Tự chủ, tự chịu trách nhiệm về quản lý sử dụng kinh phí tại Sở Tài chính tỉnh Bắc KạnTự chủ, tự chịu trách nhiệm về quản lý sử dụng kinh phí tại Sở Tài chính tỉnh Bắc KạnTự chủ, tự chịu trách nhiệm về quản lý sử dụng kinh phí tại Sở Tài chính tỉnh Bắc KạnTự chủ, tự chịu trách nhiệm về quản lý sử dụng kinh phí tại Sở Tài chính tỉnh Bắc KạnTự chủ, tự chịu trách nhiệm về quản lý sử dụng kinh phí tại Sở Tài chính tỉnh Bắc KạnTự chủ, tự chịu trách nhiệm về quản lý sử dụng kinh phí tại Sở Tài chính tỉnh Bắc KạnTự chủ, tự chịu trách nhiệm về quản lý sử dụng kinh phí tại Sở Tài chính tỉnh Bắc KạnTự chủ, tự chịu trách nhiệm về quản lý sử dụng kinh phí tại Sở Tài chính tỉnh Bắc KạnTự chủ, tự chịu trách nhiệm về quản lý sử dụng kinh phí tại Sở Tài chính tỉnh Bắc KạnTự chủ, tự chịu trách nhiệm về quản lý sử dụng kinh phí tại Sở Tài chính tỉnh Bắc KạnTự chủ, tự chịu trách nhiệm về quản lý sử dụng kinh phí tại Sở Tài chính tỉnh Bắc KạnTự chủ, tự chịu trách nhiệm về quản lý sử dụng kinh phí tại Sở Tài chính tỉnh Bắc KạnTự chủ, tự chịu trách nhiệm về quản lý sử dụng kinh phí tại Sở Tài chính tỉnh Bắc KạnTự chủ, tự chịu trách nhiệm về quản lý sử dụng kinh phí tại Sở Tài chính tỉnh Bắc KạnTự chủ, tự chịu trách nhiệm về quản lý sử dụng kinh phí tại Sở Tài chính tỉnh Bắc KạnTự chủ, tự chịu trách nhiệm về quản lý sử dụng kinh phí tại Sở Tài chính tỉnh Bắc Kạn
Trang 1NGUYỄN THỊ THANH HUYỀN
Trang 2NGUYỄN THỊ THANH HUYỀN
LUẬN VĂN THẠC SĨ THEO ĐỊNH HƯỚNG ỨNG DỤNG
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS TRẦN NHUẬN KIÊN
THÁI NGUYÊN - 2019
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, và có kế thừa các công trình nghiên cứu trước đó có liên quan đến đề tài
Các số liệu, kết quả nghiên cứu trong luận luận văn “Tự chủ, tự chịu
trách nhiệm về quản lý sử dụng kinh phí tại Sở tài chính tỉnh Bắc Kạn” là
trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Thái Nguyên, tháng năm 2019
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Thanh Huyền
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình thực hiện đề tài: “Tự chủ, tự chịu trách nhiệm về quản
lý sử dụng kinh phí tại Sở tài chính tỉnh Bắc Kạn”, tôi đã nhận được sự
hướng dẫn, giúp đỡ, động viên của các cá nhân và tập thể Tôi xin được bày tỏ sự cảm ơn sâu sắc nhất tới tất cả các cá nhân và tập thể đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu
Tôi xin trân trọng cảm ơn Ban Giám hiệu Nhà trường, Phòng Đào tạo -
Bộ phận Sau Đại học, các khoa và các phòng của Trường Đại học Kinh tế và Quản trị Kinh doanh - Đại học Thái Nguyên đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi về mọi mặt trong quá trình học tập và hoàn thành luận văn này
Tôi xin trân trọng cảm ơn sự giúp đỡ tận tình của giáo viên hướng dẫn
PGS.TS Trần Nhuận Kiên
Tôi xin cảm ơn sự giúp đỡ, đóng góp nhiều ý kiến quý báu của các nhà khoa học, các thầy các cô giáo trong Trường Đại học Kinh tế và Quản trị Kinh doanh - Đại học Thái Nguyên
Tôi xin cảm ơn sự động viên, giúp đỡ của bạn bè và gia đình đã giúp tôi thực hiện luận văn này
Tôi xin bày tỏ sự cảm ơn sâu sắc đối với mọi sự giúp đỡ quý báu đó
Thái Nguyên, tháng năm 2019
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Thanh Huyền
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC BẢNG, BIỂU vii
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT viii
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
4 Những đóng góp của luận văn 3
5 Kết cấu của luận văn 4
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ TỰ CHỦ, TỰ CHỊU TRÁCH NHIỆM VỀ QUẢN LÝ SỬ DỤNG KINH PHÍ CỦA CƠ QUAN HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC 5
1.1 Cơ sở lý luận về cơ quan hành chính nhà nước 5
1.1.1 Khái niệm cơ quan hành chính nhà nước 5
1.1.2 Đặc điểm hoạt động của cơ quan hành chính nhà nước 6
1.1.3 Phân loại cơ quan hành chính nhà nước 8
1.1.4 Vai trò của cơ quan hành chính nhà nước 11
1.1.5 Hệ thống cơ quan hành chính nhà nước 12
1.2 Cơ sở lý luận về tự chủ, tự chịu trách nhiệm về quản lý sử dụng kinh phí đối với các cơ quan hành chính nhà nước 14
1.2.1 Khái niệm, đặc điểm, vai trò của công tác tự chủ, tự chịu trách nhiệm 14
1.2.2 Nội dung tự chủ, tự chịu trách nhiệm về quản lý sử dụng kinh phí của các cơ quan HCNN 19
Trang 61.2.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến tự chủ, tự chịu trách nhiệm về quản lý
sử dụng kinh phí của các cơ quan hành chính nhà nước 27
1.3 Bài học kinh nghiệm về tự chủ, tự chịu trách nhiệm về quản lý sử dụng kinh phí của các cơ quan hành chính Nhà nước 31
1.3.1 Kinh nghiệm về tự chủ, tự chịu trách nhiệm tại các cơ quan hành chính nhà nước tại Nghệ An 31
1.3.2 Kinh nghiệm về tự chủ, tự chịu trách nhiệm của Sở Tài Nguyên - Môi trường Thái Nguyên 33
1.3.3 Bài học kinh nghiệm về tự chủ, tự chịu trách nhiệm về quản lý sử dụng kinh phí cho Sở Tài chính tỉnh Bắc Kạn 35
Chương 2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 36
2.1 Câu hỏi nghiên cứu 36
2.2 Phương pháp thu thập thông tin 36
2.2.1 Phương pháp thu thập thông tin thứ cấp 36
2.2.2 Phương pháp thu thập thông tin sơ cấp 37
2.3 Phương pháp xử lý thông tin 38
2.4 Phương pháp phân tích thông tin 38
2.5 Hệ thống các chỉ tiêu nghiên cứu 39
2.5.1 Hệ thống chỉ tiêu đánh giá kết quả thực hiện chức năng, nhiệm vụ của cơ quan hành chính nhà nước 39
2.5.2 Hệ thống chỉ tiêu đánh giá kết quả thực hiện tự chủ, tự chịu trách nhiệm về quản lý sử dụng kinh phí nhà nước 40
2.5.3 Hệ thống chỉ tiêu phản ánh đánh giá tình hình tự chủ, tự chịu trách nhiệm tại đơn vị của đối tượng khảo sát 41
Chương 3 THỰC TRẠNG TỰ CHỦ, TỰ CHỊU TRÁCH NHIỆM VỀ QUẢN LÝ SỬ DỤNG KINH PHÍ TẠI SỞ TÀI CHÍNH TỈNH BẮC KẠN 42
3.1 Khái quát về Sở Tài chính tỉnh Bắc Kạn 42
Trang 73.1.1 Giới thiệu chung về Sở Tài chính tỉnh Bắc Kạn 423.1.2 Nhiệm vụ và quyền hạn của Sở Tài chính tỉnh Bắc Kạn 433.1.3 Tổ chức bộ máy của Sở Tài chính tỉnh Bắc Kạn 443.1.4 Khái quát kết quả thực hiện chức năng, nhiệm vụ của Sở Tài chính tỉnh Bắc Kạn 483.2 Thực trạng cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm về quản lý sử dụng kinh phí của Sở Tài chính tỉnh Bắc Kạn 513.2.1 Cơ sở pháp lý về cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm về quản lý sử dụng kinh phí tại Sở Tài chính tỉnh Bắc Kạn 513.2.2 Nội dung tự chủ, tự chịu trách nhiệm về quản lý sử dụng kinh phí tại Sở Tài chính tỉnh Bắc Kạn 533.2.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến tình hình thực hiện cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm về quản lý sử dụng kinh phí tại Sở Tài chính tỉnh Bắc Kạn 793.3 Đánh giá thực trạng thực hiện cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm tại
Sở Tài chính tỉnh Bắc Kạn 843.3.1 Những kết quả đạt được 843.3.2 Những tồn tại, hạn chế và nguyên nhân 86
Chương 4 GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG TỰ CHỦ, TỰ CHỊU TRÁCH NHIỆM VỀ QUẢN LÝ SỬ DỤNG KINH PHÍ TẠI SỞ TÀI CHÍNH TỈNH BẮC KẠN 89
4.1 Định hướng và mục tiêu tăng cường tự chủ, tự chịu trách nhiệm về quản lý sử dụng kinh phí tại Sở Tài chính tỉnh Bắc Kạn 894.1.1 Định hướng tăng cường tự chủ, tự chịu trách nhiệm về quản lý sử dụng kinh phí tại Sở Tài chính tỉnh Bắc Kạn 894.1.2 Mục tiêu tăng cường tự chủ, tự chịu trách nhiệm về quản lý sử dụng kinh phí tại Sở Tài chính tỉnh Bắc Kạn 904.2 Giải pháp tăng cường tự chủ, tự chịu trách nhiệm về quản lý sử dụng kinh phí tại Sở Tài chính tỉnh Bắc Kạn 91
Trang 84.2.1 Nâng cao năng lực, nhận thức cán bộ viên chức, người lao động 91
4.2.2 Hoàn thiện cơ chế quản lý chi tiêu và quy chế chi tiêu nội bộ 94
4.2.3 Tăng cường các biện pháp quản lý tiết kiệm chi và phân phối thu nhập tăng thêm hợp lý 95
4.2.4 Tăng cường kiểm tra, kiểm soát và công khai tài chính nhằm nâng cao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm 98
4.2.5 Tăng cường quản lý tài sản của đơn vị 100
4.3 Một số kiến nghị 102
4.3.1 Kiến nghị với Chính phủ 102
4.3.2 Kiến nghị với Bộ tài chính 103
KẾT LUẬN 104
TÀI LIỆU THAM KHẢO 105
Trang 9DANH MỤC HÌNH, BẢNG Hình:
Hình 3.1 Sơ đồ cơ cấu bộ máy tổ chức Sở Tài chính tỉnh Bắc Kạn 45 Hình 3.2 Kinh phí NSNN cấp cho Sở Tài chính tỉnh Bắc Kạn giai đoạn 2015-
2017 58
Bảng:
Bảng 3.1 Cơ cấu nhân sự tại Sở Tài chính tỉnh Bắc Kạn giai đoạn
2015-2017 54Bảng 3.2 Biên chế công chức, viên chức và lao động hợp đồng tại Sở Tài chính tỉnh Bắc Kạn giai đoạn 2015-2017 55Bảng 3.3 Nội dung các khoản chi thường xuyên theo nhóm chi giai đoạn 2015-2017 68Bảng 3.4 Tỷ trọng các khoản chi thường xuyên tại Sở Tài chính 69Bảng 3.5 Kết quả thu nhập tăng thêm tại Sở Tài chính tỉnh Bắc Kạn 70Bảng 3.6 Hệ số tiền công ngày cho các chức danh thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ 71Bảng 3.7 Kết quả khảo sát về quản lý sử dụng kinh phí 72Bảng 3.8 Kết quả đánh giá mức độ tự chủ, tự chịu trách nhiệm về quản lý
sử dụng kinh phí tại Sở Tài chính tỉnh Bắc Kạn 74Bảng 3.9 Kết quả đánh giá hoạt động kiểm tra, giám sát tự chủ, tự chịu trách nhiệm về quản lý sử dụng kinh phí tại Sở Tài chính tỉnh Bắc Kạn 78Bảng 3.10 Đánh giá các nhân tố ảnh hưởng đến tình hình thực hiện tự chủ, tự chịu trách nhiệm về quản lý sử dụng kinh phí 80
Trang 10DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT CHỮ VIẾT TẮT NGHĨA ĐẦY ĐỦ TIẾNG VIỆT
CNVC Công nhân viên chức GTVT Giao thông vận tải HCNN Hành chính nhà nước HCSN Hành chính sự nghiệp
KHNS Kế hoạch ngân sách NSNN Ngân sách nhà nước TCTC Tự chủ tài chính
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Tài chính là một nguồn lực rất quan trọng để thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế Bởi lẽ, có nguồn lực tài chính, chúng ta mới có cơ sở để phát triển các nguồn lực khác như con người, cơ sở vật chất, nghiên cứu khoa học… Trước yêu cầu của công cuộc đổi mới và hoàn thiện thể chế kinh tế theo tinh thần Nghị quyết Đại hội lần thứ XI của Đảng, Chính phủ đã có quyết định phê duyệt chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2011 - 2020 với bốn nội dung lớn là: một là cải cách thể chế, hai là cải cách bộ máy, ba là đổi mới và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ công chức
và bốn là cải cách tài chính công Trong đó, cải cách cơ chế quản lý tài chính đối với cơ quan hành chính và đơn vị sự nghiệp là bước đột phá nhằm đáp ứng yêu cầu của công cuộc đổi mới
Đẩy mạnh tự chủ, tự chịu trách nhiệm về quản lý sử dụng kinh phí của
cơ quan hành chính đòi hỏi các đơn vị phải thay đổi lối tư duy và cách xử sự của mình, theo hướng trở nên năng động hơn, hoạt động theo tinh thần doanh nghiệp Các đơn vị phải tính toán hiệu quả và được hưởng thành quả tùy theo hiệu quả của mình Đơn vị phải thực hiện tự đánh giá và tự giám sát việc thực hiện các quy định theo đúng quy định của pháp luật về quản lý tài chính và lĩnh vực khác được trao quyền tự chủ, sẵn sàng giải trình và công khai hóa các hoạt động của đơn vị mình đồng thời phải chịu trách nhiệm về kết quả hoạt động của mình
Theo văn bản hợp nhất hai nghị định số 130/2005/NĐ-CP ngày 17 tháng 10 năm 2005 của Chính phủ quy định chế độ tự chủ, tự chịu trách nhiệm về sử dụng biên chế và kinh phí quản lý hành chính đối với các cơ quan nhà nước có hiệu lực kể từ ngày 08 tháng 11 năm 2005 và Nghị định số 117/2013/NĐ-CP ngày 07 tháng 10 năm 2013 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung
Trang 12một số điều của Nghị định số 130/2005/NĐ-CP ngày 17 tháng 10 năm 2005 của Chính phủ quy định chế độ tự chủ, tự chịu trách nhiệm về sử dụng biên chế và kinh phí quản lý hành chính đối với các cơ quan nhà nước có hiệu lực
kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2014 thì việc thực hiện chế độ tự chủ, tự chịu trách nhiệm về sử dụng biên chế và kinh phí quản lý hành chính là tạo điều kiện cho các cơ quan chủ động trong việc sử dụng biên chế và kinh phí quản
lý hành chính một cách hợp lý nhất để hoàn thành tốt chức năng, nhiệm vụ được giao Cơ quan HCNN thúc đẩy việc sắp xếp, tổ chức bộ máy tinh gọn, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí trong việc sử dụng lao động, kinh phí quản lý hành chính, thực hiện quyền tự chủ đồng thời gắn với trách nhiệm của Thủ trưởng đơn vị và cán bộ, công chức trong việc thực hiện nhiệm vụ được giao theo quy định của pháp luật
Tự chủ, tự chịu trách nhiệm trong các cơ quan, đơn vị, tổ chức thuộc bộ máy quản lý nhà nước là quyền và nghĩa vụ hiện nay Trong thời gian qua, thực hiện các quy định của nhà nước về quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm, Sở Tài chính tỉnh Bắc Kạn đã triển khai thực hiện và đạt được những kết quả nhất định, đáp ứng được các yêu cầu trong điều kiện mới Tuy nhiên, việc tự chủ, tự chịu trách nhiệm về quản lý sử dụng kinh phí trong thời gian qua vẫn bộc lộ những khó khăn, hạn chế, bất cập Nhằm đánh giá những kết quả đạt được và những hạn chế trong thực hiện cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm của
Sở Tài Chính tỉnh Bắc Kạn, để tìm ra những giải pháp góp phần hoàn thiện hiệu quả thực hiện cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm tại Sở Tài Chính tỉnh
Bắc Kạn tác giả đã lựa chọn đề tài nghiên cứu “Tự chủ, tự chịu trách nhiệm
về quản lý sử dụng kinh phí tại Sở Tài chính tỉnh Bắc Kạn”
2 Mục tiêu nghiên cứu
2.1 Mục tiêu chung
Nghiên cứu, phân tích, đánh giá thực trạng tự chủ, tự chịu trách nhiệm
về quản lý sử dụng kinh phí tại Sở Tài chính tỉnh Bắc Kạn từ đó đề xuất giải
Trang 13pháp hoàn thiện công tác tự chủ, tự chịu trách nhiệm về quản lý sử dụng kinh phí tại đơn vị trong giai đoạn 2020-2025
2.2 Mục tiêu cụ thể
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận về công tác tự chủ, tự chịu trách nhiệm về quản lý sử dụng kinh phí của cơ quan hành chính nhà nước
- Đánh giá thực trạng thực hiện tự chủ, tự chịu trách nhiệm về quản lý
sử dụng kinh phí về biên chế, chi tiêu tài chính, kiểm tra giám sát tại Sở Tài chính tỉnh Bắc Kạn
- Đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác tự chủ, tự chịu trách nhiệm về quản lý sử dụng kinh phí tại Sở Tài chính tỉnh Bắc Kạn
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là công tác tự chủ, tự chịu trách nhiệm
về quản lý sử dụng kinh phí tại Sở Tài chính tỉnh Bắc Kạn
3.2 Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi về nội dung: đề tài tập trung nghiên cứu những vấn đề thuộc công tác tự chủ, tự chịu trách nhiệm về quản lý sử dụng kinh phí tại Sở Tài chính tỉnh Bắc Kạn bao gồm: tự chủ, tự chịu trách nhiệm về sử dụng biên chế;
về nguồn thu; về chi tiêu tài chính và công tác kiểm tra, giám sát tự chủ, tự chịu trách nhiệm về quản lý sử dụng kinh phí
- Phạm vi về không gian: đề tài nghiên cứu trong phạm vi Sở Tài chính tỉnh Bắc Kạn
- Phạm vi về thời gian: đề tài thu thập và sử dụng số liệu thứ cấp trong giai đoạn 2015-2017; giải pháp đến năm 2025; số liệu sơ cấp thu thập trong thời gian từ tháng 6 đến tháng 8 năm 2018
4 Những đóng góp của luận văn
Trên cơ sở phân tích, đánh giá thực trạng công tác thực hiện cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm về quản lý sử dụng kinh phí đối với cơ quan hành
Trang 14chính nhà nước nói chung, Sở Tài Chính tỉnh Bắc Kạn nói riêng luận văn đưa
ra một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác tự chủ, tự chịu trách nhiệm về quản lý sử dụng kinh phí tại Sở Tài Chính tỉnh Bắc Kạn
Đề tài là cơ sở lý luận và thực tiễn giúp nâng cao công tác tự chủ, tự chịu trách nhiệm về quản lý sử dụng kinh phí tại một sở tài chính cấp tỉnh, vì vậy, nó có ý nghĩa khoa học và thực tiễn cho sự phát triển của một cơ quan quản lý hành chính nhà nước Bên cạnh đó, kết quả của đề tài có thể vận dụng trên cơ sở có sự điều chỉnh phù hợp cho các đơn vị có sự tương đồng Từ đó, kết quả nghiên cứu có thể làm tài liệu tham khảo cho các nghiên cứu sau này
về tài chính và quản lý kinh tế
5 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, luận văn gồm các chương sau:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về tự chủ, tự chịu trách nhiệm về quản lý sử dụng kinh phí của cơ quan hành chính nhà nước
Chương 2: Phương pháp nghiên cứu
Chương 3: Thực trạng tự chủ, tự chịu trách nhiệm về quản lý sử dụng kinh phí tại Sở Tài Chính tỉnh Bắc Kạn
Chương 4: Giải pháp hoàn thiện tự chủ, tự chịu trách nhiệm về quản lý
sử dụng kinh phí tại Sở Tài Chính tỉnh Bắc Kạn
Trang 15Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ TỰ CHỦ, TỰ CHỊU TRÁCH
NHIỆM VỀ QUẢN LÝ SỬ DỤNG KINH PHÍ CỦA CƠ QUAN HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC 1.1 Cơ sở lý luận về cơ quan hành chính nhà nước
1.1.1 Khái niệm cơ quan hành chính nhà nước
Trong nền kinh tế, để có thể quản lý hành chính nhà nước cần có các tổ chức tiến hành các hoạt động đó, các tổ chức này được gọi là cơ quan hành chính nhà nước Cơ quan hành chính nhà nước (HCNN) là một bộ phận hợp thành của bộ máy nhà nước, được thành lập để thực hiện chức năng quản lý hành chính nhà nước Để hiểu được khái niệm cơ quan hành chính nhà nước, cần tìm hiểu khái niệm cơ quan nhà nước
Theo Vũ Văn Nhiêm (2013): Cơ quan nhà nước là một tổ chức được thành lập và hoạt động theo những nguyên tắc và trình tự nhất định, có cơ cấu
tổ chức nhất định và được giao những quyền lực nhà nước nhất định, được quy định trong các văn bản pháp luật để thực hiện một phần nhiệm vụ, quyền hạn của nhà nước
Các cơ quan nhà nước có mối quan hệ mật thiết với nhau, tạo thành một thể thống nhất đó chính là bô máy nhà nước Nếu căn cứ vào trật tự hình thành cũng như tính chất, vị trí, chức năng của các cơ quan nhà nước thì bộ máy nhà nước Việt Nam hiện nay gồm có bốn hệ thống cơ quan, đó là hệ thống các cơ quan quyền lực nhà nước; hệ thống các cơ quan hành chính nhà nước; hệ thống các cơ quan xét xử và hệ thống các cơ quan kiểm soát
Trong đó, các cơ quan hành chính nhà nước bao gồm: Chính phủ, các
bộ, các ủy ban nhà nước, các cơ quan khác thuộc Chính phủ, ủy ban nhân dân các cấp và các sở, phòng ban thuộc ủy ban nhân dân
Theo Trần Minh Hương (2008): Cơ quan hành chính nhà nước là bộ phận cấu thành của bộ máy nhà nước, trực thuộc trực tiếp hoặc gián tiếp cơ
Trang 16quan quyền lực nhà nước cùng cấp, có phương diện hoạt động chủ yếu là hoạt động chấp hành - điều hành, có cơ cấu tổ chức và phạm vi thẩm quyền
do pháp luật quy định
1.1.2 Đặc điểm hoạt động của cơ quan hành chính nhà nước
Cơ quan hành chính nhà nước là một loại cơ quan nhà nước, là một bộ phận cấu thành bộ máy nhà nước Theo Trần Minh Hương (2008), cơ quan hành chính nhà nước cũng mang đầy đủ các đặc điểm chung của các cơ quan nhà nước:
- Cơ quan HCNN được sử dụng quyền lực nhà nước, có quyền nhân danh nhà nước khi tham gia vào các quan hệ pháp luật nhằm thực hiện các quyền và nghĩa vụ pháp lý với mục đích hướng tới lợi ích công Biểu hiện của quyền lực nhà nước đó là: cơ quan HCNN có quyền ban hành các văn bản pháp luật và có thể được áp dụng những biện pháp cưỡng chế nhà nước nhất định
- Hệ thống các cơ quan HCNN có cơ cấu tổ chức phù hợp với chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn do pháp luật quy định Cơ cấu tổ chức của cơ quan HCNN được quy định cụ thể trong các văn bản pháp luật như Luật tổ chức Chính phủ năm 2001, Luật tổ chức hội đồng nhân dân và ủy ban nhân dân năm 2003…
- Các cơ quan HCNN được thành lập và hoạt động dựa trên những quy định của pháp luật, có chức năng, nhiệm vụ thẩm quyền riêng và có những mối quan hệ phối hợp trong thực thi công việc được giao Đây là một điều kiện quan trọng đảm bảo cho các cơ quan HCNN thực hiện tốt nhiệm vụ quản
lý HCNN của mình, tránh sự chồng chéo, trùng lặp trong quá trình thực thi hoạt động quản lý nhà nước
- Nguồn nhân sự chính trong cơ quan HCNN là đội ngũ cán bộ, công chức được hình thành từ tuyển dụng, bổ nhiệm hoặc bầu cử theo quy định của Pháp lệnh cán bộ, công chức
Trang 17Ngoài những đặc điểm chung nói trên, theo Phan Trung Hiền (2009) cơ quan HCNN còn có những đặc điểm riêng sau:
- Cơ quan HCNN là cơ quan có chức năng quản lý HCNN Để thực hiện chức năng này, các cơ quan HCNN thực hiện hoạt động chấp hành - điều hành (những hoạt động được tiến hành trên cơ sở luật và để thi hành luật) Chỉ
có cơ quan HCNN mới thực hiện hoạt động quản lý HCNN trên tất cả các lĩnh vực như kinh tế, văn hóa, xã hội… Và việc thực hiện hoạt động đó là nhằm hoàn thành chức năng quản lý HCNN
- Hệ thống các cơ quan HCNN được thành lập từ trung ương đến cơ sở, đứng đầu là Chính phủ, tạo thành một chỉnh thể thống nhất, được tổ chức theo
hệ thống thứ bậc, có mối quan hệ mật thiết phụ thuộc nhau về tổ chức và hoạt động nhằm thực thi quyền quản lý HCNN
- Thẩm quyền của các cơ quan HCNN được pháp luật quy định trên cơ
sở lãnh thổ, ngành hoặc lĩnh vực chuyên môn mang tính tổng hợp Đó là những quyền và nghĩa vụ pháp lý chỉ giới hạn trong phạm vi hoạt động chấp hành - điều hành Và để thực hiện chức năng quản lý HCNN được hiệu quả thì cẩn phải phân định thẩm quyền rõ ràng, tránh sự chồng chéo giữa các cơ quan do đó pháp luật phải quy định cụ thể thẩm quyền của từng cơ quan trong
hệ thống các cơ quan HCNN
- Các cơ quan hành chính đều trực tiếp hay gián tiếp trực thuộc cơ quan quyền lực nhà nước cùng cấp, chịu sự giám sát và báo cáo công tác trước cơ quan quyền lực nhà nước Trước hết, các cơ quan HCNN đều trực tiếp hay gián tiếp do cơ quan quyền lực lập ra Sở dĩ cơ quan HCNN chịu
sự lệ thuộc vào cơ quan quyền lực nhà nước cùng cấp là do cơ quan HCNN
là cơ quan chấp hành của cơ quan quyền lực Với chức năng quản lý HCNN, bảo đảm thực hiện trên thực tế các văn bản của cơ quan quyền lực nhà nước, do đó có sự lệ thuộc vào cơ quan quyền lực Trong khi Tòa án hay Viện kiểm sát với chức năng xét xử, kiểm soát việc tuân theo pháp luật
Trang 18nên phải ít lệ thuộc vào cơ quan quyền lực để đảm bảo sự khách quan, trung thực, rõ ràng trong hoạt động
- Các cơ quan HCNN có hệ thống đơn vị cơ sở trực thuộc Các đơn vị
cơ sở của bộ máy HCNN là nơi trực tiếp tạo ra của cải vật chất và tinh thần cho xã hội Hầu hết các cơ quan có chức năng quản lý HCNN đều có các đơn
vị cơ sở trực thuộc Hệ thống đơn vị cơ sở trực thuộc có vai trò quan trọng trong việc đảm bảo hiệu quả hoạt động quản lý HCNN cũng như đáp ứng các dịch vụ xã hội, đảm bảo công bằng, vì lợi ích chung của xã hội
1.1.3 Phân loại cơ quan hành chính nhà nước
Các cơ quan hành chính nhà nước không chỉ đông đảo về số lượng, mà còn đa dạng về loại hình, lĩnh vực hoạt động Do vậy, việc phân loại cơ quan hành chính nhà nước rất phức tạp tùy theo tiêu chí phân loại Theo Dương Đăng Chinh và Phạm Văn Khoan (2009) có 4 cách để phân loại các cơ quan hành chính nhà nước như sau:
1.1.3.1 Theo căn cứ pháp lý để thành lập
Theo căn cứ này, cơ quan HCNN được phân thành hai loại:
- Các cơ quan hiến định:
+ Do Hiến pháp quy định việc thành lập
+ Được thành lập trên cơ sở các đạo luật và văn bản dưới luật
Ðây là các cơ quan hành chính nhà nước mà việc tổ chức, hoạt động của cơ quan này do hiến pháp quy định bao gồm các cơ quan: Chính phủ, các
Bộ, các cơ quan ngang Bộ, UBND các cấp Ðây là những cơ quan hành chính nhà nước quan trọng nhất, có vị trí ổn định, tồn tại lâu dài
- Các cơ quan luật định:
+ Ðây là các cơ quan hành chính nhà nước có thẩm quyền chuyên môn
kể cả ở trung ương và địa phương Bao gồm các tổng cục, các cục, sở, phòng, ban các cơ quan này là cơ quan chuyên môn của cơ quan nhà nước có thẩm quyền chung
Trang 19+ Ðược thành lập trên cơ sở Hiến pháp, nhưng có tính năng động hơn, phù hợp với những thay đổi của hoạt động quản lý nhà nước
1.1.3.2 Căn cứ vào phạm vi lãnh thổ hoạt động
Cơ quan hành chính nhà nước được phân làm cơ quan hành chính nhà nước ở trung ương và cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương
- Cơ quan HCNN ở trung ương: bao gồm Chính phủ, các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ Các cơ quan này hoạt động trên phạm vi toàn quốc, văn bản pháp luật do các cơ quan này ban hành có hiệu lực trên phạm vi cả nước và có tính bắt buộc thi hành đối với mọi cơ quan hành chính nhà nước cấp dưới, với các tổ chức xã hội và mọi công dân
- Cơ quan HCNN ở địa phương: bao gồm UBND các cấp (tỉnh, huyện, xã), các sở, phòng, ban Ðây là các cơ quan hành chính nhà nước được thành lập và hoạt động trên một phạm vi lãnh thổ nhất định, các văn bản pháp luật do các cơ quan này ban hành có hiệu lực trong một phạm vi lãnh thổ nhất định
Tuy có sự phân chia thành cơ quan HCNN ở trung ương và cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương nhưng các cơ quan HCNN này luôn tạo thành một thể thống nhất, quan hệ chặt chẽ với nhau trên nguyên tắc tập trung dân chủ
1.1.3.3 Căn cứ vào tính chất và phạm vi thẩm quyền
Căn cứ vào phạm vi thẩm quyền thì cơ quan HCNN được phân chia thành:
- Cơ quan HCNN có thẩm quyền chung: là cơ quan hành chính nhà nước
có thẩm quyền giải quyết mọi vấn đề trong các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội, đối với các đối tượng khác nhau như cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội, công dân Các cơ quan loại này gồm có Chính phủ và UBND các cấp
- Cơ quan HCNN có thẩm quyền chuyên môn: là các cơ quan quản lý theo ngành hay theo chức năng, hoạt động trong một ngành hay một lĩnh vực
Trang 20nhất định và là cơ quan giúp việc cho cơ quan hành chính nhà nước có thẩm quyền chung
+ Ở trung ương có các cơ quan sau: các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ;
+ Ở địa phương có các cơ quan: các Cục, Sở, Phòng, Ban
- Các cơ quan HCNN có thẩm quyền chuyên môn được chia làm hai loại: + Cơ quan HCNN có thẩm quyền chuyên môn chuyên ngành: thẩm quyền của các cơ quan này được giới hạn trong một ngành hay một vài ngành
có liên quan
+ Cơ quan HCNN có thẩm quyền chuyên môn tổng hợp: Là các cơ quan nhà nước có chức năng quản lý chuyên môn tổng hợp
1.1.3.4 Căn cứ vào cách thức tổ chức và giải quyết công việc
Nếu căn cứ vào nguyên tắc tổ chức và giải quyết công việc thì cơ quan hành chính nhà nước chia thành hai loại sau: (Ðiều 112, 114, 115 và 124 Hiến pháp 1992)
- Các cơ quan tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc tập thể lãnh đạo: Các cơ quan này thường giải quyết những công việc và quy định những vấn
đề quan trọng có liên quan đến nhiều lĩnh vực nên cần có sự bàn bạc, đóng góp của nhiều thành viên Ðây là các cơ quan hành chính nhà nước có thẩm quyền chung bao gồm Chính phủ và UBND các cấp
Trên cơ sở Hiến định (Ðiều 115 và 124 Hiến pháp 1992), những vấn đề quan trọng thuộc thẩm quyền của Chính phủ, hoặc UBND phải được thảo luận tập thể và quyết định theo đa số Như vậy, người đứng đầu các cơ quan này (TTCP, Chủ tịch UBND) có thẩm quyền giải quyết một số vấn đề thuộc thẩm quyền của Chính phủ hoặc UBND tương ứng
- Các cơ quan tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc lãnh đạo một người: là các cơ quan tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc chế độ thủ trưởng một người, đứng đầu mỗi cơ quan đó là thủ trưởng cơ quan như bộ trưởng,
Trang 21giám đốc các sở, phòng, ban Họ là những người thay mặt cơ quan ra những quyết định nhằm thực hiện những nhiệm vụ, công việc và chịu trách nhiệm trước pháp luật
1.1.4 Vai trò của cơ quan hành chính nhà nước
Các cơ quan hành chính nhà nước có vai trò quan trọng đối với sự tồn tại
và phát triển của mỗi quốc gia, của Nhà nước Vai trò được thể hiện như sau:
Thứ nhất, các cơ quan hành chính nhà nước thực hiện hóa các mục tiêu,
ý tưởng của các nhà chính trị - những người đại diện của nhân dân Vai trò này xuất phát từ chức năng chấp hành của cơ quan hành chính nhà nước Chủ thể là các cơ quan hành chính nhà nước có trách nhiệm chấp hành quyết định của các cơ quan chính trị nhằm đạt được các mục tiêu chính trị của quốc gia, phục vụ lợi ích của đất nước, của nhân dân
Thứ hai, các cơ quan hành chính nhà nước điều hành các hoạt động kinh tế - xã hội nhằm đạt mục tiêu tới mức tối đa và với hiệu quả cao nhất Vai trò này xuất phát từ chức năng cụ thể của điều hành hành chính nhà nước là: định hướng (thông qua quy hoạch, kế hoạch), điều chỉnh các quan hệ xã hội (thông qua ban hành văn bản lập quy); hướng dẫn và tổ chức thực hiện Hiến pháp, luật, chính sách ; kiểm tra, thanh tra và xử lý những vi phạm pháp luật
Thứ ba, các cơ quan hành chính nhà nước duy trì và thúc đẩy xã hội phát triển theo định hướng Để thực hiện tốt hai vai trò trên, cơ quan hành chính luôn có trách nhiệm duy trì và tạo lập những điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của các yếu tố cấu thành xã hội: duy trì và phát triển các nguồn tài nguyên, kiến tạo các nguồn lực vật chất , sử dụng có hiệu quả các nguồn lực tài chính, phát triển nguồn lực con người, khắc phục những thất bại của thị trường hoặc hậu quả do những sai sót của hành chính nhà nước gây ra
Thứ tư, các cơ quan hành chính nhà nước đảm bảo cung cấp dịch vụ công cho xã hội Cùng với sự phát triển của xã hội và quá trình dân chủ hóa
Trang 22đời sống xã hội thì vai trò này càng quan trọng và mở rộng Vì suy cho cùng,
cơ quan hành chính nhà nước được thiết lập nhằm để phục vụ lợi ích của nhân dân với tư cách là chủ thể của xã hội, là chủ thể của quyền lực nhà nước
1.1.5 Hệ thống cơ quan hành chính nhà nước
Sự hình thành và phát triển của các cơ quan hành chính nhà nước phụ thuộc vào nhiều yếu tố Trong đó, quan trọng nhất là đặc điểm tổ chức quyền lực nhà nước, đặc điểm phát triển kinh tế xã hội, văn hoá, địa lý, dân cư, khoa học kỹ thuật Hơn nữa, trong từng chế độ, trong mỗi giai đoạn lịch sử, yêu cầu của quản lý nhà nước cũng khác nhau.Các cơ quan hành chính nhà nước có mối quan hệ chặt chẽ, qua lại với nhau tạo thành một hệ thống thống nhất, toàn vẹn Mỗi cơ quan hành chính là một khâu không thể thiếu được trong chuỗi mắc xích của bộ máy
Theo Hiến pháp 1992, hệ thống HCNN gồm có các cơ quan HCNN ở trung ương; các cơ quan HCNN ở địa phương và các đơn vị cơ sở trực thuộc
bộ máy HCNN hợp thành
1.1.5.1 Các cơ quan hành chính nhà nước ở trung ương
- Chính phủ, cơ quan HCNN cao nhất:
Chính phủ là một thiết chế chính trị nắm quyền hành pháp, theo nguyên tắc thống nhất quyền lực nhà nước có sự phân công, phân cấp rành mạch giữa
ba quyền: lập, hành và tư pháp Chính phủ có chức năng cụ thể là:
+ Có quyền lập quỹ để thực hiện các luật do cơ quan lập pháp định ra; + Quản lý công việc hàng ngày của nhà nước;
+ Quyền tổ chức bộ máy hành chính và quản lý bộ máy đó;
+ Trong phạm vi luật định, có quyền tham gia vào các dự luật, hỗ trợ Quốc hội trong hoạt động lập pháp
- Bộ, cơ quan ngang Bộ, các cơ quan khác thuộc Chính phủ:
Bộ, cơ quan ngang Bộ là cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền chuyên môn ở trung ương; là cơ quan chuyên môn được tổ chức theo chế độ
Trang 23thủ trưởng một người, đứng đầu là các Bộ trưởng hay Chủ nhiệm ủy ban Các
cơ quan cấp Bộ thực hiện chức năng quản lý nhà nước theo ngành (quản lý chức năng, quản lý liên ngành) hay đối với lĩnh vực (quản lý tổng hợp) trên phạm vi toàn quốc (Ðiều 2 Luật tổ chức Chính phủ) Cụ thể như sau:
+ Bộ quản lý theo lĩnh vực là cơ quan quản lý nhà nước ở Trung ương của Chính phủ thực hiện chức năng quản lý nhà nước theo từng lĩnh vực lớn,
ví dụ như: kế hoạch, tài chính, khoa học, công nghệ, lao động, giá cả, nội vụ, ngoại giao, tổ chức và công vụ Các lĩnh vực này liên quan đến hoạt động tất
cả các Bộ, các cấp quản lý nhà nước, tổ chức xã hội và công dân
+ Bộ quản lý theo lĩnh vực có những nhiệm vụ: giúp Chính phủ nghiên cứu và xây dựng chiến lược kinh tế-xã hội chung; xây dựng các dự án kế hoạch tổng hợp và cân đối liên ngành; xây dựng các qui định chính sách, chế
độ chung; kiểm tra và bảo đảm sự chấp hành thống nhất pháp luật trong hoạt động của các Bộ và các cấp về lĩnh vực mình quản lý; phục vụ và tạo điều kiện cho các Bộ quản lý ngành hoàn thành nhiệm vụ
+ Bộ quản lý ngành là cơ quan Nhà nước Trung ương của Chính phủ,
có trách nhiệm quản lý những ngành kinh tế - kỹ thuật, văn hoá, xã hội Bộ quản lý ngành có thể tập hợp với nhau thành một hoặc một nhóm liên quan rộng Nó có trách nhiệm chỉ đạo toàn diện các cơ quan, đơn vị hành chính sự nghiệp, kinh doanh do mình quản lý về mặt nhà nước
1.1.5.2 Các cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương
Cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương là những cơ quan hành chính nhà nước thay mặt chính quyền ở địa phương Các cơ quan HCNN ở địa phương được chia thành ba cấp:
- Cơ quan HCNN cấp tỉnh: tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương;
- Cơ quan HCNN cấp huyện: huyện, quận, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh;
- Cơ quan HCNN cấp xã: xã, phường, thị trấn
Trang 241.1.5.3 Các đơn vị cơ sở trực thuộc cơ quan hành chính nhà nước
Ðây không phải là cơ quan hành chính nhà nước nhưng chúng nằm trong hệ thống của các cơ quan hành chính nhà nước Các đơn vị cơ sở trực thuộc cơ quan hành chính nhà nước tổ chức và hoạt động dưới sự quản lý của các cơ quan hành chính nhà nước Bao gồm hai loại:
- Các đơn vị hành chính sự nghiệp: là các trường học, bệnh viện , các đơn vị này có tài sản riêng, có một tập thể cán bộ, công nhân viên chức chuyên môn, kỹ thuật, hoạt động dựa vào ngân sách nhà nước
- Các đơn vị sản xuất kinh doanh: là các xí nghiệp, liên hiệp xí nghiệp, công ty, tổng công ty, lâm trường , là các đơn vị, tổ chức quản lý kinh tế trực tiếp sản xuất ra của cải vật chất cho xã hội, hoạt động theo nguyên tắc hoạch toán kinh tế
1.2 Cơ sở lý luận về tự chủ, tự chịu trách nhiệm về quản lý sử dụng kinh phí đối với các cơ quan hành chính nhà nước
1.2.1 Khái niệm, đặc điểm, vai trò của công tác tự chủ, tự chịu trách nhiệm
1.2.1.1 Khái niệm
Việc phân tích khái niệm tự chủ thường tập trung vào sự tự do hành động Theo Pfeffer và Salancik (1978) thì “tự chủ có thể có nghĩa là tự do hành động nhưng cũng có nghĩa là có năng lực hành động để đạt được kết quả”[19]
Xét trên góc độ quản lý thì tự chủ là mối quan hệ giữa quyền và trách nhiệm của một bên là cấp quản lý và một bên là cấp bị quản lý Trên cơ sở pháp luật, cấp quản lý trao quyền tự chủ cho các chủ thể bị quản lý Khi được trao quyền tự chủ thực sự, được toàn quyền hành động trong khuôn khổ pháp luật, các chủ thể bị quản lý hành động sẽ tăng tính chủ động và năng động đối với những hoạt động của mình, đồng thời cũng chịu trách nhiệm hoàn toàn trước cấp quản lý về những hoạt động đó Trọng tâm của tự chủ bao gồm:
- Tự chủ về quản lý chuyên môn;
- Tự chủ về quản lý nhân sự và bộ máy;
Trang 25- Tự chủ về quản lý tài chính
Như vậy, tự chủ là các chủ thể có quyền “tự quyết” thực sự, được quyền hành động trong khuôn khổ pháp luật, tăng tính chủ động và năng động của chủ thể hành động Trên cơ sở này, Nhà nước trao quyền tự chủ cho các
cơ sở bằng các hình thức của lý thuyết trao quyền và uỷ quyền, có thể thêm hình thức tư nhân hoá nhưng không làm giảm quyền lực thực thụ của Nhà nước trong công tác quản lý
Tự chịu trách nhiệm của một chủ thể là việc chủ thể đó tự đánh giá và
tự giám sát việc thực hiện các quy định của cấp có thẩm quyền, sẵn sàng giải trình và công khai hoá các hoạt động của mình; đồng thời chịu trách nhiệm về kết quả của hoạt động đó
Xét trên góc độ quản lý tài chính, cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm là việc cơ quan quản lý cấp trên (chủ thể quản lý) cho phép đơn vị cấp dưới (chủ thể bị quản lý) được phép chủ động điều hành, tự quyết các hoạt động tài chính trong khuôn khổ pháp luật về quản lý tài chính với mục đích nâng cao hiệu quả hoạt động của đơn vị
Cùng với việc trao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm cho các đơn vị, cơ quan cấp trên cũng yêu cầu đơn vị được trao quyền tự chủ phải tự chịu trách nhiệm về quyền tự quyết của mình Đơn vị phải thực hiện tự đánh giá và tự giám sát việc thực hiện các quy định theo đúng quy định của pháp luật về quản lý tài chính và lĩnh vực khác được trao quyền tự chủ, sẵn sàng giải trình
và công khai hóa các hoạt động của đơn vị mình đồng thời phải chịu trách nhiệm về kết quả hoạt động của mình
Tự chủ, tự chịu trách nhiệm và tự chịu trách nhiệm luôn gắn liền với nhau để nâng cao hiệu quả hoạt động của các đơn vị và đảm bảo hoạt động đó luôn đúng theo quy định của pháp luật
Theo văn bản hợp nhất hai nghị định số 130/2005/NĐ-CP ngày 17 tháng 10 năm 2005 của Chính phủ quy định chế độ tự chủ, tự chịu trách
Trang 26nhiệm về sử dụng biên chế và kinh phí quản lý hành chính đối với các cơ quan nhà nước có hiệu lực kể từ ngày 08 tháng 11 năm 2005 và Nghị định số 117/2013/NĐ-CP ngày 07 tháng 10 năm 2013 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 130/2005/NĐ-CP ngày 17 tháng 10 năm 2005 của Chính phủ quy định chế độ tự chủ, tự chịu trách nhiệm về sử dụng biên chế và kinh phí quản lý hành chính đối với các cơ quan nhà nước có hiệu lực
kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2014 thì việc thực hiện chế độ tự chủ, tự chịu trách nhiệm về sử dụng biên chế và kinh phí quản lý hành chính là tạo điều kiện cho các cơ quan chủ động trong việc sử dụng biên chế và kinh phí quản
lý hành chính một cách hợp lý nhất để hoàn thành tốt chức năng, nhiệm vụ được giao
Như vậy, tự chủ, tự chịu trách nhiệm về quản lý sử dụng kinh phí tại cơ quan hành chính nhà nước có thể được hiểu là các cơ quan hành chính nhà nước chủ động trong việc sử dụng kinh phí và quản lý sử dụng kinh phí quản
lý hành chính một cách tiết kiệm, hiệu quả, công khai, dân chủ và đảm bảo quyền lợi hợp pháp của cán bộ, công chức và người lao động để hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao Cơ quan HCNN thúc đẩy việc sắp xếp, tổ chức bộ máy tinh gọn, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí trong việc sử dụng lao động, kinh phí quản lý hành chính, thực hiện quyền tự chủ đồng thời gắn với trách nhiệm của Thủ trưởng đơn vị và cán bộ, công chức trong việc thực hiện nhiệm vụ được giao theo quy định của pháp luật
1.2.1.2 Đặc điểm cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm
Các cơ quan hành chính nhà nước nói chung và các đơn vị sự nghiệp công hoạt động trong lĩnh vực giáo dục mang những đặc điểm riêng Cụ thể:
- Thứ nhất: Quyền đi đôi với trách nhiệm
Đơn vị sự nghiệp công được Nhà nước giao quyền quyết định các vấn
đề tài chính trong đơn vị, song phải chịu trách nhiệm về các quyết định của mình trước pháp luật, trước Nhà nước và trước yêu cầu của người thụ hưởng
Trang 27các dịch vụ do mình cung cấp Đối với các đơn vị sự nghiệp hoạt động trong lĩnh vực giáo dục có quyền và trách nhiệm tự chủ trong lĩnh vực giáo dục đào tạo và tài chính của bản thân mỗi trường, đồng thời phải chịu trách nhiệm trước các quyết định của mình trước pháp luật
- Thứ hai: Quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm luôn song hành với các quyền tự chủ trong các hoạt động khác của đơn vị
Quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm chỉ có thể triển khai thực hiện khi cơ quan hành chính nhà nước được quyền tự chủ trong các hoạt động sự nghiệp một cách có hiệu quả, đơn vị sự nghiệp công phải có tự chủ về tài chính Như vậy giữa quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm với quyền tự chủ các hoạt động khác trong cơ quan hành chính nhà nước có mối quan hệ hữu cơ gắn bó với nhau, hỗ trợ nhau
Thứ ba: Quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm trong các cơ quan hành chính nhà nước là quyền tự chủ có giới hạn
Các cơ quan hành chính nhà nước là các đơn vị do Nhà nước thành lập
và quản lý, do đó mọi hoạt động trong cơ quan hành chính nhà nước, kể cả hoạt động tài chính đều đặt dưới sự kiểm tra giám sát của Nhà nước, của các
cơ quan quản lý cấp trên, cho dù các hoạt động đó đã được trao quyền tự chủ
và tự chịu trách nhiệm Sự giới hạnh của quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm trong các đơn vị công lập là một yêu cầu tất yếu, nó xuất phát lợi ích chính đáng trong việc hưởng thụ dịch vụ công của xã hội, mà Nhà nước là người bảo hộ Nhà nước ban hành quy chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm trong cơ quan hành chính nhà nước, quy định phạm vi, mức độ tự chủ đối với một số hoạt động tài chính trong đơn vị
1.2.1.3 Vai trò của cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm
Thứ nhất, xác lập và bảo đảm quyền sở hữu của đơn vị sự nghiệp có thu đối với toàn bộ các nguồn lực tài chính do ngân sách nhà nước cấp, nguồn
Trang 28thu sự nghiệp của đơn vị và nguồn thu khác theo quy định của pháp luật như viện trợ, vay nợ, quà biếu, tặng Đây là vấn đề cơ bản, cốt lõi nhất khi đề cập đến quyền tự chủ về tài chính của bất cứ chủ thể nào
Thứ hai, xác lập và đảm bảo quyền chủ động sử dụng các nguồn lực tài chính như được chủ động bố trí kinh phí để thực hiện các hoạt động sự nghiệp, được xây dựng quỹ tiền lương, tiền công; được lập dự toán thu, chi nội bộ; kinh phí hoạt động thường xuyên và các khoản thu sự nghiệp cuối năm chưa chi hết được chuyển sang năm sau để tiếp tục sử dụng; được trích lập và sử dụng các quỹ như quỹ dự phòng ổn định thu nhập, quỹ khen thưởng, quỹ phúc lợi và quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp
Cơ chế TCTC bảo đảm và hỗ trợ thực hiện quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm như: được vay tín dụng ngân hàng hoặc quỹ hỗ trợ phát triển để mở rộng và nâng cao chất lượng hoạt động sự nghiệp, tổ chức sản xuất, cung ứng dịch vụ Đối với tài sản cố định sử dụng vào sản xuất, cung ứng dịch vụ đơn
vị thực hiện trích khấu hao thu hồi vốn theo chế độ áp dụng cho các doanh nghiệp nhà nước, số tiền trích khấu hao tài sản cố định và tiền thu do thanh lý tài sản thuộc ngân sách nhà nước được để lại đầu tư tăng cường cơ sở vật chất đổi mới trang thiết bị của đơn vị Được chủ động sử dụng số biên chế được cấp có thẩm quyền giao, sắp xếp và quản lý lao động phù hợp với chức năng nhiệm vụ của đơn vị và tinh giảm biên chế theo chủ trương của nhà nước; Thủ trưởng đơn vị được quyết định mức chi quản lý hành chính (công tác phí, hội nghị phí, điện thoại, công vụ phí ) chi nghiệp vụ thường xuyên cao hơn hoặc thấp hơn mức chi do nhà nước quy định trong phạm vi nguồn thu được sử dụng; Được quyết định hệ số điều chỉnh tăng mức lương tối thiểu không quá 2,5 lần (đối với sự nghiệp có thu tự đảm bảo chi phí), không quá 2 lần (đối với đơn vị sự nghiệp có thu bảo đảm một phần chi phí) so với mức lương tối thiểu do nhà nước quy định
Trang 291.2.2 Nội dung tự chủ, tự chịu trách nhiệm về quản lý sử dụng kinh phí của các cơ quan HCNN
1.2.2.1 Tự chủ, tự chịu trách nhiệm về sử dụng biên chế
Đối với cơ quan HCNN thủ trưởng đơn vị xây dựng kế hoạch biên chế hàng năm gửi cơ quan chủ quản trực tiếp căn cứ theo chức năng, nhiệm vụ được giao, nhu cầu công việc thực tế Công tác tự chủ về biên chế của các cơ quan HCNN được thể hiện như sau:
- Được quyết định việc sắp xếp, phân công cán bộ, công chức theo vị trí công việc để bảo đảm hiệu quả thực hiện nhiệm vụ của cơ quan
- Được điều động cán bộ, công chức trong nội bộ cơ quan
- Trường hợp sử dụng biên chế thấp hơn so với chỉ tiêu được giao, cơ quan vẫn được bảo đảm kinh phí quản lý hành chính theo chỉ tiêu biên chế được giao
- Được hợp đồng thuê khoán công việc và hợp đồng lao động đối với một số chức danh theo quy định của pháp luật trong phạm vi nguồn kinh phí quản lý hành chính được giao
1.2.2.2 Tự chủ, tự chịu trách nhiệm về nguồn thu
Nguồn tài chính của cơ quan HCNN gồm kinh phí từ các nguồn sau:
- Nguồn do NSNN cấp
- Các khoản phí, lệ phí được để lại theo chế độ quy định
- Các khoản thu hợp pháp khác theo quy định của pháp luật
Cơ quan chịu trách nhiệm lập dự toán hàng năm Đây là quá trình phân tích, đánh giá, tổng hợp, lập dự toán nhằm xác lập các chỉ tiêu thu chi của cơ quan, đơn vị dự kiến có thể đạt được trong năm kế hoạch, đồng thời xác lập các biện pháp chủ yếu về kinh tế - tài chính để đảm bảo thực hiện tốt các chỉ tiêu đã đề ra Việc lập dự toán mang các ý nghĩa:
Trang 30- Thông qua việc lập dự toán để đánh giá khả năng và nhu cầu về tài chính của các cơ quan, đơn vị, từ đó phát huy tính hiệu quả đồng thời hạn chế những trở ngại trong quá trình sử dụng tài chính của các cơ quan, đơn vị
- Theo nguyên tắc quản lý tài chính, chi phải dựa trên thu mà thu và chi trong các cơ quan Nhà nước không phải là đồng nhất với nhau về mặt thời gian,
có những lúc có nhu cầu chi nhưng chưa có thu và ngược lại Do đó, cần có kế hoạch thu và chi để các nhà quản lý có thể chủ động điều hành cơ quan, đơn vị
- Dự toán là cơ sở để cơ quan, đơn vị thực hiện Lập dự toán là hoạt động thiết lập kim chỉ nam cho quá trình thực hiện dự toán Do đó lập dự toán có vai trò quan trọng trong hoạt động tổ chức của một đơn vị, nó là cơ
sở dẫn dắt quá trình thực hiện dự toán của đơn vị sau này Việc lập dự toán cũng là tiêu chí để đánh giá hiệu quả việc thực hiện dự toán trong các cơ quan Nhà nước
Mục tiêu cơ bản của việc lập dự toán trong một cơ quan, đơn vị là nhằm phân tích, đánh giá các khoản thu, chi tài chính trên cơ sở khoa học và thực tiễn, đưa ra các chỉ tiêu thu, chi tài chính sát với thực tế sao cho có hiệu quả nhất Điều đó đòi hỏi việc lập dự toán phải đáp ứng các yêu cầu sau:
- Phải phản ánh đầy đủ chính xác các khoản thu, chi dự kiến theo đúng chế độ, tiêu chuẩn, định mức của nhà nước
- Việc lập dự toán phải theo từng lĩnh vực thu và lĩnh vực chi
- Phải đảm bảo nguyên tắc cân đối, chi phải có nguồn đảm bảo
- Lập dự toán phải đúng theo nội dung, biểu mẫu quy định, đúng thời gian, phải thể hiện đầy đủ các khoản thu chi theo Mục lục NSNN và hướng dẫn của Bộ Tài chính gửi kịp thời cho các cơ quan chức năng của nhà nước xét duyệt
- Dự toán được lập phải kèm theo các báo cáo thuyết minh rõ cơ sở, căn
cứ tính toán
Xác định kinh phí giao để thực hiện chế độ tự chủ, tự chịu trách nhiệm:
Trang 31- Kinh phí quản lý hành chính giao cho các cơ quan thực hiện chế độ tự chủ tự chịu trách nhiệm được xác định và giao hàng năm bao gồm:
+ Khoán quỹ tiền lương theo số biên chế được cấp có thẩm quyền giao trên cơ sở Vị trí việc làm và cơ cấu ngạch công chức; trường hợp cơ quan chưa được phê duyệt vị trí việc làm và cơ cấu ngạch công chức thì thực hiện khoán quỹ tiền lương trên cơ sở biên chế được giao;
+ Khoán chi hoạt động thường xuyên theo số biên chế được cấp có thẩm quyền giao trên cơ sở vị trí việc làm và cơ cấu ngạch công chức và định mức phân bố ngân sách nhà nước hiện hành; trường hợp cơ quan chưa được phê duyệt vị trí việc làm và cơ cấu ngạch công chức thì thực hiện khoán theo
số biên chế được cấp có thẩm quyền giao;
+ Chi mua sắm, sửa chữa thường xuyên (trừ trường hợp mua sắm, sửa chữa theo đề án);
+ Chi hoạt động nghiệp vụ đặc thù thường xuyên đã xác định được khối lượng công việc và theo tiêu chuẩn, chế độ định mức quy định của cơ quan có thẩm quyền
1.2.2.3 Tự chủ, tự chịu trách nhiệm về chi tiêu tài chính
a Sử dụng kinh phí được giao
Kinh phí giao được phân bố vào nhóm chỉ thực hiện chế độ tự chủ, tự chịu trách nhiệm Căn cứ vào tình hình thực hiện nhiệm vụ được giao, Thủ trưởng cơ quan thực hiện chế độ tự chủ tự quyết định bố trí số kinh phí được giao vào các mục chi cho phù hợp; được quyền điều chỉnh giữa các mục chi nếu xét thay cần thiết
Cơ quan thực hiện chế độ tự chủ được vận dụng các chế độ chi tiêu tài chính hiện hành để thực hiện, nhưng không được vượt quá mức chi tối đa do
cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định
Trang 32Trong phạm vi kinh phí giao tự chủ, cơ quan thực hiện tự chủ quyết định giao khoán toàn bộ hoặc một phần kinh phí hoạt động thường xuyên và kinh phí thực hiện các hoạt động nghiệp vụ đặc thù thường xuyên cho từng bộ phận để chủ động thực hiện nhiệm vụ Việc quản lý sử dụng kinh phí khoản bảo đảm đúng quy trình kiểm soát chi và chứng từ, hóa đơn theo quy định của pháp luật, trừ một số khoản chi thực hiện khoán không cần hóa đơn theo quy định của Bộ Tài chính
Tiền lương, tiền công người lao động
Tiền lương, tiền công của người lao động trong các cơ quan HCNN được xác định như sau:
- Đối với những hoạt động thực hiện chức năng, nhiệm vụ nhà nước giao, chi phí tiền lương, tiền công cho cán bộ, viên chức và người lao động (gọi tắt là người lao động), đơn vị tính theo lương cấp bậc, chức vụ do nhà nước quy định;
- Đối với những hoạt động cung cấp sản phẩm do nhà nước đặt hàng có đơn giá tiền lương trong đơn giá sản phẩm được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt, đơn vị tính theo đơn giá tiền lương quy định Trường hợp sản phẩm chưa được cơ quan có thẩm quyền quy định đơn giá tiền lương, đơn vị tính theo lương cấp bậc, chức vụ do nhà nước quy định;
- Đối với những hoạt động dịch vụ có hạch toán chi phí riêng, thì chi phí tiền lương, tiền công cho người lao động được áp dụng theo chế độ tiền lương trong doanh nghiệp nhà nước Trường hợp không hạch toán riêng chi phí, đơn vị tính theo lương cấp bậc, chức vụ do nhà nước quy định
Nhà nước khuyến khích cơ quan HCNN tiết kiệm chi, thực hiện tinh giảm biên chế, tăng thêm thu nhập cho người lao động trên cơ sở hoàn thành nhiệm vụ được giao, sau khi thực hiện đầy đủ nghĩa vụ với NSNN; tuỳ theo kết quả hoạt động tài chính trong năm, đơn vị được xác định tổng mức chi trả thu nhập trong năm của đơn vị, trong đó:
Trang 33- Chi tiền lương tăng thêm: cơ quan thực hiện chế độ tự chủ được áp dụng hệ số tăng thêm quỹ tiền lương tối đa không quá 1,0 lần so với mức tiền lương ngạch, bậc, chức vụ do nhà nước quy định để chi trả thu nhập tăng thêm cho cán bộ, công chức
Trên cơ sở tổng nguồn kinh phí được phép chi trên đây, cơ quan thực hiện chế độ tự chủ quyêt định phương án chi trả thu nhập tăng thêm cho từng cán bộ, công chức (hoặc cho từng bộ phận trực thuộc) theo nguyên tắc phải gắn với hiệu quả, kết quả công việc của từng người (hoặc từng bộ phận trực thuộc)
Việc chi trả thu nhập cho người lao động trong đơn vị được thực hiện theo nguyên tắc người nào có hiệu suất công tác cao, đóng góp nhiều cho việc tăng thu, tiết kiệm chi được trả nhiều hơn
Khi nhà nước điều chỉnh các quy định về tiền lương, nâng mức lương tối thiểu; khoản tiền lương cấp bậc, chức vụ tăng thêm theo chế độ nhà nước quy định (gọi tắt là tiền lương tăng thêm theo chế độ nhà nước quy định) do đơn vị sự nghiệp tự bảo đảm từ các khoản thu sự nghiệp và các khoản khác theo quy định của Chính phủ
Trường hợp sau khi đã sử dụng các nguồn trên nhưng vẫn không bảo đảm đủ tiền lương tăng thêm theo chế độ nhà nước quy định, phần còn thiếu
sẽ được NSNN xem xét, bổ sung để bảo đảm mức lương tối thiểu chung theo quy định của Chính phủ
- Chi khen thưởng: Chi khen thưởng định kỳ hoặc đột xuất cho tập thể,
cá nhân theo kết quả công việc và thành tích đóng góp ngoài chế độ khen thưởng theo quy định hiện hành của Luật thi đua khen thưởng;
- Chi cho các hoạt động phúc lợi tập thể của cán bộ, công chức; trợ cấp khó khăn đột xuất cho cán bộ, công chức, kể cả đối với những trường hợp nghỉ hưu, nghỉ mất sức; chỉ thêm cho người lao động trong biên chế khi thực hiện tinh giản biên chế;
Trang 34- Trích lập quỹ dự phòng để ổn định thu nhập cho cán bộ, công chức, số kinh phí tiết kiệm được, cuối năm chưa sử dụng hết được chuyên vào quỹ dự phòng ổn định thu nhập;
b Sử dụng kinh phí quản lý hành chính tiết kiệm được
Kết thúc năm ngân sách, sau khi hoàn thành các nhiệm vụ được giao,
cơ quan thực hiện chế độ tự chủ có số chi thực tế thấp hơn so dự toán được giao về kinh phí thực hiện chế độ tự chủ thì phần chênh lệch này được xác định là kinh phí tiết kiệm; các hoạt động nghiệp vụ đặc thù đã giao kinh phí thực hiện chê độ tự chủ nêu không thực hiện nhiệm vụ đã giao, hoặc thực hiện không đầy đủ khối lượng công việc thì không được xác định là kinh phí tiết kiệm và phải nộp trả ngân sách nhà nước phân kinh phí không thực hiện; trường hợp nhiệm vụ đặc thù nếu được cấp có thẩm quyền cho phép chuyển sang năm sau thực hiện (bao gồm cả trường hợp hoạt động đặc thù đang thực hiện dở dang) thì được chuyến so dư kinh phí sang năm sau để tiếp tục thực hiện nhiệm vụ đặc thù đó và được tính vào kinh phí giao tự chủ của năm sau; đối với nhiệm vụ đặc thù đã thực hiện một phần thì được quyết toán phần kinh phí đã triển khai theo quy định
Phạm vi sử dụng kinh phí tiết kiệm được:
- Bổ sung, ổn định thu nhập cho cán bộ, công chức
- Trong năm, cơ quan thực hiện chế độ tự chủ được tạm ứng từ dự toán
đã giao thực hiện chế độ tự chủ đế chỉ thu nhập tăng thêm, chỉ cho các hoạt động phúc lợi, chi bổ sung phục vụ các hoạt động nghiệp vụ
Thủ trưởng cơ quan thực hiện chế độ tự chủ quyết định phương án sử dụng kinh phỉ tiết kiệm nêu trên trong quy chế chỉ tiêu nội bộ của cơ quan san khi đã thống nhất ý kiến bằng văn bản với tổ chức Công đoàn cơ quan
Trang 35Trích lập và sử dụng các quỹ
Hàng năm sau khi trang trải các khoản chi phí, nộp thuế và các khoản nộp khác theo quy định, phần chênh lệch thu lớn hơn chi (nếu có), đơn vị trích lập các quỹ theo trình tự như sau:
- Trích tối thiểu 25% để lập Quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp Quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp dùng để đầu tư, phát triển nâng cao hoạt động
sự nghiệp, bổ sung vốn đầu tư xây dựng cơ sở vật chất, mua sắm trang thiết
bị, phương tiện làm việc, chi áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật công nghệ, trợ giúp thêm đào tạo, huấn luyện nâng cao tay nghề năng lực công tác cho cán
bộ, viên chức đơn vị; được sử dụng góp vốn liên doanh, liên kết với các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước để tổ chức hoạt động dịch vụ phù hợp với chức năng, nhiệm vụ được giao và khả năng của đơn vị và theo quy định của pháp luật Việc sử dụng Quỹ do thủ trưởng đơn vị quyết định theo quy chế chi tiêu nội bộ của đơn vị
- Trả thu nhập tăng thêm cho người lao động;
- Trích lập Quỹ khen thưởng, Quỹ phúc lợi, Quỹ dự phòng ổn định thu nhập Đối với 2 Quỹ khen thưởng và Quỹ phúc lợi, mức trích tối đa không quá 3 tháng tiền lương, tiền công và thu nhập tăng thêm bình quân thực hiện trong năm
+ Quỹ dự phòng ổn định thu nhập nhằm bảo đảm thu nhập cho người lao động
+ Quỹ khen thưởng dùng để thưởng định kỳ, đột xuất cho tập thể, cá nhân trong và ngoài đơn vị theo hiệu quả công việc và thành tích đóng góp vào hoạt động của đơn vị Mức thưởng do thủ trưởng đơn vị quyết định theo quy chế chi tiêu nội bộ của đơn vị
+ Quỹ phúc lợi dùng để xây dựng, sửa chữa các công trình phúc lợi, chi
Trang 36cho các hoạt động phúc lợi tập thể của người lao động trong đơn vị; trợ cấp khó khăn đột xuất cho người lao động, kể cả trường hợp nghỉ hưu, nghỉ mất sức; chi thêm cho người lao động trong biên chế thực hiện tinh giản biên chế Thủ trưởng đơn vị quyết định việc sử dụng quỹ theo quy chế chi tiêu nội bộ của đơn vị
1.2.2.4 Kiểm tra, giám sát tự chủ, tự chịu trách nhiệm về quản lý sử dụng kinh phí
Công tác kiểm tra, kiểm soát không thể thiếu được tại các đơn vị hành chính nhà nước, bởi lẽ kiểm tra, kiểm soát tài chính tại các đơn vị nhằm tăng cường công tác tự chủ, tự chịu trách nhiệm về quản lý sử dụng kinh phí, đảm bảo nguồn kinh phí được sử dụng đúng mục đích, hiệu quả vốn cao; đồng thời góp phần thực hiện tiết kiệm, chống lãng phí và tuân thủ các chính sách, pháp luật của Nhà nước Hệ thống kiểm tra, kiểm soát tài chính gồm có kiểm tra, kiểm soát của các cơ quan chức năng và kiểm tra, kiểm soát nội bộ đơn vị
a Kiểm tra, kiểm soát của các cơ quan chức năng
Kiểm tra, kiểm soát của các cơ quan chức năng gồm có: thanh tra tài chính, kiểm tra tài chính, kiểm toán,… Bất kỳ cơ chế quản lý nào khi đặt ra đều được giám sát bởi một hệ thống kiểm tra, kiểm soát, đó là sự giám sát của các cơ quan ngoài đơn vị như cơ quan thanh tra, kiểm toán,…
Hàng năm, các cơ quan thanh tra, kiểm toán… đều có kế hoạch kiểm tra, kiểm soát các cơ quan HCNN và có sự trao đổi thống nhất đối tượng sẽ được tiến hành kiểm tra, kiểm soát tài chính trong đó có tự chủ, tự chịu trách nhiệm về quản lý sử dụng kinh phí, nhằm tránh gây sự trùng lắp, khó khăn cho đơn vị Qua công tác kiểm tra, kiểm soát tài chính của các cơ quan chức năng sẽ có những kết luận, kiến nghị khách quan, đúng đắn và trung thực, giúp cho đơn vị hành chính nhà nước hoạt động ngày càng có hiệu quả, hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao
Trang 37b Kiểm tra, kiểm soát nội bộ đơn vị
Ngoài sự giám sát của các cơ quan ngoài đơn vị như cơ quan thanh tra, kiểm toán, còn có kiểm tra, kiểm soát nội bộ đơn vị, đó là kiểm soát nội bộ, thanh tra của ngành, của bộ chủ quản
Kiểm tra, kiểm soát nội bộ đơn vị được tiến hành thường xuyên trong đơn vị, đó là một trong những nhân tố có ảnh hưởng quan trọng đến công tác quản lý tài chính của các cơ quan HCNN Kiểm tra quy trình lập dự toán thu, chi; kiểm soát quá trình thực hiện thu, chi tại các đơn vị hành chính nhà nước nhằm thực hiện việc kiểm tra, giám sát liên tục trong năm đối với các hoạt động tài chính, công tác tự chủ, tự chịu trách nhiệm về quản lý sử dụng kinh phí để có những phát hiện, ngăn ngừa kịp thời những sai sót, vi phạm chính sách, chế độ tài chính
Trong quá trình thực thi các chức năng, nhiệm vụ được giao và sử dụng vốn NSNN đơn vị hành chính nhà nước, đơn vị sự nghiệp sẽ không tránh khỏi những sai sót, gian lận Việc kiểm tra, kiểm soát công tác tự chủ, tự chịu trách nhiệm về quản lý sử dụng kinh phí rất cần thiết và quan trọng, bởi kiểm tra, kiểm soát sẽ tìm ra những thiếu sót trong cơ chế quản lý tài chính, ngăn chặn kịp thời những hậu quả xấu, kịp thời đưa ra những biện pháp khắc phục Việc kiểm tra, kiểm soát tài chính sẽ giúp cho đơn vị hành chính nhà nước ngày càng hoàn thiện hơn trong công tác tự chủ, tự chịu trách nhiệm về quản lý sử dụng kinh phí
1.2.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến tự chủ, tự chịu trách nhiệm về quản lý
sử dụng kinh phí của các cơ quan hành chính nhà nước
1.2.3.1 Nhân tố khách quan
- Cơ chế, chính sách của nhà nước
Cơ chế, chính sách của nhà nước là một nhân tố có ảnh hưởng rất quan trọng tới công tác tự chủ, tự chịu trách nhiệm tại các cơ quan HCNN, được thể hiện ở những nội dung sau:
Trang 38Cơ chế, chính sách của nhà nước có vai trò cân đối giữa các nguồn thu, khoản chi của cơ quan HCNN Nếu như trước đây, việc quản lý thu - chi tài chính của nhà nước là lấy thu bù chi, nguồn thu không đủ chi trong năm thì đơn vị được nhà nước cấp bổ sung kinh phí, nếu chi không hết thì đơn vị phải nộp lại kinh phí thừa vào kho bạc nhà nước Nhưng cơ chế mới hiện nay là nhà nước cho phép đơn vị được giữ lại phần kinh phí thừa để sử dụng tiếp cho năm sau, quy định mới đã khuyến khích đơn vị sử dụng tiết kiệm và hiệu quả kinh phí của nhà nước Do vậy, đòi hỏi cơ chế, chính sách của nhà nước phải được xây dựng phù hợp với loại hình hoạt động của đơn vị nhằm tăng cường
và tập trung nguồn lực tài chính, giúp cho các cơ quan HCNN có thu hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao
Cơ chế, chính sách của nhà nước đối với hoạt động của đơn vị hành chính nhà nước tác động đến quá trình chi tiêu ngân quỹ quốc gia, ảnh hưởng đến việc thực hiện nhiệm vụ của các cơ quan này Do đó, cơ chế, chính sách của nhà nước phải tránh tình trạng lãng phí các nguồn tài chính, đồng thời khuyến khích tiết kiệm chi tiêu có hiệu quả đối với các cơ quan HCNN
Cơ chế, chính sách của nhà nước góp phần tạo hành lang pháp lý cho quá trình tạo lập và sử dụng nguồn tài chính trong các đơn vị hành chính nhà nước Đảm bảo tính công bằng, hợp lý cũng như tạo môi trường bình đẳng cho các đơn vị hành chính nhà nước hoạt động và phát triển
- Điều kiện kinh tế - văn hóa - xã hội
Trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, yếu tố thị trường có ảnh hưởng lớn đến hoạt động của các đơn vị kinh tế Những thay đổi về điều kiện kinh tế - văn hóa – xã hội và chính sách chi tiêu của các cơ quan HCNN là yếu tố ảnh hưởng đến quá trình đổi mới tự chủ, tự chịu trách nhiệm tại đơn vị Yếu tố lao động và việc làm cũng đang có những thay đổi quan trọng trong bối cảnh toàn cầu hóa và trước yêu cầu phát triển của nền kinh tế tri thức Để đáp ứng yêu cầu nâng cao chất lượng công việc, yêu cầu
Trang 39các cơ quan HCNN cần không ngừng nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, có như vậy mới đảm bảo được chất lượng hoạt động của đơn vị
1.2.3.2 Nhân tố chủ quan
a Tổ chức bộ máy kế toán của đơn vị
Mỗi đơn vị hành chính nhà nước đều phải có bộ máy kế toán để phản ánh các nghiệp vụ kinh tế, tài chính phát sinh Công tác kế toán là việc thu thập, xử lý và phân tích các thông tin về hoạt động tài chính diễn ra trong đơn
vị Các số liệu thống kê, các chỉ tiêu phản ánh trong báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh, báo cáo tài chính… chính là sự phản ánh hiệu quả hoạt động của công tác quản lý tài chính
Đội ngũ cán bộ kế toán đòi hỏi phải có trình độ chuyên môn nghiệp vụ,
có kinh nghiệm công tác để đáp ứng được yêu cầu của công việc Nếu không,
sẽ làm cho công tác kế toán bị trì trệ, sai sót, gây ra những hậu quả khó lường ảnh hưởng lớn đến hoạt động của đơn vị Do vậy, đội ngũ cán bộ kế toán giữ một vị trí quan trọng trong hoạt động của mỗi đơn vị, nó giúp cho công tác quản lý tài chính của đơn vị ngày càng hoàn thiện hơn, tuân theo những qui định về tài chính kế toán của nhà nước, phù hợp với qui định của pháp luật
b Trình độ cán bộ quản lý
Con người là nhân tố trung tâm của bộ máy quản lý, là khâu trọng yếu trong việc xử lý các thông tin để đề ra các quyết định quản lý Trình độ cán bộ quản lý là nhân tố có ảnh hưởng trực tiếp đến tính kịp thời chính xác của các quyết định quản lý, do đó nó có ảnh hưởng đến chất lượng hoạt động của bộ máy quản lý, quyết định sự thành bại của công tác quản lý nói chung cũng như công tác tự chủ, tự chịu trách nhiệm về quản lý sử dụng kinh phí nói riêng
Đối với các cơ quan quản lý cấp trên, nếu cán bộ quản lý tài chính có kinh nghiệm và trình độ chuyên môn nghiệp vụ, sẽ đưa ra được những biện pháp quản lý phù hợp, xử lý thông tin quản lý kịp thời, chính xác làm cho hoạt động quản lý ngày càng đạt kết quả tốt
Trang 40Đối với các đơn vị cơ sở trực tiếp chi tiêu, một đội ngũ cán bộ kế toán tài chính có trình độ chuyên môn nghiệp vụ, có kinh nghiệm công tác là một điều kiện hết sức cần thiết để đưa công tác quản lý tài chính kế toán của các đơn vị cơ sở ngày càng đi vào nề nếp, tuân thủ các chế độ quy định về tài chính, kế toán của Nhà nước, góp phần vào hiệu quả của công tác tự chủ, tự chịu trách nhiệm về quản lý sử dụng kinh phí trong toàn ngành
c Nhận thức của cán bộ, công chức và người lao động
Khi nhà nước điều chỉnh một cơ chế quản lý để theo kịp sự phát triển của xã hội thì kèm theo đó vấn đề đặt ra là thái độ của những người chịu sự điều chỉnh của cơ chế mới đó như thế nào Trước khi áp dụng cơ chế tự chủ tài chính, nhận thức của cán bộ, công chức và người lao động còn nhiều hạn chế và chưa tích cực: đi làm muộn về sớm, không cập nhật kiến thức mới, chưa năng động sáng tạo trong công việc Vì vậy, ngay từ khi cơ chế mới ra đời đòi hỏi phải có sự phổ biến, tuyên truyền rộng rãi đến mọi người, mọi đối tượng nhất là những người chịu sự điều chỉnh trực tiếp Chính sự tuyên truyền, phổ biến đó sẽ giúp họ nhận thức được tầm quan trọng của sự cần thiết phải điều chỉnh cơ chế tự chủ tài chính và tác động của sự đổi mới đó ảnh hưởng tới xã hội cũng như bản thân họ ra sao
Đổi mới cơ chế tự chủ tài chính đòi hỏi phải có sự thay đổi nhận thức
và hành động của toàn thể bộ cán bộ viên chức và người lao động trong đơn
vị Mỗi người phải từ bỏ cách suy nghĩ trước đây, những cách làm cũ để tiếp nhận cái mới, thừa nhận và áp dụng cái mới trong suy nghĩ và hành động của mình Người lãnh đạo phải là người tiên phong, thể hiện sự nhận thức đó qua việc làm cụ thể và không ngừng động viên cán bộ, viên chức và người lao động trong đơn vị Phải tuyên truyền, phổ biến cho tất cả mọi người hiểu và thực hiện theo cơ chế mới, đồng thời tổ chức và gửi cán bộ tham gia các lớp tập huấn, nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ, đặc biệt phải quan tâm đến những cán bộ làm công tác tài chính kế toán của đơn vị