Trong việc học vật lý, mỗi kiến thức chuyên môn đều cần được nhắc lại,củng cố sau mỗi bài học, theo đó bài tập là một phương thức cực kỳ hữu hiệu.Bài tập giúp người học củng cố, khắc sâu
Trang 1MỘT SỐ KINH NGHIỆM TRONG ĐỊNH HƯỚNG
GIẢI BÀI TẬP CHO HỌC SINH KHỐI 7 TRƯỜNG THCS LÊ ĐÌNH CHINH
Trang 2MỤC LỤC
PHẦN THỨ NHẤT MỞ ĐẦU 1
I Đặt vấn đề 1
II Mục đích nghiên cứu 2
PHẦN THỨ HAI GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ 2
I Cơ sở lý luận 2
1.1 Bài tập là phương thức hữu hiệu để củng cố và mở rộng kiến thức 3
1.2 Bài tập giúp rèn luyện kỹ năng tự vận dụng kiến thức chuyên môn vào giải quyết các vấn đề thực tế, tự đánh giá và kiểm tra kiến thức 3
1.3 Bài tập là phương tiện tốt nhất để kiểm tra, đánh giá kiến thức của học sinh 4
II Thực trạng vấn đề 4
III Giải pháp thực hiện 5
1 Giới thiệu một số phương pháp dạy học tích cực 5
1.1 Phương pháp hoạt động nhóm 6
1.2 Phương pháp đặt và giải quyết vấn đề 7
1.3 Phương pháp vấn đáp 7
2 Hệ thống kiến thức bằng sơ đồ tư duy 8
2.1 Chương I Quang học 8
2.2 Chương II Âm học 11
2.3 Chương III Điện học 12
3 Phân loại bài tập vật lý 15
3.1 Phân loại theo mức độ 16
3.2 Phân loại theo phương tiện giải 17
4 Trình tự giải bài một bài tập Vật Lý 18
5 Giới thiệu một số bài tập cơ bản trong chương trình Vật lý 7 và hướng dẫn giải 19
IV Tính mới của giải pháp 23
Trang 3PHẦN THỨ BA KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ 25
I Kết luận 25
II Kiến nghị 25
TÀI LIỆU THAM KHẢO 27
Trang 4Phần thứ nhất: MỞ ĐẦU
I Đặt vấn đề
Hòa chung cùng với xu hướng đổi mới của nhiều ngành nghề, giáo dụcViệt Nam cũng đang có nhiều sự đổi mới nhằm nâng cao chất lượng giáo dục.Trong đó, bên cạnh việc đẩy mạnh đổi mới chương trình, tổ chức biên soạn một
bộ sách giáo khoa đảm bảo yêu cầu giảm tải, khoa học, thiết thực, khả thi thì đổimới mục tiêu dạy học, phương pháp dạy học luôn được quan tâm hàng đầunhằm nâng cao chất lượng nguồn lực xã hội đáp ứng yêu cầu phát triển của đấtnước
Theo đó, trong chương trình giáo dục phổ thông, môn học Vật Lý cũngkhông phải là ngoại lệ bởi những kiến thức chuyên môn của Vật Lý là vô cùngquan trọng, là cơ sở cho nhiều ngành kỹ thuật, những kiến thức vật lí mang lại
có sự gắn kết chặt chẽ với thực tế đời sống
Đồi với môn học Vật lý, cũng như các bộ môn khoa học xã hay các bộ
môn tự nhiên khác như Toán học, Hóa học, Sinh học, để nâng cao được chấtlượng thì người học không những cần nắm vững được những kiến thức lý thuyếtchuyên môn, biết áp dụng công thức để tính các bài tập cơ bản mà còn phải hiểu
để giải thích được các hiện tượng Vật lý đã và đang xảy ra trong tự nhiên cũngnhư cuộc sống thường ngày Bởi suy cho cùng, công việc giáo dục muốn đạtđược hiệu quả thì việc dạy và học cần phải được tiến hành trên cơ sở tự nhậnthức, tự hành động, tự phát triển nhận thức và năng lực tư duy Đây là conđường phát triển tích cực nhất, bền vững nhất
Trong việc học vật lý, mỗi kiến thức chuyên môn đều cần được nhắc lại,củng cố sau mỗi bài học, theo đó bài tập là một phương thức cực kỳ hữu hiệu.Bài tập giúp người học củng cố, khắc sâu kiến thức đã học, mở rộng thêm nhữngkiến thức cơ bản của những bài học trên lớp, củng cố thêm kỹ năng vận dụngnhưng cái đã biết để giải quyết vấn đề cụ thể và đặc biệt hơn là qua đó phát triểnnăng lực tư duy, giải quyết vấn đề của học sinh, có giá trị to lớn trong việc giáodục đạo đức, tư tưởng cho học sinh Chính vì vậy, đối với người học Vật lý việcnắm được các phương pháp để vận dụng kiến thức chuyên môn để giải quyết cácbài tập là rất cần Mỗi bài tập không đơn thuần chỉ là con số, là áp dụng côngthức và tính ra đáp án, mà đó còn là cả một quá trình tìm hiểu, nghiên cứu vàđào sâu kiến thức, các khái niệm, các định luật và vận dụng vào những vấn đềtrong thực tiễn
Bài tập Vật lí giữ vị trí đặc biệt quan trọng trong việc giúp các em họcsinh hoàn thành tốt các nhiệm vụ học tập của bản thân Xét về mặt định hướngphát triển năng lực của học sinh, đặc biệt là về mặt rèn luyện kĩ năng vận dụngkiến thức đã lĩnh hội được thì vai trò của việc giải bài tập vật lí trong quá trìnhhọc tập có một giá trị rất lớn, nắm vai trò bản lề giữa việc học lý thuyết và vận
Trang 5Việc giải bài tập giáo dục ý chí, tính kiên trì vượt khó, phát triển tư duy lôgíc, sự nhanh trí Trong quá trình tư duy sâu sắc ấy, có sự phân tích và tổng hợpnhững mối liên hệ giữa các hiện tượng và đại lượng vật lí đặc trưng cho chúng.Bài tập giúp các em hiểu được nhiều mối liên hệ giữa vật lí và kĩ thuật
Qua thực tế trong giảng dạy bộ môn Vật Lý tại trường THCS, cụ thể đốivới khối lớp 7 thì bài tập là một trong những khó khăn mà đa số học sinh mắcphải Học sinh nắm được nội dung lý thuyết của bài học, thuộc lòng các đạilượng và công thức nhưng lại gặp khó khăn khi giải quyết các bài tập, đặc biệt làcác bài tập suy luận logic, bài tập mang tính thực tiễn, gắn liền với cuộc sống
Bài tập vật lý rất đa dạng và phức tạp, nhiều bài tập có sự liên quan đếnkiến thức chuyên môn của nhiều bộ môn khác Chính vì vậy, mỗi giáo viên khigiảng dạy cần phải có sự đầu tư cho mỗi dạng bài tập, có sự kiên nhẫn giúp đỡhọc sinh hiểu một cách cặn kẽ về mỗi dạng bài, nắm vững kiến thức và tự tinmỗi khi giải bài tập vật lý để từ đó các em yêu thích hơn đối với sự học bộ mônVật Lý
Chính vì tầm quan trọng của bài tập, là một giáo viên Vật lý tôi cũngmong muốn học sinh của mình có những bài giải tốt Vì vậy tôi chọn đề tài
“Một số kinh nghiệm trong việc định hướng giải bài tập vật lý cho học sinh
khối lớp 7 trường THCS Lê Đình Chinh” nhằm mục đích nâng cao chất lượng
làm bài, chất lượng giáo dục của bộ môn Vật Lý 7 tại nhà trường
II Mục đích nghiên cứu
Nhằm phát huy của vai trò của người giáo viên trong việc nâng cao chấtlượng giáo dục, là người định hướng việc học, hình thành kĩ năng vận dụng kiếnthức chuyên môn giải quyết vấn đề, nâng cao năng lực tự học của học sinh Giúp nâng cao chất lượng các tiết học có vận dụng bài tập, hình thành kĩ năng kĩxảo cho mỗi học sinh khi giải quyết các dạng bài tập vật lý, qua đó nâng caochất lượng giáo dục bộ môn vật lý 7
Phần thứ hai: GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
có tư duy sáng tạo, có kỹ năng thực hành giỏi, có tác phong công nghiệp, có tính
tổ chức kỷ luật, có sức khỏe là những người thừa kế xây dựng chủ nghĩa xã hội
Trang 6Từ những vấn đề trên Quốc hội khóa X có Nghị quyết số 40, Chính phủ
có chỉ thị 14 và Bộ Giáo dục và Đào tạo có Quyết định số 43 nói về đổi mớichương trình giáo dục phổ thông Là giáo viên trực tiếp giảng dạy trong nhàtrường trung học cơ sở, hơn nữa môn vật lý mà tôi đang giảng dạy là môn họcthực nghiệm, bên cạnh việc đòi hỏi kỹ năng thực hành rất cao, sức sáng tạo lớncòn đòi hỏi kĩ năng vận dụng những kiến thức lý thuyết trên lớp để giải quyếtcác bài toán, các hiện tượng thực tế Song trong quá trình dạy học tại trường, tôinhận thấy học sinh còn chưa nhận thấy được sự quan trọng của việc vận dụngkiến thức để giải quyết các hiện tượng vật lý được cụ thể hóa trong các bài tập,
mà đối với học sinh bài tập chỉ đơn giản là đáp án, là con số, giải bài tập còn rậpkhuôn, máy móc, chưa chủ động sáng tạo, chưa tự lực giải quyết các nhiệm vụhọc tập dưới sự điều khiển của giáo viên, nhiều học sinh chưa có kỹ năng vậndụng toán học để giải bài tập vật lý
1.1 Bài tập là phương thức hữu hiệu để củng cố và mở rộng kiến thức
Vật lý là môn học lý thuyết, trong đó các kiến thức là các lý thuyết trừutượng Chính vì vậy việc nắm bắt được kiến thức chuyên môn cũng như hiểu rõđược bản chất của các khái niệm, định luật, các hiện tượng Vật lý là điều quantrọng
Trong thực tế, mỗi khái niệm, mỗi định luật Vật lý lại có những biểu hiệnrất cụ thể, đơn giản thông qua các hiện tượng thường ngày và bài tập là sự ghichép lại mỗi hiện tượng đó Khi giải bài tập, mỗi học sinh phải vận dụngnhững kiến thức trừu tượng đó để giải, qua đó nắm được bản chất của kiến thức,của các hiện tượng vật lý đã được học, thấy được sự đa dạng muôn hình muôn
vẻ của các hiện tượng đang diễn ra trong thực tế và rèn luyện cho mình kỹ năngquan sát, phân tích các hiện tượng vật lý thú vị đã và đang xảy ra trong cuộcsống thường ngày Bài tập sẽ là phương thức khắc họa kiến thức đơn giản vàhữu hiệu nhất, từ đó giảm đi sự e dè, nhàm chán của mỗi học sinh khi họcbộmôn Vật lý
1.2 Bài tập giúp rèn luyện kỹ năng tự vận dụng kiến thức chuyên môn vào giải quyết các vấn đề thực tế, tự đánh giá và kiểm tra kiến thức
Khi tiếp cận với mỗi bài tập, học sinh phải tự bản thân mình phân tích các
dữ liệu của đề bài đưa ra, tự đào sâu lại những kiến thức đã học, xây dựng nhữnglập luận để từ đó đưa ra phương án giải quyết tình huống tốt nhất Chính vì vậybài tập không chỉ là phương tiện tốt nhất để mỗi học sinh rèn luyện kĩ năng vậndụng những kiến thức chuyên môn đã được học để phân tích và giải quyết cáctình huống thực tế, mà còn là hình thức rèn luyện khả năng tự học, tự kiểm tra
và đánh giá kiến thức của bản thân, xây dựng cho mình đức tính tự tìm tòi vàhọc hỏi, qua đó hình thành cho mỗi học sinh kĩ xảo khi tiếp xúc với các bài tập ở
Trang 71.3 Bài tập là phương tiện tốt nhất để kiểm tra, đánh giá kiến thức của học sinh.
Sự đa dạng của bài tập, từ trắc nghiệm đến tự luận, từ áp dụng công thức
để tính đến suy luận logic, từ nhận biết đến vận dụng chính là công cụ để giáoviên kiểm tra, đánh giá được mức độ nắm vững kiến thức của từng học sinh, qua
đó phân loại được các đối tượng học sinh và có phương pháp giảng dạy phù hợpđối với từng đối tượng để nâng cao chất lượng giáo dục
II Thực trạng vấn đề.
Trong giảng dạy, có một thực tế đang diễn ra đó là phần lớn học sinh chỉ
“học vẹt” các khái niệm, các định luật và đặc biệt là số lượng lớn các đại lượngvật lý, các công thức tính toán trong mỗi bài học Các kiến thức lý thuyết, cácđại lượng, các công thức thực sự là một mớ hỗn độn khi các em chưa biết cách
hệ thống các kiến thức đã học một cách có khoa học Chính điều đó là khó khănbước đầu của học sinh khi giải bài tập
Ngoài ra sự đa dạng của các hiện tượng vật lý, của các dạng bài tập thực
sự là một rào cản lớn của học sinh cần phải vượt qua nếu muốn làm tốt được cácbài tập trong chương trình bộ môn Vật lý 7 Học sinh nắm vững lý thuyết nhưngkhông có khả năng đọc, tìm hiểu, phân tích đề bài không thể nào làm tốt đượccác bài tập suy luận, dẫn đến tình trạng áp dụng phương pháp giải, áp dụng côngthức một cách máy móc; hoặc trong nhiều trường hợp các em còn chưa biết cáchtrình bày một bài giải sao cho hợp lý mà chỉ quan tâm đến đáp án cuối cùng
Bên cạnh đó, thời gian dành cho môn học vật lý, đặc biệt là thời gian dànhcho bài tập Vật lý ở nhà trường rất hạn chế Đa số thời gian các tiết học là học lýthuyết, về những khái niệm trừu tượng Chính vì vậy, các em chưa được rènluyện hết với các dạng bài tập, chưa nắm vững và hệ thống được các phươngpháp giải bài tập Chính thực trạng đó dẫn đến việc hầu hết các em học sinh chỉ
“học suông” các lý thuyết mà thiếu đi kỹ năng làm bài tập, không đáp ứng đượcyêu cầu của môn Vật lý
Những khó khăn mà học sinh trong nhà trường mắc phải được thể hiện rõtrong chất lượng ở những bài làm của học sinh, cụ thể với kết quả khảo sát ở cáclớp 7 tại trường THCS Lê Đình Chinh cuối học kì 1 năm học 2017 – 2018 bằngnhững bài tập ở các mức độ khác nhau Kết quả thu được như sau:
Trung bình Yếu - kém
Trang 87A1 32 6 18,8 14 43,8 7 21,9 5 15,57A2 29 4 13,8 13 44,8 8 27,6 4 13,8
7A4 33 5 15,2 14 42,4 9 27,2 5 15,2
Chính vì vậy, muốn nâng cao chất lượng bài làm của các em thì khôngnhững mỗi học sinh cần được trang bị tốt những kiến thức cơ bản, mà giáo viêncần phải có phương pháp để các đối tượng học sinh khác nhau được tiếp cận vớinhiều dạng bài tập khác nhau, định hướng và hướng dẫn cho học sinh phươngpháp để giải quyết các bài tập đó một cách đúng trình tự, chính xác, đẹp đẽ vàhiệu quả
III Giải pháp thực hiện
Để mỗi học sinh hoàn thành tốt được những tiết học có vận dụng bài tậphay có thể tự mình hoàn thành những bài tập ở nhà, nâng cao năng lực tự học thìđiều đầu tiên cần làm là giáo viên cần hệ thống lại kiến thức chuyên môn mộtcách khoa học, dễ hiểu để làm nền tảng, làm cơ sở cho việc giải bài học Khi hệthống lại kiến thức cũng như trong quá trình giảng dạy, giáo viên cần áp dụngcác phương pháp dạy học tích cực phù hợp với các đối tượng học sinh ở từnglớp, cụ thể là phù hợp với học sinh khối 7 trường THCS Lê Đình Chinh
Đồng thời đó cần phải cung cấp cho học sinh cách phân loại bài tập, trình
tự giải một bài tập vật lý cũng như giới thiệu cho học sinh một sô dạng bài tập
cơ bản trong môn vật lý 7 và cách giải, để từ đó học sinh có thể tự tích lũy thêmcho mình một số kinh nghiệm khi giải bài tập, làm cơ sở cho việc tự học, tự giảicác dạng bài tập nâng cao khi học ở nhà Đó là nội dung chính của bài viết này
1 Giới thiệu một số phương pháp dạy học tích cực
Dạy học tích cực (DHTC) là một thuật ngữ rút gọn dùng để chỉ những phương pháp giáo dục, dạy học theo hướng phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của người học DHTC nêu cao mối quan hệ giữa việc dạy và học, lấy học sinh làm trung tâm của các hoạt động dạy học, coi trọng rèn luyện phương pháp tự học của học sinh bên cạnh việc rèn luyện học tập hợp tác
Có thể kể tên một số phương pháp dạy học tích cực: phương pháp vấn đáp, phương pháp hoạt động nhóm, phương pháp đóng vai, phương pháp vấn đáp, phương pháp đặt và giải quyết vấn đề, phương pháp động não
Ở bài này đặc biệt giới thiệu một số phương pháp dạy học tích cực phù hợp với đối tượng học sinh là học sinh khối 7 trường THCS Lê Đình Chinh
Trang 91.1 Phương pháp hoạt động nhóm
Ở phương pháp hoạt động nhóm, lớp học được chia thành các nhóm, mỗi nhóm từ 4-6 người, mỗi lớp không quá 6 nhóm để đảm bảo việc hoạt động nhómđạt được kết quả cao nhất Việc chia nhóm cần được thực hiện phù hợp với nội dung, yêu cầu của bài học và có thể thay đổi theo từng bài học khác nhau
Nhóm tự bầu nhóm trưởng Các thành viên hoạt động tích cực theo sự phân công nhiệm vụ của nhóm trưởng, trong quá trình hoạt động các thành viên
có sự phối hợp và giúp đỡ nhau để hoàn thành nhiệm vụ được phân công Kết quả hoạt động của thành viên đóng góp vào kết quả của nhóm, kết quả của mỗi nhóm sẽ đóng góp vào kết quả học tập chung của cả lớp
Phương pháp hoạt động nhóm có thể tiến hành như sau:
- Phân công trong nhóm
- Cá nhân làm việc độc lập rồi trao đổi hoặc tổ chức thảo luận trong nhóm
- Cử đại diện hoặc phân công trình bày kết quả làm việc theo nhóm
* Tổng kết trước lớp
- Các nhóm lần lượt báo cáo kết quả
- Thảo luận chung
- Giáo viên tổng kết, đặt vấn đề cho bài tiếp theo, hoặc vấn đề tiếp theo trong bài
Phương pháp hoạt động nhóm giúp các thành viên trong nhóm chia sẻ cácbăn khoăn, kinh nghiệm của bản thân, cùng nhau xây dựng nhận thức mới Tuy nhiên trong quá trình tổ chức các hoạt động nhóm cần tránh sự ỷ lại vào một thành viên nào đó trong tổ mà phải đảm bảo tất cả các thành viên đều được hoạt động và đóng góp vào kết quả chung của cả nhóm
1.2 Phương pháp đặt và giải quyết vấn đề
Phương pháp dạy học tích cực này rèn luyện cho học sinh biết phát hiện, đặt ra và tự giải quyết những vấn đề xảy ra trong học tập, trong cuộc sống của cánhân, gia đình và cộng đồng
Cấu trúc một bài học (hoặc một phần bài học) theo phương pháp đặt và giải quyết vấn đề thường như sau:
Trang 10- Đặt vấn đề, xây dựng bài toán nhận thức
+ Tạo tình huống có vấn đề;
+ Phát hiện, nhận dạng vấn đề nảy sinh;
+ Phát hiện vấn đề cần giải quyết
- Giải quyết vấn đề đặt ra
+ Đề xuất cách giải quyết;
+ Lập kế hoạch giải quyết;
+ Thực hiện kế hoạch giải quyết
- Kết luận:
+ Thảo luận kết quả và đánh giá;
+ Khẳng định hay bác bỏ giả thuyết nêu ra;
Kết luận, đánh giá
1 Giáo viên Giáo viên Giáo viên Học sinh Giáo viên
2 Giáo viên Giáo viên Học sinh Học sinh Giáo viên +Học sinh
3 Giáo viên +Học sinh Học sinh Học sinh Học sinh Giáo viên +Học sinh
4 Học sinh Học sinh Học sinh Học sinh Giáo viên +Học sinh
1.3 Phương pháp vấn đáp
Vấn đáp là phương pháp DHTC mà trong đó giáo viên đặt ra câu hỏi để học sinh trả lời, hoặc học sinh có thể tranh luận với nhau và với cả giáo viên; qua đó học sinh lĩnh hội được nội dung bài học Căn cứ vào tính chất hoạt động nhận thức, người ta phân biệt các loại phương pháp vấn đáp:
- Vấn đáp tái hiện: giáo viên đặt câu hỏi chỉ yêu cầu học sinh nhớ lại kiến thức đã biết và trả lời dựa vào trí nhớ, không cần suy luận Đây là biện pháp được dùng khi cần đặt mối liên hệ giữa các kiến thức vừa mới học
- Vấn đáp giải thích – minh hoạ : Nhằm mục đích làm sáng tỏ một đề tài nào đó, giáo viên lần lượt nêu ra những câu hỏi kèm theo những ví dụ minh hoạ
để học sinh dễ hiểu, dễ nhớ Phương pháp này đặc biệt có hiệu quả khi có sự hỗ trợ của các phương tiện nghe – nhìn
Trang 11- Vấn đáp tìm tòi: giáo viên dùng một hệ thống câu hỏi được sắp xếp hợp
lý để hướng học sinh từng bước phát hiện ra bản chất của sự vật, tính quy luật của hiện tượng đang tìm hiểu, kích thích sự ham muốn hiểu biết Giáo viên tổ chức sự trao đổi ý kiến – kể cả tranh luận – giữa thầy với cả lớp, có khi giữa trò với trò, nhằm giải quyết một vấn đề xác định
2 Hệ thống kiến thức bằng sơ đồ tư duy
Sơ đồ tư duy có thể hiểu là một phương pháp ghi chép tận dụng tối đa khảnăng ghi nhớ, sự nhạy cảm của bộ não đối với hình ảnh, màu sắc sự giúp conngười có thể nắm bắt được các vấn đề, nội dung và liên kết những đối tượng đơn
lẻ lại với nhau Sơ đồ tư duy trình bày các ý tưởng, nội dung bằng hình ảnh, giúp
bộ não nhìn nhận và ghi nhớ dễ dàng hơn
- Chúng ta chỉ nhìn thấy vật khi có ánh sáng từ vật đó truyền vào mắt ta
- Nguồn sáng là vật tự phát ra ánh sáng Vật sáng bao gồm nguồn sáng vàvật hắt lại ánh sáng chiếu vào nó
* Sự truyền ánh sáng
Trang 12- Định luật truyền thẳng ánh sáng: Trong môi trường trong suốt và đồng tính, ánh sáng truyền đi theo đường thẳng.
- Đường truyền của ánh sáng được biểu diễn bằng một đường thẳng có mũi tên chỉ hướng gọi là tia sáng
- Chùm sáng song song là chùm sáng gồm các tia sáng không giao nhau trên đường truyền của chúng
- Chùm sáng hội tụ là chùm sáng gồm các tia sáng giao nhau trên đường truyền của chúng
- Chùm sáng phân kì là chùm sáng gồm các tia sáng loe rộng ra trên đường truyền của chúng
* Định luật truyền thẳng của ánh sáng
- Bóng tối nằm phía sau vật cản, không nhận được ánh sáng từ nguồn sángtruyền tới
- Bóng nửa tối nằm phía sau vật cản, không nhận được ánh sáng từ một phần của nguồn sáng
Trang 13
* Ảnh của một vật tạo bởi gương phẳng
- Ảnh ảo tạo bởi gương phẳng không hứng được trên màn và có độ lớn bằng vật
- Điểm sáng và ảnh của nó tạo bởi gương phẳng cách gương một khoảng bằng nhau
- Các tia sáng từ điểm sáng S cho tia phản xạ có đường kéo dài đi qua ảnh
ảo S’
* Gương cầu lồi
- Ánh sáng đến gương cầu lồi phản xạ tuân theo định luật phản xạ ánh sáng
- Ảnh tạo bởi gương cầu lồi nhỏ hơn vật
- Vùng nhìn thấy của gương cầu lồi rộng hơn vùng nhìn thấy của gương phẳng
* Gương cầu lõm
- Ảnh ảo tạo bởi gương cầu lõm lớn hơn vật
- Gương cầu lõm có tác dụng biến đổi một chùm tia tới song song thành chùm tia hội tụ vào một điểm ở trước gương và ngược lại có thể biến đổi một chùm tia tới phân kì thành chùm tia phản xạ song song
Trang 142.2 Chương II Âm học
CHƯƠNG II: ÂM HỌC
* Nguồn âm
- Các vật phát ra âm gọi là nguồn âm
- Các nguồn âm đều dao động
* Độ cao của âm
- Tần số là số dao động trong một giây Đơn vị của tần số là 1/s gọi là Héc(Hz)
Tần số dao động (Hz) = Số dao động / thời gian (s)
- Âm phát ra càng cao (bổng) khi tần số dao động càng lớn
- Âm phát ra càng thấp (trầm) khi tần số dao động càng nhỏ
* Độ to của âm
- Biên độ dao động là độ lệch lớn nhất của thước so với vị trí cân bằng ban đầu
- Biên độ dao động càng lớn âm phát ra càng to
- Độ to của âm được đo bằng đơn vị Đêxiben (dB)
* Môi trường truyền âm
- Chất rắn, chất lỏng và chất khí là các môi trường có thể truyền âm
Trang 15- Nói chung vận tốc truyền âm trong chất rắn lớn hơn chất lỏng, trong chấtlỏng lớn hơn trong chất khí
* Phản xạ âm – tiếng vang
- Âm truyền gặp màn chắn đều bị phản xạ nhiều hay ít Tiếng vang là âm phản xạ được nghe cách âm trực tiếp ít nhất 1/15 giây
- Các vật mềm, có bề mặt gồ ghề phản xạ âm kém Các vật cứng, có bề mặt nhẵn bóng, phản xạ âm tốt (hấp thụ âm kém)
- Giả sử: Gọi s là quãng đường truyền âm, t là thời gian truyền âm, v là vận tốc truyền âm, ta có: v = s/t (m/s)
2.3 Chương III Điện học
CHƯƠNG 3: ĐIỆN HỌC
* Sự nhiễm điện do cọ xát
- Có thể làm nhiễm điện nhiều vật bằng cách cọ xát
- Vật bị nhiễm điện (mang điện tích) có khả năng hút các vật khác hay làm sáng bóng đèn bút thử điện
* Hai loại điện tích
- Có hai loại điện tích: điện tích dương và điện tích âm Các vật nhiễm điện cùng loại thì đẩy nhau, khác loại thì hút nhau