1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Chuyên đề MỘT SÓ VẤN ĐÈ CHUNG VÈ CỒNG TÁC NGHIÊN cứu Dư LUẬN XÃ HỘI

62 66 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 62
Dung lượng 2,5 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong những năm qua, tầm quan trọng của công tác điều tra, nắm bắt, nghiên cứu dư luận xã hội đã được khẳng định trong nhiều văn kiện của Đảng: Văn kiện Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành

Trang 1

Chuyên đề 1

MỘT SÓ VẤN ĐÈ CHUNG VÈ CỒNG TÁC NGHIÊN c ứ u D ư LUẬN XÃ HỘI

TS Đ ỗ Thị Thanh Hà Viện trưởng, Viện Nghiên cứu Dư luận xã hội

I Một số vấn đề lý luận về dư luận xã hội và công tác nghiên cứu dư%} • • • o o

về dư luận xã hội nhưng khái niệm về dư luận xã hội sau đây tương đối phù hợp

với thực tiễn Việt Nam hiện nay: “Dư luận xã hội ỉà tập hợp các luồng ý kiến cá

nhân trước các vấn đề, sự kiện, hiện tượng có tính thời sự, có liên quan đến lợi ích, các mối quan tâm của công chủng".

Một số lưu ý:

- Dư luận xã hội như là sản phẩm của ý thức xã hội thể hiện trên các mặt nhận thức, cảm xúc, ý chí (đôi khi cả trong hành động) Mỗi luồng ý kiến là một tập hợp các ý kiến cá nhân giống nhau; Dư luận xã hội có thể bao gồm nhiều luồng ý kiến khác nhau, thậm chí đối lập nhau; Luồng ý kiến có thể rộng (tuyệt đại đa số, đa số, nhiều ý kiến) hoặc hẹp (một số ý kiến)

- Khách thể của dư luận xã hội là những sự kiện, hiện tượng khác nhau trong đời sống xã hội và gắn với lợi ích của các nhóm xã hội Chỉ có những sự kiện, hiện tượng, vấn đề xã hội có tính thời sự, liên quan đến lợi ích, các mối quan tâm hiện có của nhiều người mới có khả năng tạo ra dư luận xã hội

- Chủ thể của dư luận xã hội là các tầng lớp nhân dân, những người có liên quan hoặc có mối quan tâm đến các sự kiện hiện tượng nói trên

- Phương thức thể hiện của dư luận xã hội tồn tại dưới nhiều hình thức: công khai hoặc ngấm ngầm không công khai Xét về khía canh nhận thức, dư luận không tuân theo qui tắc nghiêm ngặt của nhận thức chân lý, trong dư luận luôn có cái đúng và cái sai

Trang 2

- Dư luận xã hội có các thuộc tính sau:

+ Khuynh hướng: Thái độ của dư luận xã hội đối với mỗi sự kiện, hiện tượng, quá trình xã hội có thể khái quát theo các khuynh hướng nhất định: tán thành, phản đổi hay băn khoăn, lưỡng lự, chưa rõ thái độ Cũng

có thể phân chia dư luận theo các khuynh hướng như tích cực, tiêu cực; tiến bộ, lạc hậu, "cấp tiến”, "bảo thủ"

+ Cường độ: Thể hiện “sức căng” của mỗi khuynh hướng Ví dụ, khuyng hướng phản đối có thể biểu hiện ở các sức căng khác nhau: phản đối gay gắt; phản đối, nhưng không gay g ắt

+ Sự thống nhất và xung đột của dư luận xã hội: Theo các nhà xã hội học, đồ thị phân bố dư luận xã hội hình chữ Ư (có hai luồng ý kiến chính, trái ngược nhau, tỷ lệ ủng hộ mỗi luồng ý kiến này ngang bằng hoặc xấp xỉ nhau) biểu thị sự xung đột, hình chữ L (trong số các luồng ý kiến, nổi lên một luồng ý kiến được đa số ủng hộ) biểu thị sự thống nhất cao

+ Tính bền vững: Một số tác giả thường khẳng định dư luận xã hội

có tính dễ biến đổi Tuy nhiên khẳng định này mới chỉ đúng một phần Có những dư luận xã hội chỉ qua một đêm là thay đổi, nhưng cũng có những

dư luận hàng chục năm không thay đổi

+ Sự tiềm ẩn: Dư luận xã hội về những vấn đề của cuộc sống xã hội

có thể ở trạng thái tiềm ẩn, không bộc lộ bằng lời

- Cơ sở nhận thức và cơ sở xã hội của dư luận xã hội

+ Cơ sở nhận thức của dư luận xã hội: Nội dung và sắc thái của dư luận xã hội được quy định trước hết bởi trình độ hiểu biết của công chúng, nhóm xã hội Sự hiểu biết nhiều hay ít, sâu sắc hay không sâu sắc của công chúng, nhóm xã hội đối với vấn đề, hiện tượng, sự kiện quyết định

sự đánh giá đúng hay sai của công chúng, nhóm xã hội đối với vấn đề, sự kiện, hiện tượng đó Một trong những yếu tố nhận thức có ảnh hưởng khá phổ biến đến sự phán xét của dư luận xã hội, đó là khuôn mẫu tư duy xã hội Khuôn mẫu tư duy xã hội là những quan niệm, suy lý, phán xét khái quát, giản đơn, hữu hạn nhưng có tính phổ biến và tương đối bền vững trong một cộng đồng xã hội

+ Cơ sở xã hội của dư luận xã hội: Các yếu tố xã hội, trước hết là lợi ích

Trang 3

và sắc thái của dư luận xã hội Trong một nhà nước mạnh, chính quyên và nhân dân gắn bó với nhau, lợi ích quốc gia, dân tộc thường được coi trọng hơn các lợi ích khác (cá nhân, nhóm, tầng lóp, giai câp); trước các sự kiện, hiện tượng, vân

đề xã hội, người ta thường lấy lợi ích quốc gia, dân tộc, lợi ích cộng đông làm

cơ sở để đưa ra sự nhận xét, đánh giá, bày tỏ thái độ của mình Trong một nhà nước yếu, dân chủ không được coi trọng, pháp luật, kỷ cương bị buông lỏng, chủ nghĩa cá nhân phát triển, người ta thường nhân danh lợi ích quốc gia, dân tộc, cộng đồng để đưa ra ý kiến này, ý kiến kia, nhưng nếu phân tích kỹ thì không phải như vậy, lợi ích cá nhân, cục bộ mới chính là căn cứ của các ý kiến

đó Trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, có nhiêu lợi ích khác nhau, về bản chất, các lợi ích này là thống nhất với nhau Tuy nhiên, ngoài các lợi ích cá nhân, đặc thù hợp lý của các cá nhân, tầng lóp, giai cấp, nhóm xã hội (các lợi ích gắn liền với lợi ích quốc gia, dân tộc), các cá nhân, tầng lớp, giai cấp, nhóm xã hội có thể chạy theo các lợi ích cá nhân, đặc thù cực đoan, có lợi cho mình nhưng đi ngược lại lợi ích của quốc gia, dân tộc nói chung, của các cá nhân, tầng lớp, giai cấp, nhóm xã hội khác nói riêng

2 Vai trò của dư luận xã hội trong công tác lãnh đạo, quản lý

DLXH được xem như là một trong những nhiệm vụ quan trọng thuộc lĩnh vực công tác tuyên huấn của Đảng Cộng sản các nước Trong điều kiện xây dựng chủ nghĩa xã hội ở thập kỷ 70, 80 của thế kỷ 20, nghiên cứu DLXH cho phép hoàn thành một loạt những nhiệm vụ quan trọng về lãnh đạo xã hội: Trong hoạt động kinh tế và xã hội của Đảng và Nhà nước, nó giúp phát hiện kịp thời những vấn đề nảy sinh đang tác động tới những bộ phận nhất định của xã hội và

do đó có thể áp dụng những biện pháp đúng lúc để giải quyết vấn đề Trong lĩnh vực tư tưởng, việc nắm bắt DLXH cho phép hiểu biết sự phát triển của ý thức giác ngộ của quần chúng và rút ra những kết luận về hiệu quả công tác tư tưởng

do Đảng tiến hành Nói về vai trò của DLXH trong hoạt động quản lý, V.I Lênin chỉ rõ: “chúng ta chỉ có thể lãnh đạo tốt nếu chúng ta biết thể hiện chính xác những gì mà nhân dân lo n g h ĩ’1 Như vậy, dù muốn hay không muốn, phần lớn các chính trị gia, các nhà nghiên cứu triết học đều nhận thấy vai trò hết sức quan trọng của DLXH trong việc quản lý, điều hành xã hội

Trong các tài liệu về công tác xây dựng Đảng của các Đảng Cộng sản Liên Xô, Cu B a công tác DLXH được xem như là một phương tiện để thu

1 Dân theo “Giáo trình nghiệp vụ công tác chính trị tư tưởng” - tài liệu dịch của Ban Tuyên huấn Trung ương ĐCS Cu Ba

Trang 4

thập thông tin và nhận biết chính xác nhất thực trạng của một hiện tượng nhất định đông thời nó cho phép các nhà làm công tác tư tưởng đi sâu tìm hiểu những mặt cụ thể của một vấn đề bất kỳ lúc nào Công tác nghiên cứu DLXH chủ yếu được thực hiện thông qua việc lấy thông tin định kỳ từ các đảng viên, thông tin viên dư luận tổng hợp thành các báo cáo DLXH; thông qua các cuộc thăm dò, điều tra, khảo sát lấy ý kiến DLXH các tầng lóp nhân dân.

ở Mỹ và các nước phương Tây, DLXH đã được quan tâm đến từ khá sớm

và được xem như một công cụ lãnh đạo của giai cấp tư sản Cùng với sự phát triển của nền dân chủ tư sản, hiện tượng DLXH được quan tâm nhiều ở các nước châu Âu từ cuối thế kỷ 19 và trở thành trung tâm của sự chú ý vào cuối thế kỷ

20 DLXH được xem như một ngành khoa học liên ngành bao gồm chính trị học, tâm lý học, xã hội học, báo chí h ọ c

Có rất nhiều quan điểm khác nhau về vai trò của DLXH đối với quá trình lãnh đạo, quản lý xã hội:

Những người có quan điểm dựa trên tinh thần của các nhà triết học như Platon, Thomas Hobbes, Walter Lippman không đồng ý rằng quần chúng có

đủ khả năng giúp ích cho chính phủ Theo các tác giả này, chính phủ không nên giám sát thông tin về các cuộc thăm dò DLXH tiến hành hàng ngày hoặc tham khảo kết quả trưng cầu dân ý để quyết định các chương trình nghị sự của họ Họ cho rằng đa số dân chúng không nắm được thông tin, do đó dân chúng không thê

có khả năng biết được cái gì là tốt cho đất nước mình Họ cũng cho rằng khi các nhà lãnh đạo mong chờ vào ý kiến dư luận (như qua các cuộc điều tra, lấy ý kiến của các nhóm trong xã hội) thì họ sẽ trở thành những kẻ đi theo gót dư luận chứ không phải là những nhà lãnh đạo Những người thuộc trường phái này nhìn nhận các cuộc trưng cầu ý kiến của chính phủ là một phương pháp không thích hợp để quyết định các công việc của đất nước

Những người theo quan điểm của những triết gia đặt nhiều niềm tin vào quần chúng như Aristotle, Locke, Rousseau và Jefferson , lại chủ trương ủng

hộ sự tham gia đầy đủ của công chúng vào mọi công việc của chính phủ, những người theo quan điểm này đều đồng tình với quan điểm: mọi quyết định đưa ra

mà thiếu sự hiểu biết về DLXH sẽ chỉ đại diện cho ý kiến của tầng lớp tinh hoa, chịu ảnh hưởng của vận động hành lang hoặc những nhóm lợi ích đặc biệt Họ tin rằng nghiên cứu DLXH đóng một vai trò quan trọng vì nó đảm bảo sự tham gia đầy đủ của mọi công dân vào công việc chính phủ Ngày nay, Mỹ và các nước phương Tây sử dụng triệt để các kết quả điều tra DLXH vào mục đích

Trang 5

chính trị cũng như quản lý kinh tế Tại các nước này, có hai hình thức nắm bắt DLXH chủ yếu: một là, thăm dò DLXH (poll) được sử dụng phổ biến trong các chiến dịch vận động tranh cử bởi tính chất nhanh, chính xác của thông tin thu được Hai là, điều tra DLXH (survey) được sử dụng dưới hình thức phát phiếu điều tra hoặc tiến hành các cuộc phỏng vấn, thảo luận đê thu thập thông tin.

ở Việt Nam, ngay từ đầu những năm 80 (thế kỷ XX), Đảng ta đã thấy được sự cần thiết của công tác nghiên cứu dư luận xã hội Hoạt động nghiên cứu, điều tra, nắm bắt dư luận xã hội đã chính thức được thực hiện kê từ năm

1982, khi Ban Bí thư có quyết định thành lập Viện Dư luận xã hội trực thuộc Ban Tuyên huấn Trung ương Đảng (nay là Ban Tuyên giáo Trung ương)

Trong những năm qua, tầm quan trọng của công tác điều tra, nắm bắt, nghiên cứu dư luận xã hội đã được khẳng định trong nhiều văn kiện của Đảng: Văn kiện Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương (khóa VII) có nêu nhiệm vụ: “Nâng cao chất lượng thông tin nội bộ và công tác tuyên truyên, coi trọng biện pháp điều tra dư luận xã hội”2; Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hành Trung ương (khóa VII) yêu cầu: “Tổ chức điều tra dư luận xã hội về những vấn

đề cần thiết cho công tác lãnh đạo, quản lý nhà nước”3; Nghị quyết Trung ương

5, khoá X về công tác tư tưởng, lý luận và báo chí trước yêu cầu mới, tiếp tục nhấn mạnh "Chú trọng công tác nghiên cứu, điều tra xã hội học, nắm bắt dư luận

xã hội phục vụ công tác tư tưởng”4

Gần đây nhất, ngày 18 tháng 8 năm 2014, Ban Bí thư Trung ương Đảng (khoá XI) đã ra Kết luận số 100-KL/TW về việc đổi mới và nâng cao chất lượng

công tác điều tra, nắm bắt, nghiên cứu dư luận xã hội, trong đó nêu rõ: “Điều

tra, nắm bắt, nghiên cứu dư luận xã hội là công việc quan trọng và rất cần thiết nhằm nam bắt, tập hợp kịp thời, sát thực tâm tư, tình cảm, ý chí, nguyên vọng của Nhân dân về những vấn đề, sự kiện có tính thời sự trong nước và thế giới, đặc biệt là đối với các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước; giúp các

cơ quan lãnh đạo, quản lý có thêm thông tin tham khảo trong quá trình xây dựng, hoàn thiện và tổ chức thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng, pháp ỉuậí của Nhà nước; là một khâu quan trọng, cần thiết trong xây dựng, ban hành, tổ chức thực hiện, đánh giá kết quả thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước

2 Đảng Cộng sàn Việt Nam Văn kiện Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ưcmg (khóa VII) Nxb Sự thật,

Trang 6

Điều tra dư luận xã hội là hình thức nắm thông tin dư luận xã hội bằng phương pháp điều tra xã hội học Phương pháp này tuân thủ nghiêm ngặt các yêu cầu có tính khoa học Hiện nay, hình thức phổ biến là điều tra thông qua phát phiếu hỏi cho các đối tượng được lựa chọn theo phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên hoặc có chủ định Nắm bắt dư luận xã hội là hình thức tập hợp thông tin dư luận xã hội không thông qua phương pháp điều tra xã hội học Hình thức nắm bắt dư luận xã hội rất đa dạng, bao gồm: Nắm bắt thông tin qua mạng lưới cộng tác viên; qua các phương tiện thông tin đại chúng; qua việc lấy ý kiến đóng góp của các tầng lóp nhân dân đối với dự thảo các văn kiện, văn bản pháp luật Nghiên cứu dư luận xã hội là những nghiên cứu lý luận và thực tiễn về dư luận

xã hội

II Thực trạng công tác điều tra, nắm bắt, nghiên cứu dư luận xã hội

1 Công tác lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp ủy đảng

Trong những năm qua, công tác điều tra, nắm bắt, nghiên cứu dư luận xã hội từng bước đi vào nền nếp, chất lượng, hiệu quả được nâng lên Nhiều báo cáo nhanh của Viện Nghiên cứu Dư luận xã hội thuộc Ban Tuyên giáo Trung ương và của các phòng (đầu mối) nghiên cứu dư luận xã hội ở các ngành, các địa phương đáp ứng được yêu cầu phản ánh nhanh, kịp thời, trung thực, đầy đủ các luồng dư luận xã hội trước các sự kiện, hiện tượng, vấn đề kinh tế, chính trị , đặc biệt là những bức xúc của người dân; góp phần quan trọng giúp các cấp uỷ đảng và chính quyền sớm đưa ra được các chủ trương, quyết sách sát thực, phù hợp lòng dân, đặc biệt là trong việc giải quyết, xử lý các "điêm nóng";

là một kênh thông tin quan trọng giúp các cơ quan lãnh đạo đánh giá đúng hơn, sát thực hơn tình hình tâm trạng, tư tưởng của các tầng lớp nhân dân Trên cơ sở

đó, đề ra các giải pháp tuyên truyền, định hướng dư luận xã hội, giải quyết một

số vấn đề dư luận xã hội quan tâm, góp phần xây dựng, hoàn thiện chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước

Đất nước phát triển nảy sinh nhiều vấn đề mới, cần nắm bắt, giải quyết Thực tế đó yêu cầu các cấp, các ngành cần có nhiều thông tin, cần coi trọng việc điều tra, nắm bắt, nghiên cứu dư luận xã hội Tuy nhiên, khá nhiều chủ trương, quyết định quan trọng của các cấp, các ngành trước khi ban hành không tiến hành điều tra, nắm bắt, nghiên cứu dư luận xã hội hoặc có thực hiện công việc này nhưng không nghiêm túc, khoa học Từ đó, dẫn đến tình trạng áp đặt, quan liêu, chủ quan, gây nên sự phản ứng gay gắt của nhân dân, không được nhân dân ủng hộ Không ít đồng chí lãnh đạo chưa quan tâm sử dụng các kết quả điều tra,

Trang 7

nắm bắt, nghiên cứu dư luận xã hội trong hoạt động lãnh đạo, quản lý của mình,

thậm chí còn “dị ứng”, không muốn nghe những thông tin “trái chiẹu” qua kênh

điều tra, nắm bắt, nghiên cứu dư luận xã hội

Một số cơ quan, tổ chức trong hệ thống chính trị, một mặt, do thiếu thông

tin, chưa coi trọng công tác điều tra dư luận xã hội đã phôi hợp, ký hợp đông

điều tra dư luận xã hội với các tổ chức, các nhà khoa học không đủ năng lực,

thẩm quyền, dẫn đến kết quả nhiều cuộc điều tra thiếu bề rộng và chiều sâu cần

thiết, độ sai lệch cao, hiệu quả thấp không giúp cơ quan, tổ chức có được

phương huớng, giải pháp sát thực, đúng đắn Bên cạnh đó, do không được quản

lý chặt chẽ về kỷ luật, an ninh thông tin nên để cho một số tổ chức nghiên cứu

(phi chính phủ hoặc liên kết với tổ chức phi chính phủ) đã đưa các vấn đề chính

trị “nhạy cảm” vào bảng hỏi hoặc công khai một số kết quả nghiên cứu mang

tính nội bộ, bảo mật trong một số cuộc điều tra, nghiên cứu dư luận xã hội

2 Thực trạng về tổ chức, cơ chế và kinh phí hoạt động của các thiết chế điều tra, nắm bắt, nghiên cứu dư luận xã hội (trong ban tuyên giáo của

các cấp ủy đảng)

Trong hệ thống tuyên giáo các cấp, chỉ có Ban Tuyên giáo Trung ương và

ban tuyên giáo các tỉnh, thành ủy: Hà Nội, Hải Phòng, Thành phố Hồ Chí Minh,

Cần Thơ, Yên Bái, An Giang có cơ quan, bộ phận chuyên trách (phòng hoặc

trung tâm) làm công tác điều tra, nắm bắt, nghiên cứu dư luận xã hội Các tỉnh,

thành ủy đã có phòng hoặc trung tâm nghiên cứu dư luận xã hội, biên chế

thường chỉ có từ 2 đến 4 người5, phần lớn số cán bộ này hạn chế, bất cập về

chuyên môn, nghiệp vụ điều tra, nghiên cứu, nắm bắt dư luận xã hội

Ban tuyên giáo các ban, bộ, ngành, đoàn thể, tổ chức chính trị - xã hội ở

Trung ương và các tỉnh, thành phố còn lại chỉ phân công cán bộ chuyên trách

hoặc kiêm nhiệm làm công tác này Phần lớn số cán bộ này không được đào tạo

chuyên môn, nghiệp vụ về xã hội học hoặc tâm lý học

Viện Nghiên cứu Dư luận xã hội thuộc Ban Tuyên giáo Trung ương là

đơn vị duy nhất trong cả nước chuyên nghiên cứu khoa học về lĩnh vực này,

tham mưu giúp lãnh đạo Ban nắm bắt, định hướng dư luận xã hội Viện có 4

phòng: Văn phòng; Phòng Đào tạo và Nghiên cứu khoa học; Phòng Điều tra Xã

5 Ban Tuyên giáo Thành uỷ Hà Nội: 3 người; Ban Tuyên giáo Thành uỷ Hải Phòng: 1 người; Ban Tuyên giáo

Thành uỷ Thành phố Hồ Chí Minh: 3 người; Ban Tuyên giáo Thành uỳ Thành phố cần Thơ: 3 người; Ban

Tuyên giáo Tinh uỳ Yên Bái: 2 người; Ban Tuyên giáo Tinh uỷ An Giang: 4 người.

Trang 8

hội học; Phòng Cộng tác viên và định hướng dư luận xã hội Biên chế hiện có của Viện hiện có 10 nguời (nhu cầu thực tế của Viện là 24 người)6 Phần lớn cán

bộ của Viện được đào tạo đúng chuyên môn (xã hội học hoặc tâm lý học), nhưng năng lực, trình độ còn nhiều hạn chế, bất cập Mạng lưới cộng tác viên dư luận xã hội là một khâu rất quan trọng, nối dài, “tai mắt” của Viện, nhưng số lượng, cơ cấu, chất lượng con chưa đáp ứng đòi hỏi thực tiễn

- về cơ chế hoạt động

Viện Nghiên cứu Dư luận xã hội thuộc Ban Tuyên giáo Trung ương và các phòng, bộ phận nghiên cứu dư luận xã hội ở các địa phương đặt dưới sự chỉ đạo trực tiếp của cơ quan chủ quản; được phép tổ chức mạng lưới cộng tác viên Ngoài kế hoạch được xác định trong năm, Viện, các phòng, đơn vị này còn thực hiện điều tra, nghiên cứu, nắm bắt dư luận xã hội với các đối tác bên ngoài (các ban, bộ, sở, ngành )

Các báo cáo điều tra và báo cáo nhanh dư luận của Viện Nghiên cứu Dư luận xã hội (thuộc Ban Tuyên giáo Trung ương) và các phòng, bộ phận nghiên cứu dư luận xã hội ở các địa phương được tiến hành định kỳ hoặc đột xuất tuỳ theo yêu cầu của cơ quan chủ quản Các báo cáo này mang tính chất báo cáo

“mật” và được gửi đến các địa chỉ theo quy định

Do chưa có quy định bắt buộc các cấp ủy đảng phải tiến hành điều tra, nắm bắt, nghiên cứu dư luận xã hội; chưa có quy định về việc sử dụng thông tin

từ các báo cáo điều tra và báo cáo nhanh về dư luận xã hội làm căn cứ khoa học

để ban hành chủ trương, chính sách và đánh giá tình hình, kết quả thực hiện chủ trương, chính sách nên việc thực hiện công tác này ở nhiều cơ quan trung ương

và địa phương còn mang tính tự phát, thiếu tính liên tục, khoa học, thiết thực, hiệu quả Hoạt động của lực lượng nghiên cứu dư luận xã hội còn nhiều khó khăn

Kinh phí hoạt động hằng năm của Viện Nghiên cứu Dư luận xã hội nằm trong khoản kinh phí hoạt động thường xuyên hằng năm của Ban Tuyên giáo Trung ương Những năm gần đây, Viện được cấp kinh phí để duy trì hoạt động của 16 cộng tác viên và tiến hành từ 4 đến 6 cuộc điều tra, nguồn kinh phí này còn ít, không hợp lý Kinh phí dành cho nghiên cứu chuyên môn, nghiệp vụ hầu

6 Căn cứ Đề án “Tăng cường năng lực điều Ưa xã hội học, nắm bắt dư luận xã hội” cùa Viện Nghiên cứu Dư luận

Trang 9

như không có7 Với khoản kinh phí cấp cho một cuộc điều tra dư luận xã hội như hiện nay8, Viện khó thực hiện đầy đủ các yêu cầu khoa học mà phương pháp điều tra xã hội học cần phải có.

Kinh phí hoạt động của các phòng, bộ phận nghiên cứu dư luận xã hội ở ban tuyên giáo các tỉnh, thành uỷ do từng địa phương quy định, rất khác nhau, nhìn chung là hạn hẹp và bất hợp lý9

3 Kết quả điều tra, nắm bắt, nghiên cứu dư luận xã hộỉ

3.1 Ưu điểm

- Viện Nghiên cứu Dư luận xã hội thuộc Ban Tuyên giáo Trung ương đã biên soạn được một số tài liệu về lý luận và phương pháp điều tra, nắm bắt, nghiên cứu dư luận xã hội Những năm trước đây, Viện thường có báo cáo chuyên đề về tình hình tư tưởng, tâm trạng xã hội nói chung, của một số giai tầng xã hội nói riêng (thông qua việc tổng họp, phân tích tình hình dư luận xã hội trong năm) Viện đã tiến hành 4 đề tài nghiên cứu khoa học cấp bộ vê các vấn đề có liên quan đến nghiệp vụ công tác điều tra, nắm bắt, nghiên cứu dư luận xã hội

Các phòng, trung tâm nghiên cứu dư luận xã hội và bộ phận làm công tác này tại ban tuyên giáo các địa phương khác, trên cơ sở các tài liệu về nghiệp vụ công tác điều tra, nắm bắt, nghiên cứu dư luận xã hội của Viện Nghiên cứu dư luận xã hội (Ban Tuyên giáo Trung ương), biên soạn một số tài liệu phù hợp với yêu cầu, điều kiện của địa phương về nghiệp vụ công tác này

Các tỉnh, thành phố chỉ có cán bộ chuyên trách hoặc kiêm nhiệm công tác này, hằng tháng đều có báo cáo tổng hợp về tình hình dư luận xã hội trên địa bàn

để gửi đến các đồng chính lãnh đạo tỉnh, thành phố và Viện Nghiên cứu Dư luận

xã hội thuộc Ban Tuyên giáo Trung ương

- Nhiều công trình nghiên cứu, báo cáo nhanh, báo cáo điều tra có chất lượng tốt, giúp các cấp uỷ đảng và chính quyền nắm đúng và kịp thời tâm tư, nguyện vọng, tình cảm của các tầng lớp nhân dân, sớm đưa ra được các chủ trương, quyết sách sát thực, phù hợp lòng dân, đặc biệt là trong việc giải quyết,

xử lý các "điểm nóng", những bức xúc của nhân dân

7 Tổng kinh phí hoạt động hàng năm của Viện vào khoảng 700 triệu đồng.

8 Theo quy định của Bộ Tài chính, một cuộc điều tra dư luận xã hội với quy mô điều tra là 2000 người thì kinh phí 200 triệu đồng, nhưng Văn phòng Trung ương chỉ cấp cho Viện 90 đến 120 triệu đồng.

9 Ví dụ, kinh phí cấp cho một cuộc điều tra dư luận xã hội của Phòng Nghiên cứu Dư luận xã hội cùa Hà Nội là

100 triệu đồng, trong khi đó, ở các địa phương khác, khoản kinh phí này chi từ 30 đến 60 triệu đồng.

Trang 10

3.2 Hạn chế, yếu kém

- Ket quả điều tra, nắm bắt, nghiên cứu dư luận xã hội chưa bảo đảm về số lượng, chất lượng theo yêu cầu mà cấp ủy, chính quyền các cấp đặt ra

- Một số công trình nghiên cứu khoa học; báo cáo nghiên cứu chuyên đê

về dư luận xã hội của Viện Nghiên cứu Dư luận xã hội thuộc Ban Tuyên giáo Trung ương và của bộ phận làm công tác nghiên cứu dư luận xã hội trong hệ thống tuyên giáo các cấp và một số đoàn thể chính trị - xã hội chất lượng chưa cao; chưa theo kịp trình độ điều tra, nắm bắt dư luận xã hội từ các viện, tổ chức nghiên cứu dư luận xã hội có uy tín trên thế giới

- Cách tiến hành điều tra dư luận xã hội trong thời gian qua chưa thực sự khoa học, thiếu bề rộng và chiều sâu cần thiết do đó, chất lượng thông tin thu được đôi khi còn thấp

- Không ít báo cáo nhanh của Viện Nghiên cứu Dư luận xã hội thuộc Ban Tuyên giáo Trung ương và các phòng, bộ phận làm công tác này trong hệ thống tuyên giáo các cấp và một số đoàn thể chính trị - xã hội chưa kịp thời, phản ánh không đầy đủ các luồng dư luận xã hội; thiếu sự phân tích và đề xuất, kiến nghị nhằm định hướng dư luận xã hội Báo cáo nhanh dư luận xã hội là tài liệu mật hoặc tối mật, do đó, nhiều lãnh đạo chủ chốt của các bộ, ngành, địa phương không được tiếp cận mặc dù vấn đề dư luận quan tâm có liên quan tới lĩnh vực các đồng chí đó lãnh đạo, quản lý

4 Những nguyên nhân dẫn đến các hạn chế, yếu kém trong công tác điều tra, nắm bắt, nghiên cứu dư luận xã hội

Một là, các cấp ủy đảng nhận thức chưa sâu sắc, chưa đầy đủ về vai trò, ý nghĩa, tầm quan trọng của công tác điều tra, nắm bắt, nghiên cứu dư luận các tầng lớp nhân dân trong công tác lãnh đạo, quản lý Do đó, chưa quan tâm đến việc xây dựng thiết chế và phân công cán bộ làm công tác này Cho đến nay, chưa có một quy định chung, có tính chỉ đạo, làm cơ sở pháp lý cho toàn hệ thống chính trị về công tác điều tra, nắm bắt, nghiên cứu dư luận xã hội

Hai là, bộ máy tổ chức, cán bộ, cơ chế, điều kiện, phương thức hoạt động của tổ chức làm công tác điều tra, nắm bắt, nghiên cứu dư luận chưa hợp lý; thiếu cán bộ khá, giỏi về chuyên môn, nghiệp vụ; chưa có cơ chế để đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ cho cán bộ làm công tác này ở trong nước cũng như ở nước ngoài; kinh phí điều tra, nắm bắt, nghiên cứu dư luận xã hội không đủ hoặc không kịp thời; cách thức tổ chức mạng lưới cộng tác

Trang 11

viên nắm bẳt dư luận xã hội chưa khoa học, thiếu tính đại diện (chủ yêu là cán

bộ hưu trí, ít cộng tác viên đại diện cho các tầng lớp khác trong xã hội)

Ba là, chưa có sự cộng tác, phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan, tổ chức

trong hệ thống chính trị có chức năng, nghiệp vụ điều tra dư luận xã hội, tập hợp

ý kiến của cán bộ, đảng viên và nhân dân

III Giải pháp đổi mới, nâng cao chất lượng công tác điều tra, nắm bắt, nghiên cứu dư luận xã hội

Nhằm giúp các cơ quan lãnh đạo Đảng và Nhà nước có thêm thông tin

tham khảo có thêm thông tin tham khao trong quá trình xây dựng, hoàn thiện và

thực hiện các chủ trương, chính sách, cần chú trọng đổi mới, nâng cao chât

lượng công tác điều tra, nắm bắt, nghiên cứu dư luận xã hội Trong đó, xác định

các nhiệm vụ trọng tâm: Tăng cường vai trò, nhận thức, năng lực lãnh đạo của

các cấp ủy đảng trong việc đổi mới, nâng cao chất lượng công tác điều tra, nắm

bắt, nghiên cứu dư luận xã hội; Đổi mới, nâng cao chất lượng nội dung, quy

trình, phương pháp, cách thức tổ chức, lựa chọn nội dung điều tra, nắm bắt,

nghiên cứu dư luận xã hội, từ đó nâng cao tính khoa học, tính thiết thực, hiệu

quả của công tác này; Kiện toàn, củng cố bộ máy tổ chức, nâng cao trình độ,

năng lực điều tra, nắm bắt, nghiên cứu dư luận xã hội của Viện Nghiên cứu Dư

luận xã hội, Ban Tuyên giáo Trung ương và các phòng, bộ phận làm công tác

điều tra, nắm bắt, nghiên cứu dư luận xã hội trong hệ thống tuyên giáo, Mặt trận

Tổ quốc Việt Nam và một số đoàn thể chính trị - xã hội ở Trung ương và các

tỉnh, thành phố

1 v ề nhân thức

- Nâng cao nhận thức, trách nhiệm các cấp uỷ đảng và chính quyền các

cấp về vai trò, tầm quan trọng của công tác điều tra, nắm bắt, nghiên cứu dư

luận xã hội Xác định đây là nhiệm vụ quan trọng của cả hệ thống chính trị, nhất

là của cấp uỷ và người đứng đầu cấp uỷ đảng, chính quyền từ Trung ương đến

địa phương

- Quy định điều tra, nắm bắt, nghiên cứu dư luận xã hội là một khâu, một

công đoạn trong quy trình xây dựng, ban hành, tổ chức thực hiện, đánh giá kết quả thực hiện chủ trương, chính sách

2 về đổi mới quy trình, phương pháp, cách thức tổ chức, lựa chọn

nội dung điều tra, nắm bắt, nghiên cứu dư ỉuận xã hội

a Đổi mới, nâng cao chất lượng điều tra dư luận xã hội

Trang 12

Khẳc phục các hạn chế, khiếm khuyết trong chọn vấn đề điều tra; chọn

hình thức điều tra; diện điều tra; xây dựng phiếu câu hỏi điều tra; chọn mẫu (đối

tượng) điều tra; tập huấn điều tra viên; triển khai trên thực địa; nhập dữ liệu, xử

lý và phân tích số liệu; viết báo cáo Từ đó, nâng cao chất lượng công tác này

Cụ thể:

+ Chọn vấn đề để điều tra: c ầ n chọn vấn đề trúng, có giá trị đối với công

tác lãnh đạo của các cấp ủy đảng

+ Xây dựng phiếu câu hỏi điều tra: Các câu hỏi phải bảo đảm được các

yêu cầu về độ ổn định (câu hỏi phải rõ ý, không bị hiểu khác nhau, người trả lời

phải trả lời nhất quán nếu điều tra lặp lại ) và về độ hiệu lực (câu hỏi phải thu

được những thông tin cần thu thập)

+ Chọn đối tượng điều tra (mẫu điều tra): Đối tượng điều tra phải được

lựa chọn một cách thật khoa học, tuân thủ thật nghiêm ngặt các đòi hỏi khoa học

về cách lấy mẫu, chọn đối tượng điều tra bảo đảm mẫu điều tra phải mang

tính đại diện cao

+ Tập huấn điều tra viên: Các điều tra viên phải được tập huấn một cách

bài bản

+ Triển khai trên thực địa: Các điều tra viên phải tuân thủ nghiêm ngặt

yêu cầu phải phỏng vấn đúng đối tượng theo mẫu điều tra đã được chọn

+ Nhập dữ liệu, xử lý và phân tích số liệu: Các phiếu điều tra khi thu về

phải được hiệu chỉnh; người nhập dữ liệu phải thông thạo về cách nhập dữ liệu;

các chuyên gia xử lý số liệu phải có năng lực phân tích dữ liệu

+ Viết báo cáo: Các báo cáo điều tra dư luận xã hội phải có tính tổng hợp,

có sự phân tích thấu đáo, phải đưa ra được các dự báo; đề xuất, kiến nghị cho

công tác thông tin tuyên truyền, định hướng dư luận xã hội

b Đồi mới, nâng cao chất lượng nắm bắt, nghiên cứu dư luận xã hội

- Nâng cao chất lượng nắm bắt, nghiên cứu và phản ánh các thông tin dư luận xã hội trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội, chú trọng các

luồng dư luận có liên quan đến các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà

nước Báo cáo nhanh dư luận xã hội phải phản ánh khách quan, trung thực, kịp

thời ý kiến của các tầng lớp nhân dân Chú trọng phân tích các luồng dư luận

trong xã hội bằng những phương pháp khoa học, chỉ ra căn cứ thực tế của các

Trang 13

luồng dư luận, trên cơ sở đó, đưa ra dự báo, đề xuất các giải pháp tuyên truyền,

định hướng dư luận nhằm góp phần tạo sự đồng thuận trong xã hội

- Xây dựng, đổi mới cách thức tổ chức và duy trì hoạt động của mạng lưới cộng tác viên nắm bắt dư luận xã hội theo hướng: Mạng lưới cộng tác viên phải

có đại diện của nhiều giai tầng xã hội trên địa bàn với số lượng và cơ cấu phù họp; khắc phục tình trạng trong mạng lưới cộng tác viên, thành phần cán bộ nghỉ hưu chiếm tỷ lệ quá cao, các thành phần khác thấp hoặc thiếu Hằng năm, tiến hành rà soát, củng cố, kiện toàn mạng lưới cộng tác viên, bảo đảm chất lượng và hợp lý về cơ cấu; kịp thời động viên, khen thưởng những cộng tác viên có nhiều

nỗ lực và đóng góp trong việc nắm bắt và phản ánh dư luận xã hội Chú trọng công tác bồi dưỡng nghiệp vụ cho đội ngũ cộng tác viên

c Đổi mới, nâng cao chất lượng các nghiên cứu khoa học về công tác dư luận xã hội

- Viện Nghiên cứu Dư luận xã hội thuộc Ban Tuyên giáo Trung ương là

cơ quan chủ trì, kết nối và cung cấp thông tin về những vấn đề lý luận, phương pháp và kinh nghiệm điều tra, nắm bắt, nghiên cứu dư luận xã hội; đẩy mạnh các hoạt động nghiên cứu lý luận, tăng cường hợp tác, trao đồi kinh nghiệm với các viện, tổ chức nghiên cứu dư ỉuận xã hội có uy tín trên thế giới nhằm trao đổi, học hỏi, tìm hiểu những phương pháp, hình thức tổ chức điều tra dư luận xã hội

để vận dụng vào thực tế của Việt Nam Chú trọng nghiên cứu các cơ chế hình thành dư luận xã hội để tham mưu cho các cấp ủy đảng, chính quyền cách thức định hướng dư luận xã hội có hiệu quả Đẩy mạnh việc biên soạn, xuất bản các cuốn sách, tài liệu nghiệp vụ chuyên sâu về công tác điều tra, nắm bắt, nghiên cứu dư luận xã hội Tăng cường công tác nghiên cứu lý luận, đặc biệt là nghiên cứu các cơ chế hình thành dư luận xã hội để tham mưu cho các cấp ủy đảng cách thức định hướng dư luận xã hội có hiệu quả

- Viện Nghiên cứu Dư luận xã hội thuộc Ban Tuyên giáo Trung ương và các phòng, các bộ phận điều tra, nắm bắt, nghiên cứu dư luận xã hội của các tỉnh, thành phố, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và một số đoàn thể chính trị - xã hội hằng năm phải có các báo cáo chuyên đề nghiên cứu sâu về tình hình dư luận xã hội trên các lĩnh vực đời sống xã hội, nhất là những lĩnh vực quan trọng, thường nảy sinh các vấn đề phức tạp, nhạy cảm

Trang 14

3 Nâng cao năng lực của các tổ chức, bộ phận điều tra, nắm băt, nghiên cứu dư luận xã hội trong hệ thống tuyên giáo các cấp, cơ quan tuyên giáo Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và một số đoàn thể chính trị - xã hội.

- Rà soát, củng cố, kiện toàn các tổ chức, bộ phận điều tra, nám bắt, nghiên cứu dư luận xã hội trong hệ thống tuyên giáo các cấp, cơ quan tuyên giáo Mặt trận Tồ quốc Việt Nam và một số đoàn thể chính trị - xã hội; tăng cường cho các tổ chức, bộ phận này những cán bộ có chuyên môn, nghiệp vụ về xã hội học hoặc tâm lý học Người đứng đầu các tổ chức, đầu mối điều tra, nắm bắt, nghiên cứu dư luận xã hội cần có chuyên môn và năng lực phù hợp

- Gửi cán bộ điều tra, nắm bắt, nghiên cứu dư luận xã hội ở trung ương và các địa phương đi đào tạo chuyên môn, nghiệp vụ tại các viện, trung tâm nghiên cứu, thăm dò dư luận xã hội có uy tín ở trong nước và trên thế giới

- Tăng cường sự cộng tác, phối hợp giữa các tổ chức, đầu mối điều tra, nắm bắt, nghiên cứu dư luận xã hội trong ngành tuyên giáo với các cơ quan nghiên cứu khoa học có chuyên môn, nghiệp vụ nghiên cứu, điều tra dư luận xã hội (Viện Xã hội học và Viện Tâm lý học - Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam; Viện Xã hội học, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh )

- Ban hành quy định về các cơ quan, tổ chức nghiên cứu khoa học có thẩm quyền điều tra dư luận xã hội phục vụ công tác lãnh đạo của các cấp ủy đảng và qui định về việc công bố, sử dụng thông tin từ các cuộc điều tra, thăm

dò dư luận xã hội

- Bảo đảm kinh phí hoạt động hợp lý cho các tổ chức, đầu mối điều tra, nắm bắt, nghiên cứu dư luận xã hội

Trang 15

Chuyên đề 2 PHƯƠNG PHÁP NẮM BẮT VÀ ĐIÈU TRA D ư LUẬN XÃ HỘI

Dư luận xã hội là tập hợp các luồng ý kiến thể hiện thái độ của công chúng trước các vấn đề, sự kiện có tính thời sự, có liên quan đến lợi ích và các mối quan tâm của họ; là một trong những hình thức thể hiện tâm tư, ý chí và nguyện vọng của các tầng lớp nhân dân Dư luận xã hội thể hiện trên các mặt nhận thức, cảm xúc, ý chí (đôi khi cả trong hành động) trước các vấn đề, sự kiện, hiện tượng nảy sinh trong cuộc sống; nói trên nên có thể nói dư luận xã hội

là một hiện tượng xã hội đặc biệt vì: nó là sự thống nhất của cả ba yếu tố nhận thức, thái độ, hành vi; phương thức thể hiện của dư luận xã hội tồn tại dưới nhiều hình thức: công khai hoặc ngấm ngầm không công khai, do đó cần phải có những phương pháp nắm bắt và điều tra phù hợp mới có thể nắm bắt dư luận xã hội một cách đầy, đủ, thấu đáo

Nắm bắt dư luận xã hội là hình thức tập hợp thông tin dư luận xã hội dưới dạng định tính Hình thức nắm bắt dư luận xã hội rất đa dạng, bao gồm: Nắm bắt thông tin qua mạng lưới cộng tác viên; qua các phương tiện thông tin đại chúng; qua việc lấy ý kiến đóng góp của các tàng lóp nhân dân đối với dự thảo các văn kiện, văn bản pháp lu ậ t

Điều tra dư luận xã hội là hình thức nấm thông tin dư luận xã hội bằng phương pháp điều tra xã hội học Phương pháp này tuân thủ nghiêm ngặt các yêu cầu có tính khoa học Hiện nay, hình thức phổ biến là điều tra thông qua phát phiếu hỏi cho các đối tượng được lựa chọn theo phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên hoặc có chủ định

Nắm bắt và điều tra dư luận xã hội là hai nhóm phương pháp cơ bản đê (1) thu thập dữ liệu định lượng và dữ liệu định tính, (2) xử lý các dữ liệu thu được và (3) báo cáo kết quả phản ánh dư luận xã hội từ đó gợi mở cách tiếp cận, định hướng và điều chỉnh dư luận xã hội nhằm mục tiêu chung là xây dựng đất nước

1 Phương pháp nắm bắt dư luận xã hội

Trang 16

Phương pháp nắm bắt dư luận xã hội là phương pháp truyền thống, quen thuộc, phổ biến bao gồm quan sát, tiếp cận thông tin đại chúng và sử dụng mạng lưới cộng tác viên.

1.1 Quan sát dư luận xã hội

Quan sát dư luận xã hội là cách thức thu thập thông tin sơ cấp thông qua các giác quan mắt thấy, tai nghe Đây là phương pháp quen thuộc và phổ biến để nắm bắt dư luận xã hội hiện nay Cụ thể là cần đến tận nơi xảy ra sự kiện xã hội nhất định để xem có nhiều người tham dự không, họ làm gì, nói chuyện gì, có ý kiến gì Có thể hỏi chuyện một số người đang có mặt trong sự kiện đó hoặc chỉ đơn giản là đến gần nhóm người đang nói chuyện để lắng nghe Điều quan trọng nhất của phương pháp quan sát là phải quan sát toàn bộ sự kiện, khung cảnh và các nhóm người, các nhân vật trung tâm, đặc biệt cần phát hiện các thông điệp của sự kiện thể hiện ở các băng rôn, biểu ngữ tờ rơi; qua hành vi, ngôn ngữ của những người tham gia Để có thể nắm bắt thông tin một cách khach quan, người làm công tác nghiên cứu dư luận xã hội tức cần phải nghe được chính xác, đầy

đủ tất cả các loại ý kiến cũng như ghi chép lại mọi biểu hiện hành vi của các nhóm xã hội khác nhau mà không vội phán xét, không vội chắt lọc và không vội chọn lựa

Nghe có phán xét và nghe có chọn lọc có thể làm ta chỉ nghe được những

gì ta muốn nghe, ta cần nghe đối với ta và do vậy khó có thể nắm bắt được dư luận xã hội

Theo phương pháp này, muốn nắm bắt dư luận xã hội của công nhân phải tìm đến người công nhân và quan sát họ và lắng nghe ý kiến của họ Muốn nắm bắt dư luận xã hội của người nông dân cần phải tìm đến người nông dân, quan sát họ trong các tình huống nhất định như tình huống đang làm việc, đang ở nhà hay đang trong một sự kiện nào đó, lắng nghe ý kiến của họ và nếu cần bắt chuyện, nói chuyện, hỏi chuyện và lắng nghe ý kiến của họ Tương tự muốn nắm bắt dư luận xã hội của giới trí thức cần phải lắng nghe ý kiến của người trí thức Lắng nghe bằng cách nào và như thế nào?

Quan sát không tham dự: Là dạng quan sát mà người quan sát hoàn

toàn đứng ngoài các hoạt động của đối tượng được quan sát Họ đứng ngoài quan sát và ghi chép các tình huống và diễn biến xảy ra do đó thường chỉ năm bắt được các thông tin trực tiếp, dễ quan sát, không nắm được nhiều thông tin như phương pháp quan sát tham dự

Trang 17

Đây là kỹ năng quan sát người khác mà không tham dự vào câu chuyện của họ, không hỏi, không ngắt lời, không bày tỏ ý kiến mà chỉ đơn giản quan sát

và lắng nghe họ nói, nếu cần thiết có thể ghi chép ngay để ghi nhớ không quên Cần đóng vai là một khách mời, một khán thính giả hoặc một thành viên của cuộc nói chuyện nhưng không tham gia vào câu chuyện mà chỉ có mặt để quan sát và lắng nghe ý kiến của mọi người Quan sát bằng cách lắng nghe không tham dự có ưu thế lớn là không định hướng, không điều tiết và không ảnh hưởng tới câu chuyện của người khác và nhờ vậy có thể nghe thấy được nhiều ý kiến thực sự của người khác từ đó có thể nắm bắt được dư luận xã hội Đe lắng nghe không tham dự có hiệu quả cao càn rèn luyện khả năng tự kiểm soát cảm xúc đê không gây chú ý đối với người khác và khả năng quan sát, ghi nhớ, ghi chép đầy

đủ các ý kiến mà không có sự phán xét, đánh giá và chọn lọc Chỉ sau khi đã quan sát với kỹ năng lắng nghe và ghi nhớ các dữ liệu mới nên phân tích, tông hợp và đánh giá những dữ liệu đó để tìm ra những thông tin về những luồng dư luận xã hội nhất định

Quan sát tham dự Trên thực tế rất khó có thể lắng nghe ý kiến của

người khác, của nhóm người mà không tham dự bằng cách này hay cách khác vào sự kiện xã hội nhất định Do vậy, cần áp dụng phương pháp quan sát tham

dự một cách có kiểm soát, tự kiểm soát để không can thiệp khiến người khác phải nói những gì ta muốn nghe, muốn biết và không nói những gì thực sự quan tâm của họ, cần đảm bảo thu thập được thông tin khách quan, có thật vê dư luận

xã hội

Là dạng quan sát mà ở đó người quan sát trực tiếp tham gia vào hoạt động của những người được quan sát Có thể tham dự một phần hoặc tham dự hoàn toàn vào các hoạt động trong nhóm những người được quan sát Quan sát tham

dự cho phép người làm công tác nghiên cứu dư luận xã hội, ngoài các thông tin

về các phản ứng bề ngoài của nhóm những người được quan sát, còn là các giao tiếp “ngầm”, khó quan sát trong nhóm, các “hiệu ứng” nhóm, các tác động của nhóm đến mỗi thành viên của nó

Phương pháp quan sát tham dự đòi hỏi người làm công tác nghiên cứu dư luận xã hội phải có một thời gian dài để làm quen, thích ứng với môi trường Đôi khi sự tham gia tích cực, lâu dài trong các hoạt động, tiếp xúc lâu dài với nhóm được quan sát sẽ dẫn đến kết quả là người nghiên cứu quen với thái độ, hành vi của các thành viên trong nhóm đến mức coi đó là hiển nhiên và không ghi chép những gì được coi là cần phải ghi chép

Trang 18

Cách tham dự đơn giản nhất là tỏ ra chăm chú lắng nghe, coi trọng người nói chuyện và đặt những câu hỏi phù hợp để câu chuyện được diễn ra liên tục Cách tham dự phức tạp hơn đòi hỏi phải bày tỏ ý kiến, thái độ một cách phù hợp

đế người khác nghe và hồi đáp hoặc chia sẻ ý kiến của họ Khi áp dụng kỹ năng này cần lưu ý không bày tỏ thái độ và ý kiến mang tính áp đặt khiến người nghe cảm thấy bị bắt buộc phải chấp nhận và làm người nghe không dám hoặc không muốn bày tỏ ý kiến của họ nữa Do vậy, nếu cần phải nói thì nói làm sao cho người khách quan và khơi gợi câu chuyện chứ không phải là làm cho câu chuyện trở nên tẻ nhạt hoặc kết thúc

Quan sát tham dự không đơn giản là đến tham dự một hội nghị hay một cuộc họp mà còn phải chuẩn bị các tình huống để có thể phát biểu, bày tỏ ý kiến sao cho cởi mở, hợp tác và thân thiện để người khác có thể sẵn sàng chia sẻ ý kiến, bày tỏ thái độ và xu hướng hành động của họ Nếu như sự tham dự mang ý nghĩa phán xét, kiểm soát, đe dọa, trừng phạt một loại ý kiến nào đó hay một loại thái độ nào đó hoặc một loại cử chỉ nào đó thì sẽ khó có thể lắng nghe được

dư luận xã hội thực sự của người khác

1.2 Phỏng vấn sâu

Là phương pháp thu thập thông tin định tính về dư luận xã hội dưới hình thức cuộc trao đổi ý kiến có mục đích giữa người nghiên cứu và người cung cấp thông tin Trong phỏng vấn sâu, thông qua sự tác động của ngôn ngữ, hành vi, người nghiên cứu có thể thu thập được những thông tin cụ thể, chi tiết về tâm trạng, tư tưởng, thái độ, quan điểm của người cung cấp thông tin đối với các hiện tượng, sự kiện, vấn đề xã hội cụ thể mà người nghiên cứu quan tâm

ưu điểm của phương pháp phỏng vấn sâu: Thông tin thu được qua phỏng

vấn sâu đầy đủ và sâu sắc hơn so với thông tin thu được từ phương pháp quan sát cũng như từ hình thức phỏng vấn bằng bảng hỏi tự điền; giúp người nghiên cứu phát hiện được các vấn đề mới, quan trọng mà các phương pháp nói trên không phát hiện được Do tính chất linh hoạt của cuộc phỏng vấn, hầu hết các câu hỏi đều thu được câu trả lời Tính mâu thuẫn trong các câu trả lời cũng được giảm thiểu ở mức tối đa

Hạn chế của phương pháp phỏng vắn sâu: Người thực hiện phỏng vấn sâu

phải là người có tay nghề cao và nhiều kinh nghiệm Các câu trả lời không được chuẩn hóa nên rất khó lượng hóa Việc phân tích thông tin thu được đòi hỏi phải mất nhiều thời gian

Trang 19

Phỏng vấn p h i cấu trúc: Phỏng vấn phi cấu trúc là hình thức phỏng vân không có bảng hỏi chuẩn bị sẵn Khi sử dụng phương pháp này người nghiên cứu phải nhớ một số chủ đề cần phỏng vấn và có thể sử dụng một danh mục các chủ đề để khỏi bỏ sót trong khi phỏng vấn Trong quá trình phỏng vấn, người nghiên cứu tự do hoàn toàn trong cách dẫn dắt cuộc phỏng vấn, có thể chủ động thay đổi thứ tự của các chủ đề tuỳ theo hoàn cảnh phỏng vấn và câu trả lời của người được phỏng vấn.

Phỏng vấn phi cấu trúc giống như một cuộc nói chuyện, làm cho người được phỏng vấn cảm thấy thoải mái và cởi mở trả lời theo các chủ đề phỏng vân Điều cốt yếu quyết định sự thành bại của kiểu phỏng vấn này là khả năng đặt các câu hỏi “khơi gợi” một cách có hiệu quả, tức là khả năng kích thích người trả lời cung cấp thêm thông tin

ưu điểm của phỏng vấn phỉ cấu trúc: Cho phép người nghiên cứu linh

hoạt thay đổi cấu trúc phỏng vấn tùy theo ngữ cảnh và đặc điểm của đôi tượng Phỏng vấn phi cấu trúc đặc biệt có ích trong những trường hợp khi mà người nghiên cứu cần phỏng vấn đối tượng nhiều lần, trong nhiều hoàn cảnh khác nhau Phỏng vấn phi cấu trúc đặc biệt hữu ích trong nghiên cứu các chủ đề nhạy cảm như lựa chọn nhân sự trước các kỳ bầu cử; vấn đề dân chủ ở cơ sở; vấn đề quan liêu, tham nhũng; mâu thuẫn giữa người dân với chính quyền hoặc các mâu thuẫn có liên quan đến vấn đề tôn giáo, sắc tộc; các vẫn đề xã hội khó tiếp cận

Hạn chế của phỏng vấn phi cấu trúc: Không có mẫu chuẩn bị sẵn nên mỗi

cuộc phỏng vấn là một cuộc trò chuyện không lặp lại vì vậy rất khó hệ thống hoá các thông tin và phân tích số liệu

Phỏng vấn bán cấu trúc: Là phương pháp phỏng vấn, một phần dựa theo danh mục các câu hỏi được chuẩn bị sẵn, phần còn lại do người phỏng vấn tuỳ ý nêu câu hỏi Khi sử dụng phương pháp này, người nghiên cứu tập hợp sơ bộ những câu hỏi cần để thu thập thông tin vào bản “hướng dẫn phỏng vấn” Những câu hỏi này đã được người nghiên cứu soạn ra trên cơ sở những phỏng vấn thăm

dò trước đó về chủ đề nghiên cứu để có thể biết được câu hỏi nào là cần thiết Tuy nhiên thứ tự và cách đặt câu hỏi không nhất thiết phải giống hoàn toàn như trong bản hướng dẫn phỏng vấn mà có thể thay đổi tuỳ thuộc vào ngữ cảnh và đặc điểm của đối tượng phỏng vấn

ưu điểm của phỏng vẩn bán cấu trúc: Việc sử dụng bản hướng dẫn phỏng

vấn sẽ tiết kiệm thời gian phỏng vấn Danh mục các câu hỏi giúp xác định rõ

Trang 20

những vấn đề càn thu thập thông tin nhưng vẫn cho phép độ linh hoạt cần thiết

để thảo luận các vấn đề mới nảy sinh Dễ dàng hệ thống hoá và phân tích các thông tin thu được

Hạn chế của phỏng vẩn bán cấu trúc: cần phải có thời gian để thăm dò

trước chủ đề quan tâm để xác định chủ đề nghiên cứu và thiết kế câu hỏi phù hợp Nếu người đi phỏng vấn không có kinh nghiệm thì cuộc phỏng vấn sâu có thê trở thành cuộc phỏng vấn theo bảng hỏi

1.3 Thảo luận nhóm tập trung

Là phương pháp thu thập thông tin về một chủ đề từ cuộc thảo luận của một nhóm nhỏ gồm các thành viên có các đặc điểm tương đồng (về độ tuổi, kinh nghiệm, trình độ học vấn, nghề nghiệp ) Cuộc thảo luận được dẫn dắt bởi một người điều hành sao cho các thành viên cùng tham gia vào một cuộc thảo luận tập trung vào một chủ đề đã được lựa chọn Mục đích chính của thảo luận nhóm tập trung là tìm hiểu các loại ý kiến của các thành viên trong nhóm về vấn đề, hiện tượng, sự kiện mà cán bộ làm công tác nghiên cứu dư luận xã hội quan tâm

ưu điểm của phương pháp thảo luận nhóm tập trung' Thảo luận nhóm tập

trung được thiết kế như một môi trường thuần nhất, sự có mặt của những người

có cùng đặc điểm sẽ giúp cho các thành viên dễ dàng hoà nhập vào cuộc tranh luận và các thành viên có thể cùng nhau đưa cuộc thảo luận theo chiều hướng

mà nhà nghiên cứu cũng chưa thể lường trước được Do thảo luận nhóm tập trung đi sâu vào những chủ đề nhất định nên thông tin thu được có chiều sâu và chi tiết, giúp cho người làm công tác nghiên cứu dư luận xã hội tìm ra được nguyên nhân, động cơ của mỗi loại ý kiến Phương pháp này còn giúp cho người nghiên cứu thu được nhiều thông tin với một mức chi phí thấp hom so với phỏng vấn sâu

Hạn chế của phương pháp thảo luận nhóm tập trung: Phương pháp này

cũng có những hạn chế nhất định như kết quả nghiên cứu không mang tính khái quát cho tổng thể Các kết quả có thể chỉ ra các quan điểm và chính kiến nhưng không thể cho biết tần suất phân bố của các quan niệm và hành vi trong cộng đồng Thảo luận nhóm tập trung có ít giá trị trong việc tìm hiểu những quan niệm phức tạp của các cá nhân so với phỏng vấn sâu số lượng vấn đề đặt ra trong thảo luận nhóm tập trung có thể ít hơn so với phỏng vấn từng cá nhân Định kiến của xã hội và quan điểm cực đoan của một số thành viên tham gia

Trang 21

nhóm có thể hạn chế sự thể hiện hành vi cũng như ý kiến của những người tham gia thảo luận.

1.4 Tiếp cận thông tin đại chúng.

Đây là một cách nắm bắt dư luận xã hội gián tiếp thông qua việc tìm kiếm thông tin từ báo viết, đài phát thanh, truyền hình, internet Rất nhiêu tin tức được phản ánh trên các phương tiện thông tin đại chúng đang rất sẵn có này Do vậy, hoàn toàn có thể nắm bắt nhanh chóng dư luận xã hội của các nhóm, các giai tàng xã hội và các địa phương bằng cách tìm xem các tin tức và chắt lọc, phân tích, tổng hợp các tin tức từ các phương tiện thông tin đại chúng

Có thể sử dụng phương pháp phân tích nội dung các bài báo mà chúng ta tập hợp được, ví dụ, có tất cả các số báo của một tờ báo nào trong một khoảng thời gian Các thao tác cụ thể trong công việc này là: (1) Xác định đơn vị tài liệu với tư cách như là một “lá phiếu” trong bầu cử (2) Xác định phạm trù, nội dung

mà “đơn vị” tài liệu đề cập (giống như tên các ứng cử viên trong lá phiếu bầu cử); (3) Đếm tần xuất được đề cập của nội dung, phạm trù (giống như tần xuất được bầu chọn của ứng cử viên trong lá phiếu bầu cử)

Ví dụ: Chúng ta có trong tay tất cả các số báo của báo “X” của một địa phương nào đó từ năm 2012 đến năm 2015 Điều (nội dung, phạm trù, vấn đề)

mà chúng ta quan tâm là việc đấu tranh chống tham nhũng của tờ báo Chúng ta coi mỗi số báo là một đơn vị tài liệu (lá phiếu), số báo nào có nội dung đề cập đến đấu tranh chống nạn tham nhũng (đề cập một lần hay nhiều lần) thì cột tần xuất của phạm trù tham nhũng đều chỉ được cộng 1 “điểm” (nếu chúng ta lấy đơn vị tài liệu là bài báo thì mỗi bài báo có đề cập đến nạn tham nhũng được tính là một điểm) Bảng dưới đây minh họa sự lượng hóa phạm trù tham nhũng (trong trường hợp mỗi số báo được coi ỉà một đơn vị tài liệu):

năm

Tổng số số báo đề cập đến đấu tranh chống nạn tham nhũng

Trang 22

Từ các số liệu trên chúng ta có thể kết luận về hai khả năng:

1 Từ năm 2012 đến năm 2015, tình hình tham nhũng ở địa phương của tờ báo “X” có xu hướng càng ngày càng giảm đi

2 Từ năm 2012 đến năm 2015, báo “X” có xu hướng ngày càng ít quan tâm hơn đến chủ đề đấu tranh chống tham nhũng

Nếu có nguồn thông tin đáng tin cậy cho biết, nạn tham nhũng ở địa phương của tờ báo “X”, từ năm 2012 đến năm 2015, hầu như ít thay đổi, thì chúng ta hoàn toàn có thể kết luận rằng: Từ năm 2012 đến năm 2015, báo “X”

có xu hướng ngày càng ít quan tâm hơn đến chủ đề đấu tranh chống tham nhũng

Việc “lướt mạng”, tìm đọc, tra cứu tin tức trên Internet là một trong kỹ năng hiện đại trong nắm bất dư luận xã hội hiện nay Có thể tiếp cận thông tin đại chúng trên Internet thông qua các trang mạng xã hội như facebook, twitter, blog để nhanh chóng phát hiện và nắm bắt đủ các loại ý kiến, các luồng dư luận xã hội Sử dụng các công cụ hỗ trợ tìm kiếm có thề giúp theo dõi tin tức một cách hệ thống, đầy đủ, chi tiết về một sự kiện nhất định và các luồng dư luận xã hội khác nhau về sự kiện đó

Các ý kiến nhận xét, bình luận của bạn đọc từ các trang báo mạng chính thức và các trang báo mạng phi chính thức đều có thể chứa dựng những luồng

dư luận xã hội nhất định, c ầ n rèn luyện khả năng phân tích, tống hợp nhanh đê

có thể nắm bắt dư luận xã hôi từ các loại ý kiến bình luận rất phong phú, đa dạng trên mạng

Kỹ năng truy cập, tìm kiếm một cách hệ thống, thường xuyên với đầu óc cởi mở và nghiêm túc là kỹ năng quan trọng, cần thiết và có hiệu quả cao trong nắm bắt dư luận xã hội Nếu chỉ “lướt mạng” một cách đại khái, qua loa hoặc không thường xuyên, liên tục và hệ thống thì kết quả tìm kiếm được sẽ mang tính vụn vặt, phiến diện, cảm tính, chạy theo đám đông, chạy theo tin giật gân thậm chí là “tin vịt” hoặc cảm thấy hoang mang, nhiễu loạn, quá tải Một số chuyên gia về thông tin đại chúng ước tính chỉ khoảng 10-20% tin tức trên mạng

là chính xác, đáng tin cậy và 80-90% số còn lại cần được tinh lọc, xử lý thì mới

có thể giúp nắm bắt được đầy đủ, chính xác dư luận xã hội

1.5 Nắm bắt dư ỉuận xã hội thông qua các cộng tác viên

Đây là một cách nắm bắt dư luận xã hội rất phổ biến trong hệ thống tuyêngiáo hiện nay Các cộng tác viên như là “tai mắt” quan sát, nắm bắt dư luận xã

Trang 23

viên dư luận xã hội có thể giúp nắm bắt nhanh chóng, kịp thời, hiệu quả tình hình tư tưởng, và dư luận xã hội Tuy nhiên, cộng tác viên cũng có thê cung câp thông tin một cách chủ quan, một cách phiến diện do nhiều lý do khác nhau Trong đó có lý do về năng lực, kỹ năng và điều kiện, cơ hội có hạn của cộng tác viên.

Để phát huy các thế mạnh và nâng cao hiệu quả nắm bắt dư luận xã hội cần xây dựng và sử dụng mạng lưới cộng tác viên theo 4 bước cơ bản là: (1) Tô chức mạng lưới cộng tác viên; (2) Xây dựng quy chế hoạt động của mạng lưới cộng tác viên; (3) Duy trì hoạt động của mạng lưới cộng tác viên; (4) Tông hợp thông tin, viết báo cáo nhanh về tình hình dư luận xã hội từ phản ánh của mạng lưới cộng tác viên

Cộng tác viên: Là những cán bộ, đảng viên, hội viên đang làm việc, sinh

hoạt tại các địa phương, tổ chức, cơ quan, đơn vị hoặc các cá nhân đại diện cho các giai tầng trong xã hội được ban tuyên giáo lựa chọn và được ký hợp đông làm cộng tác viên dư luận xã hội theo thỏa thuận (về nội dung công việc hoặc theo thời gian)

Cần phát hiện và tuyển dụng những người có đủ một số phẩm chât năng lực nhất định cần thiết đối với một cộng tác viên để đưa vào mạng lưới cộng tác viên dư luận xã hội Đó là người:

- Gương mẫu chấp hành tốt chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước

- Am hiểu lĩnh vực, địa bàn; tâm tư, nguyện vọng của giai tầng xã hội hoặc nhóm công chúng mà mình làm đại diện

- Có năng lực nắm bắt, tổng hợp, phân tích và phản ánh khách quan, kịp thời, trung thực các luồng ý kiến dư luận xã hội

- Có kỹ năng giao tiếp tốt

- Có đủ sức khỏe và điều kiện đảm nhiệm nhiệm vụ cộng tác viên; có nguyện vọng và tinh thần tự nguyện đóng góp vì cộng đồng

Mạng lưới cộng tác viên: mạng lưới cần bao gồm nhiều cộng tác viên đại

diện cho các giai tầng xã hội như: (1) Công nhân; (2) Nông dân; (3) Tầng lớp cán bộ, công chức đương chức; (4) Cán bộ hưu trí; (5) Văn nghệ sỹ, trí thức; (6) Doanh nhân; (7) Thanh, thiếu niên; (8) Nhóm lao động tự do

Trang 24

Hình thức hoạt động của cộng tác viên: Cộng tác viên công khai (do các

cơ quan, đoàn thể, hiệp hội các cấp cử ra); có ưu điểm phản ánh nhanh, trung thực dư luận của cán bộ, đảng viên và nhân dân trên địa bàn hoạt động của mình trước các vấn đề, sự kiện, hiện tượng Tuy nhiên, có hạn chế là thường né tránh hoặc không dám phản ánh những dư luận gai góc có liên quan đến ngành, địa phương, đơn vị mình Cộng tác viên đơn tuyến (do đầu mối làm công tác dư luận của địa phương tuyển chọn, các cơ quan, đoàn thể, chính quyền, nơi quản

lý cộng tác viên này không biết đó là cộng tác viên dư luận xã hội của đầu mối nắm bắt dư luận xã hội nêu trên)

Mỗi một hình thức hoạt động của cộng tác viên có ưu điểm và nhược điểm khác nhau do vậy cần xây dựng và sử dụng cả hai hình thức cộng tác viên công khai và cộng tác viên đom tuyến không công khai

Quy chế hoạt động của cộng tác viên Việc xây dựng và sử dụng cộng tác

viên cần phải tuân thủ các quy định pháp luật hiện hành để đảm bảo quyền hạn

và trách nhiệm của các bên liên quan, đảm bảo phòng tránh các trường hợp lạm dụng gây tổn thương tới cá nhân, tổ chức và cộng đồng Việc xây dựng và thực hiện quy chế hoạt động của cộng tác viên dư luận xã hội là rất quan trọng và cẩn thiết để nắm bắt và định hướng dư luận xã hội một cách có hiệu quả

2 Phương pháp điều tra dư luận xã hội

Điều tra dư luận xã hội là một phương pháp khoa học trở nên thông dụng

và có hiệu quả cao trong nghiên cứu về dư luận xã hội ở nhiều nước phát triên trên thế giới Điều tra dư luận xã hội có thể rất phức tạp về mục đích , ví dụ để quyết định xem một quốc gia thanh viên của Cộng đồng châu Âu (EƯ) có tách

ra khỏi EU hay vẫn ở lại E ư? Quy mô điều tra dư luận xã hội có thể rất lớn lên đến hàng triệu người tham gia Nhưng điều tra dư luận xã cũng có thể rất đơn giản về mục đích và nhỏ bé về quy mô

2.1 Phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi tự điền (Anket)

Đây là phương pháp truyền thống (được sử dụng phổ biến trong thời gian qua) để nghiên cứu, nắm bắt dư luận xã hội Cách thức điều tra được thực hiện dưới dạng điều tra viên phát phiếu và hướng dẫn để đối tượng điều tra tự điền thông tin vào phiếu điều tra Trong những trường hợp đặc biệt (đối tượng điều tra là người cao tuổi, người không biết chữ ), điều tra viên phải trực tiếp phỏng vấn và điền nội dung thông tin vào phiếu điều tra

Phương pháp này được áp dụng khỉ:

Trang 25

- Cuộc điều tra với cờ mẫu lớn.

- Vấn đề nghiên cứu, điều tra phức tạp, cần phải thu thập nhiều dữ liệu

- Khi muốn thăm dò ý kiến đối tượng qua các câu hỏi ngắn gọn và có thể trả lời nhanh được

ưu điểm:

- Do điều tra viên tiếp xúc trực tiếp nên có thể thuyết phục đối tượng trả

lời, tỷ lệ tham gia cao

- Có thể giải thích rõ cho đối tượng được điều tra về các câu hỏi

- Có thể dùng hình ảnh kết hợp với lời nói để giải thích

- Có thể kiểm tra dữ liệu tại chỗ trước khi hoàn thiện phiếu điều tra

- Những người không biết chữ cũng có thể tham gia

- Có thể thích hợp cho những nghiên cứu có bộ câu hỏi dài, phức tạp

Nhược điềm:

- Chi phí cao, mất nhiều thời gian và công sức

- Điều tra viên khác nhau có thể giải thích khác nhau cho cùng một câuhỏi

- Trong quá trình điều tra, một số người phỏng vấn có thể gợi ý câu trả lời cho người trả lời dẫn đến thông tin không thực sự khách quan

- Đặc điểm cá nhân của điều tra viên có thể ảnh hưởng đến thái độ của người trả lời, ví dụ, tuổi tác, giới tính, chủng tộc

- Trong một số trường hợp, điều tra viên có thể đọc những câu hỏi sai

lệch.

Đây là các nguồn chính của các sai số không do chọn mẫu mà do người phỏng vấn

2.2 Phương pháp điều tra qua thư

Gửi bảng câu hỏi đã soạn sẵn, kèm phong bì đã dán tem đến người muốn điều tra qua đường bưu điện Nếu mọi việc trôi chảy, đối tượng điều tra sẽ trả lời

và gửi lại bảng câu hỏi cho cơ quan điều tra cũng qua đường bưu điện

Phương pháp này được áp dụng khỉ:

Trang 26

- Đối tượng điều tra rất khó gặp, do họ ở quá xa, sống quá phân tán, sống

ở khu dành riêng rất khó vào, hay họ thuộc giới kinh doanh; những người rât bận rộn

- Vấn đề cần điều tra thuộc loại khó nói, riêng tư

- Vấn đề cần nghiên cứu rất hấp dẫn đối với đối tượng điều tra

- Vấn đề cần điều tra cần thiết phải có sự tham khảo tra cứu nhất định nàođó

ư u điếm của phương pháp này ỉà:

- Có thể điều tra với số lượng mẫu lớn

- Có thể đề cập đến nhiều vấn đề riêng tư tế nhị

- Có thể dùng hình ảnh minh hoạ kèm với bảng câu hỏi

- Thuận lợi cho người trả lời vì họ có thời gian để suy nghĩ kỹ câu trả lời,

họ có thể trả lời vào lúc rảnh rỗi

- Chi phí điều tra thấp, chi phí phát sinh thấp vì chỉ tốn thêm tiền gửi thư,mua tem, không tốn kém tiền thù lao cho phỏng vấn viên

- Không có sai số do người phỏng vấn gây ra

Nhược đỉêm của phương pháp này là:

- Khó có sự hợp tác từ đối tượng điều tra, tỷ lệ phiếu thu về thường thấp

- Mất nhiều thời gian chờ đợi thư đi và thư hồi âm

- Không kiểm soát được người trả lời, người trả lời thư có thể không đúng đối tượng mà ta nhắm tới

- Nếu là một cuộc khảo sát thái độ, rất khó để xác định xem người trả lời

có sự trợ giúp trả lời từ người khác không

- Phương pháp này chỉ có ích khi các câu hỏi khá đơn giản, không thích hợp cho các cuộc điều tra phức tạp

Các biện pháp làm tăng tỷ lệ trả lời thư:

- Thông báo trước cho người được phỏng vấn: có thể dùng bưu ảnh, thưbáo ngắn gọn khoảng chừng năm ngày trước khi gởi bảng câu hỏi Ghi cụ thê:

họ tên người nhận và thông báo mục đích

Trang 27

- Chuẩn bị kỹ phong bì: có in tên nơi gửi và họ tên địa chỉ người nhận Trên đó in đậm dòng chữ: Đây là cuộc nghiên cứu chúng tôi đã thông báo với quý vị.

- Chuẩn bị kỹ bức thư: kích thích người nhận thư điền vào bảng câu hỏi

và gởi trả lại Nêu vắn tắt đến mục đích nghiên cứu, tầm quan trọng của đối tượng được hỏi, lợi ích nếu họ tham gia, tính đơn giản của bảng câu hỏi, và thời gian ngắn để trả lời

- Hình thức trình bày của bảng câu hỏi: đơn giản, hấp dẫn, dễ đọc, dễ trả lời Có thể dùng tranh nhỏ để gây sự thích thú và kích thích trả lời

- Chuẩn bị phong bì có dán tem trả lời với địa chỉ nơi nhận

- Theo dõi quá trình hồi đáp: sau 3 đến 5 ngày sau nên có bưu thiếp/thư gởi nhắc nhở Sau 3 đến 4 tuần sau khi gửi bảng câu hỏi lần 1 gửi một bức thư mới để kêu gọi sự trả lời, kèm theo một bảng câu hỏi và phong bì có dán tem thư trả lời (để dự phòng khi đối tượng bận công tác hay đi nghỉ phép

2.3 Phương pháp điều tra qua thư điện tử (email)

Gửi thư điện tử (email) có kèm theo phiếu điều tra đến đối tượng cần điều tra Đây là phương pháp được nhiều nước tiên tiến (Mỹ, Châu Âu) thực hiện trong những năm qua

Ưu đỉêm của phương pháp này:

- Chi phí thấp

- Có thể tiếp cận cộng đồng quốc tế

- Có thể thực hiện cuộc điều tra trong thời gian ngắn

- Những câu hỏi có sử dựng bước nhảy có thể được lập trình sẵn

- Cỡ mẫu nghiên cứu có thể lớn

- Giảm các sai số do người phỏng vấn

- Dữ liệu sẵn có ngay sau khi người trả lời điền phiếu , giảm thiểu hoặc không cần nhập liệu nên giảm sai số do nhập liệu

Nhược điểm:

- Phụ thuộc vào số hộ gia đình có máy tính và truy cập internet

- Tính đại diện của mẫu kém, không thể tạo ra các mẫu ngẫu nhiên của dân số nói chung

Trang 28

- Sự khác biệt trong khả năng sử dụng máy tính và thư điện tử của mọingười.

- Các nhà cung cấp dịch vụ internet khác nhau/tốc độ đường truyền giới hạn hình ảnh có thể được sử dụng

Biện pháp làm tăng hiệu quả phỏng van qua thư điện tử:

- Sử dụng phiếu điều tra ngắn, thường dùng dưới hình thức thăm dò nhanh

dư luận xã hội về sự kiện, hiện tượng, vấn đề xã hội

- Áp dụng cho các cuộc điều tra, thăm dò dư luận xã hội với các nhóm đối tượng sống ở thành thị, các nhóm nghề nghiệp cán bộ, công chức, học sinh, sinh viên, doanh nhân

2.4 Phương pháp điều tra qua điện thoại (cố định hoặc di động)

Người điều tra tiến hành phỏng vấn đối tượng được điều tra bằng điện thoại theo một bảng câu hỏi được soạn sẵn Phương pháp này được áp dụng khi mẫu nghiên cứu gồm nhiều đối tượng là cơ quan, xí nghiệp, hay đối tượng điều tra phân tán trên nhiều địa bàn thì phỏng vấn bàng điện thoại có chi phí thấp hơn phỏng vấn bằng thư

Ưu điểm:

- Dễ thiết lập quan hệ với đối tượng (vì trao đổi trực tiếp qua điện thoại)

- Có thể kiểm soát được phỏng vấn viên tốt hơn do đó nâng cao được chất lượng phỏng vấn

- Dễ chọn mẫu (có thể căn cứ trên danh bạ điện thoại, trên danh sách cửtri )

- Tỷ lệ trả lời cao (có thể lên đến 80%)

- Nhanh và tiết kiệm chi phí

- Trong quá trình phỏng vấn, có thể giải thích nếu đối tượng điều tra không hiểu câu hỏi

Nhược điểm:

- Thời gian phỏng vấn bị hạn chế vì người trả lời thường không sẵn lòng nói chuyện lâu qua điện thoại

- Nhiều khi người cần hỏi từ chối trả lời hay không có ở nhà

- Không thể trình bày các hình ảnh minh hoạ để thăm dò ý kiến

Trang 29

- Sai số hệ thống do không tiếp cận được những hộ gia đình không có điện thoại.

- Hạn chế đối với những nghiên cứu có bộ câu hỏi phức tạp

Biện pháp làm tăng hiệu quả phỏng vấn qua điện thoại:

- Sử dụng phiếu điều tra ngắn, thường dùng dưới hình thức thăm dò nhanh

dư luận xã hội về sự kiện, hiện tượng, vấn đề xã hội

- Đào tạo đội ngũ phỏng vấn viên qua điện thoại có kỹ năng thuyết phục đối tượng điều tra và ghi chép thông tin

- Sử dụng điện thoại có chức năng ghi âm, hoặc nối với máy tính để ghi lại cuộc điện thoại và xử lý thông tin Người ta còn căn cứ vào ngữ điệu và cường độ âm thanh để đo lường mức độ cảm nhận của đối tượng điều tra

3 Quy trình thực hiện điều tra dư luận xã hội

3.1 Chuẩn bị điều tra dư luận xã hội

Giai đoạn chuẩn bị luôn đòi hỏi phải thực hiện nhiều việc để sẵn sàng cho giai đoạn tiếp theo, v ề mặt chuyên môn khoa học giai đoạn chuẩn bị điều tra dư luận xã hội đòi hỏi phải chuẩn bị cơ sở lý luận và thiết kế điều tra Cụ thể cần chuẩn bị những việc như sau:

Chuẩn bị chủ đề: cần trả lời câu hỏi điều tra dư luận xã hội về điều gì, lĩnh vực gì?

Chuẩn bị mục tiêu và nhiệm vụ điều tra: cần trả lời câu hỏi điều tra dư luận xã hội về điều này hay điều kia để làm gì? phải tập trung vào những nội dung gì để đạt được mục tiêu đó?

Chuẩn bị các khái niệm, các chỉ báo đo lường: cần sử dụng những khái niệm nào? cần có những chỉ báo nào để nắm bắt được dư luận xã hội? Những khái niệm phức tạp cần được thao tác hóa thành những khái niệm ít phức tạp từ

đó xác định các chỉ báo càn thiết để có thể đo lường, đánh giá nội dung điều tra

dư luận xã hội Ví dụ, muốn điều tra dư luận xã hội về bình đẳng giới ở Việt Nam thì cần phải rõ khái niệm “bình đẳng giới” và làm rõ các chỉ báo đo lường

“bình đẳng giới”

Chuẩn bị công cụ điều tra: về cơ bản công cụ điều tra là câu hỏi hoặc bộ câu hỏi, phiếu câu hỏi được dùng để thu thập dữ liệu từ người được điều tra Cuộc điều tra dư luận xã hội đơn giản có khi chỉ có một câu hỏi: ví dụ một câu

Trang 30

hỏi với ba phương án trả lời để lựa chọn: ông bà đồng ý hay không đông ý việc nước A tách khỏi Cộng đồng châu Ảu? Đồng ý, không đồng ý và khó trả lời Người được hỏi câu này chỉ cần chọn một trong ba phương án Cuộc điều tra phức tạp có thể cần phải nhiều câu hỏi khác nhau trong đó có câu hỏi với phương án trả lời và có những câu hỏi bỏ ngỏ mà người được điều tra cân tự đưa

ra câu trả lời phù hợp với họ Ví dụ công cụ điều tra dư luận xã hội về bình đăng giới có thể cần phải bao gồm nhiều câu hỏi về thái độ và sự đánh giá của người trả lời về thực trạng bình đẳng giới trong kinh tế, giáo dục và lãnh đạo quản lý

Chuẩn bị kích cỡ mẫu điều tra: Rất khó có thể điều tra dư luận xã hội của toàn bộ dân số của một quốc gia Do vậy cần chuẩn bị mẫu điều tra và do vậy có thể gọi đó là “điều tra chọn mẫu” Để chuẩn bị kích cỡ mẫu điều tra cần trả lời câu hỏi ví dụ điều tra dư luận xã hội của bao nhiêu người để có thông tin đủ tin cậy với sai số 5% để có thể suy luận cho tổng thể những người khác? Ví dụ trong một cơ quan có 500 người cần điều tra dư luận xã hội từ bao nhiêu người trong số 500 người đó? Hoặc ở một địa phương có 20.000 người dân vậy cân điều tra dư luận xã hội đối với bao nhiêu người là đủ tin cậy? Đây là những câu hỏi về kích cỡ mẫu điều tra dư luận xã hội Các nhà toán học thống kê có thể giúp trả lời những câu hỏi về kích cỡ mẫu rất nhanh chóng, rồ ràng và chính xác

Do vậy cách đơn giản nhất là sử dụng phụ lục Kích cỡ mẫu để lựa chọn kích cỡ mẫu phù hợp cho cuộc điều tra dư luận xã hội (xem Phụ lục cuối bài): từ 500 người có thể chỉ cần điều tra 222 người và từ 20.000 người có thể chỉ cần điều tra 392 người vẫn đảm bảo độ tin cậy 95% Tuy nhiên, kích cỡ mẫu đó cân phải được chọn lựa một các khoa học nghiêm túc

Cần chuẩn bị phương pháp chọn mẫu

Để không bị phức tạp hóa vấn đề, có thể áp dụng phương pháp chọn mẫu kết hợp ngẫu nhiêu phân cụm phân tầng Đây là phương pháp chọn mẫu phổ biến vì vừa đảm bảo tính đại diện cao vừa đơn giản, thuận tiện Ví dụ điều tra dư luận xã hội ở một khu công nghiệp lớn có thể bắt đầu chọn mẫu bằng cách xác định các đơn vị hay các doanh nghiệp Từ đó chọn ngẫu nhiên hoặc chọn có chủ đích một số đơn vị hay một số doanh nghiệp và từ đó chọn ngẫu nhiên số người

từ danh sách của đơn vị hay doanh nghiệp Nếu đơn vị hay doanh nghiệp có quá nhiều người thì có thể tiếp tục chọn một cách có chủ đích một số bộ phận và từ danh sách nhân lực của từng bộ phận có thể chọn ngẫu nhiên một số người nhất định Tương tự có thể chọn từ một tỉnh ra một số huyện, từ huyện chọn ra một

số xã và từ xã chọn ra một số thôn và từ danh sách các hộ gia đình có thê chọn

Trang 31

ngẫu nhiên một số hộ gia đình để đưa vào mẫu điều tra dư luận xã hộ của địa phương đó Đây là một cách chọn mẫu đảm bảo tính khoa học và độ tin cậy có thể chấp nhận được Tuy nhiên, để chọn mẫu thực sự khoa học cần tham khảo thêm các tài liệu chuyên môn về chọn mẫu.

Cùng với việc chuân bị vê chuyên môn khoa học như vậy cân phải chuân

bị công tác hậu cần như kinh phí, phương tiện đi lại, phương tiện hỗ trợ điều tra, nhân lực và các giấy tờ, thủ tục cần thiết khác

3.2 Thực hiện điều tra dư ỉuận xã hội

Đây là giai đoạn thực hiện những gì đã chuân bị ở giai đoạn trước đê thu thập dữ liệu về dư luận xã hội Nhiều việc cần phải thực hiện ở giai đoạn này trong đó quan trọng nhất là những công việc như sau:

Liên hệ với địa phương hoặc cơ quan, tổ chức để được sự đồng ý, cho phép điều tra dư luận xã hội tại nơi đó

Tìm gặp những người đã được chọn trong mẫu điều tra để hỏi

Sử dụng công cụ điều tra, cụ thể là phiếu câu hỏi đã được chuấn bị từ trước để hỏi người được điều tra Người được điều tra có thể tự điền câu trả lời vào phiếu hoặc người điều tra có thể ghi chép câu trả lời vào phiếu điều tra

Kiểm tra và làm sạch phiếu điều tra: cần kiểm tra ngay từng phiếu điều tra xem có sai sót, nhầm lẫn gì không để kịp thời điều tra lại hoặc chỉnh sửa một cách thận trọng mà không làm sai lệch dữ liệu thu được

3.3 Giai đoạn xử lý, phân tích thông tin và báo cáo kết quả nghiên cứu

Đây là giai đoạn gồm ít nhất ba loại việc cần phải làm như sau:

Xử lý phiếu điều tra: Với loại phiếu điều tra đơn giản có thể kiểm phiếu

rất nhanh chóng, dễ dàng Nhưng thường cần phải sử dụng máy ví tính với chương trình xử lý chuyên dụng để nhập dữ liệu từ phiếu điều tra vào máy vi tính để xử lý được dễ dàng, thuận lợi và lưu giữ, truy cập tùy yêu cầu công việc

Sau khi nhập dữ liệu từ phiếu điều tra vào máy có thể xử lý thống kê đơn giản và xử lý thống kê phức tạp tùy theo yêu cầu để có được thông tin cần thiết

Xử lý thống kê đơn giản nhất là tính tần số, tần suất, số trung bình.v.v Xử lý

phức tạp hơn là tính các hệ số tương quan của hai câu hỏi, hai biến v.v.

Ngày đăng: 13/05/2019, 01:01

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w