Quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp theo định hướng phân luồng ở các trường THCS trên địa bàn huyện Nậm Pồ, tỉnh Điện BiênQuản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp theo định hướng phân luồng ở các trường THCS trên địa bàn huyện Nậm Pồ, tỉnh Điện BiênQuản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp theo định hướng phân luồng ở các trường THCS trên địa bàn huyện Nậm Pồ, tỉnh Điện BiênQuản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp theo định hướng phân luồng ở các trường THCS trên địa bàn huyện Nậm Pồ, tỉnh Điện BiênQuản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp theo định hướng phân luồng ở các trường THCS trên địa bàn huyện Nậm Pồ, tỉnh Điện BiênQuản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp theo định hướng phân luồng ở các trường THCS trên địa bàn huyện Nậm Pồ, tỉnh Điện BiênQuản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp theo định hướng phân luồng ở các trường THCS trên địa bàn huyện Nậm Pồ, tỉnh Điện BiênQuản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp theo định hướng phân luồng ở các trường THCS trên địa bàn huyện Nậm Pồ, tỉnh Điện BiênQuản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp theo định hướng phân luồng ở các trường THCS trên địa bàn huyện Nậm Pồ, tỉnh Điện Biên
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM ––––––––––––––––––––
QUÀNG VĂN TRUNG
QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC HƯỚNG NGHIỆP THEO ĐỊNH HƯỚNG PHÂN LUỒNG Ở CÁC TRƯỜNG THCS TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN NẬM PỒ TỈNH ĐIỆN BIÊN
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
THÁI NGUYÊN - 2018
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM ––––––––––––––––––––
QUÀNG VĂN TRUNG
QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC HƯỚNG NGHIỆP THEO ĐỊNH HƯỚNG PHÂN LUỒNG Ở CÁC TRƯỜNG THCS TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN NẬM PỒ TỈNH ĐIỆN BIÊN
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi và được sự hướng dẫn khoa học của TS Lê Thị Phương Hoa Các nội dung nghiên cứu, kết quả trong đề tài là nghiên cứu của tôi, trung thực và chưa từng công bố dưới bất kì hình thức nào Những số liệu trong các bảng biểu phục vụ cho việc phân tích, nhận xét, đánh giá được chính tác giả thu thập từ các nguồn khác nhau có ghi rõ trong phần tài liệu tham khảo
Ngoài ra luận văn còn sử dụng một số nhận xét, đánh giá cũng như số liệu của các tác giả khác, các cơ quan tổ chức khác đều có trích dẫn và chú thích rõ nguồn gốc
Nếu phát hiện có bất kì sự gian lận nào tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về nội dung luận văn của mình
Thái Nguyên, tháng 10 năm 2018
Tác giả luận văn
Quàng Văn Trung
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Lời đầu tiên, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn đối với quý thầy cô giáo Trường Đại học Sư phạm Thái Nguyên đã tận tình giảng dạy, hướng dẫn và tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu
Đặc biệt tôi xin bày bỏ lòng biết ơn sâu sắc đến TS Lê Thị Phương Hoa, cô giáo trực tiếp hướng dẫn và chỉ bảo cho tôi trong quá trình nghiên cứu để hoàn thành luận văn này
Tôi xin chân thành cảm ơn cán bộ quản lí, giáo viên, học sinh tại các trường THCS trên địa bàn huyện Nậm Pồ, phụ huynh học sinh, bạn bè, đồng nghiệp của tôi đang công tác và gia đình đã động viên, khích lệ, tạo điều kiện và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện và hoàn thành luận văn này
Mặc dù đã rất cố gắng trong quá trình nghiên cứu thực hiện luận văn, song không tránh khỏi những sơ xuất, thiếu sót Kính mong nhận được ý kiến đóng góp và chỉ dẫn quý báu của quý thầy, cô và bạn bè đồng nghiệp
Xin trân trọng cảm ơn!
Thái Nguyên, tháng 10 năm 2018
Tác giả luận văn
Quàng Văn Trung
Trang 5MỤC LỤC
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Mục lục iii
Danh mục các từ viết tắt iv
Danh mục các bảng v
Danh mục các hình và biểu đồ vi
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 2
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu 2
4 Giới hạn và phạm vi nghiên cứu 2
5 Giả thuyết khoa học 3
6 Nhiệm vụ nghiên cứu 3
7 Phương pháp nghiên cứu 3
8 Cấu trúc của đề tài 4
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC HƯỚNG NGHIỆP THEO ĐỊNH HƯỚNG PHÂN LUỒNG Ở CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ 5
1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 5
1.1.1 Những nghiên cứu nước ngoài 5
1.1.2 Những nghiên cứu trong nước 7
1.2 Một số khái niệm cơ bản 12
1.3 Quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp theo định hướng phân luồng học sinh sau THCS 17
1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến công tác quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp theo định hướng phân luồng học sinh sau THCS 20
1.4.1 Thị trường lao động 20
1.4.2 Giáo dục đào tạo 20
1.4.3 Đội ngũ cán bộ quản lý và giáo viên 20
1.4.4 Phụ huynh học sinh 21
1.4.5 Các tổ chức xã hội 21
Tiểu kết chương 1 23
Trang 6Chương 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC HƯỚNG NGHIỆP THEO ĐỊNH HƯỚNG PHÂN LUỒNG HỌC SINH SAU TRUNG
HỌC CƠ SỞ TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN NẬM PỒ, TỈNH ĐIỆN BIÊN 24
2.1 Sơ lược về tình hình kinh tế-xã hội huyện Nậm Pồ, tỉnh Điện Biên 24
2.1.1 Điều kiện tự nhiên và tình hình kinh tế - xã hội của huyện Nậm Pồ, tỉnh Điện Biên 24
2.1.2 Tình hình công tác giáo dục tại huyện Nậm Pồ, tỉnh Điện Biên 25
2.2 Thực trạng giáo dục cấp THCS trên địa bàn huyện Nậm Pồ, tỉnh Điện Biên 26
2.3 Tổ chức khảo sát thực trạng quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp theo hướng phân luồng sau THCS trên địa bàn huyện Nậm Pồ, tỉnh Điện Biên 27
2.3.1 Mục tiêu khảo sát 27
2.3.2 Đối tượng khảo sát 27
2.3.3 Nội dung khảo sát 27
2.3.4 Phương pháp khảo sát 28
2.4 Thực trạng hoạt động giáo dục hướng nghiệp theo định hướng phân luồng học sinh sau THCS ở các trường THCS trên địa bàn huyện Nậm Pồ, tỉnh Điện Biên 29
2.4.1 Thực trạng xu hướng phân luồng học sinh sau THCS huyện Nậm Pồ, tỉnh Điện Biên 29
2.4.2 Nhận thức về tầm quan trọng và ý nghĩa của phân luồng sau THCS 31
2.4.3 Mức độ nhận thức về những điều kiện cần quan tâm khi chọn nghề theo định hướng phân luồng của học sinh sau THCS 32
2.4.5 Đối tượng tham gia giáo dục hướng nghiệp theo hướng phân luồng sau THCS 34
2.4.6 Mức độ thực hiện giáo dục hướng nghiệp theo hướng phân luồng sau THCS 35
2.5 Thực trạng quản lý hoạt động giáo dục theo hướng phân luồng học sinh sau THCS 40
2.5.1 Thực trạng quản lý thực hiện nội dung giáo dục hướng nghiệp theo hướng phân luồng 40
2.5.2 Thực trạng quản lý thực hiện các hình thức giáo dục hướng nghiệp 41
2.5.3 Thực trạng quản lý quản lí đội ngũ giáo viên làm nhiệm vụ giáo dục hướng nghiệp theo định hướng phân luồng 44
2.5.4 Thực trạng quản lý CSVC phục vụ công tác giáo dục hướng nghiệp theo định hướng phân luồng 46
2.5.5 Thực trạng quản lý công tác xã hội hóa, phối hợp các lực lượng trong giáo dục hướng nghiệp theo hướng phân luồng 46
Trang 72.6 Đánh giá thực trạng công tác quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp theo
hướng phân luồng sau THCS 48
2.6.1 Mặt mạnh 49
2.6.2 Mặt yếu và nguyên nhân 49
2.7 Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp theo định hướng phân luồng sau THCS 51
2.7 1 Yếu tố ảnh hưởng đến việc chọn nghề của học sinh sau THCS 51
2.7.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp theo hướng phân luồng 52
Tiểu kết Chương 2 53
Chương 3: BIỆN PHÁP QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC HƯỚNG NGHIỆP THEO ĐỊNH HƯỚNG PHÂN LUỒNG Ở CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN NẬM PỒ, TỈNH ĐIỆN BIÊN 55
3.1 Nguyên tắc để xây dựng biện pháp 55
3.1.1 Nguyên tắc đảm bảo tính đồng bộ 55
3.1.2 Nguyên tắc đảm bảo tính thực tiễn 55
3.1.3 Nguyên tắc đảm bảo chất lượng và tính hiệu quả 55
3.1.4 Nguyên tắc đảm bảo tính kế thừa và phát triển 55
3.1.5 Nguyên tắc đảm bảo tính khả thi 56
3.2 Các biện pháp Quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp theo định hướng phân luồng ở các trường THCS trên địa bàn huyện Nậm Pồ, tỉnh Điện Biên 56
3.2.1 Nâng cao nhận thức của các lực lượng giáo dục và xã hội về công tác giáo dục hướng nghiệp theo định hướng phân luồng học sinh sau THCS 56
3.2.2 Thành lập tổ tư vấn hướng nghiệp ngay trong trường THCS 60
3.2.3 Tổ chức bồi dưỡng nâng cao năng lực tổ chức, điều hành và chất lượng quản lý công tác hướng nghiệp, dạy nghề và phân luồng sau THCS cho cán bộ quản lý, giáo viên 64
3.2.4 Dự báo nhu cầu nguồn nhân lực của huyện Nậm Pồ theo cơ cấu từng ngành nghề, cung cấp thông tin về thị trường lao động cho tất cả mọi người dân 66
3.2.5 Tăng cường cơ sở vật chất, nâng cấp mạng lưới trường lớp để đón nhận học sinh sau phân luồng 68
3.2.6 Thực hiện tốt công tác xã hội hoá giáo dục 68
3.2.7 Có cơ chế, chính sách và quản lý nhà nước về đào tạo nghề 71
Trang 83.3 Khảo sát kiểm chứng tính cấp thiết và tính khả thi của các biện pháp 71
3.3.1 Mục đích khảo sát 71
3.3.2 Đối tượng khảo sát 71
3.3.3 Nội dung khảo sát 71
3.3.4 Kết quả khảo sát về tính cấp thiết và tính khả thi của các nhóm biện pháp Quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp theo định hướng phân luồng học sinh sau THCS trên địa bàn huyện Nậm Pồ, tỉnh Điện Biên 72
Tiểu kết chương 3 75
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 77
1 Kết luận 77
2 Khuyến nghị 80
TÀI LIỆU THAM KHẢO 81
Trang 10DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1 Thống kê số trường, lớp, số học sinh THCS 26
Bảng 2.2 Thống kê học lực, hạnh kiểm 26
Bảng 2.3 Danh sách các đơn vị tham gia khảo sát 27
Bảng 2.4 Thực trạng phân luồng HS sau THCS trong 03 năm học gần đây 29
Bảng 2.5 Xu hướng phân luồng sau khi học xong THCS 30
Bảng 2.6 Đánh giá của cán bộ quản lý và giáo viên về xu hướng phân luồng học sinh sau khi học xong THCS 31
Bảng 2.7 Nhận thức về tầm quan trọng và ý nghĩa củaphân luồng sau THCS 32
Bảng 2.8 Mức độ nhận thức về nghề nghiệp của học sinh sau THCS theo định hướng phân luồng 33
Bảng 2.9 Đối tượng tham gia giáo dục hướng nghiệp theo hướng phân luồng cho học sinh 34
Bảng 2.10 Đối tượng giúp học sinh chọn nghề 35
Bảng 2.11 Nguyện vọng của phụ huynh sau khi con học xong THCS 36
Bảng 2.12 Thực trạng hoạt động giáo dục hướng nghiệptheo hướng phân luồng sau THCS 37
Bảng 2.13 Đánh giá hiệu quả thực hiện việc giáo dục hướng nghiệptheo hướng phân luồng 38
Bảng 2.14 Đánh giá của cán bộ quản lý về năng lực của giáo viên thực hiện việc giáo dục hướng nghiệp cho học sinh theo định hướng phân luồng 39
Bảng 2.15 Thực trạng quản lí thực hiện nội dung giáo dục hướng nghiệp 40
Bảng 2.16 Đánh giá quản lí thực hiện các hình thức giáo dục hướng nghiệp 42
Bảng 2.17 Đánh giá hiệu quả công tác chỉ đạo định hướng cách thức phân luồng sau THCS 43
Bảng 2.18 Quản lý đội ngũ giáo viên làm nhiệm vụ giáo dục hướng nghiệptheo định hướng phân luồng 44
Bảng 2.19 Đánh giá quản lí CSVC phục vụ công tác giáo dục hướng nghiệp 46
Bảng 2.20 Đánh giá quản lý công tác xã hội hóa, phối hợp các lực lượng trong giáo dục hướng nghiệp theo hướng phân luồng 47
Bảng 2.21 Yếu tố ảnh hưởng đến việc lựa chọn học lên THPT, trung họcchuyên nghiệp hoặc học nghề nghề nghiệp của học sinh 51
Bảng 2.22 Các yếu tố ảnh hưởng đế quản lí hoạt động giáo dục hướng nghiệp 52
Trang 11DANH MỤC CÁC HÌNH VÀ BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 2.1 Mức độ quan tâm của phụ huynh trong định hướng nghề nghiệp cho con 35 Biểu đồ 2.2 Đánh giá hiệu quả quản lý GDHN theo hướng phân luồng sau THCS 48
Trang 12cố kết quả phổ cập giáo dục tiểu học và trung học cơ sở, tăng cường phân luồng học sinh sau trung học cơ sở và xóa mù chữ cho người lớn
Nậm Pồ là huyện miền núi, vùng cao biên giới, huyện đặc biệt khó khăn của tỉnh Điện Biên, đường biên giới dài 119,7 km có 132 bản, diện tích tự nhiên 149.559,12 ha, trên 9.707 hộ và trên 51.386 nhân khẩu Huyện có 12 dân tộc anh em cùng chung sống (trong đó dân tộc Mông chiếm 69,18%) Trong một vài năm trở lại đây kinh tế - xã hội của huyện không ngừng phát triển, giao thông, thông tin liên lạc ngày càng thuận tiện, đời sống nhân dân các dân tộc được cải thiện, nhu cầu và điều kiện học tập của con em nhân dân các dân tộc không ngừng được nâng cao Cơ sở vật chất, trang thiết bị trường học được tăng cường Số lượng giáo viên cơ bản đáp ứng
đủ cho công tác giảng dạy, trình độ và năng lực của giáo viên được nâng lên
Trong những năm qua cùng với sự phát triển kinh tế xã hội của tỉnh, công tác phổ cập giáo dục, xóa mù chữ (PCGD-XMC) tại huyện Nậm Pồ luôn nhận được sự lãnh đạo, chỉ đạo sâu sát, kịp thời của Tỉnh uỷ, HĐND và UBND tỉnh Điện Biên, của Huyện ủy, HĐND, UBND huyện Nậm Pồ như: Chỉ thị số 31-CT/TU, ngày 09/10/2017 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy về việc tăng cường sự lãnh đạo của Đảng về công tác phổ cập giáo dục- xóa mù chữ và phân luồng học sinh sau Trung học cơ sở trên địa bàn tỉnh Điện Biên; văn bản số 3391/UBND-KGVX ngày 17/11/2017 của
Trang 13UBND tỉnh Điện Biên về việc triển khai thực hiện Chỉ thị số 31-CT/TU, ngày 09/10/2017 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy; văn bản số 1330/KH-UBND ngày 13/12/2017 của UBND huyện Nậm Pồ về việc triển khai thực hiện Chỉ thị số 31-CT/TU, ngày 09/10/2017 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy
Tuy nhiên, tính đến thời điểm hiện tại, số lượng học sinh sau khi học xong THCS học lên THPT, giáo dục thường xuyên hoặc giáo dục nghề nghiệp còn ít, có sự biến động giữa đầu năm và giữa năm, không mang tính ổn định ảnh hưởng đến việc duy trì sĩ số và một số tiêu chí xây dựng nông thôn mới của huyện, xã Vì những lý
do trên, tôi chọn đề tài “Quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp theo định hướng phân luồng ở các trường THCS trên địa bàn huyện Nậm Pồ, tỉnh Điện Biên”
2 Mục đích nghiên cứu
Từ việc nghiên cứu lý luận và thực tiễn quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp theo định hướng phân luồng ở các trường THCS trên địa bàn huyện Nậm Pồ, tỉnh Điện Biên trong thời gian qua, đề tài đề xuất một số biện pháp quản lý nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động giáo dục hướng nghiệp theo định hướng phân luồng ở các trường THCS trên địa bàn huyện Nậm Pồ, tỉnh Điện Biên đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục hiện nay
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3.1 Khách thể nghiên cứu
Hoạt động giáo dục hướng nghiệp theo định hướng phân luồng ở các trường THCS
3.2 Đối tượng nghiên cứu
Biện pháp quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp theo định hướng phân luồng ở các trường THCS trên địa bàn huyện Nậm Pồ, tỉnh Điện Biên
4 Giới hạn và phạm vi nghiên cứu
4.1 Giới hạn nội dung nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu thực trạng phân luồng học sinh sau THCS và thực trạng quản lý giáo dục hướng nghiệp theo định hướng phân luồng học sinh sau THCS, từ đó đề xuất một số biện pháp quản lý nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động giáo dục hướng nghiệp theo định hướng phân luồng ở các trường THCS trên địa bàn huyện Nậm Pồ, tỉnh Điện Biên
Trang 144.2 Giới hạn địa bàn nghiên cứu
Đề tài được triển khai, nghiên cứu tại 07 trường THCS trên địa bàn huyện Nậm Pồ, tỉnh Điện Biên
4.3 Giới hạn khách thể điều tra
Đề tài nghiên cứu trên tổng số 441 người (21 cán bộ quản lý, 70 giáo viên, 210 học sinh, 140 phụ huynh học sinh)
5 Giả thuyết khoa học
Công tác giáo dục hướng nghiệp theo định hướng phân luồng học sinh sau THCS ở các trường THCS huyện Nậm Pồ, tỉnh Điện Biên trong những năm qua còn nhiều bất cập, hạn chế Một trong những nguyên nhân dẫn đến hạn chế trên là do công tác quản lý Nếu có được các biện pháp quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp theo định hướng phân luồng ở các trường THCS trên địa bàn huyện một cách đồng bộ, thống nhất thì hiệu quả hoạt động giáo dục hướng nghiệp theo định hướng phân luồng sẽ được nâng cao, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội huyện Nậm Pồ, tỉnh Điện Biên
6 Nhiệm vụ nghiên cứu
6.1 Xác lập cơ sở lý luận về quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp theo định hướng phân luồng ở các trường THCS
6.2 Tìm hiểu thực trạng quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp theo định hướng phân luồng ở các trường THCS trên địa bàn huyện Nậm Pồ, tỉnh Điện Biên
6.3 Đề xuất các biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp theo định hướng phân luồng ở các trường THCS trên địa bàn huyện Nậm Pồ, tỉnh Điện Biên
7 Phương pháp nghiên cứu
7.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận
Thu thập và đọc các tài liệu lý luận, các văn bản pháp qui, các công trình nghiên cứu khoa học về quản lý giáo dục, Quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp theo định hướng phân luồng học sinh sau THCS Từ đó phân tích và tổng hợp các vấn đề lý luận liên quan đến luận văn
Trang 157.2 Các phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi: Chúng tôi sử dụng phương pháp này nhằm trưng cầu ý kiến của cán bộ quản lý và giáo viên các Trường THCS thông qua phiếu điều tra Các nội dung cần trưng cầu ý kiến là các vấn đề có liên quan đến thực trạng cần nghiên cứu
- Phương pháp phỏng vấn: Phỏng vấn một số đối tượng là các cán bộ quản lý, giáo viên giảng dạy, học sinh về thực trạng công tác phân luồng sau trung học cơ sở
và công tác giáo dục hướng nghiệp theo định hướng phân luồng
7 3 Phương pháp xử lý số liệu bằng toán thống kê
Sử dụng phương pháp thống kê trong toán học để xử lý và phân tích các số liệu từ các bảng hỏi thu thập được bằng cách tính % và tính điểm trung bình
8 Cấu trúc của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, khuyến nghị, tài liệu tham khảo và phụ lục luận văn có kết cấu gồm 3 chương:
- Chương 1: Cơ sở lý luận về công tác quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp theo định hướng phân luồng ở các trường trung học cơ sở
- Chương 2: Thực trạng công tác quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp theo định hướng phân luồng ở các trường trung học cơ sở trên địa bàn huyện Nậm Pồ, tỉnh Điện Biên
- Chương 3: Biện pháp quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp theo định hướng phân luồng ở các trường trung học cơ sở trên địa bàn huyện Nậm Pồ, tỉnh Điện Biên
Trang 161.1.1 Những nghiên cứu nước ngoài
Vấn đề hướng nghiệp, giáo dục hướng nghiệp theo hướng phân luồng cũng như công tác quản lý giáo dục hướng nghiệp theo hướng phân luồng đã được nhiều tác giả trong và ngoài nước quan tâm nghiên cứu
Ngay từ năm 1848, trong cuốn “Hướng dẫn chọn nghề” đầu tiên được xuất bản tại Pháp, các tác giả đã đề cập tới vấn đề cần phải giúp đỡ thanh niên trong sự lựa chọn nghề nghiệp phù hợp Theo các tác giả, sự phát triển của nền công nghiệp mang đến cho thanh niên nhiều cơ hội lựa chọn nghề nghiệp đa dạng Vì thế, cần phải có sự trợ giúp họ lựa chọn cho mình một nghề phù hợp
Frank Parsons bàn đến hướng nghiệp cho HS dựa trên năng lực, năng khiếu, hứng thú, sở thích của cá nhân [23]
Tác giả Mc Cash chỉ ra mô hình DOTS gồm khung cơ bản của tư vấn và hướng nghiệp (giáo dục nghề nghiệp) (Mc Cash, 2006), được xác định theo 4 mục đích: học quyết định, nhận thức cơ hội, học chuyển đổi và tự nhận thức Ông đã miêu
tả một số ý kiến khung gắn kết với nhau, các ý kiến đó gồm SeSiFuUn với kết quả của nhận thức, chọn lọc và hiểu biết và CPI gồm các lứa tuổi, quá trình, ảnh hưởng Luật sửa đổi (2006) đưa ra cách tiếp cận mới “một bộ đề xuất các cải cách để chúng
ta có thể giúp học sinh phổ thông và đại học học cách quản lí cuộc sống của [22]
Các tác giả nước ngoài trên đều khẳng định: Quản lý GDHN là một nội dung quản lý trường học, là hệ thống tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý GDHN để đạt mục đích GDHN Nội dung quản lý GDHN là xây dựng kế hoạch, chương trình hoạt động GDHN bao gồm việc xây dựng mục tiêu, chương trình hoạt động GDHN, xác định từng bước đi, những điều kiện, phương tiện cần thiết trong một thời gian nhất định phục vụ hoạt động GDHN Việc lựa chọn con đường riêng biệt của giáo dục nghề hay giáo dục phổ thông cần phải dựa trên những
Trang 17đánh giá thận trọng về điểm mạnh và điểm yếu của học sinh Nói cách khác, hướng nghiệp đòi hỏi sự đánh giá dựa trên sự kết hợp những tiêu chí về giáo dục và dự báo
về nhân cách tương lai Vì vậy, cần phải có những nhà tư vấn hướng nghiệp chuyên môn để giúp học sinh lựa chọn khóa học thích hợp (có tính đến nhu cầu của thị trường lao động), dự báo những khó khăn trong học tập và giúp giải quyết những vấn
đề xã hội khi cần thiết
Trong giáo dục phổ thông và GDHN, các nước đều giảm thời lượng hàn lâm
mà chú trọng tính thực tiễn nhiều hơn (Ba Lan, Đức và Pháp)
Về vấn đề phân luồng:
Ion Holban đã nghiên cứu và thừa nhận sự tồn tại các kiểu nhân cách và sở thích nghề nghiệp tương ứng Công trình của tác giả được xem là căn cứ trong việc đề xuất công tác phân luồng học sinh trong chọn nghề sau tốt nghiệp[10]
Ở Pháp phân hóa hẹp sau trung học cao trung, phân hóa cấp 2,3 theo hướng phân ban, phân chia 50/50 theo luồng phổ thông và kĩ thuật, nghề kĩ thuật dạy theo
mô đun gồm 6 lĩnh vực như: Kĩ thuật nghề, Toán, Khoa học, Thế giới, Quốc ngữ, Ngoại ngữ;
Ba Lan chú trọng đến phân hóa rộng nhằm phát triển toàn diện các lĩnh vực Ở Đức, các nhà sư phạm quan tâm đến cơ sở khoa học dạy học lao động nghề nghiệp, phối hợp giữa trường phổ thông và các trung tâm kĩ thuật tổng hợp để lập kế hoạch thực tập cho học sinh, xác lập mối quan hệ giữa giáo dục phổ thông và nghề nghiệp, hướng nghiệp và phân loại học sinh hướng nghiệp ngay sau bậc tiểu học, sau lớp 10 học sinh được chia 2 nhánh loại học trở thành công nhân lành nghề, loại học hết lớp
12 phổ thông, sau lớp 12 lại được tiếp tục phân loại lần nữa hoặc vào đại học hoặc vào trung cấp nghề
Liên bang Nga đưa nội dung đào tạo miễn phí sơ cấp nghề vào giáo dục trung học (3 năm), đề cập đến liên thông trong giáo dục nghề nghiệp (sơ cấp, trung cấp và đại học), chú trọng đến giáo dục kỹ thuật nghề nghiệp
Các nước Châu Á đều chú trọng đến việc tổ chức giáo dục nghề sau trung học
cơ sở, hầu hết các nước PLHS theo hai hướng chính là một bộ phận tiếp tục học lên THCS, một bộ phận chuyển sang học nghề, đó là trung cấp chuyên nghiệp và trung
Trang 18cấp nghề (Nhật Bản, Trung Quốc, Hàn Quốc) Tích hợp các môn hướng nghiệp và giáo dục phổ thông, các môn văn hóa, khoa học kỹ thuật, lao động (Trung Quốc, Philippine); Chú trọng đến năng lực thực hành và nghiên cứu thực tiễn trong hoạt động GDHN (Philippine, Malaysia); Quan tâm đến môn học tự chọn sau bậc học THCS (Nhật, Hàn)
Ngày nay, hầu như mọi quốc gia trên thế giới đều coi nhân tố con người, nguồn lực con người hay NNL là yếu tố cơ bản, có vai trò đối với sự phát triển nhanh
và bền vững của một quốc gia Các cơ sở GDNN đào tạo, bồi dưỡng và cung cấp một lực lượng lao đông đảo đã qua đào tạo, góp phần làm cho cơ cấu lao động xã hội, cả
về cơ cấu trình độ, cơ cấu ngành nghề và cơ cấu vùng miền phù hợp với từng giai đoạn phát triển KT - XH của đất nước Tại các nước phát triển, coi trọng lực lượng lao động là “lao động tri thức”, trước đây kĩ năng nghề có thể giúp con người đi theo suốt cuộc đời
Quan điểm của UNESCO coi học tập là một quá trình liên tục, kéo dài suốt cả cuộc đời khiến chúng ta xét lại cả nội dung và cách tổ chức giáo dục trung học Đòi hỏi của thị trường lao động tạo ra áp lực dẫn đến số năm học có xu hướng tăng lên Trên toàn thế giới, nếu xét về tỉ lệ học sinh đến trường, thì số lượng học sinh trung học có số lượng tăng nhanh nhất trong hệ thống giáo dục chính qui
Có thể thấy rằng, vấn đề chọn nghề, tư vấn hướng nghiệp cho học sinh đã được nhiều tác giả trên thế giới quan tâm Các tác giả đều nhấn mạnh đến vai trò của yếu tố con người, kiến thức, kỹ năng, sự lựa chọn nghề phù hợp được xem là những yếu tố căn cốt tạo nên hiệu quả lao động, góp phần xây dựng và phát triển đất nước
1.1.2 Những nghiên cứu trong nước
Ở Việt Nam, vấn đề giáo dục hướng nghiệp cho học sinh phổ thông đã được nhiều nhà khoa học quan tâm nghiên cứu như: tác giả Nguyễn văn Hộ, Phạm Tất Dong, Đặng Danh Ánh, Lê Vân Anh…
Tác giả Nguyễn Văn Hộ đề cập đến vấn đề: “Thiết lập và phát triển hệ thống giáo dục hướng nghiệp cho học sinh Việt Nam” Tác giả đã xây dựng luận chứng cho
hệ thống hướng nghiệp trong điều kiện phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, đề xuất những hình thức phối hợp giữa nhà trường, cơ sở sản xuất, cơ sở giáo dục kỹ thuật nghề nghiệp, dạy nghề cho học sinh phổ thông [9]
Trang 19Tác giả Vũ Ngọc Hải, Trần khánh Đức đã đề cập đến việc dạy nghề ban đầu cho học sinh phổ thông trung học kỹ thuật Việt Nam và xác định: Nội dung, hình thức phương pháp dạy nghề ban đầu cho học sinh lớp 10,11 trường phổ thông trung học kỹ thuật theo nhóm nghề xây dựng, các phương pháp và hình thức dạy sản xuất trong các trường dạy nghề xây dựng được sử dụng phù hợp với mục đích, nhiệm vụ
và nội dung ở trường phổ thông trung học kỹ thuật ở nước ta [8]
Tác giả Phạm Minh Hạc đã xác định cần xây dựng một nền giáo dục kỹ thuật
đó là một nền giáo dục cần được chỉ đạo bằng tư tưởng phục vụ phát triển công nghệ, trong đó ưu tiên giáo dục nghề nghiệp [7]
Tác giả Phạm Tất Dong trong các công trình nghiên cứu của mình đã đề cập đến cơ sở lí luận và thực tiễn của hoạt động hướng nghiệp, hứng thú nghề nghiệp, những vấn đề chung về nội dung và phương pháp hướng nghiệp cho học sinh Từ đó tác giả đề xuất phải chú trọng việc hình thành năng lực cho thế hệ trẻ để học tự tìm ra việc làm cho mình [5]
Các công trình trên cho thấy rằng, các nhà nghiên cứu giáo dục Việt Nam rất quan tâm đến công tác hướng nghiệp, lao động sản xuất, và dạy kỹ thuật nghề nghiệp cho học sinh phổ thông Nhưng các công trình nghiên cứu kể trên phần lớn tập trung vào việc đổi mới tư tưởng, quan điểm và một số mặt về nội dung, chương trình, tổ chức quản lý họat động dạy học nghề cho học sinh phổ thông trong điều kiện nền kinh tế - xã hội ở các nước phát triển cao hơn nước ta GDNN ở Việt Nam một số năm vừa qua đã từng bước được củng cố và phát triển về quy mô và cơ cấu đào tạo Tuy nhiên, so với yêu cầu ngày càng cao của sự nghiệp CNH - HĐH đất nước trong điều kiện kinh tế thị trường và xu thế toàn cầu hóa cũng như hội nhập quốc tế GDNN nước ta còn có nhiều hạn chế, bất cập, đặc biệt là về chất lượng đào tạo và đang phải đối mặt với những thách thức to lớn Cũng như phân hệ giáo dục khác, hiện nay GDNN đang đứng trước mâu thuẫn hết sức gay gắt giữa quy mô ngày càng tăng và các điều kiện đảm bảo chất lượng đào tạo còn rất hạn chế Đòi hỏi cấp bách hiện nay đối với GDNN là bên cạnh việc tăng quy mô cùng với việc đảm bảo cơ cấu hợp lý, phải đảm bảo có chất lượng và hiệu quả đào tạo đáp ứng được yêu cầu thực tế sử dụng lao động đã qua đào tạo TCCN và dạy nghề Mặc dù hiện nay đã có một số
Trang 20chương trình nghề phổ thông xây dựng theo hướng chuẩn quốc gia nhưng bên cạnh
đó lại chưa có tiêu chí đánh giá thống nhất về chất lượng, chưa ban hành tiêu chuẩn đối với giáo viên dạy, cơ sở vật chất thiết bị…
Công tác hướng nghiệp được chính thức đưa vào trường phổ thông từ 19/3/1981 theo quyết định số 126/CP của Chính phủ về công tác hướng nghiệp trong trường phổ thông và việc sử dụng hợp lí trung học cơ sở, trung học phổ thông tốt nghiệp ra trường Kèm theo Quyết định 126/CP của Chính phủ là Thông tư 31-TT của Bộ Trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo về việc hướng dẫn thực hiện Quyết định nêu trên Quyết định của Hội đồng Chính phủ xác định rõ nhiệm vụ của các cấp, các ngành, các tổ chức kinh tế - xã hội như sau: “Ngành GDPT trên cơ sở giáo dục toàn diện theo yêu cầu của chương trình phổ thông, cần tiến hành ngay một số biện pháp hướng nghiệp: xây dựng chương trình, soạn tài liệu hướng nghiệp cho các trường phổ thông cơ sở và trung học; dành một số tiết học thích đáng để giới thiệu những nghề
cơ bản đang cần phát triển, cho học sinh tham quan sản xuất, cải tiến giảng dạy các
bộ môn khoa học theo tinh thần giáo dục kỹ thuật tổng hợp và hướng nghiệp; cải tiến cách dạy, cách học, cách đánh giá bộ môn lao động kỹ thuật tạo cho học sinh vừa biết
lý thuyết, vừa được thực hành; tổ chức cho học sinh lao động sản xuất gắn với phương hướng sản xuất và các nghề đang cần phát triển ở địa phương; tổ chức các nhóm ngoại khoá để giúp học sinh phát triển hứng thú, năng lực nghề nghiệp [19]
Quyết định số 522/QĐ-TTg, ngày 14/5/2018 đã xác định mục tiêu tạo bước đột phá về chất lượng giáo dục hướng nghiệp trong giáo dục phổ thông, góp phần chuyển biến mạnh mẽ công tác phân luồng học sinh sau trung học cơ sở và trung học phổ thông vào học các trình độ giáo dục nghề nghiệp phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước và địa phương, đáp ứng nhu cầu nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực quốc gia, hội nhập khu vực và quốc tế [20]
Vấn đề hướng nghiệp trong nhà trường phổ thông không phải là vấn đề mới Đây là một vấn đề được tất cả các cấp, ban ngành đoàn thể trong xã hội từ Trung ương đến địa phương, các nhà quản lí giáo dục, các bậc cha mẹ học sinh và các em học sinh thực sự quan tâm Từ khi tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa đến nay, giáo dục hướng nghiệp và phân luồng càng được quan tâm, đặc biệt là trong những
Trang 21văn kiện của Đảng, Nhà nước về đổi mới căn bản, toàn diện GDĐT, đổi mới chương trình, sách giáo khoa GDPT như Nghị quyết 29 của BCH Trung ương Đảng, Nghị quyết 88 của Quốc hội và Quyết định 404 của Thủ tướng Chính phủ
Có thể thấy rằng, phân luồng HS sau tốt nghiệp THCS là chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước, là nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị để bảo đảm yêu cầu nguồn nhân lực trong thời gian tới Từ những ý nghĩa đó, từ năm 2009, cứ bước vào tháng 4 ngành GD-ĐT tổ chức các đợt tư vấn, hướng nghiệp nhằm định hướng nghề nghiệp, cung cấp thông tin về những ngành nghề các trường TCCN đang đào tạo cho HS lớp
9 Các trường TCCN cũng trực tiếp đến các trường THCS thông tin đến HS những ngành nghề trong tương lai, việc làm sau tốt nghiệp và cơ hội liên thông lên cao đẳng, đại học (CĐ, ĐH) Để công tác phân luồng hiệu quả, các tác giả đều thống nhất cho rằng, nhà trường cần tuyên truyền cho phụ huynh hiểu rõ hơn về chủ trương phân luồng, nhà trường họp phụ huynh HS, tư vấn cho họ hiểu rõ hơn về chủ trương phân luồng và lựa chọn cho con em con đường đi phù hợp với năng lực học tập Trường sàng lọc những HS yếu, HS có hoàn cảnh khó khăn và có lời khuyên các em nên lựa chọn con đường học tập phù hợp với năng lực học tập, điều kiện kinh tế gia đình
Tác giả Lê Vân Anh Đề với đề tài mã số B98-52-TĐ17 (8/2000): “Nghiên cứu
đề xuất các giải pháp thực hiện phân luồng học sinh ( PLHS) sau THCS có tính chất
vĩ mô toàn quốc” đã đề cập đến nội dung PLHS trên phạm vi cả nước, PLHS một số quốc gia trên thế giới gắn với thực tiễn PLHS ở nước ta; nhiều giải pháp về nhận thức
xã hội, về chính sách PLHS, về hệ thống giáo dục nước ta có liên quan đến PLHS sau THCS, tính liên thông…[1]
Có thể thấy rằng, công tác giáo dục hướng nghiệp theo hướng phân luồng đã được nhiều tác giả đề cập đến Các công trình nghiên cứu tập trung làm rõ tầm quan trọng của công tác giáo dục hướng nghiệp; Những tồn tại của công tác phân luồng cũng như quản lý công tác phân luồng hiện nay Các công trình nghiên cứu về công tác giáo dục hướng nghiệp theo hướng phân luồng sau trung học cơ sở chủ yếu tập trung nghiên cứu ở các tỉnh thành lớn thuộc khu vực đồng bằng Chưa có công trình nào đề cập đến công tác giáo dục hướng nghiệp theo hướng phân luồng cho học sinh thuộc khu vực các tỉnh miền núi, đặc biệt là khu vực huyện Nậm Pồ - một huyện nghèo của tỉnh Điện Biên
Trang 22Đề tài C-200: “Khảo sát thực trạng về phân luồng học sinh sau THCS tại huyện Đôn Anh, Hà Nội” do Nguyễn Thị Hoàng Yến làm chủ nhiệm (2002) đã thực hiện khảo sát thực trạng về phân luồng HS sau THCS tại huyện Đông Anh, Hà Nội
Từ thực trạng đó, nhóm nghiên cứu đã đề xuất một số giải pháp phân luồng HS sau THCS tại huyện Đông Anh, Hà Nội[18]
Một số luận văn thạc sỹ đã quan tâm và nghiên cứu về vấn đề phân luồng HS sau THCS từ đó đề xuất một số biện pháp nhằm đáp ứng các yêu cầu về đào tạo nguồn nhân lực của địa phương như:
- Trần Khắc Phúc với đề tài “Một số giải pháp quản lý góp ph n phân luồng học sinh sau trung học cơ sở ở thành phố Hồ Chí Minh của trung tâm kỹ thuật tổng hợp hướng nghiệp Lê Thị Hồng Gấm” (2004)[14]
- Hồ Văn Thông với đề tài “Các giải pháp quản lý phân luồng học sinh sau trung học cơ sở tỉnh Bình Dương ” (2006)[16]
- Ninh Thành Viên với đề tài “Một số biện pháp phân luồng học sinh sau THCS trong yêu cầu đào tạo nhân lực kỹ thuật ở tỉnh Kiên Giang” (2006)[17]
- Đỗ Thị Thu Hằng với đề tài “Thực trạng và giải pháp đẩy mạnh việc phân luồng học sinh sau tốt nghiệp THCS ở tỉnh Thái Bình” (2010) Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ của Trần Thanh Phúc (2010) “Nghiên cứu thực trạng và giải pháp phân luồng học sinh ở các trường phổ thông dân tộc nội trú” đã tiến hành nghiên cứu vấn đề phân luồng HS ở các trường ph thông dân tộc nội trú Đề tài đã làm rõ cơ sở lý luận về phân luồng HS và đi sâu làm rõ vấn đề mang tính đặc trưng của các trường phổ thông dân tộc nội trú, từ đó đề xuất những giải pháp nhằm phân luồng tốt cho nhóm đối tượng học sinh có tính đặc thù này[11]
Đề tài khoa học cấp Bộ của PGS.TS Đỗ Thị Bích Loan về “Giải pháp phân luồng và liên thông trong hệ thống giáo dục quốc dân Việt Nam” (2013) đã nghiên cứu cùng lúc hai vấn đề nóng bỏng trong hệ thống giáo dục quốc dân nước ta hiện nay là phân luồng và liên thông Đề tài đã làm sáng tỏ những khái niệm về phân luồng và liên thông trong hệ tthống giáo dục quốc dân, mối quan hệ chặt chẽ giữa phân luồng, liên thông với phát triển nguồn nhân lực và xây dựng xã hội học tập; Xây dựng được cơ sở lý luận, cơ sở thực tiễn của việc phân luồng và liên thông trong hệ thống giáo dục quốc dân Việt Nam và kinh nghiệm của một số quốc gia trên thế giới
Trang 23Từ đó, nhóm nghiên cứu đã đề xuất các nhóm giải pháp nhằm tăng 8 cường phân luồng và liên thông trong hệ thống giáo dục, đáp ứng nhu cầu nhân lực và nguyện vọng của người dân Các nghiên cứu về phân luồng tập trung chủ yếu vào phân tích thực trạng phân luồng HS sau THCS của cả nước hoặc một vùng hoặc một địa phương cụ thể, từ đó đề xuất các giải pháp nhằm thực hiện hiệu quả công tác phân luồng HS sau THCS ở nước ta Tuy nhiên cho đến nay chưa có nghiên cứu nào đề cập và tiến hành nghiên [12]
1.2 Một số khái niệm cơ bản
* Hướng nghiệp
Thuật ngữ hướng nghiệp xuất hiện trên thế giới cách đây hàng trăm năm nhưng cho đến nay vẫn còn rất nhiều người hiểu chưa đúng hoặc chưa đầy đủ Có người nghĩ đơn giản hướng nghiệp là hướng dẫn, quyết định việc chọn ngành, nghề cho HS chuẩn bị tốt nghiệp phổ thông; có người cho rằng đây là quá trình định hướng cho các em lựa chọn những ngành, nghề có giá trị trong xã hội Có người lại cho rằng hướng nghiệp là công việc dành riêng cho nhà trường và chỉ có nhà trường mới làm được hướng nghiệp… Vậy, nên hiểu về hướng nghiệp như thế nào cho đúng? “Hướng nghiệp trong giáo dục là hệ thống các biện pháp tiến hành trong và ngoài nhà trường
để giúp HS có kiến thức về nghề nghiệp và có khả năng lựa chọn nghề nghiệp trên cơ
sở kết hợp nguyện vọng, sở trường của cá nhân với nhu cầu sử dụng lao động của xã hội” [6]
Khái niệm trên cho thấy: Thực chất của hướng nghiệp không phải là sự quyết định nghề mà là giúp các em có được những hiểu biết cần thiết về bản thân, về thế giới nghề nghiệp xung quanh, về những yếu tố ảnh hưởng tác động tới bản thân trong việc chọn nghề để lựa chọn nghề phù hợp và giải quyết thỏa đáng mối quan hệ giữa
cá nhân với nghề, giữa cá nhân với xã hội
Có thể hiểu: Hướng nghiệp là hệ thống các biện pháp giáo dục nhằm định hướng sự lựa chọn nghề cho học sinh một cách có chủ đích nhằm đảm bảo cho các
em hạnh phúc trong lao động nghề nghiệp, lao động đạt hiệu suất cao và cống hiến được nhiều nhất cho xã hội
Trang 24Hướng nghiệp không chỉ được thực hiện trong nhà trường bởi các thầy, cô giáo mà hướng nghiệp được tiến hành tại gia đình và cộng đồng với sự tác động, hỗ trợ của các cơ quan, đoàn thể, tổ chức xã hội, đặc biệt là cha mẹ HS
* Quản lý hoạt động hướng nghiệp
Quản lý hoạt động hướng nghiệp là một bộ phận của QLGD, là hệ thống những tác động có định hướng, có chủ đích, có kế hoạch và hợp quy luật của chủ thể quản lí đến đối tượng quản lí của CTHN nhằm thực hiện có chất lượng và hiệu quả mục tiêu HN cho HS
Quản lí hướng nghiệp bao gồm những yếu tố cơ bản sau:
Chủ thế quản lí là một cá nhân hay nhóm người được giao quyền hạn quản lý
và chịu trách nhiệm lãnh đạo, chỉ đạo, sử dụng một cách hợp lý và hiệu quả các nguồn lực cho công tác HN tại địa bàn, đơn vị đang quản lý Trong quản lý HN, chủ thể quản lý là lãnh đạo hoặc chuyên viên phụ trách HN của Bộ GD&ĐT, Sở GD&ĐT, Ban giám hiệu nhà trường ở địa phương có chức năng HN cho HS trên địa bàn Trên cơ sở quyền hạn, trách nhiệm và năng lực của mình, chủ thể quản lý tác động lên đối tượng bằng phương pháp và công cụ nhất định thông qua việc thực hiện các chức năng quản lý để đạt mục tiêu HN
Đối tượng quản lý là tất cả những người thực hiện và nhận nhiệm vụ HN, bao gồm các GV và CB phụ trách HN, tập thể HS ở các trường THCS; các tổ chức, đoàn thể xã hội như Hội cha mẹ HS, hội LHPN, các doanh nghiệp… Đối tượng quản lí còn bao gồm các hình thức HN, ngân sách, cơ sở vật chất và thiết bị GD cho HN và hệ thống TT cho công tác HN
Công cụ quản lí là những phương tiện mà cán bộ QLHN sử dụng trong quá trình quản lí nhằm định hướng, dẫn dắt, khích lệ và phối hợp HĐ của các tác nhân
HN và HS trong việc thực hiện mục tiêu công tác HN Công cụ chủ yếu để QLHN là các quy định của Nhà nước và Bộ GD&ĐT đối với công tác HN, là các cơ chế và chính sách cho công tác HN
Phương pháp quản lí là cách thức tác động bằng những phương tiện khác nhau của cán bộ QLHN đến hệ thống bị quản lí nhằm đạt được mục tiêu quản lý Phương pháp quản lý bao gồm việc lựa chọn công cụ, phương tiện quản lí và lựa chọn cách thức tác động của CBQLHN tới đối tượng quản lý
Trang 25Để đạt được mục tiêu của công tác HN, cần thiết phải QLHN nhằm đảm bảo thực hiện được những công việc sau có hiệu quả:
Chỉ đạo và điều hành xây dựng “Tầm nhìn hướng nghiệp”; Xây dựng cơ cấu tổ chức hợp lí và bồi dưỡng, phát triển đội ngũ CB và GV có đủ trình độ, năng lực và phẩm chất để hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao; Tạo ra sự thống nhất ý chí trên con đường đi tới mục tiêu HN giữa những người làm nhiệm vụ quản lí với các tác nhân
HN và HS
Hỗ trợ và tạo động lực cho các tác nhân tham gia công tác HN, đồng thời khuyến khích mọi người phát huy cao độ năng lực cũng như khả năng sáng tạo thông qua việc thực hiện các chế độ và chính sách khen thưởng hợp lí;
Huy động phối hợp, sử dụng và khai thác tối đa các nguồn lực trong và ngoài ngành GD cho công tác HN, tạo nên sức mạnh tổng hợp để đạt được mục tiêu HN cho HS;
Thường xuyên thu thập các thông tin về mức độ thực hiện mục tiêu, nhiệm vụ
HN của các CSGD, các cá nhân và các bộ phận ở CSGD để từ đó ra quyết định và có biện pháp điều chỉnh kịp thời
* Giáo dục hướng nghiệp
Giáo dục hướng nghiệp là một bộ phận của giáo dục toàn diện giúp mỗi học sinh có sự hiểu biết về tính chất của ngành nghề mà mình hướng tới, biết phân tích thị trường hoạt động và tháo gỡ vướng mắc hoặc rèn luyện bản thân từ đó, mỗi học sinh
tự xác định được đâu là nghề nghiệp phù hợp hoặc không phù hợp với mình
Trong hoạt động giáo dục hướng nghiệp ở nhà trường, hoạt động tư vấn nghề
có liên quan tới Hiệu trưởng, Ban hướng nghiệp, giáo viên chủ nhiệm, giáo viên bộ môn, thư viện, y tế, Trong đó, Hiệu trưởng là người phụ trách chung về các hoạt động hướng nghiệp trong nhà trường, trong đó có hoạt động tư vấn Hiệu trưởng có trách nhiệm thông qua và ký các quyết định về kế hoạch tiến hành các hoạt động tư vấn trong và ngoài trường Ban hướng nghiệp chịu trách nhiệm thu thập xử lý những thông tin do các bộ phận cung cấp, đưa ra những nhận định, đánh giá sơ bộ về xu hướng nghề của học sinh Những thông tin sau xử lý do ban hướng nghiệp thực hiện
sẽ là những tài liệu bổ ích cho cán bộ làm công tác tư vấn khi tiến hành hoạt động
Trang 26này, làm cho nội dung tư vấn có tính sát thực, đáp ứng đúng nhu cầu định hướng nghề của đối tượng tư vấn Ban hướng nghiệp còn chịu trách nhiệm tham mưu cho Hiệu trưởng đề xuất kế hoạch và tổ chức các hoạt động tư vấn về nhân lực, cơ sở vật chất, Phù hợp kế hoạch năm học của nhà trường trên từng loại đối tượng cụ thể Giáo viên bộ môn thu thập và cung cấp những thông tin có liên quan thái độ, năng lực học tập của từng học sinh đối với những môn học cụ thể Giáo viên chủ nhiệm cung cấp những thông tin phản ánh trình độ nhận thức xã hội, phẩm chất đạo đức, kỹ năng hòa nhập với cộng đồng của mỗi học sinh do mình phụ trách Mỗi giáo viên chủ nhiệm còn có trách nhiệm tập hợp những thông tin do những bộ phận khác cung cấp
để thiết lập các phiếu đánh giá về xu hướng nghề đối với từng học sinh trong lớp làm
cơ sở cho hoạt động tư vấn Ðoàn Thanh niên thu thập và cung cấp những thông tin
về năng lực hoạt động xã hội, tập thể, về ý thức, thái độ, lối sống của mỗi thành viên trong tổ chức Ðáng chú ý, học sinh là đối tượng của hoạt động tư vấn đồng thời là chủ thể của quá trình tiếp nhận thông tin nghề do hoạt động tư vấn mang lại học sinh không chỉ có nhiệm vụ tiếp thu thông tin do chủ thể tư vấn cung cấp mà cùng với nó
là quá trình lựa chọn những thông tin hữu ích phù hợp với năng lực, sở trường, tình trạng sức khỏe và nhu cầu lựa chọn nghề nghiệp của bản thân
Vì vậy, hoạt động hướng nghiệp cần giúp cho học sinh hiểu được hệ thống nghề nghiệp trong xã hội, phương hướng phát triển nền kinh tế quốc dân nói chung và của địa phương nói riêng nhằm xác định cho bản thân trách nhiệm, nghĩa vụ sẵn sàng tham gia vào lao động sản xuất Trên cơ sở của sự hiểu biết nghề nghiệp và nền kinh
tế quốc dân, của địa phương, những đòi hỏi khách quan của hoàn cảnh, biết đối chiếu với sự phát triển, năng lực, sở trường, tình trạng tâm sinh lý sức khỏe của bản thân để điều chỉnh động cơ lựa chọn nghề Tạo ra những điều kiện cần thiết về cơ sở vật chất, về các mối quan hệ xã hội và ý thức cầu tiến bộ của học sinh để các em tích cực tham gia các hình thức lao động kỹ thuật do nhà trường tổ chức, nâng cao ý thức và thái độ lao động, có dịp thử sức mình trong hoàn cảnh thực tiễn, từ đó kết luận về sự phù hợp nghề nghiệp của bản thân Phải làm cho mỗi học sinh có được tính chủ động trong lựa chọn nghề, có khả năng tự quyết định được con đường nghề nghiệp tương lai của mình
Trang 27- Phân luồng học sinh sau THCS
Phân luồng học sinh sau THCS là biện pháp tổ chức hoạt động giáo dục trên
cơ sở thực hiện hướng nghiệp trong giáo dục, tạo điều kiện để học sinh tốt nghiệp THCS tiếp tục học ở cấp học hoặc trình độ cao hơn, học trung cấp, học nghề hoặc lao động phù hợp với năng lực, điều kiện cụ thể của cá nhân và nhu cầu xã hội; góp phần điều tiết cơ cấu ngành nghề của lực lượng lao động phối hợp với nhu cầu phát triển của đất nước Phân luồng, GDHN trong khu vực trường học và nhiệm vụ phát
triển nguồn lực có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, tác động qua lại, bổ trợ cho nhau
- Quản lý giáo dục hướng nghiệp
Quản lý giáo dục hướng nghiệp theo hướng phân luồng là nói đến vai trò của nhà quản lý trong việc thực hiện đồng bộ các biện pháp một cách hiệu quả, từ khâu lập kế hoạch, tổ chức thực hiện, kiểm tra đánh gía công tác giáo dục hướng nghiệp theo hướng phân luồng
Quản lý giáo dục hướng nghiệp theo hướng phân luồng nghĩa là nhà quản lý bằng các biện pháp quản lý, tác động đến phụ huynh, học sinh, giúp họ hiểu rõ hơn về tính ưu việt của phân luồng, giúp họ nhận thức rõ về năng lực của bản thân để có sự lựa chọn hướng đi đúng đắn sau khi học xong THCS
Quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp theo hướng phân luồng hiệu quả
nghĩa là góp phần không nhỏ vào quá trình điều tiết cơ cấu ngành nghề của lực lượng
lao động phù hợp với nhu cầu phát triển của đất nước
Trang 281.3 Quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp theo định hướng phân luồng học sinh sau THCS
1.3.1 Quản lý việc thực hiện nội dung giáo dục hướng nghiệp theo phân luồng học sinh sau THCS
Thứ nhất, cần chỉ đạo công tác tuyên truyền nhằm thay đổi nhận thức của phụ
huynh về chọn nghề theo định hướng phân luồng Nhiều phu huynh còn mang nặng tâm lý phải tốt nghiệp trung học phổ thông mới được coi là đủ trình độ văn hóa hay phải tốt nghiệp đại học mới thỏa mãn yêu cầu của các bậc phụ huynh
Thứ hai, quán triệt giáo viên định hướng cho học sinh tự xác định được trình
độ của mình để lựa chọn nghề phù hợp sau khi tốt nghiệp THCS, nếu không theo học tiếp THPT; cần nhấn mạnh cho các em học sinh hiểu việc phân luồng sau THCS để giúp mỗi cá nhân học sinh tự nhận biết khả năng của mình, chọn đúng hướng đi phù hợp với năng lực, sở trường và nhu cầu lao động của xã hội mà không nhất thiết phải theo đuổi việc được học đại học
Thứ ba, chỉ đạo công tác truyền thông tác động đến học sinh bằng cách cung
cấp cho các em những thông tin cần thiết về quyền lợi và những ưu tiên đối với học sinh tốt nghiệp THCS khi vào học nghề: Khi thực hiện công tác hướng nghiệp cũng cần cho học sinh biết rõ những ưu tiên đối với học sinh tốt nghiệp THCS khi vào học nghề sẽ được miễn một nửa học phí, học sinh vùng khó khăn sẽ được miễn hoàn toàn
Thứ tư, Phổ biến kịp thời đến giáo viên, học sinh và phụ huynh, các văn bản
chỉ đạo về công tác phân luồng học sinh sau THCS như chỉ thị số 10-CT/TW ngày 05/12/2011 của Bộ Chính trị về triển khai đồng bộ các giải pháp nhằm thực hiện tốt việc phân luồng học sinh sau THCS Trong đó đáng chú ý nhất là sau khi hoàn thành chương trình GDTX cấp THPT và chương trình đào tạo TCCN, nếu đủ điều kiện theo quy định hiện hành, người học có thể tham gia kỳ thi quốc gia tốt nghiệp THPT và kỳ thi tốt nghiệp TCCN để có cơ hội nhận được 2 bằng tốt nghiệp
1.3.2 Quản lý việc thực hiện các hình thức giáo dục hướng nghiệp theo hướng phân luồng học sinh sau THCS
Công tác hướng nghiệp cho học sinh THCS là cần thiết Học sinh lớp 9 mỗi tháng được học 01 tiết hướng nghiệp để định hướng sau khi tốt nghiệp THCS Công tác hướng nghiệp cần thực hiện nghiêm túc với những hình thức đa dạng như:
Trang 29Tư vấn hướng nghiệp
Tổ chức cho học sinh đi tham quan các trường đại học, cao đẳng
Tổ chức cho học sinh đi tham quan các trường TCCN, trường nghề
Tổ chức cho học sinh đi tham quan các cơ sở sản xuất, các nông trường, lâm trường, HTX nuôi trồng thuỷ hải sản có trong địa bàn
Tổ chức thi tìm hiểu nghề
Tổ chức các buổi sinh hoạt hướng nghiệp
Lồng ghép GDHN vào các môn văn hoá, các chủ đề
1.3.3 Quản lý cách thức phân luồng học sinh sau THCS
Trong thực tế mỗi huyện chỉ có vài ba trường THPT, nhưng mỗi xã lại có 1 - 2 trường THCS, dẫn đến mỗi huyện có đến mấy chục trường THCS Như vậy số lượng học sinh sau khi tốt nghiệp THCS mà không theo học tiếp THPT là rất lớn Các em lại ở tuổi vị thành niên, nếu không có định hướng rất dễ bị lệch chuẩn trong lối sống
và việc chọn nghề Sau khi tốt nghiệp THCS, ngoài việc tiếp tục học THPT hay trong các Trung tâm Giáo dục thường xuyên (TTGDTX), các em còn có thể theo học nghề hoặc tham gia lao động sản xuất Trong số học sinh không học tiếp THPT, phần lớn là do các em bị hổng nhiều kiến thức cơ bản nên không thi vào được Nhưng có một thực tế là khi các em thi trượt, không vào được THPT, nhiều phụ huynh vẫn không muốn cho con em vào học nghề, mà vẫn mong muốn con mình học ôn để thi lại năm sau Do đó, để công tác phân luồng hiệu quả, các nhà quản lý cần lựa chọn cách thức phân luồng phù hợp Cụ thể:
Với những HS có điều kiện kinh tế, có năng lực học tập từ trung bình khá trở lên: Định hướng cho các em chọn nguyện vọng xét tuyển vào các trường THPT công lập và dân lập phù hợp điều kiện kinh tế gia đình và năng lực học tập; Định hướng cho các em
có thể học lên đại học từ con đường THCN dưới hình thức đào tạo liên thông
Với HS có điều kiện kinh tế khó khăn, hay năng lực học tập từ trung bình trở xuống cần định hướng cho HS lớp 10 hệ GDTX, đồng thời học hệ trung cấp kĩ thuật (3,5 năm; 4 năm), nghề bậc 3/7, 4/7 (từ 18 tháng đến 3 năm) có chế độ cấp học bổng, miễn giảm học phí cho diện gia đình chính sách
Trang 301.3.4 Quản lý đội ngũ giáo viên làm nhiệm vụ giáo dục hướng nghiệp theo định hướng phân luồng
-Tổ chức đánh giá năng lực phân loại đội ngũ giáo viên tham gia công tác giáo dục hướng nghiệp cho học sinh theo định hướng phân luồng
- Lập kế hoạch tổ chức tâp huấn, bồi dưỡng cập nhật kiến thức về giáo dục hướng nghiệp thường xuyên cho giáo viên
- Lập kế hoạch tổ chức tâp huấn, bồi dưỡng năng lực dạy học tích hợp giáo dục hướng nghiệp theo định hướng phân luồng
- Giới thiệu và cung cấp đầy đủ tài liệu, các văn bản hướng dẫn, các quy định
về giáo dục hướng nghiệp theo định hướng phân luồng cho giáo viên
-Tổ chức đánh giá năng lực dạy học tích hợp giáo dục hướng nghiệp theo định hướng phân luồng cho giáo viên sau bồi dưỡng
- Tổ chức tập huấn cho giáo viên kĩ năng tư vấn nghề nghiệp theo định hướng phân luồng cho giáo viên
1.3.5 Quản lý cơ sở vật chất phục vụ cho công tác giáo dục hướng nghiệp theo định hướng phân luồng
- Chuẩn bị CSVC và các phương tiện kỹ thuật hỗ trợ cho GDHN
- Các tài liệu sách báo cung cấp thông tin về nghề nghiệp và các trường đại học, cao đẳng, TCCN và trường dạy nghề cho học sinh
- Tạo nguồn kinh phí cho GDHN phải đổi mới theo xu thế hội nhập và phát triển các nước trên thế giới và trong khu vực
1.3.6 Quản lý công tác xã hội hóa, phối hợp các lực lượng trong giáo dục hướng nghiệp theo hướng phân luồng
- Thành lập 01 ban hướng nghiệp, tổ tư vấn hướng nghiệp
- Thường xuyên giới thiệu danh sách các ngành nghề, các trường dạy nghề, trung cấp nghề tại địa phương cho HS và phụ huynh
- Chủ động phối hợp với các trường nghề chuyên nghiệp để tổ chức tư vấn hướng nghiệp và cho học sinh đi tham quan thực tế tại các cơ sở sản xuất, kinh doanh
- Đầu tư cơ sở vật chất phục vụ cho việc giảng dạy và đào tạo
- Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, hướng nghiệp cho các em học sinh về học nghề
Trang 31- Liên hệ với trường dạy nghề ở địa phương để giới thiệu học sinh đến học nghề hoặc đến dạy tại trường
Nội dung GDHN theo hướng phân luồng cần gắn với các tiến bộ khoa học hiện đại, ứng dụng các công nghệ tiên tiến vào các lĩnh vực nghề nghiệp, GDHN thông qua các ngành nghề truyền thống của địa phương, học sinh bậc THCS có cơ hội phát triển, tiếp cận các khu công nghiệp điện, điện tử, công nghiệp chế biến và các ngành nghề thủ công đặc thù như gốm sứ, sơn mài, điêu khắc … là những nội dung
mà quản lý GDHN phải hướng đến để phát triển Vấn đề cần quan tâm hơn nữa, Quản
lý GDHN theo hướng phân luồng phải chú trọng đến con người, nhu cầu nguồn nhân lực phục vụ cho đất nước và cho địa phương, vừa định hướng cho học sinh THCS mà người lao động nói chung được bồi dưỡng cập nhật thường xuyên về kỹ năng, kiến thức nghề nghiệp đáp ứng mong đợi của nền kinh tế đã và đang phát triển hiện nay
1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến công tác quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp theo định hướng phân luồng học sinh sau THCS
1.4.1 Thị trường lao động
Các yếu tố của thị trường lao động như dân số, tiền lương, tuyển dụng, nhu cầu thị trường, chính sách cho người lao động là các yếu tố chủ yếu tác động tới nguồn nhân lực Người lao động nếu được trả công theo chất lượng và hiệu quả lao động sẽ khuyến khích họ học tập, rèn luyện để nâng cao kỹ năng, kiến thức
1.4.2 Giáo dục đào tạo
Phát triển nguồn nhân lực gắn liền với giáo dục và đào tạo Với quan niệm đầu
tư cho giáo dục là đầu tư có lợi nhất, các quốc gia trên thế giới đều có sự thay đổi trong chiến lược đầu tư cho giáo dục vì GD&ĐT tạo ra nguồn lực quyết định cho sự phát triển của đất nước trong tương lai
1.4.3 Đội ngũ cán bộ quản lý và giáo viên
Để GDHN có hiệu quả, vai trò quan trọng hơn hết là đội ngũ giáo viên và cán
bộ quản lý Trong nền giáo dục hiện đại, việc quản lý và đào tạo giáo viên không chỉ chăm lo về chuyên môn là đủ mà còn phải được yêu cầu đào tạo, trang bị thêm một số môn học khác để phục vụ cho việc giáo dục toàn diện cho học sinh; được huấn luyện phương pháp và kỹ năng dạy học một cách chu đáo và thường xuyên được trao đổi
Trang 32với đồng nghiệp, thường xuyên được rèn luyện nhân cách, rèn luyện đạo đức nghề nghiệp, phát triển tính cách, tăng cường ý thức của người giáo viên, từ đó tạo sự ảnh hưởng của nhân cách giáo viên đến học sinh
Trong nhà trường phổ thông hiện nay nhất thiết phải xây dựng được lực lượng chuyên trách, hàng năm nhà trường cần có kế hoạch cử lực lượng này tham gia các chương trình tập huấn về chuyên môn nghiệp vụ do ngành tổ chức
Cán bộ quản lý các trường THCS cần quan tâm, phối hợp với các lực lượng đoàn thể như Đoàn thanh niên, Hội LHTN Việt Nam đưa các nội dung hoạt động GDHN vào các tổ chức này, đây là tổ chức vừa có lực lượng đông đảo vừa có vai trò tác động tích cực và hiệu quả trong việc vận động tuyên truyền đến các đối tượng học sinh
Từ trách nhiệm và hiểu biết, các bậc PHHS không thờ ơ hay để con tùy tiện chọn hướng nghề nghiệp mà có sự phối hợp chặt chẽ từ phía bản thân các em và gia đình để có thể quyết định đúng đắn học ở trường nào, ngành nào phù hợp với nhu cầu
xã hội và sở trường, hoàn cảnh của bản thân và gia đình
1.4.5 Các tổ chức xã hội
Ngoài nhà trường và gia đình, hai yếu tố quan trọng chi phối đến GDHN đó là chính quyền địa phương và các CSSX có vai trò quan trọng Đối với chính quyền địa phương cần có kế hoạch ngắn hạn, dài hạn trong việc xây nguồn lực, đặc biệt là phải quan tâm đến công tác đào tạo nghề phục vụ cho việc phát triển kinh tế địa phương
Trang 33Đối với các cơ sở sản xuất kinh doanh cần tạo điều kiện cho học sinh tham quan, học tập, tư vấn cho các em chọn ngành nghề phù hợp với năng khiếu của mình Thực hiện mối liên kết này giúp học sinh có điều kiện mở rộng thông tin về ngành nghề của xã hội và địa phương, yêu cầu của nghề đối với người lao động, quy trình đào tạo, những điều kiện tham gia lao động Qua đó giúp học sinh hiểu biết các thông tin cần thiết về nghề nghiệp không chỉ về mặt lý thuyết mà ngay cả thực tiễn nữa Sự liên kết giữa nhà trường và các đơn vị sản xuất là một trong những yếu tố góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động GDHN trong việc hình thành và phát triển năng khiếu nghề nghiệp của các em
Trang 34Tiểu kết chương 1
Trong quản lý GDHN có nhiều quan điểm tiếp cận khác nhau có thể ở bản chất, mục tiêu, các yếu tố,… Tuy nhiên, luận văn không theo cách tiếp cận riêng lẻ mà gắn kết thành thể thống nhất Luận văn được trình bày theo chức năng quản lý GDHN tích hợp với các thành tố: mục đích, nội dung, phương pháp, hình thức GDHN… đảm bảo tính khoa học, hiệu quả trong quản lý GDHN cấp THCS hiện nay
Luận văn phân tích sâu sắc các chức năng quản lý GDHN: Lập kế hoạch - Tổ chức - Chỉ đạo - Kiểm tra Phân tích và làm rõ các yếu tố được tích hợp trong chức năng quản lý GDHN: quản lý mục tiêu, quản lý nội dung, quản lý hình thức GDHN
Luận văn đề cập đến một số lý thuyết về GDHN, ý nghĩa giáo dục, kinh tế, chính trị, xã hội Mối quan hệ giữa GDHN và phân luồng học sinh sau THCS, từ đó định hướng GDHN theo mục tiêu phát triển nguồn nhân lực
Xây dựng mục tiêu và các con đường hướng nghiệp cho học sinh cấp THCS gắn chặt qui định của Bộ và thực tiễn của địa phương, đề cập đến các yếu tố ảnh hưởng đến GDHN hiện nay: đội ngũ, phân luồng học sinh, xã hội, thị trường,…
Quản lý GDHN phải hướng đào tạo theo nhu cầu XH, góp phần phát triển nguồn nhân lực cho XH thông qua các nhiệm vụ của GDHN cấp THCS, giúp học sinh THCS làm quen và tiếp xúc với nghề, tiếp cận với kỹ thuật và công nghệ sản xuất
Trang 35Chương 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC HƯỚNG NGHIỆP THEO ĐỊNH HƯỚNG PHÂN LUỒNG HỌC SINH SAU TRUNG HỌC CƠ SỞ
TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN NẬM PỒ, TỈNH ĐIỆN BIÊN
2.1 Sơ lược về tình hình kinh tế-xã hội huyện Nậm Pồ, tỉnh Điện Biên
2.1.1 Điều kiện tự nhiên và tình hình kinh tế - xã hội của huyện Nậm Pồ, tỉnh Điện Biên
Nậm Pồ là một huyện miền núi, biên giới, nằm về phía Tây bắc của tỉnh Điện Biên, cách thành phố Điện Biên Phủ khoảng 140 km, có diện tích tự nhiên là 149.559,12 ha, có đường biên giới Quốc gia dài 119,7 km, có 2 cửa khẩu phụ Huyện được thành lập theo Nghị quyết số 45/NQ-CP ngày 25/8/2012 của Chính phủ về việc điều chỉnh địa giới hành chính để thành lập đơn vị hành chính cấp xã, cấp huyện thuộc tỉnh Điện Biên Huyện có 12 dân tộc anh em cùng chung sống (trong đó dân tộc Mông chiếm 69,18%) Phía Đông giáp huyện Mường Chà; Phía Tây giáp huyện Mường Nhé và nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào; Phía Nam giáp nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào; Phía Bắc giáp huyện Nậm Nhùn, tỉnh Lai Châu
Nậm Pồ có địa hình địa hình đồi núi cao chạy dài theo hướng Tây Bắc - Đông Nam, có xu hướng thấp dần từ Bắc xuống Nam và nghiêng dần từ Tây sang Đông, độ cao từ 200m đến 1800m Xen kẽ giữa các dãy núi có các dạng địa hình thung lũng, sông suối, thềm bãi bồi, mô sụt võng, phân bố rộng khắp trên địa bàn nhưng diện tích nhỏ, hẹp có điều kiện giữ nước và tưới nước trên hầu hết diện tích đất đã được khai thác trồng lúa và hoa màu
Nậm Pồ nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, mùa khô (mùa đông) và mùa mưa (mùa hè) Mùa khô từ tháng 11 năm trước đến tháng 4 năm sau, có gió mùa đông lạnh khô, chịu ảnh hưởng của gió Tây khô nóng (gió Lào); ít mưa, chịu nhiều sương muối và rét hại gây bất lợi cho đời sống và sản xuất nông nghiệp Mùa mưa từ tháng 5-10, mưa nhiều với đặc tính diễn biến bất thường, phân hóa đa dạng, ít chịu ảnh hưởng của bão, nhưng chịu ảnh hưởng của gió mùa Tây Nam chứa một lượng ẩm lớn kèm theo các nhiễu động khí quyển mạnh và thường xuyên đã tạo ra các cơn mưa dông, mưa rào kéo dài 2 đến 3 ngày, thường xuất hiện dông, mưa đá Độ ẩm tương đối
Trang 36trung bình thường từ 78-93% Có lượng mưa lớn, bình quân từ 1.800-2.500mm/năm, mưa tập trung từ tháng 6-9 Dân số của huyện Nậm Pồ tính đến năm 2018 là 50.752 người, huyện có 12 thành phần dân tộc trong đó dân tộc Mông chiếm tỷ lệ cao nhất 69,18%; tiếp đến là dân tộc Thái chiếm 18,50%; dân tộc Dao chiếm 4,15%; dân tộc Kinh chiếm 3,21%; dân tộc Khơ Mú chiếm 1,58%; dân tộc Hoa chiếm 1,52%; dân tộc Kháng chiếm 0,91%; dân tộc Cống chiếm 0,75% và các dân tộc khác chiếm 0,2% Tổng số hộ 9.655 hộ, tỷ lệ hộ nghèo năm 2017 còn 63,39%
2.1.2 Tình hình công tác giáo dục tại huyện Nậm Pồ, tỉnh Điện Biên
Trong những năm qua, ngành Giáo dục và Đào tạo huyện Nậm Pồ tiếp tục nhận được quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo của Sở Giáo dục và Đào tạo, Huyện uỷ, HĐND và UBND huyện; sự phối hợp có hiệu quả của các phòng, ban; ủng hộ, chia sẻ của nhân dân các dân tộc trong huyện; đặc biệt là sự tâm huyết, trách nhiệm của đội ngũ nhà giáo, cán
bộ quản lý giáo dục các cấp trong quá trình triển khai các nhiệm vụ đề ra
Năm học 2017-2018, Phòng Giáo dục và Đào tạo đã hoàn thành cơ bản các nhiệm
vụ trọng tâm của ngành đề ra Quy mô, mạng lưới trường lớp tiếp tục được củng cố và phát triển Toàn huyện có 45 trường học, 808 lớp với 18.218 học sinh (trong đó có 5 trường chưa hoạt động giáo dục) Công tác xây dựng cơ sở vật chất, kiên cố hoá trường lớp học được quan tâm và cải thiện; có 822 phòng học, trong đó: 431 phòng học kiên cố (chiếm 52,4%), 76 phòng bán kiên cố (chiếm 9,2%); 315 phòng tạm “ba cứng” (Chiếm 38,4%), trong đó có 69 phòng học chức năng; có 255 phòng công vụ, 504 phòng nội trú Công tác đào tạo, bồi dưỡng nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên được chú trọng, nhiều nội dung bồi dưỡng thiết thực được triển khai kịp thời đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục Chất lượng giáo dục được duy trì ổn định và tiến bộ Đến nay toàn huyện có 20/40 trường đạt chuẩn Quốc gia (tăng 17 trường so với năm học 2013-2014) đó cấp Mầm non 04 trường, cấp Tiểu học 07 trường, cấp THCS 09 trường, huyện có nhiều học sinh giỏi cấp huyện, cấp tỉnh tỉnh, tỉ lệ đỗ tốt nghiệp THCS đạt 99,9%
Kết quả đạt được theo các tiêu chuẩn PCGD-XMC năm 2017: Huyện duy trì đạt chuẩn PCGDMNTNT; duy trì đạt chuẩn PCGD tiểu học mức độ 2; duy trì đạt chuẩn PCGD THCS mức độ 1; duy trì đạt chuẩn XMC mức độ 1 (nguồn báo cáo thống kê cuối năm học 2017-2018)
Trang 372.2 Thực trạng giáo dục cấp THCS trên địa bàn huyện Nậm Pồ, tỉnh Điện Biên
Năm học 2017 - 2018, quy mô mạng lưới trường lớp tiếp tục được củng cố; đáp ứng được nhu cầu học tập của con em các dân tộc trong huyện
Toàn huyện có 40 trường, trong đó 13 trường mầm non, 15 trường tiểu học, 12 trường THCS, 808 lớp với 18.218 học sinh, trong đó: THCS có 155 lớp với 4.704 học sinh (khối 6: 1275 học sinh; khối 7: 1282 học sinh; khối 8: 1193 học sinh; khối 9:
1036 học sinh)
Bảng 2.1 Thống kê số trường, lớp, số học sinh THCS
Trang 382.3 Tổ chức khảo sát thực trạng quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp theo hướng phân luồng sau THCS trên địa bàn huyện Nậm Pồ, tỉnh Điện Biên
2.3.1 Mục tiêu khảo sát
Trên cơ sở nghiên cứu và đánh giá thực trạng quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp theo hướng phân luồng sau THCS tại huyện Nậm Pồ, tỉnh Điện Biên, rút ra những kết luận cần thiết, làm cơ sở thực tiễn cho đề tài nghiên cứu
2.3.2 Đối tượng khảo sát
Để khảo sát thực trạng công tác phân luồng học sinh sau THCS và thực trạng công tác quản lý phân luồng học sinh sau THCS ở huyện Nậm Pồ, tỉnh Điện Biên, chúng tôi sử dụng phiếu thăm dò ý kiến của 21 cán bộ quản lý (bao gồm Hiệu trưởng, Phó hiệu trưởng phụ trách chuyên môn, tổ trưởng), 70 giáo viên, 210 học sinh, 140 phụ huynh học sinh của 7 trường PTDTBT THCS Nà Hỳ, PTDTBT THCS Nà Khoa, THCS Tân Phong, THCS Chà Nưa, PTDTBT THCS Chà Cang, PTDTBT THCS Phìn Hồ, PTDTBT THCS Nà Bủng trên địa bàn huyện Nậm Pồ, tỉnh Điện Biên
Bảng 2.3 Danh sách các đơn vị tham gia khảo sát
lý, giáo viên
Phụ huynh học sinh Học sinh
2.3.3 Nội dung khảo sát
Luận Văn tập trung nghiên cứu khảo sát các nội dung cơ bản sau:
* Thực trạng công tác phân luồng học sinh sau THCS
* Thực trạng quản lý hoạt động GDHN học sinh THCS theo hướng phân luồng
* Các yếu tố ảnh hưởng đến công tác quản lý hoạt động GDHN theo hướng phân luồng ở học sinh sau THCS
Trang 392.3.4 Phương pháp khảo sát
- Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi: Xây dựng hệ thống câu hỏi điều tra với mục đích chủ yếu là thu thập các số liệu nhằm xác định thực trạng quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp theo định hướng phân luồng và phân tích các ưu điểm, hạn chế, nguyên nhân của thực trạng này
- Phương pháp phỏng vấn: Chúng tôi tiến hành trao đổi trực tiếp với CBQL và
GV, HS, PHHS nhằm tìm hiểu kỹ hơn về thực trạng quản lí hoạt động giáo dục hướng nghiệp theo định hướng phân luồng và giải thích nguyên nhân của thực trạng
- Phương pháp xử lý số liệu bằng thống kê toán học: Bằng một số thuật toán của toán học thống kê áp dụng trong nghiên cứu giáo dục, phương pháp này được sử dụng với mục đích xử lý kết quả điều tra, phân tích kết quả nghiên cứu, đồng thời đánh giá mức độ tin cậy của phương pháp điều tra
Cách xử lý: Xử lý thông tin theo từng nội dung khảo sát
Ngoài một số câu hỏi xử lý số liệu %, chúng tôi quy ước các câu hỏi trong phiếu khảo sát theo thang điểm như sau:
Tốt, rất thường xuyên, rất hiệu quả, ảnh hưởng rất nhiều: có giá trị 4;
Khá, Thường xuyên, Hiệu quả, ảnh hưởng nhiều có giá trị 3;
Trung bình, Đôi khi, bình thường, ít ảnh hưởng có giá trị 2;
Yếu, không bao giờ, không hiệu quả, không ảnh hưởng có giá trị 1
Sau đó chúng tôi tính điểm trung bình
X K X
n
Thứ bậc được xếp theo thứ tự điểm trung bình từ cao xuống thấp và được đánh giá như sau:
Mức yếu:
Trang 402.4 Thực trạng hoạt động giáo dục hướng nghiệp theo định hướng phân luồng học sinh sau THCS ở các trường THCS trên địa bàn huyện Nậm Pồ, tỉnh Điện Biên
2.4.1 Thực trạng xu hướng phân luồng học sinh sau THCS huyện Nậm Pồ, tỉnh Điện Biên
Công tác giáo dục hướng nghiệp được chú trọng đối với học sinh khối 9 nhằm tuyên truyền cho các các em hướng nghề nghiệp sau khi tốt nghiệp THCS hoặc tiếp tục học lên THPT Việc giáo dục nghề được tích hợp vào môn giáo dục hướng nghiệp với thời lượng 1 tiết/tuần
Trong ba năm học vừa qua (2015- 2016; 2016-2017; 2017- 2018), số học sinh lựa chọn nghề nghiệp theo hướng phân luồng sau THCS đã có những chuyển biến rõ rệt Tuy nhiên ngoài một bộ phận học sinh tiếp tục theo học THPT hoặc học nghề, vẫn còn một bộ phận không nhỏ học sinh bỏ học Kết quả thống kê trong ba năm học như sau:
Bảng 2.4 Thực trạng phân luồng HS sau THCS trong 03 năm học gần đây
Năm học Tổng số
hs khối 9
Số lượng Tỷ lệ %
Số lượng Tỷ lệ %
Số lượng Tỷ lệ %
và chưa thiết thực Những trăn trở về hướng nghiệp như kế hoạch còn chung chung, không
cụ thể, thiếu tài liệu tham khảo, không có biên chế, không có sự kiểm tra giám sát, cho thấy những hạn chế của công tác hướng nghiệp trong nhà trường phổ thông