự phòng công nợ và chi phí cơ hội thay vì để công nợ
thì để tiền cho những việc đầu tư khác
Những hạn chế của đề tài:
Bởi thời gian: Do tính chất thực tập của sinh viên, nên thời gian tiếp xúc
nhiều với công việc một cách thành thạo là chưa cao cho nên đề tài chỉ được đưa
ra sau những nghiên cứu trong 2 tháng thực tập tại đây Đồng thời, đây là một
doanh nghiệp tư nhân nên việc công bố rộng rãi những số liệu quá khứ là một
điều trở ngại Chính vì điều đó, tôi chỉ có thể có được báo cáo 2 năm để phân
tích và đưa ra kiến nghị cho hiện tại và những năm tới
Bởi chính bản thân đề tài: Do TTNN là công ty chuyên về thương mại nên
tôi chỉ tiếp xúc được nhiều với loại hình kinh doanh này cộng thêm những kinh
nghiệm về lĩnh vực sản xuất của gia đình nên không thể bao quát hết được tất cả
các loại hình doanh nghiệp hiện tại Và đề tài chọn lại chỉ tập trung vào doanh
Trang 4Phương pháp nghiên cứu:
Các số liệu được thu thập tại Phòng kế toán HC của công ty:
Bảng cân đối kế toán, Bảng kết quả hoạt động kinh doanh
Tài liệu về nhiệm vụ chung kế toán
Các chính sách quản lý công nợ
Phương pháp phân tích:
Đề tài được nghiên cứu theo phương pháp thống kê, tổng hợp, đánh giá,
phân tích số liệu các năm và các tháng trong năm Năm được chọn phân tích là
năm 2008
Đồng thời sử dụng các kiến thức học được tại trường và thu thập qua việc
đọc sách, báo, diễn đàn doanh nghiệp Ngoài ra còn tham khảo một số ý kiến
của các anh chị trong nghề
Bố cục đề tài
Đề tài bao gồm 4 chương với những khái quát như sau:
Chương 1: Cơ sở lý luận về hệ thống quản lý công nợ Trong chương này,
tôi sẽ trình bày những lý thuyết cũng như cách thức thực hiện nghiên cứu đề tài
Ngoài ra, những phần giải thích những từ ngữ chính trong đề tài cũng sẽ được
trình bày cẩn thận để giúp quý thầy cô cũng như người đọc đề tài này hiểu rõ
hơn
Chương 2: Giới thiệu về công ty TNHH TM-DV Kỹ Thuật Công Nghệ
TTNN Trong chương này chủ yếu giới thiệu về công ty tôi hiện đang thực tập
Chương 3: Tình hình tổ chức hệ thống quản lý công nợ tại Cty TNHH
TM-DV Kỹ Thuật Công Nghệ TTNN Thực tại của công ty hiện giờ sẽ được
phân tích cũng như đề xuất tạm thời sẽ được miêu tả trong phần này
Chương 4: Nhận xét và đưa ra biện pháp Những đề xuất được đưa ra
cùng những ý kiến của chính những thành viên đã làm trong công ty cũng như
lãnh đạo công ty đưa ra để có thể cải tiến chính hệ thống của công ty Và phần
kết thúc sẽ là kết luận về trường hợp của TTNN và đề xuất ý kiến chung cho
doanh nghiệp SME đang hoạt động thương mại
Trang 5CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ CÔNG NỢ
Mục tiêu của chương 1 sẽ giới thiệu về tổng quan bài báo cáo của tôi cũng
như phương pháp tôi thực hiện bài báo cáo này Đầu tiên tôi sẽ trình bày về
những khái niệm cũng như các lý giải từng khoản mục mà tôi áp dụng do kiến
thức học từ trường đại học cũng như học các khóa ngắn hạn cộng thêm kinh
nghiệm từ quá trình thực tập Tất nhiên trong quá trình thực hiện bài báo cáo, tôi
có đọc qua các bài báo cũng như hỏi thêm về các kế toán và kiểm toán viên để
thực hiện bài báo cáo này
1.1 Kế toán nợ phải thu khách hàng
1.1.1 Khái niệm
Thuật ngữ “khoản phải thu” mô tả một phần vốn lưu động kinh doanh của
doanh nghiệp bị các cá nhân và đơn vị doanh nghiệp khác chiếm dụng.Các
khoản phải thu này được kỳ vọng sẽ được thu lại bằng tiền mặt Các khoản phải
thu này thường được phân chia ra nhiều khoản được mô tả chi tiết trong bảng
cân đối kế toán Khoản phải thu được chia thành hai khoản là dài hạn và ngắn
hạn Trong khoản phải thu ngắn hạn sẽ bao gồm phải thu khác hàng (TK131),
trả trước cho người bán (TK132), phải thu nội bộ ngắn hạn (TK133), Các khoản
phải thu ngắn hạn khác (TK135) và Dự phòng phải thu ngắn hạn khó đòi
(TK139) Trong phần dài hạn thì cũng chi tiết như phần ngắn hạn nhưng chủ yếu
là các phần phải thu dài hạn khách hàng (TK211), Vốn kinh doanh ở các đơn vị
trực thuộc (TK212), Phải thu nội bộ dài hạn (TK213), Phải thu dài hạn khác
(TK218) và phần dự phòng phải thu dài hạn khó đòi (TK219) Nhưng trong
khuôn khổ của bài báo cáo cũng như quy mô của công ty tôi đang thực tập, tôi
sẽ gói gọn các phần trên thành phần chủ yếu là các khoản phải thu từ kinh doanh
chính là TK131 mà thôi
Định nghĩa sơ qua về 2 phần trong các khoản phải thu từ kinh doanh
Khoản phải thu là các khoản nợ phải thu của doanh nghiệp đối với khách
hàng về giá trị hàng hóa sản phẩm đã bán hay các dịch vụ đã cung cấp chưa thu
tiền Hầu hết các khoản này sẽ được thu hồi trong từ 10 – 30 ngày tùy thuộc theo
Trang 6đàm phán của ban điều hành và khách hàng Đây là phần quan trọng nhất trong
công ty bên cạnh chiến lược kinh doanh của công ty
Thông phiếu phải thu (note receivable) là những chứng tứ tín dụng được
đưa ra như là một ghi nhận về công nợ của công ty Thông phiếu này thường
xuất phát từ các khoản phải thu quá hạn chưa được trả sẽ chuyển thành thông
phiếu này để gia hạn thêm thời gian trả nợ lên từ 60 – 90 ngày hoặc dài hơn và
buộc bên nợ có thể phải trả lãi vay phát sinh (nếu quy định cụ thể trong hợp
đồng)
Cả hai gom lại sẽ trở thành khoản phải thu từ hoạt động kinh doanh Nợ
phải thu được hình thành khi công ty cho khách hàng mua nợ sản phẩm, dịch vụ
Đây là những sản phẩm dịch vụ mà bạn đã cung cấp cho khách hàng và đang
chờ thanh toán trong tương lai 1
Các khoản phải thu là tài sản thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp nhưng
do các cá nhân hay doanh nghiệp khác chiếm dụng trong quá trình phát sinh
giao dịch kinh tế, và phải trả lại cho doanh nghiệp, doanh nghiệp phải có trách
nhiệm với các khoản phải thu này Hay nói cách khác, khoản phải thu là tài sản
thuộc quyền của doanh nghiệp nhưng còn đang nằm trong lĩnh vực thanh toán
Ví dụ như khoản phải thu khách hàng, khoản phải thu nội bộ, khoản thuế GTGT
được khấu trừ, tiền trả trước cho người bán, khoản bồi thường, khoản tài sản
thiếu chờ xử lý… 2
1.1.2 Nguyên nhân phát sinh tín dụng hay mua bán trả sau
Một thực tế là hầu hết tất cả công ty đều chọn việc mua bán và thanh toán
bằng tiền mặt khi giao hàng bởi vì như vậy sẽ giúp công ty một mặt có được tiền
mặt để duy trì hoạt động kinh doanh cũng như đơn giản hóa các thủ tục kế toán
chỉ cần ghi thẳng vào sổ khi giao hàng và tiền về Nhưng trong môi trường kinh
doanh như chiến trường hiện giờ đã khiến việc mua trả sau này trở thành một
công cụ hấp dẫn khuyến dụ khách hàng cũng như tạo thuận lợi cho khách hàng
khi dòng tiền về chưa đáp ứng kịp thời
1 Nguyên lý kế toán
2 Kế toán Mỹ - TS Phan Đức Trung
Trang 7Ở đây cần có cách tiếp cận rộng hơn về lợi ích của các bên trong mua bán
Điều này không chỉ mang lại lợi ích cho khách hàng mà chính là bản thân của
công ty Càng hấp dẫn trong chính sách mua trả sau, càng thu hút nhiều khách
hàng, và càng nhiều khách hàng đang có thì công ty sẽ thu được lợi nhuận nhiều
hơn và có thị phần rộng hơn Mua bán trả sau đã xuất hiện từ lâu trong môi
trường kinh doanh khốc liệt hiện thời và đương nhiên nó trở thành một tiêu
chuẩn khi chọn lựa nhà cung cấp sản phẩm cho công ty
1.1.3 Một số vấn đề chung liên quan đến những khoản phải thu
1.1.3.1 Nội dung
Kế toán nợ phải thu là nghiệp vụ thống kê các tồn nợ giữa công ty và các
đối tác có liên quan thực hiện giao dịch với nhau, dựa vào nghiệp vụ này mà
công ty biết được khi nào có thể thu hồi nợ của đối tác và khả năng chi trả nợ
tồn của công ty với các đối tác liên quan 3
1.1.3.2 Nguyên tắc hạch toán
Kế toán phải thu khách hàng phải theo dõi chi tiết theo từng khách hàng,
theo từng nội dung phải thu phát sinh để đáp ứng nhu cầu thong tin về đối tượng
phải thu, nội dung phải thu, tình hình thanh toán và khả năng thu nợ Mỗi giao
dịch kinh doanh đều phải ghi lại chứng từ rỏ ràng được ghi lại bằng biên bản hay
hợp đồng để chứng minh hoạt động của doanh nghiệp khi báo cáo với các tổ
chức nhà nước như Cục thuế và báo cáo tài chính đến các chủ sỡ hữu của công
ty (cổ đông nếu như công ty đã cổ phần hóa) Một quy trình đơn giản dành cho
bán hàng thu tiền bao gồm 2 phát sinh: (phần chi tiết sẽ được đề cập sau)
Phần đầu tiên dành cho ghi nhận bán hàng:
Khoản phải thu sẽ được ghi bên Nợ (Debit)
Bên doanh thu bán hàng và dịch vụ sẽ ghi bên Có (Credit)
Nghiệp vụ thứ hai là phần ghi nhận Chi phí vốn hàng bán
Chi phí vốn hàng bán sẽ ghi bên Nợ
Hàng tồn kho sẽ bị giảm bên Có
Trang 81.1.3.3 Chứng từ kế toán
Hợp đồng, hóa đơn và các chứng từ có liên quan Trong quá trình làm
việc cũng như gặp gỡ các kiểm toán viên của các tổ chức kiểm toán nước ngoài
như KPMG, PWC, Delloitte và E&Y đều cho thấy sự quan trong trong việc lưu
giữ các chứng từ liên quan để bảo đảm tính trung thực của báo cáo cũng như
giao dịch trong công ty Thực tế cho thấy rằng nếu một hóa đơn hay biên lai bị
thất lạc sẽ là vấn đề của các phòng ban và có khi sẽ dẫn đến thiệt hại to lớn cho
công ty Đặc biệt như công ty TTNN đã từng trải qua một trận cháy ở kho và
quá trình làm lại các hóa đơn là một việc làm khó khăn và tốn nhiều thời gian
cũng như tiền bạc để làm lại các chứng từ đó
1.1.3.4 Tài khoản sử dụng
Tuy nhiên trong quá trình hoạt động không phải lúc nào cũng được ghi
nhận đơn giản như thế mà phát sinh ra những giao dịch khác Chính vì điều này
tôi xin trình bày sơ qua về quá trình ghi nhận TK131 Kế toán tổng hợp phải thu
của khách hàng sử dụng TK 131 “Phải thu khách hàng” Tài khoản này được
dùng để phản ánh số tiền phải thu, đã thu, còn phải thu hoặc số tiền khách hàng
ứng trước cho doanh nghiệp
1.1.3.5 Kết cấu TK 131
Bên nợ: Số tiền phải thu của khách hàng
Bên có: Số tiền đã thu của khách hàng, số tiền giảm trừ cho khách hàng
do chiết khấu, giảm giá và hàng bán bị trả lại, số tiền ứng trước cho doanh
nghiệp
Dư nợ: Số tiền còn phải thu của khách hàng hoặc chênh lệch số tiền còn
phải thu lớn hơn số tiền khách hàng ứng trước
Hoặc
Dư có: Số tiền khách hàng hiện đang ứng trước hoặc chênh lệch số tiền
khách hàng ứng trước lớn hơn số tiền còn phải thu
1.1.3.6 Phương pháp hạch toán
Trang 9a Khi bán hàng, cung cấp dịch vụ và các khoản thu liên quan đến hoạt
động tài chính, thu nhập khác nhưng chưa thu tiền của khách hàng, kế toán sẽ
Có TK 515 “Doanh thu hoạt động tài chính”
Có TK 333 “Thuế GTGT đầu ra”
Trường hợp thuế tiêu thụ đặc biệt hoặc DN nộp thuế GTGT theo phương
pháp trực tiếp, kế toán sẽ ghi:
Khoản chiết khấu thương mại:
Nợ TK 5211 “Chiết khấu thương mại”
Nếu doanh nghiệp nộp thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ:
Nợ TK 5212 => Giá chưa có thuế
Trang 10Có TK 131
Nếu doanh nghiệp nộp thuế GTGT theo phương pháp trực tiếp, thuế tiêu
thụ đặc biệt, thuế xuất khẩu:
Nợ TK 5212
Có TK 131
c Khi nhận tiền do khách hàng thanh toán, kế toán ghi:
Nợ 111, 112
Hoặc Nợ TK 311, 315 => chuyển trả nợ vay
Hoặc Nợ TK 331 => chuyển trả cho người bán
Nếu doanh nghiệp nộp thuế GTTT theo phương pháp trực tiếp hoặc chịu
thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế xuất khẩu, kế toán sẽ ghi:
Nợ TK 131
Có TK 511 (515, 711)
Khoản chênh lệch giữa số tiền khách hàng trả thanh toán và số tiền khách
hàng đã ứng trước được theo dõi và xử lý trên TK 131
e Khi thanh toán bù trừ giữa khoản phải thu và phải trả cho cùng 1 đối
tượng (vừa mua hàng, vừa bán hàng), kế toán sẽ ghi:
Nợ TK 331
Có TK 131
Ví dụ mô tả
Trang 11Để mô tả rõ hơn phần này, tôi đưa ra một ví dụ đã từng gặp ở công ty để
có thể làm rõ về khái niệm hơn:
Trong tháng 4, Tân Cảng mua 20 máy bộ theo hợp đồng mua bán với giá
4tr9 chưa VAT 5% và được hưởng chiết khấu trên giá là 1% dựa trên hợp đồng
mua bán và biên bản nghiệm thu khách hàng Nếu khách hàng thanh toán trước
7 ngày theo thời hạn hợp đồng sẽ được chiết khấu thanh toán 1% trên tổng giá
trị mặt hàng sau thuế
Khi nhận hóa đơn khách hàng sẽ thanh toán bằng chuyển khoản hết 100%
trị giá đơn hàng
Hóa đơn bán hàng GTGT được viết như sau:
Máy bộ đơn giá bán là 4,900,000 đ *20 máy=98,000,000 đ
Chiết khấu thương mại là 1%: 980,000 đ
Cộng tiền hàng: 97,020,000 đ
Thuế VAT 10%*50%: 4,851,000 đ
Tổng giá trị: 101,871,000 đ
Nghiệp vụ được hạch toán như sau:
Khách hàng được chiết khấu thanh toán ghi nhận vào nợ vào tài khoản
5211 chiết khấu thương mại và ghi có vào tài khoản 131:
Nợ 5211: 980,000 đ
Có 131: 980,000 đ
Khách hàng mua hàng chưa thanh toán được ghi nhận nợ vào tài khoản
131 phải thu khách hàng và ghi có vào tài khoản 511 doanh thu bán hàng và ghi
có vào 3331 thuế GTGT đầu ra:
Nợ 131: 101,871,000 đ
Có 511: 97,020,000 đ
Có 3331: 4,851,000 đ
Sau khi kiểm tra dựa trên biên bản nghiệm thu, khách hàng đã trả lại 1 bộ
do hàng bị lỗi nên được ghi nhận nợ vào tài khoản 5212 hàng bán bị trả lại, ghi
nhận nợ vào tài khoản 3331 thuế GTGT và ghi nhận có vào tài khoản 131 phải
Trang 12Nợ 5212: 4,851,000 đ
Nợ 3331: 242,550
Có 131: 5,093,550 đ
Khách hàng thanh toán bằng chuyển khoản vào ngày thứ 5 nên được cty
chiết khấu thanh toán 1% ghi nhận nợ tài khoản 112 tiền gửi ngân hàng đồng
thời ghi nhận nợ tài khoản 635 chi phí tài chính và ghi nhận có 131 phải thu
khách hàng:
Nợ 112: 95,809,675.5 đ
Nợ 635: 967,774.5 đ
Có 131: 96,777,450 đ
1.1.3.7 Sơ đồ kế toán tổng hợp phải thu khách hàng
Hình 1.1 Sơ đồ kế toán tổng hợp phải thu khách hàng
Nguồn: webketoan.com
Trang 131.2 Kế toán dự phòng nợ phải thu khó đòi
Chúng ta thấy rằng khi mà công ty ghi nhận khoản phải thu thì một câu
hỏi sẽ được đặt ra là những phần đó sẽ được ghi nhận vào bảng cân đối kế toán
như thế nào đây? Bởi vì các khoản phải thu thường là những tài sản ngắn hạn có
tính thanh khoản cao có thể chuyển đổi ra tiền mặt một cách dễ dàng trong
khoảng thời gian từ 30 – 60 ngày Chính vì vậy, các khoản phải thu từ khách
hàng thường xuất hiện trong phần tài sản ngắn hạn bảng cân đối kế toán của
công ty Nhưng chính phần quyết định bao nhiêu trong báo cáo mới là phần
quan trọng vì trong phần các khoản phải thu có xuất hiện nợ khó đòi
1.2.1 Khái niệm
Nợ phải thu khó đòi là các khoản nợ phải thu đã quá hạn thanh toán từ 2
năm trở lên , kể từ ngày đến hạn thu nợ được ghi trong hợp đồng kinh tế, các
khế ước vay nợ hoặc các cam kết nợ, doanh nghiệp đã đòi nhiều lần nhưng vẫn
chưa thu được nợ
Trường hợp đặc biệt, tuy thời gian quá hạn chưa tới 2 năm trở lên, kể từ
ngày đến hạn thu nợ được ghi trong hợp đồng kinh tế, các khế ước vay nợ hoặc
các cam kết nợ, doanh nghiệp đã đòi nhiều lần nhưng vẫn chưa thu được nợ
Dự phòng nợ phải thu khó đòi là dự phòng phần giá trị bị tổn thất của các
khoản nợ phải thu, có thể không đòi được nợ do đơn vị nợ hoặc người nợ không
có khả năng thanh toán trong năm kế hoạch 4
Tuy nhiên ta thấy việc định nghĩa không cho ta nhiều điểm thấy được sự
quan trọng như trong báo cáo tài chính của công ty Mỗi khách hàng trước khi
muốn được mua “chịu” đều phải thỏa mãn được những điều kiện tín dụng của
bên cung cấp Mặc dù vậy, một vài khoản phải thu vẫn khó đòi Điều dễ dàng
thấy nhất trong tình hình kinh tế khủng hoảng này là cho dù một doanh nghiệp
đạt chuẩn nợ của công ty cũng có thể phá sản bất cứ lúc nào nếu đưa ra một
chiến lược sai hoàn toàn Hoặc một khách hàng cá nhân mua hàng quen thuộc
của công ty bị mất việc còn phải trả chi phí ăn ở của anh ta nữa cũng là mục tiêu
của nợ khó đòi
Trang 141.2.2 Một số vấn đề liên quan đế nợ phải thu khó đòi
1.2.2.1 Nội dung
Việc gia tăng các khoản nợ khó đòi thường phụ thuộc vào mức độ rủi ro
mà các nhà quản trị sẵn sang chấp nhận Chẳng hạn, nhiều công ty nhỏ sẽ có
mức chấp nhận rủi rủi ro thấp hơn so với các công ty có tầm cỡ như Abbot
chẳng hạn Việc gia tăng các khoản nợ khó đòi tùy thuộc vào ngành nghề kinh
doanh Ví dụ như công ty TTNN chịu khoản nợ khó đòi tương đương khoản
10% doanh thu
Căn cứ để được ghi nhận là một khoản nợ phải thu khó đòi là:
Nợ phải thu quá hạn thanh toán ghi trong hợp đồng kinh tế, các khế ước
vay nợ, bản cam kế hợp đồng hoặc cam kết nợ, doanh nghiệp đã đòi nhiều lần
nhưng vẫn chưa thu được
Nợ phải thu chưa đến thời hạn thanh toán nhưng khách nợ đã lâm vào tình
trạng phá sản hoặc đang làm thủ tục giải thể, mất tích hay bỏ trốn
Vào cuối niên độ, trước khi lập báo cáo tài chính, nếu doanh nghiệp có
những bằng chứng và căn cứ xác định có những khoản khó đòi hoặc không thể
thu hồi được thì được lập dự phòng Khoản lập dự phòng được xác định riêng
cho từng khoản nợ phải thu và sau đó tổng hợp thành số cần phải dự phòng Nếu
cuối niên độ trước đã lập dự phòng rồi thì cuối niên độ này sau khi đã xác định
được số cần lập dự phòng thì yêu cầu lập dự phòng được thực hiện như sau:
Số cần lập > Số dư khoản lập dự phòng của niên độ trước Doanh nghiệp
cần phải dự phòng bổ sung khoản chênh lệch
Số cần lập < Số dư khoản lập dự phòng của niên độ trước Doanh nghiệp
cần phải hoàn nhập khoản chênh lệch
1.2.2.2 Hai cách thông dụng thường được dùng để ghi nhận cho
những tài khoản không thu được
1.2.2.2.1 Phương pháp thanh lý (wirte-off) cho những tài khoản
không thu được
Trang 15Khi mà có một tài khoản nào được công ty quyết định là đã không thu
được, khoản lỗ đó sẽ được tính cho tài khoản chi phí nợ xấu Và sẽ được ghi như
sau:
Chi phí nợ xấu tăng bên Nợ
Khoản phải thu giảm bên Có
Bằng cách này, chi phí nợ xấu sẽ chỉ ghi nhận những thiệt hại thật sự từ
các khoản thu không thu được Và đương nhiên là khoản phải thu sẽ được ghi số
gộp sau khi giảm xuống Nếu nhìn từ khía cạnh phân tích quản lý tài chính công
ty, ta thấy được nó sẽ giảm những tiện ích khi lập nên bảng báo cáo cân đối kế
toán và bảng kết quả hoạt động kinh doanh mặc dù cách làm này thường được
xem là đơn giản nhất Thêm vào đó ta cũng ghi nhận rằng cách ghi này khiến ta
nhận thức sai lệch về thời điểm khoản nợ khó đòi xuất hiện, thường sẽ khác rất
nhiều so với thời điểm lập bảng báo cáo tài chính mà doanh thu cho khoản nợ đó
xuất hiện và dẫn đến là chi phí này với doanh thu chẳng ăn nhập gì với nhau sẽ
khiến cho các cổ đông gặp vấn đề xác định nợ xấu vì họ thường thiếu thông tin
(đặc biệt đối với công ty cổ phần và đã lên sàn) Chính vì lẽ đó, cách ghi thanh
lý trực tiếp này sau này không được công nhận khi lập nên báo cáo tài chính cho
chủ sỡ hữu
1.2.2.2.2 Phương pháp dự phòng các khoản không thu được
Phương pháp trích dự phòng này chủ yếu sẽ ước lượng những khoản
không có khả năng thu được tại thời điểm cuối kỳ báo cáo Đây là phương pháp
hữu ích để sữa khuyết điểm của phương pháp trên Hiện nay được hầu hết các
công ty sử dụng bởi vì nó bảo đảm được tính kết hợp giữa chi phí và doanh thu
trong kỳ cộng thêm là khoản phải thu sẽ được phản ánh bằng con số ước lượng
thu được bằng tiền mặt Và chính vì không bao gồm các khoản không thu được
cho nên con số khoản phải thu sẽ giảm bằng đúng với dự phòng mà chúng ta đã
ước lượng sẽ được thể hiện rõ trong báo cáo kiểm toán
1.2.2.3 Nguyên tắc hạch toán
Trang 16Kế toán nợ khó đòi chịu sự chi phối của nguyên tắc kết hợp tương ứng
giữa chi phí và doanh thu – chi phí nợ xấu cần thiết phải ước tính vào chi phí
trong niên độ phát sinh chi phí bán chịu
Chi phí nợ xấu xxx
Dự phòng nợ khó đòi xxx
1.2.2.4 Tài khoản sử dụng
Kế toán dự phòng khoản thu khó đòi sử dụng tài khoản 1592 “dự phòng
khoản phải thu khó đòi”
Kết cấu của tài khoản này như sau:
Bên nợ: Số được hoàn nhận dự phòng phải thu khó đòi
Bên có: Số dự phòng phải thu khó đòi được lập tính vào chi phí quản lý
doanh nghiệp
Dư có: Khoản dự phòng phải thu khó đòi hiện có
Ngoài ra kế toán còn sử dụng tài khoản ngoài bảng là TK 004 “Nợ khi đã
xử lý”
Kết cấu tài khoản này như sau:
Bên nợ: Nợ khó đòi đã được xử lý phát sinh trong kỳ
Bên có: Nợ khó đòi đã được xử lý được thu lại được và được xóa bỏ trong
kỳ
1.2.2.5 Sơ đồ kế toán dự phòng phải thu khó đòi
Trang 17Hình 1.2 Sơ đồ kế toán dự phòng phải thu khó đòi
Nguồn: webketoan
Phương pháp dự phòng này thường được sữ dụng trong bảng báo cáo tài
chính phục vụ cho cổ đông khi mà chi phí nợ xấu ngày nay đang là vấn đề
nghiêm trọng khi kinh tế suy thoái và đối tác “không thể trả nợ” (chứ không phải
là không muốn trả nợ) Như quá trình ở trên đã trình bày rõ thì cách ghi này có 3
yếu tố chính cần lưu ý:
Các khoản phải thu khó đòi chúng ta cần phải ước lượng Và cách ước
lượng này được xem như là một chi phí do đó sẽ ảnh hưởng đến lợi nhuận cuối
cùng của công ty Cho nên khi lập bảng ước lượng cần phải chú ý vì có thể công
ty lập dự phòng cao sẽ khiến lợi nhuận cuối kỳ thấp dẫn đến công ty sẽ không
hấp dẫn dưới mắt các nhà đầu tư (đối với các công ty cổ phần) Ngược lại, một
dự phòng ước lượng thấp sẽ giúp lợi nhuận cao nhưng lại đưa thêm rủi ro đối
với các khoản phải thu khó đòi khác
Trang 18Khoản dự phòng sẽ nằm bên Nợ trong tài khoản chi phí nợ xấu và bên Có
bên tài khoản Dự phòng cho các khoản nợ xấu (một tài khoản đối ứng lại)
Cuối cùng khi đã xác định thanh lý khoản nào trong nọ xấu đó, thì khoản
nợ xấu khó đòi thật sự sẽ được ghi vào bên Nợ của Dự phòng nợ khó đòi và
phần Có bên Các khoản phải thu
Để làm rõ hơn phần này, ta sẽ đưa ra một ví dụ sau Giả sử như TTNN
bán hàng chịu là 4 tỉ VND trong năm 2008 Với khoản này thì vào báo cáo kế
toán cuối kỳ công ty thấy rằng 300 triệu vẫn chưa thu được Cuối cùng, kế toán
trưởng quyết định trình lên Ban giám đốc là sẽ có khoảng 100 triệu trong tổng số
doanh số bán chịu này sẽ không thu được Như vậy sau khi bán giám đốc đồng
ý, kế toán sẽ ghi nhận khoản ước lượng 100 triệu này như sau:
Chi phí nợ xấu là 100 triệu VND bên Nợ
Dự phòng nợ khó đòi sẽ tăng lên 100 triệu VND bên Có
Chúng ta thấy rằng dự phòng này chỉ đưa ra nhằm nói lên con số ước tính
cho khoản mà khách hàng có thể không trả được trong tương lai Cách này được
dùng để tránh phải trừ trực tiếp vào khoản Khoản phải thu vì chẳng ai biết khách
hàng nào chính xác sẽ không trả nợ và lấp được những khoản trống mà phương
pháp thanh lý để lại mặc dù về cơ bản thì hai phương pháp cùng làm giảm khoản
phải thu
Trong cách dự phòng này thì không công ty nào hi vọng mình sẽ có nợ
xấu nhưng khi đã xuất hiện thì chúng ta phải làm những thao tác kế toán như khi
nào thì ghi là nợ xấu và ghi nhận như thế nào khi khách hàng mà chúng ta liệt kê
vào nợ xấu có thể vượt qua cơn khủng hoảng để thanh toán nợ lại cho chúng ta
(trường hợp trên không phải lúc nào cũng xãy ra)
1.2.3 Thanh lý phần công nợ khi xác định được khách hàng nào
không thể trả nợ
Trong quá trình đòi nợ, công ty thường dùng các phương pháp khác nhau
như lập biên bản nhắc nợ, gọi điện đến lãnh đạo đối tác và cuối cùng là đưa ra
tòa án kinh tế Trong phần sau, tôi sẽ đề cập nhiều hơn về vấn đề này, bây giờ
thì ta tiếp tục sau khi các biện pháp đó không còn hữu dụng nữa Lúc đó công ty
Trang 19buộc phải thanh lý tài khoản đó Cho rõ hơn, tôi đưa ra một ví dụ như sau: Kế
toán trưởng công ty TTNN nhận được quyết định của Ban giám đốc về quyết
định thanh lý khoản nợ 200 triệu của công ty AAA Thì nghiệp vụ kế toán sẽ ghi
nhận như sau
Phần Dự phòng nợ khó đòi sẽ giảm 200 triệu bên Nợ
Khoản phải thu phải giảm 200 triệu bên Có
Ta thấy rằng với biện pháp này thì không xuất hiện chi phí nợ xấu khi
buộc phải thanh lý mà chỉ làm giảm cả hai bên Dự phòng nợ khó đòi và phần
Khoản phải thu mà thôi Chính vì vậy, chỉ có bảng cân đối kế toán bị ảnh hưởng
(mặc dù con số chung vẫn không thay đổi) chứ không ảnh hưởng gì đến bảng
kết quả hoạt động kinh doanh
1.2.3.1 Phục hồi khi nhận lại được những khoản nợ xấu
May mắn thay, trong quá trình hoạt động vẫn có những công ty vượt qua
khó khăn và thanh toán nợ cho chúng ta khi họ đã bị ghi là nợ xấu Khi đó,
nghiệp vụ kế toán sẽ ghi hai khoản liên quan như sau: phục hồi lại tài khoản cho
khách hàng và làm động tác kế toán ngược lại như với phần thanh lý
1.2.3.2 Những điều cơ bản dành cho phương pháp trích lập dự phòng
Sau khi đã nói sơ qua những khoản như trên, thì tôi xin được đề cập đến
những điều cơ bản của việc trích lập dự phòng này Theo lý thuyết của các cách
quản lý hiện đại của phương Tây, có hai cách thường được sữ dụng dựa vào hai
con số xác định: phần trăm của doanh số và phần trăm của khoản phải thu
Trong báo cáo tài chính thì cả hai đều được chấp nhận và điều quan trọng nằm
trong tay Ban giám đốc xem cách nào là phù hợp (giống như phần trích lập dự
phòng cho đầu tư tài chính ngắn hạn là đề tài nóng hổi trong các cuộc họp đại
hội cổ đông của các công ty lên sàn vừa qua mà REE là một ví dụ) Vấn đề nằm
ở chổ là Ban giám đốc sẽ chọn xem ảnh hưởng này dựa trên báo cáo thu nhập
hay bảng cân đối kế toán
Trang 20
1.2.3.2.1 Tính nợ khó đòi theo phần trăm của doanh thu (revenue
hoặc sales)
Theo cách tính nợ khó đòi theo phần trăm của doanh thu, nghiệp vụ kế
toán sẽ tính toán dựa trên phần trăm của doanh thu mua chịu mà công ty (loại
phần mua bán trả tiền ngay ra) Hầu như phần trăm bao nhiêu sẽ dựa vào các dữ
liệu quá khứ cũng như chính sách ước lượng cho tương lai Nó có thể dựa theo
doanh số bán chịu gộp hay ròng cũng được trong năm kinh doanh hiện tại Bởi
vì kinh tế thế giới có những biến động bất ngờ mà chúng ta không thể dự báo
được cho nữa năm (một phần vì các công ty không có đầy đủ thông tin cũng như
chuyên nghiệp như các quỹ đầu tư để dự báo chuyện này) nên có thể công ty vẫn
đưa ra dự báo tương lai để điều chỉnh lại phần trăm mà con số quá khứ cho ra
Ví dụ công ty TTNN có doanh số bán chịu trong năm 2008 là 4 tỷ và con
số mà Ban giám đốc dự tính sẽ không thu được là 5% Thì kết quả tính ra con số
chi phí nợ khó thu sẽ vào khoảng 4tỷ x 5% = 200 triệu VND
Ta thấy rõ rằng cách tính này giúp thỏa điều kiện về tính đối ứng
(matching principle) của nghiệp vụ kế toán sẽ được thỏa mãn Kết quả là chi phí
nợ xấu đã được trực tiếp liên quan theo phần trăm đến doanh thu của công ty
(phần doanh thu bán chịu) Vấn đề ở đây nếu xãy ra điều chỉnh thì tính cân bằng
của khoản dự phòng sẽ ít được để ý đến Khoản điều chỉnh này cần dựa theo
khoản phải thu khó đòi Nếu con số thực tế khác xa so với con số dự tính, phần
trăm ước lượng trong tương lai cần sữa làm sao để phù hợp
1.2.3.2.2 Tính nợ khó đòi theo phần trăm của khoản phải thu
Cũng như cách trên, chủ yếu dựa vào phần trăm Nhưng bằng cách này,
nghiệp vụ kế toán có thể ước lượng dựa vào phần trăm của khoản phải thu để
đưa ra con số thua lỗ từ khoản không đòi được Để giúp cho việc ước lượng
chính xác hơn, các công ty thường sử dụng Biểu theo dõi khoản phải thu (aging
schedule) để xác định thời gian mà họ không trả được Bởi vì dựa vào thời gian
thu nợ, nên việc theo dõi từng công nợ sẽ giúp xác định được chi phí nợ xấu là
bao nhiêu
Trang 21Vẫn dựa chủ yếu vào dữ liệu quá khứ cho từng khoản thời gian xác định,
công ty có thể chia ra những khoản nợ thành những nhóm khác nhau Nợ càng
lâu thì càng ít khả năng thu được Do đó dựa vào biểu theo dõi khoản phải thu
giúp ta có thể ước lượng phần trăm dựa vào thời gian đối tác nợ lâu hay ngắn
Bảng 1.1 Bảng biểu khách hàng phải thu
Từ 1 đến 30 Từ 31 đến 60 Từ 61 đến 90 Trên 90 ngày
Ông A 300 100 50
Ông B 200 200
Bà C 500 200 300
Ông D 1,000 400 100 400
Bà E 400 200 200
Các khoản khác 2,000 1,600 100 200
Tổng cộng 4,400 2,200 600 600 650
2% 5% 10% 20% 369 44 30 60 130
Số ngày quá hạn thu Khoản chưa tới
hạn thu
Tổng cộng nợ (triệu VND) Tên khách hàng
Tổng số nợ dự
tính không thu
Phần trăm dự
đoán
Tài khoản nợ càng dài, thì khả năng thu lại càng thấp => dự phòng cao
= tổng thu chưa đến hạn nhân cho phần trăm dự tính
bằng tổng số dư nợ của từng phần
Nguồn: Giả định theo quy tắc
Theo những quy định của nhà nước, một số phần trong Biểu khoản phải
thu được quy định trong Thông tư 13/2006 về khoản nợ khó đòi:
“Phương pháp lập dự phòng:
Doanh nghiệp phải dự kiến mức tổn thất có thể xảy ra hoặc tuổi nợ quá
hạn của các khoản nợ và tiến hành lập dự phòng cho từng khoản nợ phải thu khó
đòi, kèm theo các chứng cứ chứng minh các khoản nợ khó đòi nói trên Trong
đó:
- Đối với nợ phải thu quá hạn thanh toán, mức trích lập dự phòng như sau:
+ 30% giá trị đối với khoản nợ phải thu quá hạn từ 3 tháng đến dưới 1 năm
+ 50% giá trị đối với khoản nợ phải thu quá hạn từ 1 năm đến dưới 2 năm
+ 70% giá trị đối với khoản nợ phải thu quá hạn từ 2 năm đến dưới 3 năm
- Đối với nợ phải thu chưa đến hạn thanh toán nhưng tổ chức kinh tế đã
lâm vào tình trạng phá sản hoặc đang làm thủ tục giải thể; người nợ mất tích, bỏ
Trang 22trốn, đang bị các cơ quan pháp luật truy tố, giam giữ, xét xử hoặc đang thi hành
án thì doanh nghiệp dự kiến mức tổn thất không thu hồi được để trích lập dự
phòng
- Sau khi lập dự phòng cho từng khoản nợ phải thu khó đòi, doanh nghiệp
tổng hợp toàn bộ khoản dự phòng các khoản nợ vào bảng kê chi tiết để làm căn
cứ hạch toán vào chi phí quản lý của doanh nghiệp.”
1.2.4 Giải quyết những khoản phải thu
Thường trong hoạt động kinh doanh hàng ngày, các khoản phải thu
thường được thu về dưới dạng tiền mặt và đương nhiên là phần sổ sách sẽ trừ đi
những khoản thu rồi ra Thế nhưng không phải lúc nào cũng suôn sẽ như vậy và
cái thông thường ở trên sẽ được thay đổi nhiều Và cũng có nhiều trường hợp do
công ty đang cần tiền mặt gấp để duy trì vốn lưu động (đã xuất hiện nhiều công
ty làm ăn vẫn có lãi trong sổ sách nhưng lại phá sản chỉ vì không đủ lượng tiền
mặt để duy trì hoạt động kinh doanh khiến chủ nợ kiện ra tòa để tuyên bố phá
sản và điều này chúng ta thường thấy nhất trong thời kinh tế suy thoái từ Tết
năm ngoái cho đến nay), công ty đã chủ động tìm những nguồn để xữ lý nguồn
phải thu này trong ngắn hạn
Với cách này, công ty có thể bán các khoản phải thu của mình vì hai lí
do chính sau Thứ nhất, khi phải bán các khoản phải thu của mình, có thể là
công ty không thể tìm được các nguồn khác phù hợp hay thanh khoản để bán
được nữa Trong năm 2008, khi mà tiền tệ đang bi siết chặt thì rất khó để các
công ty huy động được vốn để kinh doanh cho dù đó là những tài sản đầu tư
ngắn hạn như cổ phiếu mặc dù tính thanh khoản của nó cao hơn các khoản phải
thu Tuy nhiên vì kém thanh khoản do sự sụt giảm mạnh mẽ của thị trường
chứng khoán nên khiến chẳng ai mua bán chứng khoán hoặc người mua tìm mọi
cách để ép giá cổ phiếu xuống khiến doanh nghiệp phải chiết khấu rất nhiều
Các chủ doanh nghiệp cũng có thể vay ngân hàng nhưng với lãi suất từng lên
đỉnh điểm là 21% chưa tính phụ phí hợp pháp và cả không hợp pháp khiến đây
là một gánh nặng cho các công ty Mà chưa chắc ngân hàng chấp nhận cho vay
Trang 23vì sợ nợ không thể đòi được Còn nếu đi vay nóng, khả năng vay được là cao
nhưng lãi vay không dưới 25%
Lý do thứ hai để bán các khoản phải thu vì các khoản này từ lúc ghi sổ
cho đến lúc thu được thì cũng chiếm thời gian cũng như chi phí phát sinh Và
thật sự dễ dàng hơn nếu công ty bán công nợ cho một tổ chức khác chuyên về
thu hồi công nợ
Cách bán khoản công nợ của công ty thường thấy nhất là bán phần công
nợ cho các định chế tài chính như các công ty tài chính hay ngân hàng mà
thường mua các khoản công nợ để rồi sau đó trực tiếp đi thu công nợ Có nhiều
loại việc ủy thác như vậy hưng tôi xin giới thiệu một cách thông dụng được ủy
thác và các công ty đó ăn phần trăm trên khoản phải thu đó
1.2.5 Phân tích bảng báo cáo và khoản phải thu
Hầu hết những khoản phải thu được đề cập trong bài chủ yếu là dành cho
ngắn hạn và được nằm trong phần Tài sản ngắn hạn ở Bảng cân đối kế toán Và
như quy ước, thứ tự trong bảng cân đối kế toán nói lên tính thanh khoản của
từng loại tài sản ngắn hạn theo tính thanh khoản cao đứng trước:
Bảng 1.2 Báo cáo cân đối kế toán
Tiền gửi ngân hàng
Vì lí do rủi ro cao hơn, nên các công ty thường có xu hướng chấp nhận
con số phải thu cao hơn trong các khoản phải thu dài hạn hơn là ngắn hạn
Trang 24bằng tiền mặt sẽ tăng khả năng thánh toán cũng như hạn chế rủi ro thua lỗ từ các
khoản nợ xấu Có hai cách (hay hai chỉ số) để tính toán hiệu quả của việc thu hồi
công nợ: tỉ số vòng quay khoản phải thu và số ngày thu nợ trung bình
Tỉ số vòng quay khoản phải thu sẽ đo lường bao nhiêu lần trong năm
khoản phải thu chuyển trin thạnh tiền mặt Ví dụ như bình thường công ty nên
có số vòng quay này là 12 lần hay cao hơn Công thức tính vòng quay khoản
phải thu sẽ bằng doanh số bán chịu chia cho khoản phải thu trung bình phát sinh
trong năm Số này cho thấy trong một năm sẽ có bao nhiêu lần đi thu nợ Kế đó,
ta dùng số ngày trong một năm (thường nhất là 365) chia cho số lần này thì sẽ ra
số ngày trung bình ta đi thu công nợ
1.3 Quản lý Công nợ
Trang 251.3.1 Quyết định điều kiện để xem xét công nợ
Bước 1 cũng giống như là bước mở đầu để xem xét khách hàng dựa trên
những yếu tố đặt ra để cho nợ Nó cũng như là một tiêu chuẩn để quan trọng
trong quá trình quản lý tài sản công nợ Chính vì vậy nó ảnh hưởng trực tiếp đến
chất lượng cũng như khả năng thu hồi nợ và là điều quan trọng nhất trong cách
tính dòng chảy của tiền mặt từ doanh thu Có một điều đơn giản dễ thấy là nếu
thỏa mãn khách hàng cao cộng với chứng từ chính xác thì đó là một khoản nợ
tốt và nó đúng trong gần như mọi trường hợp loại hình kinh doanh Nếu công ty
thỏa mãn khách hàng cao thì những chi phí phát sinh cho việc quản lý công nợ
này thường được giảm rất nhiều Do mỗi công ty có quá trình xem xét công nợ
khác nhau nên sẽ dẫn đến nhiều tiêu chuẩn khác nhau
Bước 1: Quyết định xem ai sẽ được gia hạn tín dụng khi làm việc với công ty
Bước 2: Quyết định thời gian trả nợ
Bước 5: Bán công nợ để thu hồi tiền mặt
Bước 3: Quản lý thu nợ
Bước 4: Đo
lường tính thanh
khoản của từng
khoản nợ
Trang 261.3.2 Quá trình thu nợ
Quá trình thu hồi công nợ bắt đầu khi mà mọi thứ ban đầu như hợp đồng,
điều kiện làm việc, đàm phán về giá cả, quản lý về tính dụng khách hàng tốt,
quy trình đặt hàng rõ rằng và xuất quá đơn xong Cuối cùng khoản công nợ đó
sẽ được đưa vào sổ cái một cách rõ ràng Và đương nhiên khi đã trở thành công
nợ của công ty, thì những vấn đề phát sinh như chi phí chiếm dụng vốn và khả
năng mất vốn tăng lên rất nhiều
Chính vì vậy, việc quản lý tài sản công nợ được đánh giá quan trọng và nó
bao gồm việc bảo vệ tài sản cũng như thanh khoản dòng tiền của công ty Chúng
ta cũng cần nhớ rằng các khoản phải thu hay thay đổi và là một phần quan trọng
trong công ty, nên mục tiêu trên cần phải thỏa các điều kiện sau:
Tiết kiệm chi phí
Không ảnh hưởng giảm sút doanh số
Không tách rời khách hàng và các bộ phận nội bộ
Điểm bắt đầu cho việc thu hồi công nợ sẽ là đưa ra quy trình thu hồi
Chính bảng quy trình này sẽ giúp doanh nghiệp xác định rõ khi nào làm giai
đoạn nào và ai chịu trách nhiệm phần đó Điều quan trọng trong quản lý công nợ
chính là cần được sự đồng thuận từ Ban giám đốc của từnng bộ phận như kinh
doanh, tài chính và kế toán
Một quy luật bất thành văn trong thu hồi công nợ là càng liên hệ nhiều lần
càng tốt và gọi nhắc sớm hơn sẽ là thích hợp hơn gọi trễ Hãy nhớ luôn có một
bảng ghi nhớ khách hàng để có thể nhắc nhở khách hàng trước khi đến hạn trả
Điều đó giúp chúng ta biết được trạng thái tài chính của khách hàng cũng như
thời gian trả nợ của khác
Một vài điều quan trọng cho việc liên hệ với khách hàng nợ:
Đó là việc đặt trọng tâm làm việc vào khách hàng giúp xác định những
khó khăn từ những khâu thực hiện đơn đặt hàng cho đến xuất hóa đơn Nếu
không có trở ngại gì xãy ra, hãy chắc rằng tiền sẽ được thu đúng lúc
Nên nhắc nhở khách hàng trước khi đến hẹn giúp khách hàng chuẩn bị
tiền thanh toán
Trang 27Và khi đến ngày thu nợ Hãy nhớ gọi điện đến nhắc
Các cách thức liên lạc:
Hầu hết cách thức mà chúng ta làm sẽ là gọi điện thoại đến công ty
khách hàng Đây là cách nhanh chóng và nắm được tình hình ngay lập tức Và
cũng thật thích hợp nếu không thu được công nợ ta có thể yêu cầu gặp người có
thẩm quyền cho việc đó Ngoài ra thì Email và thư nhắc nợ cũng thật thích hợp
Cũng như trên đã nói qua, việc tính toán tính thanh khoản của khoản phải
thu có thể tính bằng số ngày cũng như vòng quay khoản phải thu
Các thủ tục kiểm soát nội bộ:
Các công việc cần phải làm là:
Theo dõi công nợ theo từng đối tượng khách hàng (mua, bán, tạm ứng)
Phân loại khách hàng dưới nhiều góc độ khác nhau: người mua, người
bán, nhân viên và các khoản phải thu khác
Theo dõi công nợ theo hợp đồng và thời hạn thanh toán
Bù trừ công nợ giữa các đối tượng công nợ khác nhau
Theo dõi các công nợ chi tiết theo từng hóa đơn bán hàng
Lập các báo cáo: sổ chi tiết công nợ; các khoản nợ đến hạn, quá hạn; bảng
kê các chứng từ công nợ, báo cáo tổng hợp công nợ, bảng cân đối trên một tài
khoản
Theo dõi công nợ một khách hàng trên nhiều tài khoản công nợ khác
nhau
Trang 28Công ty TNHH TMDV Kỹ Thuật Công Nghệ TTNN chính thức đưa vào
hoạt động theo giấy phép đang ký kinh doanh số 4102018810 do Sở kế hoạch và
đầu tư TpHCM cấp ngày 14/11/2003
Tên công ty viết bằng Tiếng Việt: CÔNG TY TNHH THƯƠNG MẠI
DỊCH VỤ KỸ THUẬT CÔNG NGHỆ TTNN
Tên công ty viết bằng Tiếng Anh: T.T.N.N INFORMATION
TECHNOLOGY – TRADING SERVICE CO.,LTD
Tên công ty viết tắt: T.T.N.N CO.,LTD
Công ty TTNN là một trong các nhân tố góp phần cho thị trường văn
phòng phẩm trong ngày càng phát triển hơn và đáp ứng được nhu cầu tiêu dùng
một cách tốt nhất
2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển
Công ty TNHH TM-DV Kỹ Thuật Công Nghệ TTNN được thành lập từ
ngày 14 tháng 11 năm 2003 đến nay đã gần 6 năm hoạt động Công ty TTNN
kinh doanh và sản xuất với nhiều ngành nghề khác nhau như:
Mua bán: thiết bị văn phòng, thiết bị tin học, phần mềm máy tính đã đóng
gói, thiết bị viễn thong, thiết bị ngành công nghiệp, mực in các loại, văn phòng
phẩm, hang cơ điện lạnh, hàng trang trí nội thất, lương thực thực phẩm, hóa chất
(trừ các hóa chất độc hại), hàng may mặc Lắp ráp, bảo hành máy tính, thiết kế
mạng máy tính
Mua bán: vật tư thiết bị ngành phát thanh truyền hình, điện tử