1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Phân tích tình hình quản lý và sử dụng vốn lưu động tại Công ty Hữu Nghị Đà Nẵng.pdf

62 453 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Phân Tích Tình Hình Quản Lý Và Sử Dụng Vốn Lưu Động Tại Công Ty Hữu Nghị Đà Nẵng
Tác giả Lờ Văn Giới
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Đà Nẵng
Thể loại Chuyên đề thực tập
Năm xuất bản 2003
Thành phố Đà Nẵng
Định dạng
Số trang 62
Dung lượng 864,33 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Phân tích tình hình quản lý và sử dụng vốn lưu động tại Công ty Hữu Nghị Đà Nẵng

Trang 1

Lời Mở Đầu

Hiện nay, vốn là vấn đề quang trọng và rất cần thiết đối với quá trình sản

xuất kinh doanh ở các doanh nghiệp.Bỡi lẽ, bất kỳ một doanh nghiệp nào muốn tiến

hành sản xuất kinh doanh điều trước tiên là phải có một lượng vốn nhất định để đầu

tư xây dựng nhà xưởng mua nguyên vật liệu, trả công,nộp thuế vốn cố định là nền

tảng cho sự hình thành và phát triển các hoạt động doanh nghiệp, vốn lưu động là

nhân tố trực tiếp quyết định đến hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp

Công ty Hữu Nghị Đà Nẵng là một doanh nghiệp nhà nước ra đời dã hơn

chục năm, trong điều kiện cơ chế thị trường cạnh tranh gay gắt như hiện nay đòi hỏi

công ty ngày càng năng động sáng tạo trong quá trình kinh doanh cũng như việc sử

dụng và khai thác hiệu quả nguồn vốn lưu động phục vụ cho quá trình kinh doanh

của mình Tuy nhiên,tình hình quản lý và sử dụng vốn lưu động tại công ty trong

những năm qua chưa được tốt thể hiện ở khả năng thanh toán, mức doanh lợi vốn

lưu động còn thấp tye lệ khoản phải thu còn cao mặc khác lượng vốn chủ sở hữu

đầu tư vào tài sản lưu động còn quá ít nên kinh doanh phải vay vốn ngân hàng, chi

phí lãi vay khá cao

Trong quá trình thực tập tại công ty, kết hợp với kiến thức được trạng bị ở

trường em thực hiện chuyên đề thực tập với đề tài “Phân tích tình hình quản lý và

sử dụng vốn lưu động tại Công ty Hữu Nghị Đà Nẵng”

PHẦN III: Một Số Biện Pháp Nhằm Nâng Cao Hơn Nữa Hiệu Quả Sử Dụng

Vốn Lưu Động Tại Công Ty

Chuyên đề được thực hiện với sự hướng dẫn tận tình của cô giáo hướng dẫn, các cô

chú phòng kế toán công ty và nổ lực của bản thân.Tuy nhiên, do thời gian và kiến

thức có hạn nên chuyên đề không tránh khỏi sự thiếu sót và hạn chế nhất định, rất

mong sự phê bình và góp ý của thầy cô và các bạn đẻ chuyên đề được hoàn chỉnh

hơn

Đà Nẵng, ngày 10 tháng 05 năm 2003

Sinh viên thực hiện

Lê Văn Giới

Trang 2

NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ QUẢN LÝ VÀ SỬ DỤNG VỐN LƯU

ĐỘNG

I/ VỐN LƯU ĐỘNG CỦA DOANH NGHIỆP

1/ Khái niệm vốn lưu động

Để tiến hành sản xuất kinh doanh trong nền sản xuất hàng hoá tiền tệ ngoài

tư liệu lao động, các doanh nghiệp cũng cần phải có đối tượng lao động và sức lao

động Nghĩa là ngoài những tư liệu lao động đã có (máy móc thiết bị nhà xưởng ),

doanh nghiệp cần phải có một lượng vốn đủ lớn để mua sắm đối tượng lao động và

trả lương cho nhân viên, lương vốn này gọi là vốn lưu động Như vậy vốn lưu động

của doanh nghiệp là khoản đầu tư vào tài sản nắgn hạn như: tiền mặt, các khỏan đầu

tư tài chính ngắn hạn, các khoản phải thu hàng tồn kho và tài sản lưu động khác, có

khả năng chuyển đổi thành tiền trong vòng một năm

Vốn lưu động ròng là phần chênh lệch giữa tài sản lưu động và đầu tư ngắn

hạn với nợ ngắn hạn, chỉ số cân bằng này thể hiện cách thức Sử dụng vốn lưu động

của doanh nghiệp

2/ Kết cấu vốn lưu động

Đối tượng lao động trong một doanh nghiệp được biểu hiện dưới nhiều hình

thức khác nhau ở nhiều khâu khác nhau trong cả một chu kỳ sản xuất, ở khâu dự

trữ, đó là những vật tư, nguyên vật liệu, dự trữ cho sản xuất và kinh doanh, ở khâu

sản xuất đó là những vật tư, bán thành phẩm, sản phẩm đang trong quá trình sản

xuất ở khâu lưu động đó là thành phẩm vốn bằng tiền

Do đó vốn lưu động của doanh nghiệp dùng để mua sắm đối tượng lao động

cũng có kết cấu phức tạp và được chia thành những bộ phận chính sau:

a/ Tiền và đầu tư tài chính ngắn hạn

Tiền là lượng tiền mà doanh nghiệp có được do ngân sách cấp, do tự có,

hoặc do bổ sung từ lợi nhuận của doanh nghiệp hoặc do đi vay Nó tồn tại dưới

hình thức tiền mặt, tiền quỹ và tiền gữi Ngân hàng và nó có vai trò rất quan trọng

đối với doanh nghiệp, giúp doanh nghiệp thuận lợi và liên tục trong quá trình sản

xuất kinh doanh và trong quá trình mua bán hàng hoá

Đầu tư tài chính ngắn hạn: là việc doanh nghiệp bỏ vốn để mua các chứng

khoán có giá trị đầu tư góp vốn liên doanh, đầu tư bất động sản có thể thu hồi trong

thời hạn không quá 1 năm hoặc một chu kỳ kinh doanh (như tín phiếu kho bạc, ký

phiếu Ngân hàng , cổ phần háo của những Công ty khác)

b/ Hàng tồn kho:

Hàng tồn kho của doanh nghiệp lưu động tài sản mà doanh nghiệp dự trữ để

sản xuất hoặc bán ra sau này hàng tồn kho của doanh nghiệp thường bao gồm

nguyên vật liệu, phụ tùng thay thế hàng hoá thành phẩm hayb một số công cụ dụng

cụ dùng cho sản xuất kinh doanh Tất cả các doanh nghiệp đều có hàng tồn kho bởi

vì quá trình sản xuất kinh doanh luôn biến động vì phải chịu sự tác động của yếu tố

Trang 3

môi trường bên ngoài cũng như bên trong doanh nghiệp do vậy để quá trình sản

xuất kinh doanh diễn ra liên tục và bình thường, tránh sự thiếu hụt và ứ đọng vốn

không hợp lý thì doanh nghiệp cần phải có lượng hàng tồn kho nhất định

c/ Các khỏan phải thu:

Trong các khoản phải thu thì khoản trhu khách hàng là quan trọng nhất và

chiếm tỷ lệ đáng kể, do đó ta chỉ nghiên cứu phải thu khách hàng

Khoản phải thu khách hàng là một bộ phận thuộc TSLĐ của doanh nghiệp

phát sinh do doanh nghiệp bán chịu hàng hoá hoặc dịch vụ cho khách hàng của

mình Bởi vì do yếu tố cạnh tranh cũng như nhu cầu tăng doanh số bán ra, các

doanh nghiệp luôn phải chấp nhận bán hàng theo phương thức tín dụng, cho nên

các khoản phải thu là một tất yếu được xác định trong vốn lưu động của doanh

nghiệp bán hàng theo phương thức tín dụng được các doanh nghiệp sử dụng như là

điều kiện thanh toán, điều kiện bán hàng với khách hàng đồng thời nó cũng là công

cụ của doanh nghiệp trong quá trình cạnh tranh

d/ Tài sản lưu động khác

Vốn lưu động của doanh nghiệp ngoài những thành phần chính trên còn tồn

tại trong các khoản khác như: các khoản tạm ứng, tạm chi tạm gữi theo những

nguyên tắc riêng mà doanh nghiệp có trách nhiệm phải thu hồi thanh toán và xử lý

3/ Vai trò của vốn lưu động trong hoạt động sản xuất kinh doanh của

doanh nghiệp

Trong quá trình sản xuất kinh doanh, vốn lưu động của doanh nghiệp trong

cùng một lúc được phân bổ trên khắp các giai đoạn và tồn tại dưới những hình thức

khác nhau, làm cho quá trình sản xuất kinh doanh được diễn ra và diễn ra một cách

liên tục không bị gián đoạn Do đó ta có thể nói nói rằng : vốn lưu động là điều kiện

cần và đủ cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, do vai trò vô cùng

to lớn này nên việc sử dụng vốn lao động trong doanh nghiệp là một công việc đòi

hỏi sự tính toán chính xác và hợp lý giữa các khâu, các giai đoạn trong quá trình sản

xuất kinh doanh thì mới có thể phát huy hết tác dụng và mang lại hiệu quả thiết

thực cho doanh nghiệp

Mặc khác trong doanh nghiệp, sự vận động của vốn phản ánh sự vận động

của vật tư mà chủ yếu là vốn lưu động, do đó vốn lưu động còn là công cụ phản ánh

và kiểm tra qui trình vận động của vật tư Nghĩa là trong doanh nghiệp vốn lưu động

nhiều hay ít thể hiện số lượng vật tư hay hàng hoá dự trữ ở các khâu nhiều hay ít,

hoặc là vốn lưu động luân chuyển nhanh hay chậm thi phản ánh vật tư được sử dụng

có tiết kiệm hay không, thời gian nằm ở các khâu trong sản xuất và lưu động sản

phẩm có hợp lý hay không Vì vậy qua tình hình luân chuyển vốn lao động, chúng

ta có thể kiểm tra một cách tòan diện đối với việc cung ứng, sản xuất và tiêu thụ của

doanh nghiệp

Tóm lại: vốn lưu động ó vai của trò vô cùng quan trọng quyết định đến sự

sống còn của doanh nghiệp, việc khai thác sử dụng nguồn vốn này ảnh hưởng trực

tiếp đến hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp, nếu khai thác xu hướng và hợp lý

thì hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp sẽ được nâng cao và ngược lại Điều này

Trang 4

đúng đắng qui mô cơ cấu của lượng vốn này, đồng thời phân bổ hợp lý thiếu hụt

vốn hay dư thừa dẫn đến lãng phí Có như vậy, sẽ phát huy hết các tác dụng của vốn

lưu động trong cơ cấu nguồn vốn kinh doanh

II/ NỘI DUNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ VÀ SỬ DỤNG VỐN LƯU

ĐỘNG

1/ Dự toán vốn lưu động

a/ Sự cần thiết phải dự toán vốn lưu động

Trước mỗi kỳ kinh doanh, mỗi doanh nghiệp luôn dự tính khối lượng sản

phẩm sản xuất theo nhu cầu thị trường và năng lực sản xuất của doanh nghiệp, theo

đó để quá trình sản xuất kinh doanh của Công ty được tiến hành đúng kế hoạch,

đúng sản lượng đồng thời diễn ra một cách liên tục và hiệu quả thì doanh nghiệp

không thể không dự toán trước nguồn vốn lao động phục vụ cho hoạt động sản xuất

kinh doanh của mình

Do vậy, việc dự toán vốn lưu động của doanh nghiệp là một việc làm vô

cùng cần thiết nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu đọng của doanh nghiệp, tiết

kiệm tránh lãng phí vốn và đảm bảo nguồn vốn cho doanh nghiệp thường xuyên

Việc dự toán vốn lưu động là công việc cần thiết trong công tác quản lý sử

dụng vốn lưu động, tuy nhiên để dự toán vốn lưu động hợp lý và phù hợp với yêu

cầu thực tế của kỳ sản xuất kinh doanh khi dự toán vốn lưu động Các doanh nghiệp

phải sử dụng một chỉ tiêu có cơ sở khoa học, đồng thời lựa chọn và áp dụng các

phương pháp thích hợp với điều kiện thực tế của từng doanh nghiệp nếy dự toán

nhu cầu vốn lưu động quá cao sẽ gây nên tình trạng ứ động vật tư, hàng hoá, lãng

phí vốn, vòng quay vốn chậm và phát sinh nhiều chi phí không hợp lý như chi phí

bảo quản, sử dụng vốn làm giá thành sản phẩm tăng cao ảnh hưởng không tốt đến

kết quả kinh doanh của doanh nghiệp ngược lại nếu dự toán nhu cầu vốn lưu động

quá thấp se xgây nên tình trạng trì tuệ trong sản xuất kinh doanh hayt trong thanh

toán sẽ làm cho uy tín của doanh nghiệp giảm đi và có thể dẫn đến tình trạng ngừng

sản xuất

b/ Các nhân tố ảnh hưởng đến lượng vốn lưu động

Lượng vốn lưu động cần thiết cho mỗi doanh nghiệp sẽ khác nhau, điều này

ảnh hướng đến rất nhiều nhân tố, như qui mô, uy tiïn của doanh nghiệp , quan hệ

của doanh nghiệp trong kinh doanh, đặc điểm của ngành mà doanh nghiệp đang

kinh doanh và điều kiện kinh tế chính trị của mõi quốc gia

c/ Một số nguyên tắc khi xác định nhu cầu vốn lưu động

+ Khi xác định nhu cầu vốn lưu động phải xuất phát từ sản xuất, từ tình hình

thực tế của doanh nghiệp để đảm bảo cho nhu cầu sản xuất một cách hợp lý Bởi vì

một doanh nghiệp vào những giai đoạn kinh doanh khác nhau, ở những thời kỳ khác

nhau do điều kiện sản xuất kinh doanh thay đỏi thì nhu cầu vốn sẽ thay đổi

Trang 5

+ Trong quá trình xác định nhu cầu vốn lưu động cần phải đìeu tra, phân tích

tình hình thực tế của các khâu dự trữ, sản xuất và lưu thông phát hiện những vấn đề

tồn đọng để có thể xử lý kịp thời những lãng phí về vốn, để lfm sqao có thể sử dụng

vốn một cách tiết kiệm nhất, cố gắng giảm bớt số lượng vốn chiếm dùng để có thể

đảm bảo nhu cầu cho sản xuất với nhu cầu và thấp nhất

+ Xuất phát từ những tốu thiểu cần thiết của cacs kế hoạch sản xuất, kế

hoạch cung cấp vật tư kỹ thuật, kế hoạch giá thành, kế hoạch tiêu thụ sản phẩm trên

cơ sở đó tổ chức huy động đủ nguồn vốn để đảm bảo cho việc thực hiện tốt các kế

hoạch nói trên và đề ra các giải pháp tiết kiệm các nguồn vốn Từ đó tổng hợp nhu

cầu vốn và cân đối giữa các bộ phận kế hoạch, nhằm cân đối giữa các bộ phận cấu

thành nguồn vốn của doanh nghiệp

+ Nguyên tắc thiết thực và quan trọng hơn nữa là cần phải có được sự tham

gia đóng góp ý kiến của các đơn vị trực thuộc như các phân xưởng, phòng ban, cán

bộ phục vụ, cán bộ công nhân viên trong doanh nghiệp, trong công tác xác định

nhu cầu vốn lưu động Bởi vì vốn lao động có tác động trong phạm vi rộng và hẹp

suốt trong chu kỳ kinh doanh của doanh nghiệp, nếu không như vậy việc kiểm toán

vốn lưu động của doanh nghiệp sẽ thiếu cơ sở thực tế, kém, tính chính xác và

không được hợp lý ở các bộ phận, các khâu trong sản xuất kinh doanh

d/ Phương pháp xác định nhu cầu vốn lưu động

Có thể nói không có một nhu cầu vốn chung trong doanh nghiệp, ở mỗi

doanh nghiệp tùy thuộc theo đặc điểm sản xuất kinh doanh, tìu thêo hoàn cảnh cụ

thể mà lựa chọn phương pháp xác định thích hợp với qui sản xuất kinh doanh của

mình Có các phương pháp xác định nhu cầu như sau:

• Phương pháp hồi quy:

Phương pháp này được xây dựng trên lý thuyết tương quan toán học Nội

dung của phương pháp này là tập hợp các tài liêu trong thực tế về vốn lưu động và

doanh thu tiêu thụ sản phẩm qua nhiều năm đê xác định tính quy luật về mối quan

hệ biến động giữa chúng từ đó suy ra nhu cầu vốn lưu động ở thời điểm cần biết

Phương pháp này có ưu điểm là để thực hiện , nhưng cũng phát sinh nhiều

nhược điểm đó là:

+ Thời điểm cần xác định nhu cầu vốn lưu động càng xa thì càng kém chính

xác

+ Số liệu được sử dụng là số liệu lịch sử của thực tế kinh doanh nào chứa

đựng nên chứa đựng nhiều yếu tố bất hợp lý, để làm sai lệch thông tin

+ Có những kghoản vốn lưu động không trực tiếp, chịu sự ảnh hưởng của

việc tăng doanh thu nên dẫn đến kết quả dự đoán kém chính xác

• Phương pháp tỷ lệ

Là phương pháp ước tính nhiệm vụ vốn lưu động bằng tỷ lệ (%) lên doanh

thu, nghĩa là căn cứ vào tỷ lệ % giữa vốn lưu động và doanh thu của năm trước để

xác định mức vốn lưu động năm nay thông qua số doanh thu kế hoạch, nhưng chỉ

dự đoán đối với những khoản vốn chịu sự biến động trực tiếp của doanh thu

Phương pháp này tương đối dể làm và đơn giản nhưng nó chỉ thấy được sự

biến động của vốn thông qua doanh thu nên không thể đảm bảo tính chính xác được

Trang 6

Căn cứ vào quá trình sản xuất kinh doanh ta có thể chia vốn lưu động ra làm

ba loại lớn

+ Vốn lưu động nằm trong khâu dự trữ sản xuất:

Gồm các khoản vốn nguyên vật liệu chính, vật liệu phụ, nhiên liệu, phụ tùng,

vật rẻ tiền, mau hỏng, bao bì

+ Vốn nằm trong khâu sản xuất

Gồm các khoản vốn sản xuất đang chế tạo bán thành phẩm tự chế chi phí đội

phân bổ

+ Vốn lưu tông: bao gồm vốn thành phẩm, hàng hoá, tiền tệ

Trên cơ sở phân tích như vậy, áp dụng các công thức, chỉ tiêu thích hợp để

dự đoán vốn tại các khâu, sau đó tổng hợp lại ta có nhu cầu vốn lao động cần thiết

cho cả quá trình sản xuất kinh doanh

2/ Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả quản lý và sử dụng vốn lưu động

a/ Thông số khả năng thanh toán

Bao gồm các chỉ tiêu đánh giá khả năng của doanh nghiệp, đó là:

* Khả năng thanh

toán hiện hành =

TSLĐ + Đầu tư ngắn hạn

Nợ ngắn hạn

Chỉ tiêu này phản ánh mối quan hệ giữa toàn bộ tài sản có thời gian chu

chuyển ngắn của doanh nghiệp với nợ ngắn hạn, chỉ tiêu này càng lớn chứng tỏ khả

năng thanh toán ngắn hạn của doanh nghiệp càng cao, tuy nhiên kinh phí cho thấy

chỉ tiêu khoảng bằng 2 là vừa phải, vì quá lớn cũng chưa hẵn tốt vì hiệu quả sử

Vì hàng tồn kho là tài sản dự trữ thường xuyên cho kinh doanh và giá trị

cũng như thời gina hóan chuyển thành tiền là không chắc chắn nhất trong các loại

tài sản lưu động, nên khả năng thanh toán nhanh của doanh nghiệp phải trừ đi bộ

thanh toán một cách nhanh nhất đó là vốn bằng tiền của doanh nghiệp

b/ Thông số khả năng hoạt động:

Là tất cả các chỉ tiêu đánh gía khả năng hoạt động của vốn lưu động và các

bộ phận cấu thành nên vốn lưu động

Trang 7

 Thông số về khoản phải thu khách hàng

quay nợ phải thu =

Số dư bình qụân nơ phải thu

x 360(ngày /vòng) Doanh thu

 Tốc độ lưu chuyển vốn lưu động của doanh nghiệp

+ Số vòng quay

vốn lưu động =

Doanh thu thuần

(vòng/kỳ ) Vốn lưu động bình quân

+ Hệ số đảm nhận

của vốn lưu động =

Vốn lưu động bình quân trong kỳ

Doanh thu thuần

 Thông số về khả năng sinh lợi của vốn lưu động

+ Mức doanh lợi của

vốn lưu động =

Lợi nhuận sau thuế

x 100%

Vốn lưu động bình quân trong kỳ

3/ Các cơ sở quản lý và sử dụng vốn lưu động

Với thành phần cơ bản là hàng tồn kho, các khoản phải thu và tiền mặt nên

việc quản lý và sử dụng vốn lưu động chính là quản lý và sử dụng hàng tồn kho, các

khoản phải thu và tiền mặt, do dó ta sẽ đi nghiên cứu từng bộ phận cấu thành này

a/ Quản lý vốn bằng tiền:

Trong mọi doanh nghiệp luông tồn tại một lượng vốn bằng tiền nhất định, và

nó có vai trò vô cùng quan trọng đối với doanh nghiệp sở dĩ tiền có vai trò quan

trọng là vì nó tồn tại trong doanh nghiệp nhằm đảm bảo cho 3 hoạt động của

doanh nghiệp đó là: hoạt động, mua sắm, thanh toán, hoạt động dự phòng và hoạt

động đầu tư

Trang 8

hoá, vật liệu và thanh toán các khoản chi phí cần thiết đảm bảo cho doanh nghiệp

hoạt động liên tục, lương tiền phục vụ cho hoạt động này là việc sử dụng tiền đê

mua sắm hàng hoá, vật liệu và thanh toán các chi phí cần thiết đảm bảo cho doanh

nghiệp hoạt động liên tục Lượng tiền phục vụ cho hoạt động này của doanh nghiệp

là lượng tiền chiếm phần lớn và các vai trò chỉ đảo đối với hoạt động của doanh

nghiệp

Hoạt động dự phòng là việc dự trữ tiền nhằm mục đích thanh toán ác khoản

có tính chất bất thường mà doanh nghiệp không lường trước được Tuy vậy, trong

thực tế các doanh nghiệp ít chú ý đến lượng tiền dành cho hoạt động này

Hoạt động đầu tư là việc sử dụng tiền để đầu tư nhằm mục đích sinh lời,

thông thường việc tính lũy tiền chjo đầu tư ở các doanh nghiệp là rất ít và điều này

tùy thuộc vào cá tính của nhà đầu tư

Để việc quản lý sử dụng tiền có hiệu quả các doanh nghiệp cần phải dự toán

chính xác nhu cầu vốn bằng tiền Việc dự toán vốn bừng tiền chủ yếu dựa vào nhu

cầu của ba hoạt động trên của doanh nghiệp ngoài ra cần có nhắc đến sự cân bằng

trong cơ cấu tiền cho hợp lý giữa các hoạt động, cân nhắc đến sự cần thiết và tiền

của cá hoạt động, có vậy thì việc quản lý tiền của doanh nghiệp mới tránh được

lãngg phí và có hiệu quả

Ngoài ra để giảm đến mức thấm nhất việc đầu tư về tiền tại doanh nghiệp

nhằn tránh lãngh phí ta cần phải giảm sự lâuna chuyển về tiền Luân chuyển là việc

các khoản vốn lưu hành từ nơi này đến nơi khác cách xa Việc luan chuyển tiền từ

khách hàng đến doanh nghiệp như vậy sẽ bị kéo dài và làm tiền đến chậm với

doanh nghiệp hơn, sự luân chuyển của tiền là do các nguyên nhân : do chuyển tiền

đi và thời gian chuyển tiền cần thiết để thực hiện nghiệp vụ Ngân hàng, ngoài ra

còn phải chịu phí Ngân hàng Để tránh tình trạng này các doanh nghiệp hiện nay

đều phải có mã số tài khoản riêng, thông qua hệ thống Ngân hàng thương mại các

quan hệ thanh toán, giữa doanh nghiệp với khách hàng sẽ được rút ngắn thời gian

từ đó tạo thuận thuận lợi cho doanh nghiệp và khách hàng tiền công việc kinh

doanh

b/ Quản lý và sử dụng hàng tồn kho

Vì giá trị hàng tồn kho chiếm tỷ trọng lớn trong tổng giá trị TSLĐ, mặc khác

hàng tồn kho có mặt hầu hết trong các công đoạn mua, sản xuất và bán, bảo đảm

cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, được diễn ra liên tục và có

hiệu quả nên việc quản lý hàng tồn kho và đưa ra quyết định đầu tư hàng tồn kho là

một công việc rất quan trọng của doanh nghiệp

Tuy vậy, việc dự trữ hàng tồn kho luôn phải tốn kém chi phí liên quan đến

việc dự trữ hàng tồn kho đó là chi phí đặt hàng và chi phí lưu giữ hàng Chi phí đặt

hàng lưu động những chi phí cố định cho mỗi lần mua hàng chi phí này baqo gồm:

chi phí giấy tờ, chi phí vận chuyển, chi phí giao dịch và một số chi phí khác còn chi

phí lưu giữ hàng tồn kho nghĩa lưu động những chi phí tăng giảm phụ thuộc vào

lượng hàng tồn kho nhiều hay ít với việc dự trữ hàng tồn kho luôn ẩn chứa 2 loại

chi phí trên và mục đích của việc ưl hàng tồn kho là cân bằng hai loại chi phí: chi

Trang 9

phí lưu giữ và chi phí đặt hàng để làm sao cho tổng chi phí tồn kho là thấp nhất, do

đó ta cần phải tìm ra mô hình quản lý hàng tồn kho hiệu quả, đó chính là mô hình

EOQ, mô hình này có nội dung như sau:

- Gọi Q là lượng hàng tồn kho cho mỗi lần đặt hàng Tại thời diểm đầu kỳ

lượng hàng tồn kho là Q và cuối kỳ là O nên lượng hàng tồn kho bình quân trong kỳ

Gọi C là chi phí lưu giữ cho mỗi đơn vị hàng tồn, khi đó tổng chi phí hàng

tồn kho là:

xC2Q

- Gọi S là lượng hàng tiêu thụ trong kỳ nên số lần đặt hàng trong kỳ là:

Q

T= +

- Gọi Q* là lượng hàng dự trữ tối ưu, nghĩa là tại Q* thì lượng hàng tòn kho

cho chi phí thấp nhất, khi đó:

O

/xO

*Q

SxC2

*Q

Như vậy, với lượng hàng dự trữ Q* ở công thức (1) thì sẽ cho chi phí tồn kho

là thấp nhất lưu động mức tồn kho là tối ưu

Mô hình tồn kho Q* trên đây chỉ mang tính chất hướng dẫn và vẫn còn là lý

thuyết, việc quản lý và quyết định đầu tư hàng tồn kho còn tùy thuộc vào điều kiện

thực tế của mõi doanh nghiệp do vậy trong từng điều kiện cụ thể của mỗi doanh

nghiệp mà xây dựng những mô hình quản lý tồn kho có hiệu quả trên cơ sở của mô

hình tồn EOQ

Trang 10

Trong khâu tiêu thụ của doanh nghiệp, vì yếu tố cạnh tranh cũng như tăng

doanh số bán các doanh nghiệp luôn phải chấp nhận bán hàng theo phương thức tín

dụng , nên các khoản phải thu là một tất yếu được xác định trong vốn lưu động

Việc quản lý các khoản phải thu nhằm xác định thời hạn tín dụng đối với

khách hàng một cách hiệu quả nhất trên cơ sở nghiên cứu , đánh giá khả năng tài

chính của khách hàng Tiêu chuẩn tín dụng đưa ra luôn chứa động 2 mặt: rủi ro và

tính sinh lời, rủi ro là việc khách hàng không thể trả được tiền và tính sinh lời đó là

sự gia tăng được doanh số bán, từ đó gia tăng doanh thu và lợi nhuận, từ điều kiện

tín dụng đó

Từ các nguyên nhân trên, ta có thể dthấy được vai trò to lớn đối với việc

quản lý các khoản phải thu mà cụ thể là việc xây dựng và dưa ra Chính sách tin

hiệu quả phù hợp với từng khách hàng Công việc chíh yếu trong việc hìh thành

Chính sách tín dụng là việc phân tích đánh giá vị thế tín dụng của khách hàng, việc

phân tích đánh giá tín dụng được tiến hành dựa trên một số đặc tính của khách hàng

như sau:

+ Tư cách tín dụng:

Là tư cách riêng hay thái độ tự nguyện đối với các nghĩa vụ trả nợ và được

đánh giá trên cơ sở dữ liệu về những lần mua chịu trước đó

+ Năng lực trả nợ:

Là khả năng thanh toán nhanh các khoản nợ và được đánh giá trên cơ sở khả

năng thanh toán hiện tại cũng như việc thanh toán các món nợ trong tương lai

+ Vốn:

Là sự đo lường về sức mạnh tài chính dài hạn của khách hàng được đánh giá

bằng việc phân tích tình hình tài chính của khách hàng

+ Thế chấp:

Là bất cứ tài sản nào của khách hàng có thể sử dụng để đảm bảo cho các

khoản nợ

+ Điều kiện kinh tế:

Là điều kiện đề cập đến xu thế phát triển của ngành kinh doanh hoặc tiềm

năng của ngành kinh tế

Việc phân tích vị thế tín dụng khách hàng nhằm đưa ra các tiêu chuẩn tín

dụng sẽ đảm bảo cho doanh nghiệp giảm thấp rủi ro tiền việc thu tiền cũng như

tăng được doanh số bán Do vậy doanh số bán của doanh nghiệp có thể bị tác động

khi tiêu chuẩn tín dụng thay đổi Cụ thể khi các tiêu chuẩn tín dụng tăng lên ở mức

cao hơn dẫn đến doanh số bán sẽ giảm và ngược lại khi tiêu chuẩn tín dụng được

hạ thấp thường sẽ thu hút được nhiều khách hàng có tiềm lực tài chính yếu Cho

nên khi quyết định thay đổi tiêu chuẩn tín dụng phải dựa trên cơ sở phân tích chi

phí và lợi nhuận trước và sau khi thay đổi các tiêu chuẩn tín dụng Nếu việc thay

đổi đem lại lợi nhuận cao hơn thì doanh nghiệp nên thay đổi, bằng không thì nên

giữ nguyên

Ngoài việc thiết lập Chính sách tín dụng việc quản lý khopản ơ thu còn xem

xét đến việc thường xuyên đôn đốc và áp dụng các biện pháp cần thiết để nhăìm thu

Trang 11

hồi nợ Đồng thời cần phải quan tâm đến việc mở sổ theo dõi chi tiết tất cả các

khoản công nợ phải thu trong và ngoài doanh nghiệp, thường xuyên theo dõi và

định kỳ phải đói chiếu, tổng hợp, phân tích tình hình công nợ phải thu Đặc biệt là

các khoản nợ quá hạn và các khoản ợ phải đòi

d/ Quản lý và sử dụng khoản phải trả

Khoản phải trả hay mua chịu là một vấn đề quan trọng trong quản lý và sử

dụng vốn lưu động, bởi vì đây là một khoản tài trợ cần thiết rất mềm dẻo phát sinh

liên tục tiền quá trình kinh doanh của doanh nghiệp các khoản tài trợ này càng quan

trọng hơn đói với cscs doanh nghiệp nhỏ tìm kiếm nguồn tài trợ ở các nơi khác nên

dựa nhiều vào mau chịu

Việc mua chịu có thể nói là con dao hai lưỡi đói với doanh nghiệp nó vừa là

người tín dụng để tài trợ việc mua hàng, vừa là phương thức cung ứng nhu cầu để

tài trợ việc bán chịu cho khách hàng, do vậy doanh nghiệp doanh nghiệp tận dụng

việc mua chịu như một nguồn tài trợ, đồng thời phải giảm tối thiểu vốn của mình

nằm tiền các khoản phải thu bằng các biện pháp bằng cách quản lý hiệu quả

Thông thường có 3 hình thức mua hàng thường xảy ra tiền quá trình kinh

doanh của mỗi doanh nghiệp đó là:

- Mua hàng trả tiền ngay

- Mua hàng trả tiền khi giao hàng

- Mua hàng trả tiền sau khi giao hàng

Tiền quản lý và sử dụng tối ưu khoản phải trả, ta chỉ chú trọng đến việc mua

hàng trả tiền sau vì tiền hình thức này cũng nảy sinh hai vấn đề là : trả tiền đúng hạn

không có sự giảm giá và trả tiền trước thời hạn có sự giảm giá Điều quan trọng của

mỗi doanh nghiệp là nghiên cứu kỹ điều kiện giảm giá khi trả tiền cân nhắc kỹ

lưởng của lợi ích việc được hưởng giảm giá và chi phí cho việc trả tiền trước thời

hạn

Việc quản lý và sử dụng các khoản phải trả là công việc quan trọng và bị

ảnh hưởng bởi rất nhiều yếu tố, chẳng hạn doanh nghiệp có khả năng tài chính

mạnh, có uy tín thì công việc quản lý và sử dụng các khoản phải trả dể dàng và

thuận lợi, còn ngược lại rất khó khăn Nhưng nói chung yếu tố quen biết, làm ăn lâu

dài giữa các doanh nghiệp với nhau được ổn định thì thuận lợi cho các doanh

nghiệp tiền việc quản lý va sử dụng các khoản phải trả

4/ Phương hướng tăng tốc độ luân chuyển vốn lưu động

a/ Ý nghgiã của việc tăng tốc độ vốn lưu động

Việc tăng tốc độü luân chuyển vốn lưu động có một số ý nghĩa thiết thực sau

đây:

+ Tiết kiệm được vốn lưu động tiền luân chuyển giảm bớt số vốn lưu động

chiếm dùng, tránh lãng phí do rúy ngắn thời gian vốn lưu động tiền các lĩn vực dự

trữ sản xuất, và lưu thông

+ Số vốn lưu động cần thiết của mỗi doanh nghiệp nhiều hay ít tiền điều kiện

sản xuất kinh doanh không đổi phụ thuộc chủ yếu vào tốc độ luân chuyển vốn lưu

động Do đó, thông qua việc tăng tốc luân chuyển vốn lưu động, doanh nghiệp có

Trang 12

kinh doanh như cũ, hoặc có thể với số vốn như cũ, doanh nghiệp có thể mở rộng

được quy mô sản xuất kinh doanh mà không cần tăng thêm vốn

+ Việc tốc độ luân chuyển vốn lưu động tăng nhanh còn ảnh hưởng tích cực

đến việc hạ tháp giá thành và chi phí lưu thông, tạo điều kiện cho doanh nghiệp có

đủ vốn thỏa mãn nhu cầu sản xuất và hoàn thành nghĩa vụ, nộp các khoản phải nộp

cho ngân sách Nhà nước, đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế xã hội trong cả nước

b/ Phướng hướng và biện pháp tăng tốc độ luân chuyển vốn

lưu động

Để tăng tốc độ luân chuyển vốn lưu động, cầìn phải thực hiện các phương

hướng và biện pháp sau đây:

- Tăng tốc độ luân chuyển vốn lưu động khâu dự trữ sản xuất bằng cách:

chọn điểm cung cấp hợp lý để rút ngắn số ngày hàng đi trên đường, só ngày cung

cấp cách nhau, căn cứ vào nhu cầu vốn lưu động đã xác định trước và tình hình

cung cấp vật tư tổ chức hợp lý việc mua sắm, dự trữ vật liệu nhằm rút bớt số lượng

dự trữ luân chuyển thường ngày, kịp thời phát hiện và giải quyết những vật tư ứ

đọng để giảm vốn ở khâu này

- Tăng tốc độ luân chuyển vốn trong khâu bằng cách áp dụng công nghệ sản

xuất kinh doanh hiện đại để rút ngắn chu kỳ sản xuất, tiết kiệm chi phí sản xuất để

hạ giá thành sản phẩm để giảm vốn lưu động

- Tăng tốc độ luân chuyển vốn tiền khâu lưu thông bằng cách nâng cao chất

lượng sản phẩm sản xuất, làm tốt công tác tiếp thị để rút ngắn số ngày dựk trữ thàh

phẩm ở kho, thực hiện được kế hoạch trung tâm Đồng thời, theo dõi tình hình

thanh toán nhằm rút ngắn số ngày sản xuất vận chuyển và thanh toán thu tiền hàng

kịp thời, tăng nhanh tốc độ luân chuyển vốn lưu động ở khâu lưu thông này

Trang 13

PHẦN II:

PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH QUẢN LÝ VÀ SỬ DỤNG VỐN LƯU ĐỘNG TẠI

CÔNG TY A.ĐẶT ĐIỂM TÌNH HÌNH CHUNG CỦA CÔNG TY HỮU NGHỊ ĐÀ NẴNG:

I.QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA CÔNG TY:

1.Quá trình hình thành và phát triển:

Tiền thân của Công ty Hữu Nghị Đà Nẵng là xí nghiệp tẩy nhuộm in hoađược

thành lập vào ngày 02- 03- 1977,đến năm 1982 sáp nhập với xí nghiệp dệt Hòa

Khánh và xí nghiệp gia công Dệt QN-ĐN hợp thành xí nghiệp liên hợp Dệt Quãng

Nam Đà Nẵng.Vào tháng 10 năm 1986,do sắp xếp lại sản xuất ,xí nghiệp liên hợp

Dệt QN- ĐN tách ra thành hai đơn vị xí nghiệp Dệt Hòa Khánh và nhà máy Dệt

nhuộm Quãng Nam Đà Nẵng

Đến 1992,trước bối cảnh ngành dệt may và giày cuả tỉnh QNĐN đang đứng

trước những khó khăn nghiêm trọng do thay đổi về thị trường(thị trường ngành dệt

may lúc bây giờ chủ yếu là các nước Liên Xô cũ) và thay đổi về cơ chế quản lý tập

trung quan liêu bao cấp sang nền kinh tế thị trường,nhà máy Dệt nhuộm QNĐN

cùng với hai xí nghiệp Dệt kim và xí nghiệp Giày da của tỉnh đang co nguy cơ tan

rã.Trước tình hình này,UBND Tỉnh QNĐN đã có chủ trương sắp xếp lại ngành Dệt

may và giày để duy trì sản xuất Từ đó công ty Hữu Nghị ra đời theo quyết định số

2994/QĐ-UB ngày 24/10/1992 trên cơ sở hợp nhất hai xí nghiệp Dệt và xí nghiệp

May

Ngay từ khi mới thành lập,công ty phải giải quyết hàng loạt những khó khăn về

công ăn việc làm cho hơn 700 lao động,về chiến lược sản phẩm chưa định hình,thị

trường chưa có bên cạnh đó thiết bị nhà xưởng quá lạc hậu và cũ nát.Qua nhiều

lần khảo sát,nghiên cứu thị trường lãnh đạo công ty đã xác định đưọc mặt hàng

trước mắt là vỏ chăn xuất khẩu sang thị trường Nhật để tận dụng các cơ sở may và

dệt hiện có,đồng thời xác định chiến lược sản phẩm với mặt hàng cơ bản và lâu dải

là giày vải và giày thể thao xuất khẩu sang thị trường Châu Âu thông qua các công

ty của Hàn Quốc.Từ đó công ty tập trung vào việc đầu tư dây chuyền sản xuất giày

vải(năm 1993,1994) và dây chuyền giày thể thao(năm 1995) trên tinh thần tự tổ

chức nghiên cứu,học hỏi để tiến hành đào tạo đội ngũ công nhân và cán bộ kỹ thuật

với sự hướng dẫn của các chuyên gia Hàn Quốc

Sau khi đầu tư dây chuyền sản xuất,trong khoảng thời gian hơn 3 năm,tập thể

cán bộ CNV tronh toàn công ty với sự hỗ trợ của tỉnh,các ngân hàng trong tỉnh,công

ty đã từng bước khắc phục những hậu quả tồn tại của 3 xí nghiệp trước đây và đi

vào tổ chức sản xuất,giải quyết đưọc việc làm cho hơn 2500 lao động.Đến nay,công

ty có được một số thị trường và khách hàng ổn định với doanh thu và kim ngạch

xuất khẩu qua các năm như sau:

- Năm 1999 : 119,30 (tỷ đồng) (8,71 triệu USD)

- Năm 2000 : 171,31 (tỷ đồng) (12,06 triệu USD)

- Năm 2001 : 210,22 (tỷ đồng) (14,52 triệu USD)

Trang 14

Với những cố gắng vượt bậc,công ty đã đứng vững được trong nền kinh tế thị

trường, từng bước trưởng thành và lớn mạnh, uy tín sản phẩm của công ty vượt ra

khỏi quốc gia và được nhiều nước trên thế giới đánh giá cao như Nhật, Hàn Quốc,

Đài Loan, các nước Châu Âu công ty ngày càng có nhiều khách hàng nước ngoài

đến ký kết hợp đồng và quan hệ mua bán

2 Nhiệm vụ và quyền hạn của công ty:

a/ Nhiệm vụ:

- Là doanh nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng hoàn tất từ khâu đầu đến khâu

cuối cùng của sản phẩm dệt,sản xuất sản phẩm này nhằm đáp ứng nhu cầu thị

trường

- Ngày càng hoàn thiện công nghệ sản xuất ,đảm bảo sản xuất ngày càng

cao trên cơ sở sản xuất các mặt hàng tẩy trắng,nhuộm in hoa các loại vải,sản xuất

sản phẩm và giày xuât khẩu

- Mở rộng sản xuất kinh doanh có hiệu quả,tự bù đắp chi phí,bảo toàn và

phát triển vốn,có nghĩa vụ nộp ngân sách đầy đủ và tập trung năng lực sản xuất địa

phương,ứng dụng khoa học công nghệ

b/ Quyền hạn:

- Là đơn vị kinh tế cơ sở, là đơn vị sản xuất kinh doanh hàng hóa có kế

hoạch nhằm đáp ứnh nhu cầu thị trường ngày càng tăng, có tư cách pháp nhân và

hạch toán kinh tế độc lập, tự chủ kinh doanh, được quyền xuất nhập khẩu trực tiếp

- Được quyền mở rộng,chủ động mọi hình thức kinh doanh, liên kết với các

cơ quan nghiên cứu, các tập thể cá nhân hay tổ chức khoa học để có thể áp dụng các

công nghệ mới

- Chủ động xác định các nguồn vốn để thực hiện các chương trình sản xuất

kinh doanh,dược liên hoàn liên kết với các sản xuất kinh doanh khác,đưọc quyền

vay, mua bán ngoại tệ tại Ngân hàng ngoại thương,được huy động cổ phần,vay ở

các Ngân hàng nước ngoài và cán bộ công nhân viên trong công ty,

- Có quyền tự cân đối năng lực sản xuất,hoàn thiện cơ cấu sản xuất và nâng

cao chất lượng sản phẩm

- Có quyền tổ chức bộ máy quản lý sản xuất kinh doanh có hiệu qủa nhất,tự

chủ động xây dựng phương án sản xuất kinh doanh

II ĐẶC ĐIỂM TỔ CHỨC SẢN XUẤT ,QUẢN LÝ VÀ QUY TRÌNH CÔNG

NGHỆ TẠI CÔNG TY:

1/ Đặc điểm tổ chức sản xuất kinh doanh:

a/ Lĩnh vực kinh doanh:

Công ty Hữu Nghị Đà Nẵng là một doanh nghiệp sản xuất,sản phẩm chính

của công ty gồm có:giày vải xuất khẩu và giày thể thao xuất khẩu.Tại công ty,hoạt

động tổ chức sản xuất được thực hiện tại các xí nghiệp trực thuộc,cụ thể gồm hai xí

nghiệp như sau:

Trang 15

+ Xí nghiệp I: Sản xuất giày vải các loại,ngoài ra còn tổ chức khấu tẩy

nhuộm các loại vải theo yêu cầu của thị trường

+ Xí nghiệp II: Sản xuất giày thể thao các loại

Ngoài ra,công ty còn có một số xí nghiệp được bố trí rãi ráctại địa bàn thành

phố Đà Nẵng và tỉnh Quãng Nam

b/ Quy mô kinh doanh:(cơ sở vật chất kỹ thuật)

Đối với công ty,máy móc thiết bị là điều kiện cần thiết để hoạt động sản

xuất.Trong năm qua,tình hình máy móc thiết bị của công ty như sau:

Tên máy móc thiết bị Số

lượng

Số

ca

Công suất (sp/máy/ca)

Công suất máy sử dụng

Hiệu suất (%) I.Xí nghiệp may 300

1.May may một kim

2.May may hai kim

II.Xí nghiệp giày

62 III.Xí nghiệp nhuộm

1.Máy tẩy nhuộm zig

2.Máy đốt lông

3.Dây chuyền lăng

4.Máy nhuộm liên tục

76 Ngoài ra,công ty còn một số cơ sở hạ tầng và trang bị một số lượng lớn

thiết bị văn phòng ở bộ phận quản lý: hệ thống máy vi tính,máy lạnh,máy

photocopy,điện thoại

2/ Đặt điểm tổ chức bộ máy quản lý tại công ty :

a.Sơ đồ tổ chức quản lý của công ty :

Bộ máy tổ chức quản lý của công ty được biểu diễn dưới dạng sơ đồ như sau:

SƠ ĐỒ TỔ CHỨC QUẢN LÝ CỦA CÔNG TY:

Trang 16

b Đặt điểm tổ chức quản lý :

Công ty tổ chức quản lý theo kiểu trực tuyến chức năng, đứng đầu công ty là

ban giám đốc công ty lãnh đạo trực tiếp đến từng xí nghiệp Giúp việc cho ban giám

đôc có phòng ban chức năng

*Ban giám đốc công ty gồm có một giám đốc và hai phó giám đốc:

- Giám đốc công ty là người phụ trách chung ,chịu trách nhiệm chỉ huy

toàn bộ hoạt động của công ty, phụ trách công tác đầu tư quy hoạch phát triển công

ty và công tác tổ chức

- Phó giám đốc 1: được giám đốc ủy quyền ký kết các văn bản hợp đồng

kinh tế và trực tiếp chỉ huy sản xuất kinh doanh bộ phận giày thể thao

- Phó giám đốc 2: được giám đốc ủy quyền ký kết các văn bản hợp đồng

kinh tế và trực tiếp chỉ huy bộ phận giày vaỉ

*Các phòng ban chức năng: đây là khối nghiệp vụ của công ty gồm có 4

phòng nghiệp vụ đảm nhận công tác điều hành và quản lý theo sự phân công chuyên

môn.Chịu sự lãnh đạo trực tiếp của ban giám đốc Nhiệm vụ cụ thể của các phòng

ban như sau:

-Phòng tổ chức- hành chính- bảo vệ:

+ Tham mưu cho giám đốc công ty trong lĩnh vực công tác tổ chức, nhấn

sự, chế độ đối với người lao động, xếp lương và theo dõi diễn biến lương- tính

lương, tính thưởng cho cán bộ công nhân viên

+Tham gia nghiên cứu sắp xếp,cải tiến bội máy quản lý phù hợp với điều

kiện hoạt độnh sản xuất kinh doanh của công ty,tham gia xây dựng kế hoạch lao

động,tiền lương trong hệ thống kế hoạt sản xuất - kỹ thuật- tài chính

Giám đốc công ty

Phó giám đốc

Phòng

SXKD

Phòng tổ chức hành chính

Các xí nghiệp trực

thuộc

Phòng XNK Phòng kế

toán

Trang 17

+Phụ trách công tác đào tạo tuyển dụng lao động, công tác phòng cháy

chữa cháy,bão lụt,quân sự,tự vệ,an toàn lao động, phụ trách công tác quản trị đời

sống tiếp khách

- Phòng sản xuất kinh doanh:

+ Điều tra, nghiên cứu nhu cầu thị trường, tiếp cận thị trường, xây dựng kế

hoạch sản phẩm sản xuất dài hạn,lập kế hoạch giá thành, dự toán chi phí sản xuất

+ Tham gia đàm phán ký kết hợp đồng kinh tế, tổ chức thanh lý hợp đồng

và quản lý hợp đồng

+ Cung ứng nguyên, nhiên, vật liệu cho quá trình sản xuất và tiêu thụ sản

phẩm

+ Tổng hợp thống kê,báo cáo kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh theo

định kỳ hoặc bất thường cho giám đốc

- Phòng xuất nhập khẩu:

+ Theo dõi hàng nhập khẩu, xuất khẩu, lập các chứng từ, tiếp nhận hàng,

xin giấy phép xuất nhập khẩu

+ Báo cáo kết quả xuất nhập khẩu cho giám đốc và cơ quan chức năng

khác

-Phòng kế toán- tài chính:

+Tham mưu cho giám đốc trong lĩnh vực hoạt động tài chính,hạch toán kế

toán, phân tích, xây dựng kế hoạch khấu hao TSCĐ, định mức vốn lưu động vào

cân đối thu chi tài chính

+Tham gia bảo vệ kế hoạch sản xuất,tài chính hàng năm trước cấp trên

công ty

+Thiết lập các sổ sách kế toàn và chứng từ kế toán theo pháp định

+Lập các báo cáo tài chính theo định kỳ

3.Đặt điểm quy trình công nghệ sản xuất sản phẩm:

Quy trình công nghệ sản xuất sản phẩm của công ty Hữu Nghị là quy

trình sản xuất kiểu liên tục,đặt điểm quy trình công nghệ được tóm tắt dưới sơ đồ

Trang 18

4 Đặt điểm tiêu thụ và thi trường tiêu thụ: Công ty Hữu Nghị Đà Nẵng tổ chức sản xuất theo hợp đồng mua bán, gia công với khách hàng trong và ngoài nước,chủ yếu là khách hàng nước ngoài,nên việc tiêu thụ phụ thuộc vào thị trường nước ngoài- phụ thuộc vào việc nghiên cứu thị trường nước ngoài để tham gia ký kết các hợp đồng sản xuất Nhìn chung phương thức tiêu thụ chủ yếu của công ty là phương thức bán buôn qua kho(dưới hai hình thức là trực tiếp tại kho và chuyển hàng thanh toán sau) Những mặt hàng sản xuất của công ty chủ yếu là tiêu thụ ở các nước sau đây: - Thị trường Châu Âu - Thị trường Nhật Bản - Thị trường Nam Triều Tiên Các sản phẩm không đạt tiêu chuẩn xuất khẩu,công ty tổ chức tiêu thụ trên thị trường trong TP Đà Nẵng và trong cả nước bao gồm miền Trung và các tỉnh phía Bắc III ĐẶT ĐIỂM TỔ CHỨC CÔNG TÁC HẠCH TOÁN TẠI CÔNG TY: 1.Sơ đồ tổ chức bộ máy kế toán ở Công ty:

Quan hệ chỉ đạo

Quan hệ công việc

Kế toán trưởng Kiêm trưởng phòng

KT tổng hợp

Kiêm phó phòng

Kế toán

Vật tư

Thủ quỹ kiêm công nợ nội bộ

KT ngân hàng- Tiền mặt

KT thành phẩm tiêu thụ-công nợ

KT các xí nghiệp trực thuộc

Trang 19

2/ Cơ cấu tổ chức bộ máy kế toán:

Căn cứ vào đặt điểm, quy mô sản xuất kinh doanh của công ty,số lượng các

nghiệp vụ kinh tế phát sinh,cơ câú tổ chức bộ máy kế toán công ty được biên chế

như sau:

+ Kế toán trưởng: là người kiêm chức trưởng phòng kế toán, chịu trách nhiệm

trước pháp luật và giám đốc việc chỉ đạo thực hiện, tổ chức công tác kế toán Nhiệm

vụ của kế toán trưởng là tổ chức bộ máy kế toán nhằm thực hiện một cách đầy đủ

chắc năng của kế toán Đồng thời,tổ chức hoạt động tài chính từ khâu huy động đến

khâu sử dụng vốn một cách có hiệu quả Kế toán trưởng có quyền chỉ đạo thực hiện

và kiểm tra công tác chuyên môn, ký duyệt hay từ chối ký duyệt các tài liệu kế toán

và có quyền yêu cầu các bộ phận khác cùng phối hợp thực hiện những công tác có

liên quan

+ Kế toán tổng hợp: Giữ chức vụ phó phòng kế toán,tổng hợp liệu của toàn công

ty về tình hình xuất nhập vật tư hàng hóa,về các loại vốn,các quỹ.Xác định kết quả

lãi lỗ,các khoản phải nộp cho ngân sách nhà nước,các khoản thanh toán cho ngân

hàng.Thực hiện việc chép sổ cái lập báo cáo tài chính vào cuối quý và kiểm tra tính

chính xác của các báo cáo

+ Kế toán vật tư : Có nhiệm vụ tổ chức ghi chép, phản ánh tổng hợp tình hình

tăng giảm số lượng,chất lượng,tình hình nhập xuất,dự trữ nguyên vật liệu,công cụ

dụng cụ lao động

+ Kế toán Ngân hàng-tiền mặt:Tổ chức, ghi chép, phản ánh chính xác đầy đủ tình

hình tiền gửi ngân hàng,giám đốc việc chấp hành chế độ thanh toán bằng tiền gửi

ngân hàng.Phản ánh tình hình thu chi tiền mặt một cách kịp thời thường xuyên,

giám sát chặt chẽ việc thu chi và quản lý tiền mặt

+ Kế toán công nợ mua hàng: Có nhiệm vụ tổ chức, ghi chép, phản ánh tổng hợp

số liệu về tình hình thanh toán các khoản công nợ mua hàng của công ty

+ Kế toán thành phẩm - Tiêu thụ và công nợ bán hàng: Có nhiệm vụ ghi chép,

phản ánh giá thành sản phẩm, tình hình tiêu thụ và tổng hợp số liệu về các khoản nợ

phải thu phát sinh trong quá trình bán hàng trong kỳ

3.Hình thức sổ sách kế toán áp dụng tại công ty:

Hiện nay công ty đang áp dụng hình thức “Chứng từ ghi sổ”, tuy nhiên để

phù hợp với yêu cầu qủan lý, công ty không áp dụng nguyên mẩu hình thức này mà

có thay đổi, cụ thể là các chứng từ gốc được tập hợp phát sinh bên có của tài khoản,

sau đó lập chứng từ ghi sổ Trình tự ghi chéúp có thể biểu diễn bằng sơ đồ sau:

Trang 20

Ghi hàng ngày Ghi cuối quý

Ghi cuối tháng Quan hệ đối chiếu

IV.ĐÁNH GIÁ CHUNG VỀ NGUỒN LỰC,TÌNH HÌNH KINH DOANH CỦA

CÔNG TY:

1.Đánh giá nguồn lực vốn và nguồn vốn của Công ty:

Đây chính là công việc xem xét sự biến động của vốn, cơ cấu vốn, nhằm tìm

hiểu khả năng tài chính cũng như việc quản lý và huy động nguồn vốn của Công ty,

vì vậy công ty có khả năng tài chính mạnh, khả năng quản lý vốn tốt, đặt biệt là vốn

lưu động sẽ là lợi thế lớn trong cạnh tranh và sẽ có khả năng phát triển tốt.Sự biến

động về vốn và nguồn vốn của công ty trong năm 2002 được thể hiện trong bản cân

đối kế toán sau:

Chứng từ gốc

Sổ quỹ Bảng kê ghi có tài khoản

Bảng kê tổng hợp

Sổ chi tiết

Chứng từ ghi sổ Bảng tổng hợp chi tiết

Bảng cân đối tài khoản

Báo cáo kế toán

Sổ cái

Trang 21

183.677.320.177 160.101.484.625 23.575.835.552

14.047.121.420 197.724.441.597

158.374.336.777 604.013.641 69.767.800.631 85.582.822.064 2.149.700.441 40.378.372.891 39.758.492.748 68.698.854 551.181.289 198.752.709.668

183.838.523.543 165.312.294.443 18.526.229.100

14.914.186.125 198.752.709.668

184.066.574 (169.209.860) 6.072.652.355 (5.987.780.220) (1.655.701) 844.261.497 7.427.844.556 (8.957.019) (6.574.626.040) 1.028.268.071

161.203.366 5.210.809.818 (5.049.606.452)

867.064.705 1.028.268.071

0,17 (21,8) 9,53 (6,54) (0,07) 2,13 22,97 (11,53) (92,26) 0,52

0,09 3,25 (21,42)

6,17 0,52

80,01 0,39 32,21 46,31 1,10 19,99 16,35 0,40 3,15

100

92,89 80,97 11,92

7,11

100

79,680,3035,1043,061,2220,3220,000,030,29

100

92,5083,179,337,50

100

Trang 22

*Tài sản:

-Tổng tài sản cuối năm so với đầu năm tăng 0,52(%) tương ứng với mức tăng

là 1.028.268.071(đ), nguyên nhân chính là do bộ phận tài sản cố định tăng

844.261.497(đ) tương ứng với tỉ lệ tăng là 2,13(%) rong bộ phận TSCĐ & ĐTDH

thì bộ phận TSCĐ tăng 7.427.844.556(đ) tương ứng với tỷ lệ tăng 22,97(%), trong

khi bộ phận chi phí XDCB dở dang giảm đáng kể là 6.574.626.040(đ) tương ứng

với tỷ lệ giảm là 92,26(%).Về bộ phận TSCĐ & ĐTNH thì cuôi năm 2002 so với

-Về bố trí cơ cấu tài sản:Tỷ trọng TSLĐ trong tổng tài sản năm 2001 là 80,01(%) và

đến năm 2002 tỷ trọng này đã giảm nhẹ nhưng vẫn còn khá cao là 79,68(%) trong

khi tỷ trọng TSCĐ & ĐTDH cuối năm 2002 so với đầu năm tăng nhẹ là 0,33(%),

từ19,99(%) lên 20,32(%), tỷ trọng này tăng chủ yếu do tỷ trọng TSCĐ tăng lên

đáng kể là 3.65(%) (20,00(%) -16,35(%))

*Nguồn vốn:

- Để tài trợ cho quy mô tài sản tăng lên 1.028.268.071(đ) công ty đã gia tăng

chủ yếu bộ phận nguồn vốn chủ sở hưũ là 867.064.705(đ), trong khi đó khoảng nợ

phải trả chỉ tăng rất ít là 161.203.366(đ) tương ứng 0,09 (%)

- Xét về tình hình phân bổ nguồn vốn: Tỷ trọng nguồn vốn chủ sở hữu cuối

năm tăng so với đầu năm là 0,39(%) (7,5(%)-7,11(%)), trong khi nợ phải trả chỉ

tăng 0,09(%).Tuy nhiên, trong khoản nợ phải trả thì khoản nợ ngắn hạn tăng cao là

2,2(%) và khoản nợ dài hạn thì giảm khá nhiều 2,59(%) Công ty đã dùng khoản nợ

ngắn hạn để tài trợ cho các khoản nợ dài hạn đến hạn của công ty, qua đó nhận thấy

tính tự chủ về tài chính của công ty la ìrất thấp

Tóm lại, trong năm 2002 công ty đã tăng quy mô tài sản nhưng rất ít và chủ

yếu là TSCĐ, việc gia tăng này chủ yếu được tài trợ chủ yếu là nguồn vốn chủ sở

hưũ.Việc bố trí cơ cấu vốn của công ty là một doanh nghiệp sản xuất như vậy là

chưa hợp lý, tỷ trọng TSCĐ & ĐTNH còn chiếm quá lớn, trong năm 2002 công ty

đã tăng tỷ trọng TSCĐ & ĐTDH nhưng vẫn còn thấp

2 Đánh giá chung về tình hình doanh thu của Công ty :

Tình hình doanh thu của công ty qua 2 năm 2001 và 2002 được thể hiện trên

bảng sau:

(ĐVT: đồng)

Chỉ tiêu Năm 2001 Năm 2002 Chênh lệch

Trang 23

I.Tổng doanh thu

1.Dthu xuất khđủ

2.Dthu nội địa

3.Dthu vải+vật tư

54 475.397.813

3.212.629.454

614.688.469

15.051.020

181.539.379.3

64 180.448.165.2

17 415.467.124 57.228.300

618.518.723

0

(28.683.585.64

6) (25.457.033.03

7) (59.930.689)

(3.155.401.154

) 3.830.254

(13,64) (12,36) (12,6) (98,22) 0,62

Hoạt động kinh doanh của st trong năm 2002 so với năm 2001 không được

tiến triển tốt, thị trường giày vải trong năm 2002 gặp khó khăn lớn, sản lượng giảm,

do đó qua bảng trên ta thấy doanh thu năm 2002 giảm so với năm 2001 là

28.683.585.646(đ) tương ứng với tỷ lệ giảm là 13,64(%).Trong đó, chủ yếu là doanh

thu xuất khẩu đã giảm đáng kể là 25.457.033.037(đ), bởi vì công ty kinh doanh

thông qua xuất khẩu là chủ yếu, ngoài ra còn sự giảm sút đáng kể của doanh thu

vải+vật tư là 3.155.401.154(đ)

3.Đánh giá sơ lược về kết quả kinh doanh của Công ty :

Kết quả kinh doanh của công ty là thành quả cuối cùng mà công ty đạt được,

thông qua kết quả này ta có thể biết được công ty kinh doanh lãi hay lỗ.Để thấy

được hiệu quả của hoạt động kinh doanh taị công ty,ta hãy xem xét bảng sau:

(Xem trang bên)

Qua bảng trên, ta thấy doanh thu trong năm 2002 giảm đáng kể so với năm

2001 là 28.683.585.646(đ) tương ứng với tỷ lệ giảm 13,64(%),nguyên nhân là do

trong năm 2002 thị trường giày vải gặp khó khăn lớn, sản lượng giảm sút, tài sản lưu

động cũng không tăng đáng kể.Vì sản lượng giảm nên giá vốn hàng hóa năm 2002

cũng giảm đáng kể so với năm 2001 là 2.603.513.063(đ) Trong năm 2002, chi phí

bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp giảm đáng kể đặc biệt là chi phí bán hàng

giảm 3.290.844.664(đ) tương ứng với tỷ lệ 53,83(%) làm cho lợi nhuận thuần từ

HĐKD của doanh nghiệp năm 2002 tăng lên 10.728.055.075(đ) vượt năm 2001

1.861.895.446(đ) với tỷ lệ tăng 21(%)

Trang 24

463 21.546.707.5

47 6.113.415.76

3 6.567.132.15

5 8.866.159.62

9 (8.633.392.58

1) 163.053.895

395.820.943

126.662.702

181.539.379.3

64 162.596.184.8

80 18.943.194.48

4 2.822.571.099

5.392.618.310

10.728.055.07

5 (10.106.404.63

1) 5.739.893

627.340.337

200.748.908

(28.683.585.6

46) (26.080.072.5

83) (2.603.513.06

3) (3.290.844.66

4) (1.174.513.84

5) 1.861.895.446

(1.473.012.05

0) (157.314.002)

231.519.394 74.086.206

(13,64) (13,82) (12,08) (53,83) (17,88) 21,00 (17,06) (96,48) 58,49 58,49

11.Lợi tức sau thuế

269.158.241 426.591.429 157.433.188 58,49

Trong năm 2002, việc huy động nguồn tài trợ gặp khó khăn nên chi phí tài

chính(lãi vay ngân hàng) tăng cao là 1.473.012.050(đ), tỷ lệ tăng 17,06(%) cùng lúc

Trang 25

đó lợi tức hoạt động bất thường cũng giảm mạnh là 157.314.002(đ) đã làm cho tổng

lợi tức trước thuế của năm 2002 tăng không cao so với năm 2001 là 231.519.394(đ)

Tóm lại, ngành da giày gặp nhiều khó khăn, sản lượng giảm, làm cho doanh

thu năm 2002 giảm so với năm 2001 nhưng giá vốn hàng hóa, chi phí bán hàng, chi

phí QLDN cũng đều giảm với tốc độ cao làm lợi tức hoạt dộng kinh doanh không

giảm và ngược lại tăng hơn so với năm 2001 Trong năm 2002, chi phí cho hoạt

động tài chính tăng quá cao đã làm cho lợi nhuận trước thuế không tăng cao như

mong muốn, Công ty cần tìm những nguồn tài trợ có chi phí thấp để cải thiện hơn

nữa kết quả kinh doanh của mình

Trang 26

ĐỘNG TẠI CÔNG TY HỮU NGHỊ ĐÀ NẴNG:

Trong công ty ,vốn lưu động là một thành phần vô cùng quan trọng trong

hoạt động kinh doanh được thể hiện dưới dạng các khoản đầu tư của doanh nghiệp

vào tài sản lưu động như tiền, các khoản phải thu, hàng tồn kho và tài sản lưu động

khác Để hoạt động sản xuất kinh doanh được phát triển tốt thì công ty phải đảm

bảo được hiệu quả của việc sử dụng vốn lưu động, bằng cách xác định được cơ cấu

tài sản hợp lý, cấu trúc nguồn vốn thích hợp, xác định được nhu cầu vốn lưu động ở

mỗi kỳ phải tương đối chính xác

Để đánh giá hiệu qủa sử dụng vốn lưu động tại công ty như thế nào, ta sẽ

dựa vào thông tin trên bảng tổng kết tài sản và báo cáo thu nhập

1.Đánh giá hiệu quả sử dụng vốn lưu động:

a.Thông số khả năng thanh toán:

Thực trạng chung cho các doanh nghiệp hiện nay là thiếu vốn kinh doanh

trầm trọng, thậm chí ngay cả khi họ sử dụng toàn bộ vốn lưu động tự có, kết hợp

khai thác triệt để các nguồn vốn khác như nguồn vốn xây dựng cơ bản, quỹ hay thu

nhập chưa phân phối vẫn chưa đảm bảo cân đối cho nhu cầu vốn cho kinh doanh và

công ty Hữu Nghị cũng không nằm ngoài thực trạng đó

Để đáp ứng cho nhu cầu vốn kinh doanh, hầu hết các doanh nghiệp phải

huy động từ nguồn tài trợ khác, chủ yếu vay ngắn hạn ngân hàng và tận dụng các

khoản phải trả Tuy nhiên, việc sử dụng các nguồn tài trợ này buộc các doanh

nghiệp phải liên tục đối đầu với các khoản nợ đến hạn Để thấy được công ty có khả

năng hoàn trả được các khoản nợ đến hạn hay không ta cần xem xét một số chỉ tiêu

sau:

* Khả năng thanh toán hiện hành:

Thông số này cho biết khả năng thanh toán nợ ngắn hạn bằng tài sản lưu

động của công ty như thế nào Từ số liệu trên bảng cân đối kế toán năm 2002 của

công ty, ta có được các hệ số thanh toán hiện hành như sau:

Năm 2001

158.374.336.777

Qua số liệu trên cho thấy khả năng thanh toán hiện hành của công ty cuối

năm giảm hơn so với đầu năm 2002 là 0,03, điều này cho biết rằng khả năng thanh

Trang 27

toán hiện hành của công ty cuối năm thấp hơn đầu năm , biểu hiện tình trạng tài

chính không được tốt của công ty trong năm 2002

Nguyên nhân chủ yếu của việc chỉ tiêu này cuối năm thấp hơn đầu năm là do

tốc độ tăng của nợ ngắn hạn cao hơn tốc độ tăng của tài sản lưu động, việc tăng nợ

ngắn hạn của công ty chủ yếu là do tăng khoản vay ngắn hạn từ 115,33 tỷ lên

119,27 tỷ, việc này thể hiện tình trạng tài chính không lành mạnh của công ty

Ngoài ra,chúng ta còn nhận thấy rằng khả năng thanh toán hiện hành của

công ty còn rất thấp so với mức có thể chấp nhận được Bởi thông thường, căn cứ

để đánh giá khả năng thanh toán của doanh nghiệp được cho là bình thường khi chỉ

số này bằng 2 Qua đó cho thấy công ty đang trong tình trạng rủi ro về tài chính là

khá cao khi khả năng thanh toán của công ty chỉ là 0,99 và 0,96(năm 2002)

* Khả năng thanh toán nhanh:

Khả năng thanh

toán nhanh

Thông số này thể hiện khả năng của các loại tài sản lưu động hoán chuyển

nhanh thành tiền dùng để thanh toán nợ ngắn hạn, số liệu được tính như sau:

Thông số khả năng thanh toán nhanh của công ty vào cuối năm tăng cao hơn

so với đầu năm là 0,02, chủ yếu là do các khoản phải thu tăng cao hơn so với đầu

năm trong khi lượng tiền giảm không đáng kể và chiếm tỷ trọng nhỏ, trong khi nợ

ngắn hạn có tăng nhưng tốc độ nhưng không cao bằng các khoản phải thu

Nhìn vào số liệu hai chỉ tiêu trên, ta còn thấy tình hình tài chính bất lợi đang diễn

ra, trong khi các khoản phải thu vào cuối năm tăng hơn so với đầu năm, nghĩa là

vốn công ty đang bị khách hàng chiếm dụng tăng lên thì vào cuối năm 2002 công ty

phải gia tăng nợ ngắn hạn mà đúng hơn là vay ngắn hạn

Ngoài ra, nhà quản lý còn quan tâm đến các khoản có thể sử dụng để thanh toán

nhanh nhất các khoản nợ ngắn hạn, đó là vốn bằng tiền Ta hãy xem xét các chỉ tiêu

khả năng thanh toán tức thời trong năm 2002:

Tiền + đầu tư ngắn hạn + Các khoản phải thu

Trang 28

Dựa vào số liệu trên ta nhận thấy ngay khả năng thanh toán bằng tiền vào

của công ty vào cuối năm thấp hơn so với đầu năm 2002 là 0,0012, do nguyên nhân

là lượng tiền măỵ giảm nhẹ trong khi khoản nợ ngắn hạn lại tăng Mặc khác,chỉ số

trên còn cho thấy khả năng thanh toán nợ ngắn hạn bằng tiền mặt của doanh nghiệp

còn rất kém

Các thông số trên đây có ý nghĩa riêng biệt của nó,nó chỉ đưa ra kết quả sơ

bộ về khả năng thanh toán các khoản nợ ngắn hạn của công ty một cách chung

chung,chưa đầy đủ,trong nhiều trường hợp sẽ không có ý nghĩa vì để phân tích khả

năng thanh toán ta cần xem xét tốc độ chuyển đổi của các khoản nợ phải thu, hàng

tồn kho thành tiền ngoài ra khó có thể tìm ra một hệ số chuẩn để so sánh mà chỉ có

thể so sánh các hệ số qua thời gian hoặc giỡa các doanh nghiệp cùng loại hình,cùng

quy mô mới có thể kết luận cụ thể Để khắc phục những hạn chế trên và đi sâu tìm

hiểu về tình hình quản lý và hiệu quả của việc sử dụng vốn lưu động ta lần lượt đi

phân tích các thành phần chính sau:

b.Tốc độ luân chuyển vốn lưu động:

Tốc độ luân chuyển vốn lưu động là số vòng quay của vốn lưu động trong

một chu kỳ sản xuất kinh doanh hoặc là thời gian của một vòng quay vốn lưu

động.Chỉ tiêu tốc độ luân chuyển vốn lưu động là chỉ tiêu chất lượng,phản ánh tổng

hợp trình độ tổ chức quản lý sản xuất kinh doanh ,quản lý tài chính của doanh

nghiệp.Để đánh giá tốc độ lưu chuyển vốn lưu động của công ty ta dùng hai chỉ tiêu

chính sau đây:

-Số vòng quay của vốn lưu động:Chỉ tiêu này cho biết số vòng quay của

vốn lưu động trong kỳ hay một đồng vốn lưu động bỏ ra thì đảm nhiệm bao nhiêu

đồng doanh thu thuần.Trị giá của chỉ tiêu này càng lớn chứng tỏ vốn lưu động quay

càng nhanh, đó là kết quả của việc quản lý vốn hợp lý trong các khâu dự trữ, tiêu

thụ và thanh toán, tạo tiền đề cho tình hình tài chính lành mạnh Chỉ tiêu này được

tính theo công thức sau:

-Số ngày một vòng quay vốn lưu động:Chỉ tiêu này thể hiện số ngày cần

thiết để vốn lưu động quay được một vòng, hệ số này càng nhỏ chứng tỏ tốc độ luân

chuyển vốn trong kỳ càng lớn và hiệu suất sử dụng vốn lưu động càcng cao.Chỉ tiêu

này được tính theo công thức sau:

Trang 29

Với những lý thuyết và những báo cáo kế toán qua các năm tại công ty,ta

có bảng phân tích về tốc độ luân chuyển vốn lưu động của công ty qua các năm như

Qua bảng phân tích trên ta nhận thấy rằng tốc độ lưu chuyển vốn lưu động

năm 2001 lưu chuyển chậm hơn năm 2002, làm số ngày một vòng quay vốn lưu

động tăng từ 259(ngày/vòng) năm 2002 lên đến 315(ngày/vòng) năm 2002, tăng lên

56 ngày Ta sẽ đi phân tích để tìm hiểu kỷ hơn nguyên nhân của tình trạng trên

Có 2 nhân tố ảnh hưởng đến tốc độ lưu chuyển vốn lưu động đó là doanh thu

thuần và vốn lưu động bình quân:

Đối tượng phân tích: 1,147 -1,388 = -0,241

*Ảnh hưởng của nhân tố doanh thu thuần:

*Ảnh hưởng của nhân tố vốn lưu động bình quân:

181.539.379.364 181.539.379.364

+Do tốc độ luân chuyển vốn lưu động năm 2002 so với năm 2001 đã làm

lãng phí một lượng vốn của công ty là:

S1 (N1 - No)

*Nhận xét:

Qua kết quả phân tích cho thấy,trong điều kiện vốn lưu động không đổi

như năm 2001, việc doanh thu thuần giảm đáng kể là 28.683.585.646(đ) do thị

trường giày vải gặp khó khăn lớn trong năm 2002 đã làm vốn lưu động chậm đi

0,189(vòng).Và trong điều kiện doanh thu không đổi như năm 2002, việc quản lý

360

181.539.379.364(315-259)

181.539.379.364 151.431.153.170

210.222.965.010 151.431.153.170

1,199-1,388 -0,189

158.282.333.490 151.431.153.170 1,147-1,199 -0,052

Trang 30

làm lãng phí một lượng vốn lưu động đáng kể là 28.239.459.001(đ) Những kết quả

trên đã đặt ra yêu cầu cho công ty là cần phải tăm dò và mở rộng thị trường hơn nữa

nhằm tăng doanh số bán tương xứng với số vốn đã đầu tư đồng thời cần xem xét các

vấn đề về tồn đọng khoản nợ phải thu khách hàng,về dự trữ tồn kho có hợp lý hay

không để có những biện pháp thích hợp nhằm đẩy mạnh tốc độ lưu chuyển vốn và

tiết kiệm vốn hơn nữa

c.Tỷ số doanh lợi vốn lưu động:

Để đánh giá hiệu quả cuối cùng của việc quản lý và sử dụng vốn lưu đọng

tại công ty ta sử dụng chỉ tiêu tỷ suất danh lợi vốn lưu động.Tỷ suất danh lợi vốn

lưu động là một chỉ tiêu kết quả phản ánh mức simh lời của việc tạo ra lợi nhuận từ

việc sủ dụng vốn lưu động,chỉ tiêu này cho biết cứ 100 đồng vốn lưu động bỏ ra sẽ

tọa được bao nhiêu đồng lợi nhuận,chỉ tiêu này càng lớn chứng tỏ hiệu quả sử dụng

vốn lưu động của công ty càng cao và ngược lại Chỉ tiêu này được tính theo công

0,26

627.340.337 158.282.333.490

0,39

Qua bảng phân tích trên ta thấy tỷ suất danh lợi vốn lưu động còn rất thấp và

từng bước được cải thiện từ 0,26(%) năm 2001 lên 0,39(%) năm 2002, nghĩa là

công ty cứ bỏ ra 100(đ) vốn lưu động thì trong năm 2001 sẽ thu về được 0,26(đ) lợi

nhuận trước thuế và trong năm 2002 thu về 0,39(đ) và lợi nhuận trước thuế Nguyên

nhân chủ yếu của việc tỷ suất này quá thấp là do trong năm 2001 chi phí do lãi vay

quá cao và vốn lưu đọng sử dụng kém hiệu quả, nhưng sang năm 2002 cùng với

việc giảm chi phí lãi vay và sử dụng hiêu quả tài sản lưu động hơn đã làm cho tỷ

suất danh lợi vốn lưu động tăng lên nhưng so với quy mô kinh doanh thì vẫn còn

quá thấp

Tổng hợp các số liệu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn lưu động tại công ty

được tính toán ở trên, ta có bảng tóm tắt sau:

Tỷ suất doanh lợi

vốn lưu động

Lợi nhuận trước thuế Vốn lưu động bình quân * 100(%)

Trang 31

1.Khả năng thanh toán hiện hành

2.Khả năng thanh toán nhanh

3.Khả năng thanh toán tức thời

4.Số vòng quay VLĐ(vòng/kỳ)

5.Số ngày 1 vòng quay VLĐ(ngày/vòng)

6.Tỷ suất danh lợi VLĐ(%)

0,99 0,40 0,0048 1,388

259 0,26

0,96 0,42 0,0036 1,147

315 0,39

*Tóm lại,qua bảng phân tích tổng hợp trên ta nhận thấy:

Về khả năng thanh toán, nhìn chung công ty đang trong tình trạng có khả

năng thanh toán rất thấp các khoản nợ ngắn hạn Trong năm 2002, chỉ tiêu khả năng

thanh toán nhanh tăng so với năm 2001, trong khi khả năng thanh toán hiện hành và

tức thời lại giảm xuống chứng tỏ trong năm 2002 lượng hàng tồn kho và tiền của

công ty đã giảm xuống so với năm 2001và ngược lại các khoản phải thu đã tăng lên

so với năm 2001.Điều này cho thấy sự không hiệu quả trong việc quản lý vốn của

công ty

-Về tỷ suất danh lợi vốn lưu động của công ty năm 2002 đã tăng lên so

với năm 2001 nhưng nhìn chung vẫn còn rất thấp, nguyên nhân chủ yếu của tình

trạng này là do tốc độ luân chuyển vốn lưu động chậm thể hiện ở chỉ tiêu số vòng

quay vốn lưu động giảm xuống từ 1,338 năm 2001 còn 1,147 trong năm 2002, điều

này cho thấy việc quản lý và sử dụng vốn không được hiêu quả của công ty

2.Phân tích tình hình quản lý và sử dụng vốn lưu động:

Để xem xét kỹ hơn tình hình quản lý và sử dụng vốn lưu động,ta sẽ đi

đánh giá và phân tích từng bộ phận của vốn lưu động.Việc phân tích các bộ phận

cấu thành nhằm tìm hiểu hiệu quả đạt được của nó, việc quản lý và sử dụng cũng

như mức độ tác động của nó đến hiệu quả chung.Ta lần lượt đi phân tích các vấn dề

sau:

a.Phân tích tình hình biến động kết cấu vốn lưu động:

Để xem xét tình hình biến động tài sản vốn lưu động và sự biến động của

từng bộ phận vốn lưu động,ta xem xét bảng phân tích kết cấu vốn lưu động trong

năm 2002 như sau:

Ngày đăng: 22/10/2012, 15:53

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình tồn EOQ. - Phân tích tình hình quản lý và sử dụng vốn lưu động tại Công ty Hữu Nghị Đà Nẵng.pdf
Hình t ồn EOQ (Trang 9)
SƠ ĐỒ TỔ CHỨC QUẢN LÝ CỦA CÔNG TY: - Phân tích tình hình quản lý và sử dụng vốn lưu động tại Công ty Hữu Nghị Đà Nẵng.pdf
SƠ ĐỒ TỔ CHỨC QUẢN LÝ CỦA CÔNG TY: (Trang 15)
SƠ ĐỒ TÓM TẮT QUY TRÌNH CÔNG NGHỆ: - Phân tích tình hình quản lý và sử dụng vốn lưu động tại Công ty Hữu Nghị Đà Nẵng.pdf
SƠ ĐỒ TÓM TẮT QUY TRÌNH CÔNG NGHỆ: (Trang 17)
Bảng kê tổng hợp - Phân tích tình hình quản lý và sử dụng vốn lưu động tại Công ty Hữu Nghị Đà Nẵng.pdf
Bảng k ê tổng hợp (Trang 20)
BẢNG CÂN ĐỐI KẾ TOÁN  Ngày 31/12/2002 - Phân tích tình hình quản lý và sử dụng vốn lưu động tại Công ty Hữu Nghị Đà Nẵng.pdf
g ày 31/12/2002 (Trang 21)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w