1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

skkn xây dựng thang đo dùng để đo lường mức độ tham gia tích cực của học sinh trong các hoạt động ở nhà trường thcs

33 265 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 33
Dung lượng 743 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ngoài ra việc đo lường mức độ tham gia củahọc sinh còn cho phép các nhà quản lí giáo dục có được bức tranh tổng quát về “tình hình sức khỏe” của các nhà trường, dự đoán được kết quả của

Trang 1

MỤC LỤC

Trang

II GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ 3

III KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ……… 24

I ĐẶT VẤN ĐỀ

Mức độ tham gia tích cực của học sinh (mức độ tham gia) trong các hoạtđộng (hoạt động học tập, hoạt động ngoại khóa) ở nhà trường không chỉ quyết định

Trang 2

đến kết quả học tập, cảm xúc mà còn ảnh hưởng đến triển vọng nghề nghiệp trongtương lai của học sinh Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng, những học sinh có mức độtham gia cao sẽ có kết quả học tập tốt, có tương lai nghề nghiệp rõ ràng và thànhcông trong cuộc sống Ngược lại, những học sinh có mức độ tham gia thấp lại cókết quả học tập kém, có nguy cơ bỏ học, trượt tốt nghiệp, thậm chí có nguy cơ thấtnghiệp, phạm tội hình sự trong tương lai Như vậy việc đo lường mức độ tham giacủa học sinh là một việc quan trọng, giúp ích cho các nhà trường biết được tìnhhình hiện tại để áp dụng biện pháp cải thiện mức độ tham gia của học sinh từ đónâng cao hiệu quả của việc dạy học Ngoài ra việc đo lường mức độ tham gia củahọc sinh còn cho phép các nhà quản lí giáo dục có được bức tranh tổng quát về “tình hình sức khỏe” của các nhà trường, dự đoán được kết quả của quá trình dạyhọc, từ đó đưa ra những giải pháp nhằm điều chỉnh để nâng cao hiệu quả của việcdạy và học Bài viết này trình bày kết quả của việc nghiên cứu xây dựng thang đogồm các câu hỏi giúp đo lường mức độ tham gia về mặt hành vi, cảm xúc và nhậnthức của học sinh ở trường THCS Bộ công cụ đã được kiểm chứng với dữ liệu thuthập từ 260 học sinh từ lớp 6 đến lớp 9 của trường THCS Buôn Trấp, Krông Ana,Đăk Lăk Độ giá trị Cronbach alpha và Độ tin cậy Test-retest đã được kiểm chứng

là phù hợp để sử dụng cho việc đo lường mức tham gia của học sinh như là mộtcấu trúc đa chiều

Trong các nền giáo dục hiện đại (Mỹ, Anh), việc đo lường mức độ tham giavào các hoạt động ở trường của học sinh dược tiến hành thường xuyên và liên tục,thậm chí có nhiều trường học còn theo dõi mức độ tham gia theo thời gian thực.Các nhà giáo dục coi dữ liệu về mức độ tham gia là chỉ số để dự đoán kết quả họctập, đồng thời là chỉ số cho thấy “tình trạng sức khỏe của nhà trường” Nếu mộttrường học có nhiều học sinh có mức độ tham gia thấp thì có thể nói trường học đó

có “sức khỏe yếu” và ngược lại Hiện nay ở Việt nam chưa có nhiều sự quan tâm

về vấn đề đánh giá mức độ tham gia của học sinh, đồng thời với thực trạng của nềngiáo dục hiện nay, nhiều nhà giáo dục thường đánh giá chất lượng của quá trìnhdạy học thông qua kết quả của các kì thi (thi học kì, thi tốt nghiệp, THPT Quốcgia), dựa vào kết quả của các kì thi để điều chỉnh các thành tố trong quá trình dạyhọc, việc thực hiện như vậy sẽ tạo ra một độ trễ khá cao trong việc kiểm chứngnhững giải pháp, chính sách trong giáo dục Có nghĩa là chúng ta chỉ điều chỉnhphương pháp, chương trình dạy học khi thấy có dấu hiệu về kết quả học tập củahọc sinh là thấp, làm như vậy có thể nói không quá rằng chẳng khác gì “mất bò

Trang 3

mới lo làm chuồng” Việc vận dụng khái niệm về sự tham gia của học sinh giúpgiải quyết được vấn đề trên Việc thu thập dữ liệu về mức độ tham gia sẽ giúp chocác nhà giáo dục trực tiếp điều chỉnh các thành tố trong quá trình dạy và học nhằmtăng cường hiệu quả,chứ không chỉ chờ đến lúc có kết quả rồi mời điều chỉnh như

đã nói ở trên Hơn nữa, việc thu thập dữ liệu về sự tham gia của học sinh lại khôngtạo ra áp lực cho chính học sinh và cả xã hội như việc tổ chức các kì thi như hiệnnay Khái niệm về sự tham gia của học sinh đã được chúng tôi trình bày trong bàiviết (Bang, 2019) Trong bài viết này, chúng tôi tập trung vào việc xây dựng thang

đo mức độ tham gia tích cực của học sinh trong các hoạt động ở nhà trường Khi

có một bộ công cụ đo lường tốt, các nhà trường, các cơ quan quản lí sẽ có thể ápdụng để đánh giá mức độ tham gia của học sinh ở từng trường, từng địa phương

Bài viết này tập trung trình bày về việc xây dựng thang đo dùng để đo lườngmức độ tham gia tích cực của học sinh trong các hoạt động ở nhà trường, bộ câuhỏi đã được khảo sát trên 281 em học sinh tại trường THCS Buôn Trấp, huyệnKrông Ana, tỉnh Đăk Lăk, độ tin cậy và độ giá trị của bộ câu hỏi cũng đã đượcđánh giá là phù hợp cho việc đo lường mức độ tham gia của học sinh

II GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ

1 Cơ sở lý luận của vấn đề:

a Quá trình dạy học

Theo quan niệm hiện nay, quá trình dạy học là một quá trình tương tác (hợptác giữa thầy và trò, trong đó thầy chủ đạo như: hoạt động tổ chức, lãnh đạo, điềuchỉnh hoạt động nhận thức của học sinh, còn trò tự giác, tích cực, chủ động thôngqua việc tự tổ chức, tự điều chỉnh hoạt động nhận thức của bản thân nhằm đạt tớimục đích dạy học Quá trình dạy học được diễn ra ở những không gian xác định(tại học đường, ở nhà, các cơ sở xã hội khác), được phân chia theo những khoảngthời gian nào đó (1 tiết học, một buổi học, một học kì, một năm học, một khóa học,một bậc học) Hơn nữa, dạy hoc cũng được coi là một hoạt động giáo dục, quátrình dạy học bao gồm các thành tố, các mối quan hệ của nó hoàn thành một hệthống Xuất phát từ những đặc điểm hoạt động của quá trình dạy học, chúng ta cóthể đưa ra một cấu trúc gồm các thành tố cơ bản sau tồn tại trong quá trình dạy học(Nguyễn Văn Hộ 2002)

Trang 4

- Mục đích dạy học: là mục đích thành phần nhằm thực hiện mục đích giáodục tổng thể trong việc hình thành một kiểu nhân cách cho người học phù hợp vớinhững nhu cầu đòi hỏi của phát triển xã hội, nhu cầu về phát triển nhân cách củamỗi cá nhân Mục đích dạy học được cụ thể hóa thành các nhiệm vụ dạy học ứngvới từng bài học, từng môn học, từng cấp học, từng năm học và phải được chủ thể

và đối tượng dạy học, ý thức trở thành động cơ của hoạt động dạy và hoạt độnghọc (Nguyễn Văn Hộ 2002)

- Chủ thể dạy học: là giáo viên và tập thể giáo viên trong hoạt động dạy; làhọc sinh và tập thể học sinh trong hoạt động học

- Đối tượng dạy học: là học sinh và tập thể học sinh với tư cách vừa lànhững cá nhân, vừa là những nhân cách với những đặc điểm phát triển, trình độphát triển tâm sinh lí, trình độ nhận thức rất đa dạng và phức tạp Trong quá trìnhdạy học, đối tượng dạy học cũng đồng thời thực hiện chức năng là một chủ thể của

sự học tập

- Nội dung dạy học: là nội dung các học vấn bao gồm những giá trị văn hóa

và kinh nghiệm của loài người đã được chọn lọc, phù hợp với mục đích từng cấphọc, từng môn học

- Phương pháp dạy học: là các con đường, là cách thức vận động của nộidung dạy học phù hợp với quy luật phát triển tâm lí, sinh lí và trình độ nhận thứccủa người học, là các biện pháp tổchức hợp tác giữa giáo viên và trò nhằm giúpcho trò chiếm lĩnh được nội dung dạy học một cách vững chắc

- Hình thức tổ chức dạy học: là các hình thức tổchức hoạt động dạy và hoạt động học của giáo viên và học sinh nhằm thực hiện phương pháp giáo dục vàchiếm lĩnh nội dung dạy học

- Phương tiện dạy học: là những vật thể mang nội dung và phương pháp dạyhọc, là phương tiện tác động tới hoạt động dạy và hoạt động học

- Điều kiện dạy học: bao gồm những điều kiện bên trong nhà trường (về cơ

sở hạ tầng, vật chất kĩ thuật, vệ sinh học đường, đạo đức thẩm mĩ v.v ) và nhữngđiều kiện bên ngoài nhà trường (môi trường kinh tế- xã hội, địa phương và đấtnước)

Trang 5

- Kết quả dạy học: là kết quả của hoạt động dạy và hoạt động học thông quakiểm tra, đánh giá, trở thành yếu tố kích thích, điều chỉnh hoạt động dạy, hoạt độnghọc Kết quả dạy học có thể được phản ánh qua kết quả bài kiểm tra, các kì thi(ngắn hạn), có thể phản ánh thông qua sự thành công hay thất bại của học trò trongcuộc sống, công việc (dài hạn)

Tất cả những yếu tố nêu trên có một liên quan mật thiết với nhau, quy địnhlẫn nhau tạo thành một hệ thống của quá trình dạy học Nhờ có sự liên hệ và tácđộng lẫn nhau giữa các thành tố mà quá trình dạy học đã làm cho hệ thống dạy họchoàn thành và phát triển Sự thiếu vắng một thành tố nào đó, hoặc do tính chất vàtrình độ không phù hợp với các thành tố khác và do vậy không phù hợp với quátrình tổng thể sẽ gây trở ngại cho quá trình hoạt động của các yếu tố khác, ảnhhưởng tới chất lượng và hiệu quả của quá trình dạy học Trong nhưng yếu tố nêutrên, mục đích dạy học có vai trò đặc biệt quan trọng, quy định tính chất và nộidung của tất cả những yếu tố khác Nội dung dạy học là đối tượng chiếm lĩnh củatrò, là mục đích dạy học đã được đối tượng hóa trong hoạt động dạy học, có tácdụng trực tiếp dẫn dắt sự phát triển nhận thức của học sinh thông qua phương pháp

và hình thức tổ chức dạy học Việc làm cho nội dung học vấn thực sự trở thành đốitượng hoạt động của người học, việc tổ chức hoạt động tích cực và tự giác củangười học để chiếm lĩnh nội dung học vấn chỉ có thể thực hiện được bởi cácphương pháp giảng dạy và học tập, đó là mặt thao tác - hoạt động của qúa trình dạyhọc Chất lượng của phương pháp và hình thức tổ chức dạy học quy định hiệu quảtác dụng của nội dung giáo dục (Nguyễn Văn Hộ 2002)

Nội dung, phương pháp, hình thức tổ chức dạy học chỉ được thực hiện bằng những phương tiện và trong những điều kiện nhất định Hơn nữa, phương tiện vàđiều kiện dạy học cũng mang những đặc điểm của nội dung và phương pháp dạyhọc, do đó cũng tác động tới chất lượng và hiệu quả của quá trình dạy học Có thểnói, trong quá trình dạy học, hoạt động dạy của giáo viên, nội dung, phương pháp,hình thức tổ chức, phương tiện và điều kiện dạy học, kết quả đánh giá vv phảinhằm tới việc giúp cho học sinh tích cực, tự giác học tập Mối liên hệ giữa dạy vàhọc, việc trao đổi, phối hợp giữa hoạt động của giáo viên và hoạt động của họcsinh, các mối quan hệ nhiều mặt giữa giáo viên và học sinh đã hình thành một loạtthành tố vận hành như một quy luật của quá trình dạy học (Nguyễn Văn Hộ 2002)

Trang 6

Như vậy có thể khẳng định Quá trình dạy học bao gồm các thành tố và cácmối quan hệ giữa các thành tố đó Trong đó các các thành tố đóng vai trò là thành

tố đầu vào, thành tố ngữ cảnh như: nhà trường, gia đình, xã hội Các thành tố đóngvai trò là thành tố kết quả (đầu ra) như: kêt quả học tập, cảm xúc và hạnh kiểm củahọc sinh Đứng giữa các thành tố ngữ cảnh và các thành tố kết quả, có nhiều thành

tố trung gian, như là: động cơ, động lực học tập, tính tích cực học tập, sự tham giacủa học sinh Các thành tố trung gian đóng vai trò chuyển tải những tác động củacác thành tố ngữ cảnh để tác động vào các thành tố kết quả tạo ra kết quả của quátrình dạy học Và do đó, các thành tố trung gian lại là thành tố tác độngt rực tiếpvào kết quả Trong nghiên cứu này, tập trung vào thành tố trung gian giữa cácthành tố ngữ cảnh và các thành tố kết quả, đó là thành tố Sự tham gia của học sinh

Hình sau mô tả các thành tố của quá trình dạy học như là một hệ thống

Theo sơ đồ trên, nhu cầu xã hội là cái có trước tiên, là cơ sở xuất phát choviệc xác định mục đích dạy học, cơ chế quản lí giáo dục và dạy học Những yếu tố

NHU CẦU XÃ HỘI MỤC ĐÍCH GIÁO DỤC

KIỂM TRA ĐÁNH GIÁ

KẾT QUẢ DẠY HỌC

Mối liên hệ thuận Nội dung, phương pháp, hình thức tổ chức, cơ sở vật chất

liên hệ ngược (trong)

Mối liên hệ ngược (ngoài)

Hình 1 Quá trình dạy học

Trang 7

ngẫu nhiên tồn tại trong xã hội tác động vào tất cả các yếu tố nằm trong hệ thốngdạy học Điều đó có nghĩa là nhu cầu xã hội tác động lên quá trình dạy học thôngqua các yếu tố trung gian đã được chọn lọc phù hợp với từng điều kiện lịch sử,từng cấp học, từng giai đoạn dạy học và trong các yếu tố đó yếu tố mục đích dạyhọc là quan trọng nhất Nói cách khác, mục đích dạy học là sự phản ánh nhu cầu xãhội đối với quá trình dạy học Giáo viên căn cứ vào mục đích dạy học, tổ chức nộidung dạy học, sử dụng các phương pháp dạy học, tận dụng những cơ sở vật chất,phương tiện kĩ thuật dạy học để truyền đạt nội dung đến học sinh Học sinh tự tổchức việc tiếp nhận nội dung đó thông qua phương pháp học nhằm đạt tới kết quảdạy học Mối quan hệ này được gọi là mối quan hệ thuận (Nguyễn Văn Hộ 2002).

Kết quả học tập mà học sinh đạt được sẽ được được phản ánh qua kết quảkiểm tra, đánh giá, và so sánh với mục đích dạy học Nhờ việc kiểm tra, giáo viên

có được những thông tin về sự học của học sinh để trên cơ sở đó điều chỉnh cáchthức truyền đạt, hoàn chỉnh nội dung, hoàn thiện hình thức tổchức dạy học Mốiliên hệ này được coi là mối liên hệ ngược bên ngoài (hay còn gọi là mối liên hệnghịch) Cũng chính nhờ có sự kiểm tra này, bản thân học sinh cũng rút ra đượccho mình những mặt mạnh, mặt yếu trong việc lĩnh hội nội dung, sử dụng phươngpháp, tổ chức học tập để trên cơ sở đó tự điều chỉnh mình Đây là mối liên hệngược bên trong của quá trình dạy học (Nguyễn Văn Hộ 2002)

b Lý thuyết dòng chảy và Sự tham gia của học sinh

Theo David J Shernoff , lý thuyết Dòng chảy là một lý thuyết trongtâm lí học do Csikszentmi-halyi đề xuất vào năm1990, trong đó, Dòng chảy (Flow)được hiểu là trạng thái tâm lý trong đó đối tượng chú ý sâu sắc (bị cuốn hút) vàomột hoạt động tựa như là một nghệ sĩ hay một vận động viên tập trung vào vaidiễn, trận đấu Trạng thái này giống với việc một dòng nước chảy tự nhiên, không

bị cản trở bởi vật cản nào Những người trong trạng thái này nhân thức rằng “trậnđấu” của họ rất thú vị và thành công, họ nhận thấy rằng hành động đó là đáng phảilàm vì lợi ích của chính hành động ấy ngay cả khi không đạt được mục tiêu cụ thểnào cả Đồng thời, người đó phát huy tối đa khả năng của bản thân và coi nhữngtrải nghiệm nhận được khi hành động như là phần thưởng cho bản thân Ví dụ nhưmột học sinh mê say giải một bài tập toán để tìm ra kết quả mà không cần để ý đến

Trang 8

mục tiêu là bài kiểm tra sắp tới có gặp bài tập đó hay không, bạn ấy coi những trảinghiệm khi giải bài tập đó là phần thưởng cho mình.

Lý thuyết Dòng chảy dựa trên nền tảng mối quan hệ tương tác giữa thửthách và những kĩ năng cần thiết để vượt qua thách thức đó Trải nghiệm dòngchảy xuất hiện khi những kĩ năng của một người được huy động không quá nhiều

và cũng không quá ít để vượt qua thử thách Trạng thái cân bằng giữa mức độ củathử thách và mức yêu cầu của kĩ năng rất mong manh, khi trạng thái này bị phá vỡthì trạng thái sau có thể xảy ra: thờ ơ (nếu thử thách dễ và kĩ năng thấp), lo lắng(nếu thử thách khó và kĩ năng thấp), lơ là (nếu thử thách dễ và kĩ năng cao).Việc đi

ra khỏi trạng thái Dòng chảy, tức là xảy ra trạng thái như lơ là, thở ơ hay lo lắng, làlời cảnh báo cho giáo viên cần thay đổi mức độ của thử thách (bài tập, yêu cầu) vàđiều này cũng yêu cầu học sinh phải cố gắng tăng cường kĩ năng của mình để quaytrở lại trạng thái Dòng chảy Việc đưa ra những thử thách vừa phải và cung cấpnhững cơ hội để nâng cao kĩ năng cho học sinh (đưa ra nhận xét ngay lập tức chohọc sinh, dạy học tích cực) là góp phần thúc đẩy Sự tham gia của học sinh vào cáchoạt động

Hình 2 Trạng thái Dòng chảy

Trang 9

Dựa trên nền tảng Lý thuyết dòng chảy, trạng thái Dòng chảy bao gồm các trạng

thái con như: sự tập trung, sự quan tâm và sự thích thú trong một hoạt động Các

trạng con này phải đồng thời xảy ra là điều kiện để thiết lập trạng thái dòng chảy.Những trạng thái nói trên của dòng chảy cũng là những thành tố quan trọng của Sựtham gia Việc phân tích kĩ hơn về trạng thái dòng chảy cho phép chúng ta hiểuhơn về khái niệm của Sự tham gia

Sự tập trung hoàn toàn trong một hoạt động là một khía cạnh, một điều kiện

tiên quyết của trạng thái dòng chảy Trong việc dạy học, sự tập trung trong mộthoạt động cũng là một khía cạnh của mức độ tham gia Một học sinh tập trung caotrong các hoạt động học tập cũng là một học sinh có mức độ tham gia cao, điều này

đã được chứng minh qua nhiều nghiên cứu

Sự quan tâm là điều kiện cơ bản của trạng thái dòng chảy, nếu không có sự

quan tâm, trạng thái này không thể xảy ra Đồng thời sự quan tâm cũng là điều kiện

cơ bản của Sự tham gia Sự quan tâm giúp cho bản thân học sinh nắm bắt đượcnhững cơ hội để học, đọc, hoạt động với những bạn khác, từ đó kích hoạt trạngthái dòng chảy và cũng tăng cường mức độ của sự tham gia

Sự thích thú là điều kiện cảm xúc chính của trạng thái Dòng chảy, nó giúp

duy trì sự tập trung và sự quan tâm Sự thích thú cũng là một khía cạnh cảm xúcquan trọng trong Sự tham gia Sự thích thú càng cao chứng tỏ mức độ tham gia caocủa học sinh

Hình 3 Sự tham gia và Dòng chảy

Sự tham gia

Trang 10

Như vậy có thể nói rằng, trạng thái dòng chảy là tiền đề để duy trì Sự thamgia Học sinh có trạng thái dòng chảy liên tục sẽ giúp duy trì sự tham gia, nói cáchkhác, để tăng cường mức độ của sự tham gia chúng ta cần phải tạo điều kiện lítưởng để trạng thái Dòng chảy xảy ra một cách liên tục.

c Sự tham gia của học sinh trong quá trình dạy học

Theo Nguyễn Văn Hộ, quá trình dạy học là một quá trình tương tác (hợptác) giữa thầy và trò, trong đó thầy chủ đạo như: hoạt động tổ chức, lãnh đạo, điềuchỉnh hoạt động nhận thức của học sinh; còn trò tự giác, tích cực, chủ động thôngqua việc tự tổ chức, tự điều chỉnh hoạt động nhận thức của bản thân nhằm đạt tớimục đích dạy học

Trong quá trình dạy học, Sự tham gia của học sinh (STG) là một thành tốcon trong thành tố Học sinh Hình sau mô tả vị trí của sự tham gia của học sinhtrong quá trình dạy học

- Tài liệu, SGK

- Kiểm tra, đánh giá

Trang 11

Sự tham gia của học sinh là một khái niệm cần được chỉ ra rõ ràng cùng vớinhững thành tố của nó Theo (Lam, 2014) , các nhà nghiên cứu đồng ý rằng, khôngthể gộp Sự tham gia vào các thành tố đóng vai trò ngữ cảnh trong quá trình dạy học(như thực hành giảng dạy của giáo viên, môi trường dạy học, phương pháp, hìnhthức tổ chức dạy học,…) điều này làm hạn chế hiểu biết về ảnh hưởng của nhữngthành tố nói trên đến Sự tham gia như thế nào Đồng thời, cũng không thể gộp STGvới những thành tố đầu ra của quá trình dạy học (như: hạnh kiểm, thành tích họctập,…), bởi lẽ, nếu làm như vậy sẽ ngăn cản việc đánh giá về những ảnh hưởng củaSTG lên các thành tố đầu ra của quá trình dạy học.

Theo (Lam, 2014), STG của học sinh là một quá trình tâm lý-làm trung gianảnh hưởng của các thành tố ngữ cảnh đối với kết quả học tập của học sinh trongquá trình dạy học Nó bao gồm sự nỗ lực, hứng thú, thích thú và tiếp thu của họcsinh trong việc khởi xướng và duy trì các hoạt động học tập trong trường học Nhưvậy có thể nói rằng, STG là thành tố trung gian, ở giữa các thành tố ngữ cảnh vàcác thành tố kết quả của quá trình dạy học Ở đây cần làm rõ, các yếu tố ngữ cảnhtrong quá trình dạy học bao gồm: môi trường lớp học, hoàn cảnh gia đình, điềukiện xã hội, … và các yếu tố kết quả của quá trình giáo dục bao gồm: kết quả họctập ở trường (điểm số, hạnh kiểm, năng lực, phẩm chất, thành tích,…), kết quả họctập không phải ở nhà trường (lòng tự trọng, sự hài lòng với cuộc sống, kĩ năngsống,…)

Sự tham gia của học sinh là một khái niệm mang tính đa chiều và đa tầng.Các nhà nghiên cứu về STG đã sớm định nghĩa khái niệm này ban đầu gồm haichiều: hành vi và cảm xúc Trong những năm gần đây, các nhà nghiên cứu đã bổsung thêm một chiều thứ ba vào cấu trúc của STG đó là: nhận thức Một định nghĩađược sử dụng rộng rãi do Fredricks, và cộng sự tổng hợp và đề xuất, đó là: STGcủa học sinh là một khái niệm đa chiều, trong đó có thể chỉ ra 3 chiều cơ bản đó là:hành vi, cảm xúc và sự nhận thức

Sự tham gia về mặt hành vi của học sinh được hiểu là các hành động tham

gia vào các hoạt động dạy học, hoạt động ngoại khóa, hoạt động xã hội của họcsinh nhằm đảm bảo kết quả học tập và tránh sự bỏ học

Sự tham gia về mặt cảm xúc là những phản ứng tình cảm chủ quan của học

sinh phát sinh khi nhận được tác động từ các thành tố của quá trình dạy học: giáo

Trang 12

viên, bạn bè, nhà trường, chương trình, thành tích học tập, ….được biểu hiện bằngthái độ của học sinh với những thành tố đó Đồng thời kèm theo biểu hiện sinh lí(thay đổi sắc mặt, nhịp tim, nhịp thở, hoạt động của các tuyến nội tiết, trạng thái cơ

thể) và trạng thái tâm lí .Sự tham gia về mặt cảm xúc tập trung vào mức độ phản

ứng tích cực (và tiêu cực) của học sinh đối với giáo viên, bạn cùng lớp, môn học vàtrường học Sự tham gia về mặt cảm xúc tích cực được cho là tạo ra mối quan hệ(tốt) của học sinh với lớp học (hoặc nhà trường) và ảnh hưởng đến sự sẵn sàngtrong học tập của học sinh (Connell và Wellborn 1991; Finn 1989)

Sự tham gia về mặt nhận thức được định nghĩa là quá trình tiếp thu kiến thức

và những am hiểu thông qua suy nghĩ, kinh nghiệm và giác quan bao gồm: cáchtiếp cận chu đáo và có mục đích các nhiệm vụ học tập (như có kế hoạch học tập,thời gian biểu, thực hiện hệ thống, sắp xếp, phân loại, so sánh, liên hệ thực tếnhững kiến thức, kĩ năng được học,…), sự sẵn sàng nỗ lực để thấu hiểu các ýtưởng phức tạp hoặc các kỹ năng quan trọng của môn học (Fredricks, Blumenfeld,and Paris 2004)

Hình sau mô tả khái niệm của sự tham gia với ba khía cạnh của nó

Hình 5 Các khía cạnh của Sự tham gia

Trang 13

Tính đa tầng của STG thể hiện ở các cấp độ: STG của học sinh ở cộng đồng,STG của học sinh ở trường học, STG của học sinh ở lớp học, STG của học sinhtrong các hoạt động học tập Cấu trúc đa tầng đó được thể hiện qua hình sau đây

Hình 6 Cấu trúc đa tầng (đa bậc) của sự tham gia

Theo mô hình trên ta nhận thấy, sự tham gia được biểu hiện ở nhiều cấp độ:STG ở cấp độ cộng đồng là sự tham gia của học sinh trong các hoạt động ở giađình, nhà trường và xã hội STG ở trường học là việc tham gia của học sinh trongcác hoạt động trong lớp học, các hoạt động ngoài giờ lên lớp, các câu lạc bộ, các tổchức Đoàn thể STG ở cấp độ lớp học là việc tham gia vào các hoạt động diễn rabên trong không gian lớp học bao gồm các hoạt động với các giáo viên, chươngtrình môn học, với bạn cùng lớp STG ở cấp độ môn học là việc tham gia trong mộtmôn học cụ thể bao gồm tham gia với giáo viên dạy môn học, chương trình củamôn học đó và bạn bè

Trang 14

Nghiên cứu này tập trung tìm hiểu về sự tham gia ở cấp độ nhà trường, vàtập trung vào các hoạt động học tập ở trường của học sinh Sự tham gia của họcsinh ở trường là một cấp độ quan trọng, được nhiều nhà nghiên cứu tìm hiểu

Ngoài ra, để chỉ rõ hơn khái niệm về STG, các nhà nghiên cứu đề xuất bảng

so sánh giữa STG và Sự không tham gia

Hành vi

Bắt đầu hành động

Nỗ lực, cố gắng Làm việc chăm chỉ Gắng hết sức Kiên trì Duy trì cường độ Tập trung, chú ý Tập trung nhiều hơn Tiếp thu

Tham gia

Thụ động, Trì hoãn

Từ bỏ Không hoạt động

Hờ hững Không tập trung, không chú ý

Bị phân tâm Mất tinh thần Đuối sức, kiệt sức Không chuẩn bị Vắng mặt

Cảm xúc

Hăng hái Quan tâm Vui thích Thỏa thích

Tự hào Hào hứng Nhiệt tình

Chán nản Không quan tâm Thất vọng / giận dữ Buồn chán

Lo lắng / lo âu Xấu hổ

Tự đổ lỗi

Nhận thức

Có mục đích Chủ động

Có mục tiêu Tìm kiếm chiến lược Sẵn sàng tham gia

Ưu tiên sự thách thức Làm chủ suy nghĩ Theo dõi, chăm sóc Tận tâm, hết lòng

Không có mục đích

Lệ thuộc Không có mục tiêu Không sẵn sàng Đối nghịch Trốn tránh suy nghĩ

Sự thờ ơ Tuyệt vọng

Bị ép buộc

Bảng 1 Sự tham gia và Sự không tham gia

Theo bảng trên cho thấy, sự tham gia bao gồm STG về hành vi, STG về cảmxúc và STG về nhận thức Trong đó, STG về hành vi bao gồm bao gồm các hànhđộng nỗ lực, kiên trì, quyết tâm và tập trung khi đối mặt với những trở ngại và khókhăn trong việc học; STG về mặt cảm xúc bao gồm trạng thái cảm xúc hăng hái,quan tâm, vui thích, tự hào, hào hứng, nhiệt tình trong các hoạt động ở trường;

Trang 15

STG về mặt nhận thức bao gồm việc sẵn sàng tiếp thu kiến thức một cách có mụcđích, chủ động, có mục tiêu, có chiến lược, tận tâm, hết lòng khi tham gia các hoạtđộng ở trường Trái lại với STG là sự không tham gia, đó là hiện tượng và học sinhrút lui khỏi các nhiệm vụ học tập về cả thể chất, tinh thần và cảm xúc Chẳng hạnnhư sự thụ động, trì hoãn, từ bỏ, không hoạt động, hờ hững, không tập trung,không chú ý, bị phân tâm, …có cảm xúc chán nản, không quan tâm, thất vọng,giận dữ,…đồng thời hoạt động với suy nghĩ không có mục đích, lệ thuộc, không cómục tiêu, bị ép buộc.

d Mối liên hệ của Sự tham gia với các thành tố trong quá trình dạy học

Mối liên hệ của Sự tham gia và giáo viên

Các nghiên cứu chỉ ra rằng, giáo viên là thành tố có tác động rất lớn đếnSTG của học sinh Giáo viên có thể tác động đến STG bằng những đặc trưng củabản thân (kĩ năng giảng dạy, kiến thức chuyên môn, thực hành dạy học, hiệu quảdạy học) hay bằng những hành vi của bản thân giáo viên như (lên kế hoạch dạyhọc, quản lí học sinh, thực hành giảng dạy) Trong qua trình dạy học giáo viênđóng vai trò là người chủ đạo, tổ chức, lãnh đạo, điều chỉnh hoạt động nhận thứccủa học sinh, do vậy giáo viên là thành tố quan trọng tác động đến STG của họcsinh Theo (Lam, 2014), mức độ tương quan giữa thực hành giảng dạy của giáoviên với STG là r=0.5 (p<0.05) và mức độ tương quan giữa sự hỗ trợ của giáo viênvới STG là r=0.48 (p<0.01) Điều này cho thấy thành tố giáo viên đóng vai tròquyết định rất lớn đối với mức độ tham gia của học sinh Nếu giáo viên giảng dạytheo hướng tích cực, có chiến lược giảng dạy thúc đẩy học sinh hoạt động tích cựcthì mức độ tham gia sẽ được tăng cường rât đáng kể

Ngược lại, STG cũng có ảnh hưởng đến giáo viên, các nghiên cứu chỉ rarằng, học sinh có mức độ tham gia cao sẽ tác động tích cực lên mối quan hệ giữahọc sinh và giáo viên trong lớp học Một số nghiên cứu khác chỉ ra rằng, học sinh

có mức độ tham gia cảm xúc cao sẽ tác động đến tính tự chủ của giáo viên trongdạy học

Mối liên hệ của Sự tham gia và bạn bè

Trang 16

Tình bạn đóng một vai trò quan trọng trong qua trình phát triển của học sinh,đặc biệt, trong độ tuổi đi học, tình bạn là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến việc họctập của học sinh Trong lứa tuổi học sinh THCS, các bạn có xu hướng tự khẳngđịnh bản thân và tìm kiếm sự tự chủ của bản thân từ phía gia đình, do vậy việc pháttriển các mối quan hệ bạn bè đóng vai trò quan trọng không chỉ trong việc hìnhthành nhân cách mà còn trong việc học tập Các nghiên cứu chỉ ra rằng, tình bạnảnh hưởng đến toàn bộ các khía cạnh khác nhau của cuộc sống học đường, từ cácnhận thức, cảm xúc đến các hành vi Điều này cho thấy, tình bạn có tác động đến

sự tham gia sủa học sinh Tuy nhiên hướng tác động tích cực hay tiêu cực là phụthược với tính chất của tình bạn mà học sinh đó đang thm gia vào Nếu học sinh cómột tình bạn tích cực, điều này sẽ ảnh hưởng tích cực đến STG của học sinh vàngược lại nếu học sinh tham gia vào các mối quan hệ tiêu cực thì sẽ ảnh hưởngphương hại đến mức độ tham gia của học sinh đó

Một số nghiên cứu cũng chỉ ra tình bạn có thể là một yếu tố hỗ trợ tăngcường sự hợp tác trong quá trình dạy học, chẳng hạn như chia sẻ thông tin, tàinguyên, kĩ năng Tình bạn có thể ảnh hưởng đến thành tích học tập, các nghiên cứuchỉ ra nếu các học sinh có thành tích thấp được kết bạn với các học sinh có thànhtích cao thì thành tích học tập của các học sinh ấy sẽ được cải thiện Theo (Lam,2014) cho rằng tình bạn không trực tiếp tác động đến thành tích học tập mà thôngqua Sự tham gia của học sinh, tức là STG đóng vai trò như cầu nối trung gian giữanhững tác động của tình bạn đến thành tích học tập Theo (Lam, 2014), mức liên

hệ trực tiếp của tình bạn đến thành tích học tập là r=-0.06(p<0.05), như thậm chí cóthể trực tiếp tác động tiêu cực đến thành tích học tập; tuy nhiên tình bạn lại tácđộng tích cực đến STG của học sinh với hệ số tương quan là r=0.02(p<0.05)

Như vậy có thể nói, tình bạn trong đó có sự hỗ trợ của bạn bè có mối liên hệđến sự tham gia Sự hỗ trợ của bạn bè có thể ảnh hưởng tiêu cực đến sự tham gianếu như sự hỗ trợ đó là tiêu cực (cho bạn chép bài trong giờ kiểm tra, nhắc bài chobạn,…), đồng thời nếu sự hỗ trợ của bạn bè là tích cực (giúp đỡ bạn hiểu bài, traođổi, chia sẻ tài liệu, kiến thức,…) thì sẽ ảnh hưởng tích cực đến sự tham gia củahọc sinh Ngược lại, sự tham gia cũng tác động đến sự hỗ trợ của bạn bè, học sinh

có mức độ tham gia cao thì có xu hướng tham gia vào sự hỗ trợ tích cực

Sự tham gia và gia đình

Ngày đăng: 12/05/2019, 07:39

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[4] Jennifer J. Chen(2005). Relation of Academic Support From Parents, Teachers, and Peers to Hong Kong Adolescents’ Academic Achievement: The Mediating Role of Academic Engagement. Genetic Social and General Psychology Monographs Sách, tạp chí
Tiêu đề: Relation of Academic Support From Parents,Teachers, and Peers to Hong Kong Adolescents’ Academic Achievement: TheMediating Role of Academic Engagement
Tác giả: Jennifer J. Chen
Năm: 2005
[5] Diener, E., Smith, H., &amp; Fujita, F. (1995). The personality structure of affect. Journal of Personality and Social Psychology Sách, tạp chí
Tiêu đề: The personality structure ofaffect
Tác giả: Diener, E., Smith, H., &amp; Fujita, F
Năm: 1995
[10] Lee, V. E. (2000). Using hierarchical linear modeling to study social contexts: The case of school effects. Educational Psychologist, 35,125–141. doi:10.1207/S15326985EP3502_6 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Using hierarchical linear modeling to study socialcontexts: The case of school effects
Tác giả: Lee, V. E
Năm: 2000
[11] Ellen A. Skinner - Jennifer R. Pitzer (2012). Developmental Dynamics of Student Engagement, Coping, and Everyday Resilience. Springer Science&amp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Developmental Dynamicsof Student Engagement, Coping, and Everyday Resilience
Tác giả: Ellen A. Skinner - Jennifer R. Pitzer
Năm: 2012
[3] Brislin, R. W. (1970). Back-translation for crosscultural research.Dissertation Abstracts International, 31, 895 Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w