Một số vấn đề về khấu hao tài sản cố định trong doanh nghiệp
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU
Những năm vừa qua đất nước ta đang từng bước tiến lên Chủ nghĩa Xã hội
theo định hướng công nghiệp hóa, hiện đại hoá phát triển lâu dài Cùng với quá
trình phát triển kinh tế và đổi mới cơ chế kinh tế, hệ thống kế toán Việt Nam đã
không ngừng phát triển và hoàn thiện, góp phần tích cực vào việc tăng cường và
nâng cao chất lượng quản lý tài chính của Nhà nước và trong quản lý doanh
nghiệp Với tinh thần chung đó, hệ thống kế toán doanh nghiệp mới đã được xây
dựng phù hợp với đặc điểm kinh tế, yêu cầu quản trị kinh doanh của doanh
nghiệp Tuy nhiên, để phù hợp với những quy định mới về cơ chế tài chính đối
với các doanh nghiệp hiện nay thì hệ thống kế toán phải thường xuyên bổ sung,
hoàn thiện để phù hợp với thực tế
Trong những vấn đề cần đề cập hiện nay thì việc hạch toán khấu hao TSCĐ
cũng rất quan trọng cần được xem xét, đánh giá Bởi các doanh nghiệp khi sử
dụng TSCĐ phải tính toán và phân bổ dần giá trị của TSCĐ vào chi phí kinh
doanh trong từng kỳ hạch toán nhằm mục đích thu hồi dần vốn đầu tư, phản ánh
hao mòn của TSCĐ và tính đủ chi phí vào chi phí từng kỳ
Xuất phát từ mục tiêu và tầm quan trọng của công tác tổ chức hạch toán
khấu hao TSCĐ trong doanh nghiệp là rất cần thiết nên em đã chọn đề tài: “
Một số vấn đề về khấu hao TSCĐ trong doanh nghiệp”
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Nghiên cứu vấn đề về khấu hao TSCĐ trong
doanh nghiệp
- Phạm vi nghiên cứu: Nghiên cứu vấn đề về khấu hao TSCĐ trong
doanh nghiệp theo chế độ tài chính hiện hành ( Quyết định 206/2003 – BTC của
bộ tài chính về quản lý, sử dụng và trích khấu hao TSCĐ)
Mục đích nghiên cứu:
- Làm rõ cơ sở lý luận, thực tiễn và sự cần thiết về trích khấu hao TSCĐ
trong doanh nghiệp
Trang 2- Làm rõ một số vấn đề về trích khấu hao TSCĐ: Các phương pháp trích
khấu hao, Nguyên tắc trích khấu hao, phương pháp hạch toán khấu hao TSCĐ
- Đánh giá và kiến nghị về trích khấu hao TSCĐ theo chế độ tài chính
hiện hành về quản lý, sử dụng và trích khấu hao TSCĐ (Quyết định206/2003 –
Phần I : Cơ sở lý luận về khấu hao TSCĐ trong doanh nghiệp
Phần II : Một số vấn đề về khấu hao TSCĐ trong doanh nghiệp
Phần III: Đánh giá và kiến nghị
Em xin chân thành cảm ơn sự hướng dẫn, giúp đỡ của Cô giáo Thạc sĩ
Phạm Minh Hồng trong thời gian em làm đề án môn học Trong quá trình viết đề
án môn học em không tránh khỏi những hạn chế, thiếu sót, rất mong được sự
đóng góp ý kiến của thày cô để em tiếp tục học hỏi nhiều hơn nữa
Sinh viên thực hiện:
NGUYỄN THỊ CHINH
Trang 3NỘI DUNG
PHẦN I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KHẤU HAO TSCĐ
TRONG DOANH NGHIỆP
I TIÊU CHUẨN, NHẬN BIẾT VÀ PHÂN LOẠI TSCĐ:
1 Tiêu chuẩn và nhận biết TSCĐ:
Chắc chắn thu được lợi ích kinh tế trong tương lai từ việc sử dụng tài sản
đó: Lợi ích kinh tế do tài sản mang lại được biểu hiện ở việc tăng doanh thu, tiết
kiệm chi phí, tăng chất lượng của sản phẩm, dịch vụ khi doanh nghiệp kiểm soát
và sử dụng một tải sản nào đó
Giá trị ban đầu của tài sản phải được xác định một cách tin cậy: Tiêu
chuẩn này yêu cầu một tài sản nào đó muốn được ghi nhận là TSCĐ thì phải có
cơ sở khách quan để xác định giá trị ban đầu của nó
Có thời gian sử dụng từ 1 năm trở lên: Tiêu chuẩn này nhằm cụ thể hoá
tiêu chuẩn thứ nhất của TSCĐ Lợi ích kinh kế trong tương lai do việc sử
dụng TSCĐ không phải là trong một năm tài chính mà ít nhất là 2 năm
Có giá trị từ 10 triệu đồng trở lên: Theo quan điểm của chế độ tài
chính hiện hành, một tài sản có giá trị từ 10 triệu đồng trở lên thì được coi là có
giá trị lớn
2 Phân loại TSCĐ:
Để tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh và các hoạt động khác, đòi
hỏi doanh nghiệp phải huy động, phân phối và sử dụng một khối lượng tài sản
nhất định Một loại tài sản nào đó được ghi nhận là tài sản của doanh nghiệp khi
nó đáp ứng được hai tiêu chuẩn cơ bản là: Doanh nghiệp kiểm soát được tài sản
đó; Dự tính đem lại lợi ích kinh tế trong tương lai cho doanh nghiệp Khi sử
dụng TSCĐ thì các doanh nghiệp phải tính toán và phân bổ một cách có hệ
thống nguyên giá của TSCĐ vào chi phí kinh doanh trong từng kỳ hạch toán và
gọi là khấu hao TSCĐ
Trang 4Để làm rõ về vấn đề khấu hao TSCĐ cần phân loại TSCĐ và các khái
niệm liên quan đến vấn đề khấu hao TSCĐ
2.1 TSCĐ hữu hình:
Tài sản cố định hữu hình là những tư liệu lao động chủ yếu có hình thái vật
chất (từng đơn vị tài sản có kết cấu độc lập hoặc là một hệ thống gồm nhiều bộ
phận tài sản liên kết với nhau để thực hiện một hay một số chức năng nhất định)
thoả mãn các tiêu chuẩn của TSCĐ hữu hình, tham gia vào nhiều chu kỳ kinh
doanh nhưng vẫn giữ nguyên hình thái vật chất ban đầu như Nhà cửa, vật kiến
trúc, máy móc, thiết bị,…
2.2 TSCĐ vô hình:
TSCĐ vô hình là những tài sản không có hình thái vật chất, thể hiện một
lượng giá trị đã được đầu tư thoả mãn các tiêu chuẩn của tài sản cố định vô
hình, tham gia vào nhiều chu kỳ kinh doanh, như một số chi phí liên quan trực
tiếp tới đất sử dụng; chi phí về quyền phát hành, bằng phát minh, bằng sáng chế,
bản quyền tác giả,…
2.3 TSCĐ thuê tài chính:
TSCĐ thuê tài chính là những tài sản cố định mà doanh nghiệp thuê của
công ty cho thuê tài chính Khi kết thúc thời hạn thuê, bên thuê được quyền lựa
chọn mua lại tài sản thuê hoặc tiếp tục thuê theo các điều kiện đã thoả thuận
trong hợp đồng thuê tài chính Tổng số tiền thuê một loại tài sản quy định tại
hợp đồng thuê tài chính, ít nhất phải tương đương với giá trị của tài sản đó tại
thời điểm ký hợp đồng
3 Các khái niệm cơ bản về Khấu hao TSCĐ:
3.1 Khái niệm về khấu hao TSCĐ:
Khấu hao TSCĐ là việc tính toán và phân bổ một cách có hệ thống
nguyên giá của TSCĐ vào chi phí sản xuất, kinh doanh trong thời gian sử dụng
của TSCĐ
3.2 Khái niệm về giá trị hao mòn luỹ kế của TSCĐ:
Giá trị hao mòn luỹ kế của TSCĐ là tổng cộng giá trị hao mòn của tài sản
cố định tính đến thời điểm báo cáo
Trang 53.3 Khái niệm về hao mòn TSCĐ:
Hao mòn TSCĐ là sự giảm dần giá trị sử dụng và giá trị của tài sản cố
định do tham gia vào hoạt động sản xuất kinh doanh, do bào mòn của tự nhiên,
do tiến bộ kỹ thuật,… trong quá trình hoạt động của tài sản cố định
II SỰ CẦN THIẾT VỀ QUẢN LÝ, SỬ DỤNG VÀ TRÍCH KHẤU HAO
TSCĐ TRONG DOANH NGHIỆP:
Hao mòn TSCĐ là một phạm trù mang tính khách quan, muốn xác định giá
trị hao mòn của một TSCĐ nào đó thì cơ sở có tính khách quan nhất là thông
qua giá cả thị trường, tức là phải so sánh giá cả của TSCĐ cũ với TSCĐ mới
cùng loại Tuy nhiên, TSCĐ được đầu tư mua sắm là để sử dụng lâu dài cho quá
trình kinh doanh, do vậy, các doanh nghiệp không thể xác định giá trị hao mòn
TSCĐ theo phương pháp như trên
Nhận thức được sự hao mòn TSCĐ có tính khách quan, cho nên khi sử
dụng TSCĐ, các doanh nghiệp phải tính toán và phân bổ nguyên giá của TSCĐ
vào chi phí kinh doanh trong từng kỳ hạch toán Mục đích của việc trích khấu
hao TSCĐ là giúp cho các doanh nghiệp tính đúng, tính đủ chi phí sử dụng
TSCĐ và thu hồi vốn đầu tư để tái tạo TSCĐ khi chúng bị hư hỏng hoặc thời
gian kiểm soát hết hiệu lực Như vậy, khấu hao TSCĐ là một hoạt động có tính
chủ quan là con số giả định về sự hao mòn của TSCĐ trong quá trình sử dụng
Chính vì vậy, về phương tiện kế toán, giá trị hao mòn của TSCĐ được tính bằng
số khấu hao luỹ kế đến thời điểm xác định Khi TSCĐ bắt đầu đưa vào sử dụng
tại doanh nghiệp thì giá trị hao mòn coi như bằng không ( trừ trường hợp TSCĐ
chuyển giao giúp các đơn vị thành viên hạch toán phụ thuộc trong doanh nghiệp,
giá trị hao mòn TSCĐ bên nhận được tính bằng giá trị hao mòn ghi trên sor của
đơn vị giao)
TSCĐ của doanh nghiệp có nhiều thứ, nhiều loại với đặc tính hao mòn
khác nhau, cho nên các doanh nghiệp phải xác định phương pháp tính khấu hao
phù hợp với từng TSCĐ Tuy nhiên, các phương pháp khấu hao khác nhau sẽ
cho kết quả các khác nhau về chi phí khấu hao TSCĐ và qua đó ảnh hưởng đến
Trang 6thu nhập chịu thuế của doanh nghiệp Do vậy, việc vận dụng phương pháp khấu
hao TSCĐ phải nằm trong khuôn khổ quy định của Nhà nước
III CÁC PHƯƠNG PHÁP TRÍCH KHẤU HAO TSCĐ:
1 Phương pháp trích khấu hao đường thẳng
Tài sản cố định tham gia vào hoạt động kinh doanh được trích khấu hao
theo phương pháp khấu hao đường thẳng
* Theo phương pháp khấu hao đường thẳng, mức khấu hao hàng năm của một
TSCĐ ( Mkhn) được tính theo công thức sau:
Trường hợp thời gian sử dụng hay nguyên giá của TSCĐ thay đổi, doanh
nghiệp phải xác định lại mức trích khấu hao trung bình của TSCĐ bằng cách lấy
giá trị còn lại trên sổ kế toán chia cho thời gian sử dụng xác định lại hoặc thời
gian sử dụng còn lại ( được xác định là chênh lệch giữa thời gian sử dụng đã
đăng ký trừ thời gian đã sử dụng) của TSCĐ
Mức trích khấu hao cho năm cuối cùng của thời gian sử dụng TSCĐ
được xác định là hiệu số giữa nguyên giá TSCĐ và số khấu hao luỹ kế đã thực
hiện đến năm trước năm cuối cùng của TSCĐ đó
Đối với những tài sản cố định được mua sắm đầu tư mới thì số năm sử dụng dự
kiến phải nằm trong khoảng thời gian sử dụng tối đa và tối thiểu do Nhà nước
quy định Tuy nhiên, để xác định số năm sử dụng dự kiến cho từng TSCĐ cụ
thể, doanh nghiệp phải dựa vào những căn cứ chủ yếu sau:
- Tuổi thọ kỹ thuật của tài sản cố định theo thiết kế
Trang 7- Hiện trạng tài sản cố định ( Thời gian tài sản cố định đã qua sử dụng, thế
hệ tài sản cố định, tình trạng thực tế của tài sản,…)
- Tuổi thọ kinh tế của tài sản cố định: Được quyết định bởi thời gian kiểm
soát TSCĐ hoặc yếu tố hao mòn vô hình do sự tiến bộ kỹ thuật
2 Phương pháp trích khấu hao theo số dư giảm dần có điều chỉnh
Phương pháp trích khấu hao theo số dư giảm dần có điều chỉnh được sử dụng
đối với các doanh nghiệp thuộc các lĩnh vực có công nghệ đòi hỏi phải thay đổi,
phát triển nhanh và TSCĐ phải thoả mãn đồng thời các điều kiện sau:
- Là TSCĐ đầu tư mới ( Chưa qua sử dụng)
- Là các loại máy móc, thiết bị, dụng cụ làm việc đo lường, thí nghiệm
Các doanh nghiệp hoạt động có hiệu quả kinh tế cao được khấu hao
nhanh nhưng tối đa không quá 2 lần mức khấu hao xác định theo phương pháp
đường thẳng để nhanh chóng đổi mới công nghệ Tài sản cố định tham gia vào
hoạt động kinh doanh được trích khấu hao nhanh là máy móc, thiết bị, dụng cụ
làm việc đo lường, thí nghiệm, thiết bị và phương tiện vận tải, dụng cụ quản lý,
súc vật, vườn cây lâu năm Khi thực hiện trích khấu hao nhanh, doanh nghiệp
phải đảm bảo kinh doanh có lãi
Doanh nghiệp xác định thời gian sử dụng của TSCĐ theo quy định tại Chế
độ quản lý, sử dụng và trích khấu hao TSCĐ ban hành kèm theo Quyết định số
Tỷ lệ khấu hao nhanh Trong đó:
Tỷ lệ khấu hao nhanh xác định theo công thức sau:
X
Hệ số điều chỉnh
Tỷ lệ khấu hao TSCĐ theo phương pháp đường thẳng xác định như sau:
Trang 8Trên 4 đến 6 năm ( 4 năm < t < 6 năm 2,0
Trên 6 năm ( t > 6năm) 2,5
Những năm cuối, khi mức khấu hao năm xác định theo phương pháp số
dư giảm dần nói trên bằng ( hoặc thấp hơn) mức khấu hao tính bình quân giữa
giá trị còn lại và số năm sử dụng còn lại của TSCĐ, thì kể từ năm đó mức khấu
hao được tính bằng giá trị còn lại của TSCĐ chia cho số năm sử dụng còn lại
của TSCĐ
Mức trích khấu hao hàng tháng bằng số khấu hao phải trích cả năm chia
cho 12 tháng
3 Phương pháp trích khấu hao theo số lượng, khối lượng sản phẩm
Phương pháp khấu hao theo sản lượng được áp dụng để tính khấu hao các
loại máy móc, thiết bị thoả mãn đồng thời các điều kiện sau:
- Trực tiếp liên quan đến việc sản xuất sản phẩm
- Xác định được tổng số lượng, khối lượng sản phẩm sản xuất theo công
suất thiết kế của TSCĐ
- Công suất sử dụng thực tế bình quân tháng trong năm tài chính không
thấp hơn 50% công suất thiết kế
- Trình tự thực hiện phương pháp khấu hao TSCĐ theo số lượng, khối
lượng sản phẩm như sau:
Trang 9- Căn cứ vào hồ sơ kinh tế – kỹ thuật của TSCĐ, doanh nghiệp xác định
tổng số lượng, khối lượng sản phẩm sản xuất theo công suất thiết kế của
TSCĐ, gọi tắt là sản lượng theo công suất thiết kế
- Căn cứ tình hình thực tế sản xuất, doanh nghiệp xác định số lượng,
khối lượng sản phẩm thực tế sản xuất hàng tháng, hàng năm của TSCĐ
- Xác định mức trích khấu hao trong tháng của TSCĐ theo công thức
X
Mức trích khấu hao bình quân tính cho một đơn vị sản phẩm Trong đó:
Mức trích khấu hao năm của TSCĐ bằng tổng mức trích khấu hao của 12
tháng trong năm, hoặc tính theo công thức sau:
X
Mức trích khấu hao bình quân tính cho một đơn vị sản phẩm
Trường hợp công suất thiết kế hoặc nguyên giá của TSCĐ thay đổi, doanh
nghiệp phải xác định lại mức trích khấu hao của TSCĐ đó
IV KẾT CẤU VÀ NỘI DUNG PHẢN ÁNH CỦA TÀI KHOẢN HAO
MÒN TSCĐ
1 Tài khoản sử dụng:
Tài khoản 214 - Hao mòn tài sản cố định
+ Tài khoản 2141 – Hao mòn TSCĐ hữu hình
+ Tài khoản 2142 – Hao mòn TSCĐ thuê tài chính
Trang 10- Phản ánh giá trị hao mòn TSCĐ do tính hao mòn của những TSCĐ dùng cho hoạt động sự nghiệp, dự án, phúc lợi
- Phản ánh giá trị hao mòn bất động sản đầu tư tăng do trích khấu hao hoặc do chuyển số khấu hao luỹ kế của bất động sản chủ sở hữu sử dụng thành bất động sản đầu tư
Hao mòn TSCĐ có bốn tài khoản cấp hai:
a Tài khoản 2141 – Hao mòn TSCĐ hữu hình: Phản ánh giá trị hao mòn của TSCĐ hữu hình trong quá trình sử dụng do trích khấu hao ( hoặc tính hao mòn) TSCĐ và những khoản tăng, giảm hao mòn khác của TSCĐ hữu hình
b Tài khoản 2142 – Hao mòn TSCĐ thuê tài chính: Phản ánh giá trị hao mòn của TSCĐ thuê tài chính do trích khấu hao ( hoặc tính hao mòn) TSCĐ thuê tài chính và những khoản tăng, giảm hao mòn khác của TSCĐ thuê tài chính
c Tài khoản 2143 – Hao mòn TSCĐ vô hình: Phản ánh giá trị hao mòn của TSCĐ vô hình trong quá trình sử dụng do trích khấu hao ( hoặc tính hao mòn) TSCĐ vô hình và những khoản làm tăng, giảm hao mòn TSCĐ vô hình khác
Trang 11d Tài khoản 2147 – Hao mòn bất động sản đầu tư: Phản ánh giá trị hao mòn
bất động sản đầu tư trong quá trình nắm giữ chờ tăng giá, cho thuê hoạt động
của doanh nghiệp
V NGUYÊN TẮC TRÍCH KHẤU HAO TSCĐ TRONG DOANH
NGHIỆP
1 Mọi TSCĐ có liên quan đến hoạt động kinh doanh đều phải trích khấu
hao, mức trích khấu hao TSCĐ được hạch toán vào chi phí kinh doanh trong kỳ
kể cả TSCĐ đang thế chấp, cầm cố cho thuê
2 Phương pháp khấu hao áp dụng cho từng tài sản cố định mà doanh
nghiệp đã lựa chọn và đăng ký phải thực hiện nhất quán trong suốt quá trình sử
dụng tài sản cố định đó
3 Việc xác định thời gian khấu hao của một TSCĐ phải dựa vào khung
thời gian sử dụng theo quy định thống nhất trong chế độ tài chính Trường hợp
doanh nghiệp muốn xác định thời gian khấu hao khác với những quy định đó thì
phải được sự đồng ý của Bộ tài chính Trường hợp đặc biệt (như nâng cấp hay
tháo dỡ một hay một số bộ phận của TSCĐ) thì doanh nghiệp phải lập biên bản
nêu rõ các căn cứ làm thay đổi thời gian sử dụng và đăng ký lại thời gian sử
dụng mới của TSCĐ với cơ quan tài chính trực tiếp quản lý
4 Doanh nghiệp tự xác định thời gian sử dụng của TSCĐ vô hình trong
khoảng thời gian không quá 20 năm Riêng thời gian sử dụng của quyền sử dụng
đất có thời hạn là thời hạn được phép sử dụng đất theo quy định
5 Việc trích hoặc thôi trích khấu hao TSCĐ được thực hiện bắt đầu từ
ngày (theo số ngày của tháng) mà TSCĐ tăng, giảm hoặc ngừng tham gia vào
hoạt động kinh doanh
6 TSCĐ đã khấu hao hết mà vẫn được sử dụng cho hoạt động kinh doanh
của doanh nghiệp thì cũng không được trích khấu hao nữa
7 TSCĐ chưa khấu hao hết đã hư hỏng phải thanh lý thì phần giá trị còn
lại được xử lý thu hồi một lần ( coi như một nghiệp vụ bất thường)
Trang 128 Đối với TSCĐ không tham gia vào hoạt động kinh doanh như : TSCĐ
không cần dùng, chưa cần dùng đã có quyết định của cơ quan có thẩm quyền
cho phép doanh nghiệp được đưa vào cất trữ, bảo quản, điều động cho doanh
nghiệp khác, TSCĐ phục vụ cho hoạt động phúc lợi,… thì không phải trích khấu
hao
9 Quyền sử dụng đất lâu dài là TSCĐ vô hình đặc biệt, doanh nghiệp ghi
nhận là TSCĐ vô hình theo nguyên giá nhưng không được trích khấu hao
10 Các doanh nghiệp được sử dụng toàn bộ số khấu hao luỹ kế của
TSCĐ để tái đầu tư, thay thế, đổi mới TSCĐ; khi chưa có nhu cầu đầu tư tái tạo
lại TSCĐ, doanh nghiệp có quyền sử dụng linh loạt số khấu hao luỹ kế phục vụ
cho yêu cầu kinh doanh của mình
Trang 13PHẦN II: KẾ TOÁN KHẤU HAO TSCĐ TRONG DOANH NGHIỆP
I BÀN VỀ KHẤU HAO TSCĐ TRONG DOANH NGHIỆP:
1 Bàn về tiêu chuẩn nhận biết TSCĐ:
Theo chuẩn mực kế toán Việt nam (VAS) số 3 thì các tài sản được ghi
nhận là TSCĐ hữu hình phải thoả mãn đồng thời tất cả bốn tiêu chuẩn: Chắc
chắn thu được lợi ích kinh tế trong tương lai từ việc sử dụng tài sản đó; Nguyên
giá tài sản phải được xác định một cách đáng tin cậy; Thời gian sử dụng ước
tính trên một năm; Có đủ tiêu chuẩn giá trị theo quy định hiện hành Còn theo
Quyết định 206/2003/QĐ - BTC ngày 12/12/2003 của Bộ trưởng Bộ Tài chính
ban hành chế độ quản lý sử dụng và trích khấu hao tài sản cố định, quy định “
Thời gian sử dụng từ một năm trở lên” và giá trị từ 10.000.000 đồng ( mười triệu
đồng) trở lên Quy định về thời gian sử dụng giữa chuẩn mực ( trên một năm)
với chế độ tài chính ( từ một năm) đã không thống nhất làm cho kế toán doanh
nghiệp rất lúng túng khi xác định TSCĐ hữu hình Do vậy, thời gian sử dụng
TSCĐ hữu hình nên được quy định là “ ước tính trên 1 năm” vì nếu từ 1 năm thì
trong năm sản xuất kinh doanh không cần ghi nhận TSCĐ hữu hình để khấu hao
dần vào chi phí sản xuất kinh doanh
2 Bàn về phương pháp khấu hao TSCĐ:
Chuẩn mực kế toán số 3 cũng quy định ba phương pháp khấu hao TSCĐ
HH gồm: Phương pháp khấu hao đường thẳng; Phương pháp khấu hao theo số
dư giảm dần; Phương pháp khấu hao theo số lượng sản phẩm
Theo phương pháp khấu hao đường thẳng, số khấu hao hàng năm không thay
đổi trong suốt thời gian sử dụng hữu ích của tài sản
Theo phương pháp khấu hao theo số dư giảm dần, số khấu hao giảm dần hàng
năm trong suốt thời gian sử dụng hữu ích của tài sản
Phương pháp khấu hao theo số lượng sản phẩm dựa trên tổng số đơn vị sản
phẩm ước tính tài sảnm có thể tạo ra
Trang 14Phương pháp khấu hao do doanh nghiệp xác định để áp dụng cho từng TSCĐ
hữu hình phải được thực hiện nhất quán, trừ khi có sự thay đổi trong cách thức
sử dụng tài sản đó
Nhưng theo Quyết định số 206/2003/QĐ - BTC thì quy định doanh
nghiệp được lựa chọn các phương pháp trích khấu hao phù hợp với từng loại
TSCĐ của doanh nghiệp
Nếu phân loại TSCĐ của doanh nghiệp bao gồm các loại như sau:
Loại 1: Nhà cửa, vật kiến trúc
Loại 2 : Máy móc, thiết bị,…
Loại 3 : Phương tiện vận tải
Loại 4: Thiết bị, dụng cụ quản lý
Loại 5 : Vườn cây lâu năm, súc vật làm việc và cho sản phẩm
Loại 6 : Các loại tài sản cố định khác
Như vậy, Doanh nghiệp lựa chọn các phương pháp trích khấu hao phù hợp
với loại TSCĐ hữu hình là hợp lý Nếu phù hợp với từng thứ TSCĐ hữu hình thì
rất phân tán, việc theo dõi rất phức tạp
Về phương pháp khấu hao đường thẳng theo chuẩn mực kế toán số 3 quy định:
TSCĐ hữu hình tham gia vào hoạt động kinh doanh được trích khấu hao theo
phương pháp khấu hao đường thẳng Các doanh nghiệp hoạt động có hiệu quả
kinh tế cao được khấu hao nhanh nhưng tối đa không quá 2 lần mức khấu hao
xác định theo phương pháp đường thẳng để nhanh chóng đổi mới công nghệ
TSCĐ hữu hình tham gia vào hoạt động kinh doanh được trích khấu hao nhanh
là: máy móc, thiết bị, dụng cụ làm việc đo lường, thí nghiệm; thiết bị và phương
tiện vận tải; dụng cụ quản lý; súc vật, vườn cây lâu năm Khi thực hiện trích
khấu hao nhanh, doanh nghiệp phải đảm bảo kinh doanh có lãi
3 Bàn về Công thức tính khấu hao TSCĐ: