MỤC LỤCMỞ ĐẦU 1.Lý do chọn đề tài 2.Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 3.Mục tiêu nghiên cứu 4.Phương pháp nghiên cứu 1.1.2.Tìm hiểu về kế hoạch hóa gia đình 1.2.Tìm hiểu về công tác dân số -
Trang 1BÁO CÁO THỰC TẬP Tìm hiểu về hoạt động tuyên truyền trong công tác dân số
tại UBND phường Quang Trung, Đống Đa.
Trang 2MỤC LỤC
MỞ ĐẦU
1.Lý do chọn đề tài
2.Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
3.Mục tiêu nghiên cứu
4.Phương pháp nghiên cứu
1.1.2.Tìm hiểu về kế hoạch hóa gia đình
1.2.Tìm hiểu về công tác dân số - kế hoạch hóa gia đình (DS-KHHGĐ)
1.2.1.Vai trò của công tác dân số - kế hoạch hóa gia đình
1.2.2.Quan điểm của Đảng và Nhà nước về công tác dân số - kế hoạch hóa gia đình
1.3.Tìm hiểu về hoạt động tuyên truyền trong công tác dân số - kế hoạch hóa gia đình
1.3.1.Tìm hiểu về về tuyên truyền
1.3.2.Nguyên tắc về hoạt động tuyên truyền trong công tác dân số - kế hoạch hóa gia đình1.3.3.Công tác tuyên truyền kết hợp vận động hoạt động dân số - kế hoạch hóa gia đình1.3.4.Một số hoạt động hỗ trợ tuyên truyền công tác dân số - kế hoạch hóa gia đình
CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG TUYÊN TRUYỀN CÔNG TÁC DÂN
SỐ TẠI UBND PHƯỜNG QUANG TRUNG - QUẬN ĐỐNG ĐA - HÀ NỘI
2.1.Tìm hiểu chung về UBND phường và phòng văn hóa phường Quang Trung – quận Đống Đa – Hà Nội
2.1.1.Khái quát về quận Đống Đa – Hà Nội
Trang 32.1.2.Tìm hiểu về phường Quang Trung
2.1.3.Tìm hiểu về phòng văn hóa phường Quang Trung
2.2.Thực trạng tuyên truyền công tác dân số tại UBND phường Quang Trung
2.2.1.Thực trạng chung
2.2.2.Chi tiết một vài phương pháp tuyên truyền
2.3.Đánh giá thành công và hạn chế của công tác tuyên truyền dân số tại UBND phường Quang Trung
2.3.1.Đánh giá thành công
2.3.2.Đánh giá hạn chế
CHƯƠNG III: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG HOẠT ĐỘNG TUYÊN TRUYỀN CÔNG TÁC DÂN SỐ TẠI UBND PHƯỜNG QUANG TRUNG - QUẬN ĐỐNG ĐA - HÀ NỘI
3.1.Phương hướng nâng cao chất lượng hoạt động tuyên truyền công tác dân số tại UBND phường Quang Trung
3.2.Giải pháp dành cho cấp lãnh đạo
3.3.Giải pháp dành cho cán bộ, cộng tác viên tuyên truyền công tác dân số tại phòng văn hóa phường Quang Trung
KẾT LUẬN
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 4MỞ ĐẦU 1.Lý do chọn đề tài
Dân số nước ta ngày càng có xu hướng tăng nhanh, chính vì thế Đảng và Nhà nước cùng các tổ chức xã hội đang chung tay hạn chế tối đa sự tăng nhanh dân số Những hậu quả kéo theo như nghèo đói, công trình phúc lợi xã hội không đáp ứng đủ nhu cầu, tệ nạn xã hội… đều sản sinh từ công tác tuyên truyền dân số yếu kém
Điều đáng mừng trong thời gian qua, nhờ có công tác tuyên truyền mà những khẩu hiệu, pháp lệnh dân số được người dân biết đến và nhiệt tình hưởng ứng hơn Công tác tuyên truyền được triển khai đến người dân bằng nhiều hình thức phong phú, dễ hiểu và phù hợp với nhiều nhóm đối tượng Trong đó, chú trọng loại hình tư vấn đối thoại trực tiếp với các cặp vợ chồng trong độ tuổi sinh đẻ, vị thành niên, các gia đình sinh con một bề Góp phần vào sự thành công của công tác tuyên truyền phải kể đến những nỗ lực của đội ngũ cán bộ làm công tác dân số, những cộng tác viên (CTV), cán bộ y tế cơ sở Lợi thế của người làm công tác tuyên truyền dân số đó là chính những cộng tác viên dân số, cán
bộ y tế là những người sống ở ngay trong cộng đồng khu dân cư, họ có thể hiểu rõ nhu cầu, họ có thời gian gần gũi với dân nên mọi lúc, mọi nơi có thể tuyên truyền, hướng dẫn,
tư vấn về sức khỏe cho người dân hiệu quả nhất
Thực tập tại phòng văn hóa thuộc UBND phường Quang Trung (quận Đống Đa, Hà Nội),
em hiểu được rằng công tác dân số - kế hoạch hóa gia đình (KHHGĐ) là một nhiệm vụ quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội ở địa phương Phường Quang Trung đã đẩy mạnh công tác tuyên truyền, nâng cao nhận thức để thay đổi hành động của từng người dân trong thực hiện KHHGĐ Những năm qua, công tác Dân số - KHHGĐ ở phường Quang Trung đều đạt được những thành tích đáng khích lệ Bên cạnh đó, công tác này vẫn còn nhiều mặt hạn chế Chính vì thế em đã lựa chọn đề tài “Thực trạng công tác tuyên truyền dân số tại UBND phường Quang Trung (quận Đống Đa, Hà Nội)”
2.Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
Công tác tuyên truyền dân số, kế hoạch hóa gia đình, sức khỏe sinh sản tại phòng văn hóa, phường Quang Trung, quận Đống Đa, Hà Nội, trọng tâm giai đoạn 2017-2018
3.Mục tiêu nghiên cứu
Tìm hiểu một vài lý thuyết căn bản nhất liên quan đến đề tài và kết hợp phân tích thực trạng công tác tuyên truyền dân số tại phường Quang Trung Từ đó, nêu lên giải pháp nâng cao công tác tuyên truyền này đạt hiệu quả trong thời gian tới
4.Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu tài liệu, số liệu, thu thập thông tin từ giáo trình, tư liệu phường,
số liệu của cơ quan dân số
Trang 5Phương pháp tổng hợp, đánh giá, phân tích, xử lý số liệu, lập bảng, lập phiếu.
Phương pháp phỏng vấn và đi thực tế địa bàn
Trang 6NỘI DUNG CHƯƠNG I: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG TUYÊN TRUYỀN TRONG CÔNG TÁC DÂN SỐ
1.1.Tìm hiểu về dân số - kế hoạch hóa gia đình
1.1.1.Tìm hiểu về dân số
Dân số là tập hợp người sinh sống trong một quốc gia, khu vực, vùng địa lý kinh tế hoặc một đơn vị hành chính (khoản 3 Điều 3 Pháp lệnh Dân số năm 2003)
1.1.2.Tìm hiểu về kế hoạch hóa gia đình
Kế hoạch hoá gia đình là nỗ lực của Nhà nước, xã hội để mỗi cá nhân, cặp vợ chồng chủ động, tự nguyện quyết định số con, thời gian sinh con và khoảng cách giữa các lần sinh nhằm bảo vệ sức khoẻ, nuôi dạy con có trách nhiệm, phù hợp với chuẩn mực xã hội và điều kiện sống của gia đình (khoản 9 Điều 3 Pháp lệnh Dân số năm 2003)
1.2.Tìm hiểu về công tác dân số - kế hoạch hóa gia đình (DS-KHHGĐ)
1.2.1.Vai trò của công tác dân số - kế hoạch hóa gia đình (DS-KHHGĐ)
Quá trình phát triển dân số ở xã chịu nhiều sự tác động của các yếu tố con người, môi trường kinh tế-xã hội; việc quản lý chương trình DS-KHHGĐ ở xã không chỉ bảo vệ lợi ích con người, hướng sự phát triển vào mục tiêu con người, vừa là tiền đề cho sự phát triển và phát triển bền vững Do vậy, quản lý chương trình DS-KHHGĐ ở xã là hết sức quan trọng, là trách nhiệm của cộng đồng và toàn xã hội và là yếu tố quyết định thành công của công tác DS-KHHGĐ ở cấp xã
Ban chỉ đạo DS-KHHGĐ đóng vai trò chỉ đạo, huy động các ngành, đoàn thể, tổ chức xã hội, chính trị-xã hội và mọi tầng lớp nhân dân tham gia chương trình DS-KHHGĐ
1.2.2.Quan điểm của Đảng và Nhà nước về công tác dân số - kế hoạch hóa gia đình (DS-KHHGĐ)
*Nghị quyết của Ban Chấp hành Trung ương Đảng về chính sách dân số và kế hoạch hoá gia đình
Công tác dân số và kế hoạch hoá gia đình là một bộ phận quan trọng của chiến lược phát triển đất nước, là một trong những vấn đề kinh tế - xã hội hàng đầu của nước ta, là một yếu tố cơ bản để nâng cao chất lượng cuộc sống của từng người, từng gia đình và của toàn xã hội
Giải pháp cơ bản để thực hiện công tác dân số và kế hoạch hoá gia đình là vận động, tuyên truyền và giáo dục gắn liền với đưa dịch vụ kế hoạch hoá gia đình đến tận người
Trang 7dân; có chính sách mang lại lợi ích trực tiếp cho người chấp nhận gia đình ít con, tạo động lực thúc đẩy phong trào quần chúng thực hiện kế hoạch hoá gia đình
Đầu tư cho công tác dân số và kế hoạch hoá gia đình là đầu tư mang lại hiệu quả kinh tế trực tiếp rất cao Nhà nước cần tăng mức chi ngân sách cho công tác dân số và kế hoạch hoá gia đình, đồng thời động viên sự đóng góp của cộng đồng và tranh thủ sự viện trợ củaquốc tế
Huy động lực lượng của toàn xã hội tham gia công tác dân số và kế hoạch hoá gia đình, đồng thời phải có bộ máy chuyên trách đủ mạnh để quản lý theo chương trình mục tiêu, bảo đảm cho các nguồn lực nói trên được sử dụng có hiệu quả và đến tận người dân
Để đạt được mục tiêu trong thời gian tương đối ngắn, điều có ý nghĩa quyết định là Đảng
và chính quyền các cấp phải lãnh đạo và chỉ đạo tổ chức thực hiện công tác dân số và kế hoạch hoá gia đình theo chương trình
*Quyết định số 147/2000/QĐ-TTg ngày 22/12/2000 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Chiến lược Dân số Việt Nam giai đoạn 2001 - 2010
Công tác dân số là bộ phận quan trọng của chiến lược phát triển đất nước, là một trong những yếu tố cơ bản để nâng cao chất lượng cuộc sống của từng người, từng gia đình và toàn xã hội, góp phần quyết định để thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.Thực hiện đồng bộ, từng bước và có trọng điểm việc điều hoà quan hệ giữa số lượng với chất lượng dân số, giữa phát triển dân số với phát triển nguồn nhân lực, giữa phân bố và
di chuyển dân cư với phát triển kinh tế - xã hội là nhiệm vụ quan trọng của công tác dân số; tập trung ưu tiên cho các vùng có mức sinh cao, vùng nghèo, vùng sâu, vùng xa để giải quyết các vấn đề dân số và nâng cao mức sống nhân dân
Đầu tư cho công tác dân số là đầu tư cho sự phát triển bền vững và mang lại hiệu quả kinh tế - xã hội trực tiếp, gián tiếp và rõ rệt Nhà nước đảm bảo đủ nguồn lực cho công tác dân số, đồng thời vận động sự đóng góp của cộng đồng và tranh thủ sự viện trọ của quốc tế
Đẩy mạnh công tác truyền thông - giáo dục về dân số và phát triển, kết hợp với việc thực hiện đầy đủ, có hiệu quả Chương trình chăm sóc sức khoẻ sinh sản/kế hoạch hoá gia đình, tăng cường vai trò của gia đình và thực hiện bình đẳng giới trong lĩnh vực chăm sócsức khoẻ sinh sản/kế hoạch hoá gia đình là các giải pháp cơ bản để đảm bảo tính bền vững của chương trình dân số và phát triển
Tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng và chính quyền các cấp đối với công tác dân
số, đẩy mạnh xã hội hoá là yếu tố quyết định sự thành công của chương trình dân số và phát triển
Trang 8*Nghị quyết số 21-NQ/TW
Ngày 25/10/2017, thay mặt Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khóa XII, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng ký ban hành Nghị quyết số 21-NQ/TW về công tác dân số trong tình hình mới Nghị quyết xác định: Dân số là yếu tố quan trọng hàng đầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Công tác dân số là nhiệm vụ chiến lược, vừa cấp thiết, vừa lâu dài; là sự nghiệp của toàn Đảng, toàn dân
Nghị quyết số 21-NQ/TW chỉ đạo tiếp tục chuyển trọng tâm chính sách dân số từ kế hoạch hóa gia đình sang dân số và phát triển Công tác dân số phải chú trọng toàn diện các mặt quy mô, cơ cấu, phân bố, đặc biệt là chất lượng dân số và đặt trong mối quan hệ hữu cơ với các yếu tố kinh tế, xã hội, quốc phòng, an ninh bảo đảm phát triển nhanh và bền vững Trung ương Đảng cho rằng, đầu tư cho công tác dân số là đầu tư cho phát triển.Nhà nước ưu tiên bố trí ngân sách, đồng thời đẩy mạnh xã hội hóa; tranh thủ sự hỗ trợ của quốc tế bảo đảm nguồn lực cho công tác dân số
*Một số văn bản quy phạm phát luật về công tác dân số vẫn được sử dụng
- Nghị quyết số 04-NQ/TW ngày 14/01/1993 của Hội nghị lần thứ 4 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá VII về chính sách dân số và kế hoạch hoá gia đình
- Chỉ thị số 50-CT/TW ngày 06/3/1995 của Ban Bí thư về việc đẩy mạnh thực hiệnNghị quyết Trung ương 4 về chính sách dân số, kế hoạch hoá gia đình
- Chỉ thị số 37-CT/TTg ngày 17/01/1997 của Thủ tướng Chính phủ về việc đẩy nhanh thực hiện chiến lược dân số - kế hoạch hoá gia đình
- Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX của Đảng
- Nghị quyết số 47-NQ/TW ngày 22/3/2005 của Ban Chấp hành Trung ương về việc tiếp tục đẩy mạnh thực hiện chính sách dân số và kế hoạch hoá gia đình
- Quyết định số 09/2006/QĐ-TTg ngày 10/01/2006 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 47-
NQ/TW ngày 22/3/2005 của Bộ Chính trị về tiếp tục đẩy mạnh thực hiện chính sách dân
số và kế hoạch hoá gia đình
- Nghị định số 114/NĐ-CP ngày 03/10/2006 của Chính phủ quy định xử phạt hànhchính về dân số và trẻ em
- Chỉ thị số 13/2007/CT-TTg ngày 06/6/2007 của Thủ tướng Chính phủ về việc tăng cường thực hiện Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 47-NQ/TW ngày 22/3/2005 của Bộ Chính trị về tiếp tục đẩy mạnh thực hiện chính sách dân số và kế hoạch hoá gia đình
- Quy định số 94-QĐ/TW ngày 15/10/2007 của Bộ Chính trị về xử lý kỷ luật đảng viên vi phạm
Trang 9- Hướng dẫn số 11/HD-UBKTTW ngày 24/03/2008 của Ban Chấp hành Trung ương về việc thực hiện Quy định số 94-QĐ/TW ngày 15/10/2007 của Bộ Chính trị về xử
- Chỉ thị số 23/2008/CT-TTg ngày 04/8/2008 của Thủ tướng Chính phủ về việc tiếp tục đẩy mạnh công tác dân số - kế hoạch hoá gia đình
- Kết luận số 44-KL/TW ngày 01/4/2009 của Bộ Chính trị về kết quả 3 năm thực hiện Nghị quyết số 47-NQ/TW ngày 22/3/2005 của Bộ Chính trị về tiếp tục đẩy mạnh thực hiện chính sách dân số và kế hoạch hoá gia đình
1.3.Tìm hiểu về hoạt động tuyên truyền trong công tác dân số - kế hoạch hóa gia đình
1.3.1.Tìm hiểu về về tuyên truyền
*Khái niệm chung
Tuyên truyền là việc đưa ra các thông tin (vấn đề) với mục đích đẩy thái độ, suy nghĩ, tâm lý và ý kiến của quần chúng theo chiều hướng nào đấy mà người nêu thông tin mong muốn
Mục tiêu tối hậu của tuyên truyền hiện đại không dừng lại ở thay đổi suy nghĩ hay thái độcủa quần chúng, mà cần phải tạo hành động trong quần chúng Tuyên truyền không chỉ lôi kéo cá nhân ra khỏi sự tin tưởng cũ, mà cần phải làm cá nhân đó tin mù quáng vào suynghĩ mới và đưa đến hành động có lợi cho thế lực tuyên truyền Cá nhân bị tuyên truyền
sẽ mất khả năng lựa chọn và phản xạ tự nhiên, và từ đó sẽ làm những hành động với sự tin tưởng không cần bằng chứng cụ thể
*Theo quan điểm của Hồ Chí Minh
Chủ tịch Hồ Chí Minh xác định tuyên truyền là công cụ quan trọng để tạo ra lực lượng mới hùng mạnh cho cách mạng nên Người rất quan tâm đến việc làm tốt công tác tuyên truyền Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Công tác tuyên truyền phải cụ thể, thiết thực” để quần chúng hiểu đúng đường lối chính sách của Đảng, của Chính phủ, từ đó tự giác tham gia công việc cách mạng Định nghĩa về tuyên truyền, Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng:
“Tuyên truyền là đem một việc gì nói cho dân hiểu, dân nhớ, dân theo, dân làm Nếu không đạt được mục đích đó, là tuyên truyền thất bại” Cán bộ tuyên truyền cần xác định
rõ ràng nội dung, đối tượng, mục đích và phương pháp: “Tuyên truyền cái gì? Tuyên
Trang 10truyền cho ai? Tuyên truyền để làm gì? Tuyên truyền cách thế nào?” Việc nắm vững đối tượng được tuyên truyền rất quan trọng vì tùy theo từng đối tượng, trình độ mà chọn phương pháp tuyên truyền, mỗi đối tượng có một cách tuyên truyền khác nhau Đối với mỗi đối tượng, Người yêu cầu phải có phương thức tuyên truyền thích hợp và phải chú trọng ưu tiên cho đối tượng có trình độ nhận thức, trình độ văn hóa thấp vì đồng bào có trình độ thấp đã hiểu thì các đối tượng khác đều nắm bắt được.
Trong công tác tuyên truyền, cán bộ là khâu quyết định thành công, nhưng theo Chủ tịch
Hồ Chí Minh điều quan trọng nhất ở mỗi cán bộ tuyên truyền lại là đạo đức Bác căn dặn cán bộ phải có tình yêu thương và nhiệt tình cách mạng Lý tưởng cao đẹp ấy sẽ là ngọn đèn soi đường dẫn lối, nhắc nhở cán bộ trong mỗi việc làm không chỉ dừng lại ở việc biếtlàm tròn trách nhiệm, mà còn cần hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ Người nói: “Tuyên truyền huấn luyện phải xuất phát từ chỗ nào? Xuất phát từ nhiệt tình cách mạng, tình thương yêu chân thành đồng bào các dân tộc, từ tinh thần hết lòng phục vụ đồng bào các dân tộc Có như thế, mới tìm ra cái đúng, cái hay mà làm”
1.3.2.Nguyên tắc về hoạt động tuyên truyền trong công tác dân số - kế hoạch hóa gia đình
* Đảm bảo sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác DS -KHHGĐ
Hình thức thực hiện sự lãnh đạo của Đảng là ban hành các Nghị quyết đại hội, Nghị quyết Ban chấp hành, cấp uỷ Đảng các cấp; phổ biến triển khai, kiểm điểm đánh giá việc thực hiện các Nghị quyết đối với các tổ chức Đảng, cơ quan chính quyền nhà nước, tổ chức chính trị-xã hội, tổ chức xã hội và đoàn thể quần chúng Trong công tác tuyên truyền cần tuân theo những Nghị quyết này
*Tôn trọng quy luật khách quan
Quy luật quá độ dân số, quy luật “bùng nổ dân số” sau chiến tranh, quy luật hút, đẩy chi phối quá trình biến động dân số cơ học Cũng như các quy luật khác, các quy luật trong lĩnh vực dân số tồn tại khách quan Thừa nhận tính khách quan của quy luật không có nghĩa phủ nhận vai trò tích cực của con người Con người không thể tạo ra hay gạt bỏ quy luật, nhưng con người có khả năng nhận thức quy luật và vận dụng nó “Đảng phải luôn xuất phát từ thực tế, tôn trọng và hành động theo quy luật khách quan” Chính vì thế,công tác tuyên truyền cần lưu ý tới quy luật khách quan của dân số
*Nguyên tắc tập trung dân chủ
-Thông qua công tác kế hoạch hoá (tuân thủ nghiêm ngặt quy trình xây dựng và chế độ thực hiện các chiến lược, quy hoạch, chương trình, kế hoạch dài hạn, trung hạn, ngắn hạn…)
-Thực hiện chế độ một thủ trưởng ở cơ quan về DS -KHHGĐ ở tất cả
-Kết hợp chặt chẽ quản lý theo ngành, quản lý theo lãnh thổ và địa phương
Trang 11-Phát huy đầy đủ quyền chủ động của các địa phương, đơn vị.
-Tạo điều kiện để người dân tham gia tích cực vào quá trình xây dựng chính
sách, pháp luật
*Nguyên tắc tiết kiệm và hiệu quả
Tiết kiệm và hiệu quả là hai mặt của một vấn đề Với nguồn lực nhất định (nhân lực, vật lực, tài lực và thời gian) tạo ra được kết quả tốt nhất, nhiều nhất, nhanh nhất, theo hướng đạt được các mục tiêu về DS -KHHGĐ đã đề ra Trong điều kiện các nguồn lực đảm bảo cho công tác DS-KHHGĐ có hạn, việc đảm bảo tiết kiệm và hiệu quả trong triển khai thực hiện các hoạt động QLNN có ý nghĩa hết sức quan trọng
*Nguyên tắc kết hợp hài hoà các lợi ích
Kết hợp hài hoà các lợi ích của các cá nhân, xã hội và Nhà nước nhằm tạo ra động lực mạnh mẽ thúc đẩy phong trào nhân dân thực hiện công tác DS -KHHGĐ, đạt được mục tiêu nhanh chóng và bền vững Lợi ích của các bê n liên quan trong công tác DS-
KHHGĐ gồm:
-Lợi ích của nhà nước : Kiểm soát được quy mô dân số, cơ cấu dân số, thực hiện phân bổ dân cư hợp lý, nâng cao chất lượng dân số, nâng cao ch ất lượng cuộc sống của nhân dân,bảo đảm phát triển KT-XH
-Lợi ích của các cá nhân và gia đình: Bảo đảm quyền và nghĩa vụ của người dân để có được cuộc sống ấm no, hạnh phúc cho mỗi cá nhân và gia đình, đạt đượ c sự phát triển toàn diện cá nhân
-Lợi ích của các cộng đồng, xã hội: Đời sống vật chất và tinh thần của các thành viên trong cộng đồng, tổ chức được nâng cao, đời sống và sinh hoạt của cộng đồng phát triển hài hoà
* Đảm bảo nhân quyền
Công tác DS-KHHGĐ chủ yếu sử dụng quyền lực để chấn chỉnh bất kỳ tổ chức, cá nhân nào cản trở hoặc xâm hại đến quyền chủ động, tự nguyện, bình đẳng của các cá nhân, gia đình trong kiểm soát sinh sản, chăm sóc SKSS và thực hiện các biện pháp nâng cao chất lượng dân số Điều này thể hiện bản chất tố t đẹp, tính chất của dân, do dân và vì dân của Nhà nước ta
1.3.3.Công tác tuyên truyền kết hợp vận động hoạt động dân số - kế hoạch hóa gia đình
*Mối quan hệ giữa công tác tuyên truyền và vận động
Trang 12Công tác vận động có thể được tiến hành trong điều kiện chưa có chính sách, trong điều kiện đã có chính sách nhưng chưa có hành động, và trong điều kiện chính sách đã thực hiện được một thời gian nhất định.
Khi chưa có chính sách: Vận động nhằm vào việc soạn thảo và ban hành chính sách mới
Ví dụ: Vận động để Trung ương Đảng cộng sản Việt Nam xem xét, thảo luận và công bố Nghị quyết Trung ương 4 khoá VII về chính sách DS-KHHGĐ năm 1993 Hoặc vận độngHội đồng nhân dân tỉnh ban hành Nghị quyết chuyên đề về công tác DS-KHHGĐ trong giai đoạn hiện nay
Khi đã có chính sách: Vận động nhằm vào việc tạo môi trường thuận lợi, ủng hộ việc thực thi chính sách ở tất cả các cấp từ trung ương đến cơ sở Ví dụ: Vận động thúc đẩy các hoạt động xây dựng bộ máy chuyên trách DS-KHHGĐ, tăng cường năng lực cung cấp thông tin và dịch vụ, kêu gọi tài trợ, lồng ghép các hoạt động truyền thông
*Vận động chính sách
Đối tượng là nhóm cán bộ lãnh đạo, quản lý tại các tổ chức, cơ quan chịu trách nhiệm soạn thảo, ban hành và chỉ đạo thực thi chính sách Cụ thể là lãnh đạo các tổ chức Đảng, Chính phủ, các đại biểu Quốc hội, hội đồng nhân dân và lãnh đạo chính quyền các cấp
*Vận động nguồn lực
Đối tượng tác động có thể chia thành hai nhóm chủ yếu:
(1) Nhóm cán bộ lãnh đạo, quản lý tại các tổ chức, cơ quan chịu trách nhiệm phân bổ các nguồn lực như ngành tài chính, kế hoạch đầu tư;
(2) Các tổ chức và cá nhân có khả năng tài trợ như các doanh nghiệp, một số tổ chức phi chính phủ, các tổ chức từ thiện và phát triển, các nhà hảo tâm…
*Vận động dư luận
Đối tượng tác động là những người có uy tín, có tầm ảnh hưởng lớn trong xã hội như các nhà hoạt động xã hội, những người nổi tiếng đương thời như các nhà văn, nghệ sĩ, ca sĩ, vận động viên, những người có uy tín trong cộng đồng, cơ quan thông tin đại chúng…
1.3.4.Một số hoạt động hỗ trợ tuyên truyền công tác dân số - kế hoạch hóa gia đình Bảng 1: Một số hoạt động hỗ trợ tuyên truyền công tác dân số - kế hoạch hóa gia đình
Tuyên truyền kết hợp vận động Truyền chuyển đổi hành vi thông Truyền thông huy động cộng đồng
Trang 13Khái niệm
Vận động trongDS-KHHGĐ là tậphợp các hoạt độngtruyền thông cóchủ đích hướng tới
sự thay đổi và hoànthiện chính sách,tạo nguồn lực vàxây dựng môitrường dư luận xãhội thuận lợi, ủng
hộ cho Chươngtrình
Truyền thông chuyểnđổi hành vi là mộtquá trình truyềnthông có mục tiêulàm cho đối tượngthay đổi hành vi mộtcách bền vững bằngcách cung cấp đầy đủthông tin, kiến thức,
kỹ năng phù hợp vớitừng nhóm đốitượng
Là quá trình truyềnthông hướng tới đốitượng là các tầnglớp trong xã hộinhằm vận động,thuyết phục chấpnhận, ủng hộ vàcùng tham gia thựchiện các hoạt độngtheo kế hoạch, nhằmđạt được các mụctiêu đề ra
Mục đích
Hướng tới sự thayđổi và hoàn thiệnchính sách, tạonguồn lực và xâydựng môi trường
dư luận xã hộithuận lợi, ủng hộcho Chương trình
Nâng cao nhận thức,tạo sự thay đổi vàduy trì hành vi củacác nhóm đối tượngvềDS-
SKSS/KHHGĐ mộtcách bền vữn.g
Vận động, thuyếtphục các tổ chức, cánhân và các tầng lớpnhân dân chấp nhận,ủng hộ và cùngtham gia thực hiệncác hoạt động củaChương trình DS-KHHGĐ
Đối tượng Những người
hoạch định chínhsách, lãnh đạoquản lý cơ quandân cử và chínhquyền
Những người lãnhđạo quản lý cơquan tài chính ngânsách, các tổ chức
có khả năng tài trợ,các cá nhân, doanhnghiệp
Các nhà hoạt động
xã hội, tôn giáo,các nhân vật nổi
Nhóm cặp vợ chồngtrong độ tuổi sinh đẻNhóm VTN, TNNhóm những ngườicung cấp dịch vụ
SKSS/KHHGĐ
Nhóm những ngườilãnh đạo Đảng, chínhquyền, đoàn thể Nhóm những ngườicao tuổi
Nhóm những ngườikhó tiếp cận: Đồng
Các tầng lớp nhândân trong xã hội.Các tổ chức Chínhtrị-Xã hội, xã hộinghề nghiệp, các cơquan, tổ chức cánhân…
Các doanh nghiệp,doanh nhân, mạnhthường quân, cácnhà hoạt động xãhội
Các chức sắc tôngiáo, những người
có uy tín và tầm ảnhhưởng lớn trong
Trang 14tiếng đương thời,những người có uytín trong cộngđồng.
bào Công giáo, người
di cư tự do cộng đồng, xã hội.
Kết quả
Tăng cường: Chínhsách, nguồn lực,môi trường xã hộicho công tác DS-KHHGĐ
Nâng cao nhận thức,thay đổi và duy trìhành vi về Dân số-SKSS/KHHGĐ mộtcách bền vững
Tạo sự đồng thuận,ủng hộ về vật chất,tinh thần và tự giácthực hiện các chủtrương của Đảng,chính sách của Nhànước về DS-KHHGĐ
CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG TUYÊN TRUYỀN CÔNG TÁC DÂN
SỐ TẠI UBND PHƯỜNG QUANG TRUNG - QUẬN ĐỐNG ĐA - HÀ NỘI
2.1.Tìm hiểu chung về UBND phường và phòng văn hóa phường Quang Trung – quận Đống Đa – Hà Nội
2.1.1.Khái quát về quận Đống Đa – Hà Nội
*Vị trí địa lý
Quận Đống Đa nằm ở phía Tây Nam của Thành phố Hà Nội Phía bắc giáp quận Ba Đình, phía đông bắc giáp quận Hoàn Kiếm (ranh giới là phố Lê Duẩn), phía đông giáp quận Hai Bà Trưng (ranh giới là phố Lê Duẩn và đường Giải phóng), phía nam giáp quận Thanh Xuân (ranh giới là đường Trường Chinh và đường Láng), phía tây giáp quận Cầu Giấy (ranh giới là sông Tô Lịch)
*Đặc điểm địa hình
Địa hình quận Đống Đa tương đối bằng phẳng Có một số hồ lớn như Ba Mẫu, Kim Liên,
Xã Đàn, Đống Đa, Văn Chương Trước có nhiều ao, đầm nhưng cùng với quá trình đô thịhóa đã bị lấp Quận có hai sông nhỏ chảy qua là sông Tô Lịch và sông Lừ Phía đông có một vài gò nhỏ, trong đó có gò Đống Đa
*Diện tích và dân số
Quận Đống Đa có diện tích khoảng 9,95km2, gồm 21 phường với dân số trên 400.110 người (năm 2016)
*Di tích
Trang 15Một số di tích văn hóa, lịch sử trên địa bàn quận Đống Đa là Văn Miếu-Quốc Tử Giám,
di tích Đàn Xã tắc, di tích vòng thành Đại La, Chùa Bộc, gò Đống Đa và tượng đài vua Quang Trung, chùa Láng, đền Bích Câu, ga Hà Nội, v.v Trên địa bàn quận có gò Đống
Đa, nơi được coi là mộ tập thể của các binh sĩ nhà Thanh Trung Quốc Quận đặt theo tên chiến thắng trận Đống Đa của nghĩa quân Tây Sơn mùa xuân năm Kỷ Dậu (1789)
2.1.2.Tìm hiểu về phường Quang Trung
*Khái quát
Quang Trung là một phường thuộc quận Đống Đa, thành phố Hà Nội, Việt Nam Phường Quang Trung có diện tích 0,42 km², dân số năm 1999 là 11400 người, mật độ dân số đạt
27143 người/km²
*Chi tiết bộ máy quản lý nhà nước của phường Quang Trung
Bảng 2: Chi tiết bộ máy quản lý nhà nước của phường Quang Trung
2.1.3.Tìm hiểu về phòng văn hóa phường Quang Trung
*Vị trí
Phòng văn hóa phường Quang Trung trực thuộc ban văn hóa – thông tin phường Quang Trung Đây là à cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân phường Quang Trung Phòng Văn hóa có tư cách pháp nhân, có con dấu và tài khoản riêng; chịu sự chỉ đạo, quản lý về tổ chức, biên chế và công tác của Ủy ban nhân dân phường; đồng thời chịu sự hướng dẫn, kiểm tra, thanh tra về chuyên môn, nghiệp vụ của UBND quận cùng Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Sở Thông tin và Truyền thông
*Chức năng
Phòng Văn hóa phường có chức năng tham mưu, giúp Ủy ban nhân dân phường quản lý nhà nước về: văn hóa; gia đình; thể dục; thể thao; du lịch; báo chí; xuất bản; bưu chính vàchuyển phát; viễn thông và Internet; công nghệ thông tin, hạ tầng thông tin; phát thanh trên địa bàn và các dịch vụ công thuộc chức năng nhiệm vụ được giao trên địa bàn; thực hiện một số nhiệm vụ, quyền hạn theo sự ủy quyền của Ủy ban nhân dân phường theo quy định của pháp luật
Trang 16Với công tác tuyên truyền dân số, kế hoạch hóa gia đình trên địa bàn phường Quang Trung, phòng văn hóa cũng nắm chức năng đi đầu và tiên phong trong các nhiệm vụ đượcgiao.
2.2.Thực trạng tuyên truyền công tác dân số tại UBND phường Quang Trung
2.2.1.Thực trạng chung
Mục tiêu ổn định và nâng cao chất lượng dân số, chuyển chiến lược công tác Dân số từ Dân số - kế hoạch hóa gia đình (DS-KHHGĐ) sang Dân số và phát triển là một trong những nhiệm vụ trong tâm mà Đảng ủy, UBND, Mặt trận Tổ quốc (MTTQ), các ngành đoàn thể và nhân dân phường Quang Trung quan tâm và hướng đến
Thực hiện nhiệm vụ của UBND phường Quang Trung ngay từ đầu năm ban DS -
KHHGĐ đã xây dựng và triển khai kế hoạch hoạt động công tác DS-KHHGĐ năm 2017:
Kế hoạch số 11/KH-UBND ngày 12/01/2017 kế hoạch thực hiện công tác DS/KHHGĐ năm 2017, đã giao chỉ tiêu và ký cam kết với các đồng chí Trưởng các ban ngành đoàn thể, các đồng chí tổ trưởng tổ dân phố Kế hoạch số 12/KH-UBND về triển khai thực hiện đề án "Nâng cao chất lượng dân số phường Quang Trung giai đoạn 2016-2020 năm 2017"; Kế hoạch số 14/KH-UBND ngày 12/1/2017 truyền thông chuyển đổi hành vi về DS-KHHGĐ phường Quang Trung năm 2017, tổ chức triển khai ký cam kết thực hiện chính sách dân số đối với cán bộ công chức, viên chức, người lao động cơ quan phường Tham mưu cho UBND phường kiện toàn Ban chỉ đạo công tác DS-KHHGĐ, hàng quý tổchức giao ban đánh giá nhiệm vụ công tác quý và triển khai nhiệm vụ quý tiếp theo nhằmđánh giá phân tích những tồn tạ, hạn chế và kết quả đạt được của công tác Dân số kế hoạch hóa gia đình
Kết quả đạt được về công tác Dân số trong 6 tháng cuối năm 2017 như sau: Tổng số trẻ sinh trong 6 tháng cuối năm 2017 là 176 trẻ giảm 6 trẻ so với cùng kỳ năm 2016 Tỷ lệ 9,18% giảm 0,57 %o so với năm 2016 Số trẻ sinh là con thứ 3+: 6 trẻ, giảm 1 trẻ so với cùng kỳ năm 2016, đạt tỷ lệ 3,41%, giảm 0.33% so với cùng kỳ năm 2016 Các chỉ tiêu
về kế hoạch hóa gia đình đều đạt và vượt so với kế hoạch đề ra
Trong công tác phối hợp với các ngành đoàn thể, tổ dân phố vận động toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa, xây dựng ông bà gương mẫu, con cháu thảo hiền, vận động hội viên tham gia công tác tuyên truyền thực hiện KHHGĐ Ban DS-KHHGĐ phối hợp với Hội liên hiệp Phụ nữ (LHPN) và Hội Nông dân tổ chức khám nâng cao chất lượng dân số nhằm kiểm tra sức khỏe và vận động cá biệt đối với các cặp vợ chồng có ý định sinh con thứ 3 cao Trạm y tế phường chuẩn bị các điều kiện đầy đủ dịch vụ KHHGĐ, an toàn và thuận lợi cho nhân dân, triển khai tốt các ngày làm mẹ an toàn vào ngày 28 hàng tháng
Để người dân nâng cao nhận thức, nắm bắt, thụ hưởng các dịch vụ về công tác dân số KHHGĐ, cũng như các chính sách của Đảng, nhà nước, của Thành phố, Quận, Phường
Trang 17về công tác dân số - KHHGĐ Đảng ủy, UBND phường đã chi đạo Đài truyền thanh phường làm tốt công tác tuyên truyền viết và đưa tin bài về các buổi truyền thông dân số tại cụm dân cư, các hoạt động tư vấn tại trạm y tế phường.
Trong 6 tháng cuối năm 2017 Đài truyền thanh phường đã phát và đưa tin bài 1 tuần 2 buổi với thời lượng từ 5 - 7 phút phản ánh các vấn đề liên quan đến công tác dân số, cắt khẩu hiệu, băng zôn căng treo tại các trục đường chính các đợt tuyên truyền cao điểm, các đợt truyền thông tại hội trường UBND phường và tổ dân phố, tổ chức cấp phát được
250 tờ rơi, 35 tập san tạp chí Đã tổ chức được 14 buổi truyền thông thu hút trên 1000 lượt người tham dự trong đó: tổ chức 02 hội nghị truyền thông sàng lọc trước sinh và sơ sinh; 02 buổi truyền thông tư vấn kết hợp siêu âm miễn phí cho chị em phụ nữ thuộc đối tượng ưu tiên; 02 buổi truyền thông cho thanh niên về vấn đề chăm sóc sức khỏe sinh sảntiền hôn nhân thuộc chương trình đề án nâng cao chất lượng dân số trên địa bàn quận và 8buổi tuyên truyền lưu động tại Nhà văn hóa các tổ dân phố…
Về thực hiện Đề án "Nâng cao chất lượng Dân số phường Quang Trung giai đoạn 2020" trong năm 2017, trong 6 tháng cuối năm ban DS-KHHGĐ đã phối hợp với Hội LHPN và Đoàn thanh niên tổ chức 2 buổi truyền thông thu hút được 120 lượt người tham
2016-dự là phụ nữ đang mang thai, phụ nữ mới kết hôn và có 01 con Tuyên truyên 2 buổi truyền thông cung cấp kiến thức về chăm sóc sức khỏe sinh sản cho thanh niên, vị thành niên tại cộng đồng thu hút được 135 lượt người tham dự Phối hợp với Đoàn thanh niên
tổ chức 1 buổi khám sức khỏe tiền hôn nhân cho 50 đoàn viên thanh niên Tính đến thời điểm hiện tại hoạt động Đề án đang đi vào ổn định thực hiện tốt công tác sàng lọc trước sinh và sơ sinh để có thế hệ tương lai khỏe mạnh không bị mắc các dị tật bẩm sinh
Qua đó, trong năm 2016, công tác dân số - kế hoạch hoá gia đình ở phường Quang Trung
đã đạt được kết quả như sau:
Số người mới sử dụng biện pháp tránh thai trong năm 2017: 604 người.
Trong đó :
+ Đình sản : 6/7 đạt 85.7% chỉ tiêu năm
+ Đặt vòng : 154/200 đạt 77% chỉ tiêu năm
+ Thuốc viên : 318/350 đạt 90.9% chỉ tiêu năm
+ Thuốc tiêm : 66/50 đạt 132% chỉ tiêu năm
+ Capot : 60/120 đạt 50% chỉ tiêu năm
Số cặp vợ chồng áp dụng các biện pháp tránh thai còn tác dụng đến năm 2017: 1.438 người.
Trong đó:
Trang 18+ Đình sản nam : 02 người.
+ Đình sản nữ : 132 người
+ Đặt vòng : 860 người
+ Thuốc viên : 318 người
+ Thuốc tiêm : 66 người
+ Bao cao su : 60 người
Tỷ lệ số cặp vợ chồng áp dụng các biện pháp tránh thai hiện đại là 71%.
2.2.2.Chi tiết một vài phương pháp tuyên truyền
*Xác định các mục tiêu tuyên truyền cụ thể
Mục tiêu 1: Nâng cao nhận thức về hậu quả của việc lựa chọn giới tính thai nhi và thái độtích cực ủng hộ việc không lựa chọn giới tính thai nhi của phụ nữ và nam giới nhằm góp phần giảm thiểu hành động lựa chọn giới tính thai nhi
Mục tiêu 2: Nâng cao nhận thức của phụ nữ, nam giới trong độ tuổi sinh đẻ và người chưa thành niên, thanh niên về hậu quả của phá thai và phá thai không an toàn, tăng cường thực hiện phá thai tại các cơ sở y tế được cấp phép
Mục tiêu 3: Tăng sự chủ động sử dụng biện pháp tránh thai hiện đại của phụ nữ, nam giớitrong độ tuổi sinh đẻ và người chưa thành niên, thanh niên, đặc biệt chú trọng vùng chưa đạt mức sinh thay thế; tăng sự chủ động tìm kiếm và sử dụng dịch vụ hỗ trợ sinh sản của các cặp vợ chồng hiếm muộn
Mục tiêu 4: Tăng cường thực hành làm mẹ an toàn, bao gồm sàng lọc trước sinh của phụ
nữ, chú trọng việc đẻ tại cơ sở y tế hoặc tại nhà có người được đào tạo hỗ trợ đối với các vùng có tỷ số tử vong mẹ cao
Mục tiêu 5: Tăng số phụ nữ, nam giới trong độ tuổi sinh đẻ thực hành phòng tránh
NKĐSS, NKLTQĐTD, ung thư đường sinh sản; Chủ động sử dụng các dịch vụ khám, điều trị sớm NKĐSS, NKLTQĐTD và ung thư đường sinh sản
Mục tiêu 6: Tăng số người chưa thành niên, thanh niên chủ động tìm kiếm và sử dụng dịch vụ CSSKSS thân thiện bao gồm tư vấn và kiểm tra sức khỏe tiền hôn nhân; thực hiện kết hôn đúng luật định
Mục tiêu 7: Tăng số người thuộc các nhóm dân số di cư, người khuyết tật, người nhiễm HIV, người là nạn nhân của bạo hành giới và nạn nhân trong thảm hoạ thiên tai, chủ độngtiếp cận và tăng cường sử dụng các dịch vụ CSSKSS sẵn có
Trang 19Mục tiêu 8: Tăng cường thực hành chăm sóc trẻ em từ sơ sinh đến 5 tuổi đúng cách của
bà mẹ và người chăm sóc trẻ, chú trọng các vùng khó khăn, vùng còn tình trạng tử vong trẻ em cao
Mục tiêu 9: Tăng số người cao tuổi chủ động tìm kiếm và sử dụng dịch vụ chăm sóc sức khỏe người cao tuổi dựa vào cộng đồng cả về thể chất và tinh thần
*Xác định các giai đoạn của tuyên truyền ảnh hưởng tới công tác dân số trên địa bàn
Giai đoạn 1: Từ chưa hiểu biết đến hiểu biết vấn đề.
Ví dụ: Một cặp vợ chồng chưa nhận biết được các triệu chứng của bệnh lây truyền qua đường tình dục và cho rằng các triệu chứng là bình thường hoặc có thể biết các bệnh lây truyền qua đường tình dục trong xã hội nhưng họ vẫn không coi đó là vấn đề của mình.Tuyên truyền viên cần làm gì để giúp đỡ đối tượng chuyển đổi hành vi ở giai đoạn này:
1 Tìm hiểu đối tượng đã biết, tin và làm gì
2 Giải thích, phân tích lợi hại
3 Cung cấp thông tin cơ bản
Giai đoạn 2: Từ tìm hiểu vấn đề đến mong muốn giải quyết vấn đề.
Ví dụ: Đối tượng mong muốn không bị đau đớn, khó chịu vì bệnh Mong muốn tránh hậuquả của việc không chữa trị hoặc chữa trị không đúng cách Tin rằng những người khác
có thể phòng tránh được bệnh bằng cách thực hành tình dục an toàn dẫn đến sẵn sàng làmthử một hành vi mới nào đó
Tuyên truyền viên cần làm gì để giúp đỡ đối tượng chuyển đổi hành vi ở giai đoạn này:
4 Khuyến khích, động viên
5 Nêu gương người tốt việc tốt
Giai đoạn 3: Từ mong muốn giải quyết vấn đề đến tìm hiểu và học kỹ năng
Ví dụ: Thấy được các triệu chứng không bình thường, đối tượng trao đổi với gia đình và bạn bè Quyết định cần phải làm một cái gì đó: Chọn cơ sở và cán bộ y tế giúp chữa trị Qua đó học kỹ năng phòng ngừa bệnh lây truyền qua đường tình dục
Tuyên truyền viên cần làm gì để giúp đỡ đối tượng chuyển đổi hành vi ở giai đoạn này:
6 Bổ sung thêm kiến thức và kỹ năng
Giai đoạn 4: Từ học kỹ năng đến thử thực hiện hành vi mới
Trang 20Ví dụ: Tìm hiểu thông tin qua cán bộ y tế hoặc tới cơ sở y tế để điều trị Được điều trị Bệnh đỡ hoặc khỏi hẳn Đối tượng mong muốn được giúp đỡ thường xuyên Giảm các hành vi rủi ro Từ đó khuyên bảo chồng/vợ đi điều trị Được cán bộ y tế, gia đình, bạn bè
và hàng xóm khen ngợi
Tuyên truyền viên cần làm gì để giúp đỡ đối tượng chuyển đổi hành vi ở giai đoạn này:
7 Giúp phương pháp thử nghiệm
8 Giúp giải quyết các khó khăn
9 Cung cấp các nguồn lực cần thiết
Giai đoạn 5: Từ thử thực hiện hành vi mới đến thực hiện thành công, duy trì hành
vi mới và tuyên truyền người khác làm theo.
Ví dụ: Đối tượng thông báo cho gia đình và bạn bè về thành công của mình Tránh các hành vi rủi ro Duy trì hành vi tình dục an toàn hơn Khuyên bạn bè về lợi ích cả phòng bệnh và sự thuận tiện của việc điều trị
Tuyên truyền viên cần làm gì để giúp đỡ đối tượng chuyển đổi hành vi ở giai đoạn này:
10 Giúp tổng kết kinh nghiệm
11 Nêu biện pháp hỗ trợ
Sự phân chia giai đoạn như trên chỉ là tương đối, vì mỗi đối tượng có thể ở một giai đoạn khác nhau và luôn luôn chuyển sang giai đoạn tiếp theo hoặc trở về giai đoạn trước tuỳ thuộc vào những tác động của hoàn cảnh xung quanh và nỗ lực của bản thân đối tượng
*Áp dụng những phương pháp tuyên truyền khác nhau cho từng đối tượng khác nhau
Cặp vợ chồng trong độ tuổi sinh đẻ
Đây là lực lượng trực tiếp tham gia vào hai quá trình sản xuất để duy trì sự tồn tại và pháttriển của xã hội loài người đó là sản xuất ra của cải vật chất và sản xuất ra con người Những thông tin mà nhóm đối tượng này cần là lợi ích của KHHGĐ đối với mỗi cá nhân,gia đình và xã hội, phương pháp phòng chống các bệnh viêm nhiễm đường sinh sản, các bệnh lây truyền qua đường tình dục và các cơ sở cung cấp các loại dịch vụ này cùng với các chính sách liên quan
Để tiếp cận và truyền thông hiệu quả cần thông qua các hoạt động thường xuyên của các
tổ chức Chính trị - Xã hội tại địa phương như: Mặt trận tổ quốc, Hội phụ nữ, Nông dân, Đoàn thanh niên…, các buổi truyền thông trực tiếp tại cộng đồng, tư vấn tại nhà và các buổi sinh hoạt của thôn, ấp, làng bản, tổ dân phố…Kênh truyền thông đại chúng cũng có tác dụng tốt trong việc nâng cao nhận thức và chuyển đổi hành vi về DS-KHHGĐ của
Trang 21các cặp vợ chồng, đặc biệt là hệ thống truyền hình tại địa phương, hệ thống đài phát thanh xã, phường, thị trấn…
Vị thành niên, thanh niên
Để truyền thông về vấn đề chăm sóc SKSS, phòng tránh thai cho nhóm đối tượng là VTN, TN trước hết phải hiểu các đặc điểm cơ bản của lứa tuổi VTN, các vấn đề đang nổi lên về SKSS đối với VTN, TN hiện nay như thiếu kiến thức, quan hệ tình dục không an toàn, mang thai ngoài ý muốn, phá thai không an toàn và nhiễm HIV…để từ đó có
phương pháp tiếp cận và thông điệp truyền thông phù hợp
Số đông VTN, TN được quản lý, sinh hoạt trong các tổ chức Đoàn, Đội ở trong và ngoài nhà trường, vì vậy các hoạt động truyền thông cần được gắn với các chương trình giáo dục chính khóa hoặc hoạt động ngoại khóa của nhà trường, của các tổ chức Đoàn, Đội Ngoài ra, vai trò của cha, mẹ, ông bà cũng có những ảnh hưởng và tác động nhiều tới nhận thức và hành vi của các em Việc cung cấp các loại sách, báo, tài liệu hướng dẫn cácđặc điểm về lứa tuổi, giới tính và các hành vi nguy hiểm, giúp các em chủ động phòng tránh các hành vi xâm hại, lợi dụng Phối hợp chặt chẽ giữa gia đình, nhà trường và xã hội trong việc truyền thông, giáo dục về DS-SKSS/KHHGĐ cho các em, hạn chế tối đa tác động xấu có thể xảy ra
Nhóm những người cung cấp dịch vụ
Những người này chủ yếu là những công chức, viên chức trong ngành y tế và dân số từ trung ương đến cơ sở, thông qua các hoạt động của ngành để nâng cao đạo đức và trách nhiệm nghề nghiệp cho đội ngũ nhân viên dân số, y tế Công tác dân số là một bộ phận nằm trong nhiệm vụ chăm sóc sức khỏe nhân dân, thông qua các hoạt động lãnh đạo, chỉ đạo của ngành y tế để truyền thông nâng cao nhận thức, trách nhiệm của đội ngũ người cung cấp dịch vụ ở các cấp
Nhóm những người lãnh đạo
Đây là những người có tác động lớn đến các hoạt động của Chương trình, có khả năng điều phối, phân bổ nguồn lực, định hướng dư luận Những thông tin mà nhóm đối tượng này cần là các kế hoạch triển khai cụ thể trong từng giai đoạn, những khó khăn, thuận lợi trong quá trình triển khai Chương trình và làm thế nào để đạt được kết quả mong muốn, hiện Chương trình đang cần họ làm những việc gì Vì vậy cần có chiến lược và kế hoạch tiếp cận cụ thể, kết hợp nhiều loại hình truyền thông, vận động một cách linh hoạt, mềm dẻo
Nhóm những người cao tuổi
Đây là những người có kiến thức, kinh nghiệm sống, có uy tín trong gia đình, dòng họ và trong xã hội, một số trong số họ là những người đã từng tham gia công tác quản lý lãnh đạo các cấp và các hoạt động xã hội khác Khi hết tuổi lao động các cụ thường tham gia trong các tổ chức như: Chi bộ (các cụ là đảng viên), các tổ chức Chính trị - Xã hội như:
Trang 22Hội cựu chiến binh, Mặt trận tổ quốc…các tổ chức xã hội như: Hội người cao tuổi, Hội chữ thập đỏ, Hội sinh vật cảnh, Hội làm vườn và một số sinh hoạt văn hóa tại địa phươngnhư tôn giáo, lễ hội…
Người cao tuổi vừa là đối tượng chăm sóc SKSS vì thường mắc một số bệnh như: u xơ tửcung, ung thư vú, u nang buồng trứng, viêm nhiễm đường sinh sản (các cụ bà), u xơ tuyến tiền liệt (các cụ ông), lại vừa là những người có thể tuyên truyền, giáo dục con cháu thực hiện tốt các chính sách về DS-KHHGĐ Ngoài ra các cụ còn có thể tác động tới cấp ủy, chính quyền, tổ chức tại địa phương, cơ sở để huy động nguồn lực và tạo điều kiện thuận lợi cho chương trình DS-KHHGĐ
Để tiếp cận người cao tuổi, cần phối hợp với các tổ chức các cụ tham gia sinh hoạt như: Chi bộ Đảng, Hội cựu chiến binh, Hội người cao tuổi Căn cứ vào mục đích truyền thông
cụ thể để lựa chọn nội dung, thời điểm và hình thức phù hợp để tăng hiệu quả truyền thông
Để chuyển tải thông điệp truyền thông đến người cao tuổi có thể sử dụng kênh truyền thông trực tiếp thông qua các hội nghị, sinh hoạt chi bộ, các tổ chức hội, sinh hoạt tổ dân phố, bản, làng và thăm tại nhà Các kênh truyền thông gián tiếp qua các phương tiện thông tin đại chúng như truyền thanh, truyền hình, sách, báo
Nhóm những người khó tiếp cận
- Người di cư tự do: Phần lớn đối tượng này là những người nông dân từ nông thôn lên thành phố hoặc các khu công nghiệp để tìm việc làm, một số khác di cư từ vùng nông thôn có đời sống kinh tế khó khăn đến những vùng có đất đai nhiều và mầu mỡ hơn để sinh sống
+ Đối với những người di cư từ nông thôn ra thành thị hoặc các khu công nghiệp để tìm việc làm: Những đối tượng này thường có chỗ ở tạm trú không ổn định, chính quyền và các cơ quan chức năng tại địa phương thường không quản lý và theo dõi được thường xuyên và chặt chẽ như các đối tượng khác Hàng ngày họ chỉ tập trung vào lao động, sản xuất theo yêu cầu trong hợp đồng lao động, ít tham gia hoạt động trong các tổ chức nơi
họ tới lao động Đa số những người này còn trong độ tuổi sinh đẻ nên việc chăm sóc SKSS và KHHGĐ là rất cần thiết
Để tiếp cận đối tượng này cần dựa vào tổ chức công đoàn tại xí nghiệp người di cư làm việc, tổ dân cư, công an khu vực để triển khai các hoạt động truyền thông và cung cấp dịch vụ chăm sóc SKSS Một số địa phương (tỉnh Bình Dương) tổ chức các đội lưu động,phối hợp với tổ dân phố đến các khu nhà trọ để tuyên truyền và cung cấp PTTT cho các đối tượng có nhu cầu
+ Đối với những người di cư từ vùng này sang vùng khác có đất đai và điều kiện sản xuấttốt hơn: Đối tượng này thường di chuyển cả gia đình và các phương tiện sản xuất Họ có
ý định sinh sống lâu dài trên vùng đất mới, thường sống tập trung thành từng khu vực để