1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

(Luận văn thạc sĩ) Nghiên cứu thực trạng và đề xuất giải pháp thúc đẩy tích tụ và tập trung đất đai tại huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam

98 205 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 98
Dung lượng 2,03 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghiên cứu thực trạng và đề xuất giải pháp thúc đẩy tích tụ và tập trung đất đai tại huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà NamNghiên cứu thực trạng và đề xuất giải pháp thúc đẩy tích tụ và tập trung đất đai tại huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà NamNghiên cứu thực trạng và đề xuất giải pháp thúc đẩy tích tụ và tập trung đất đai tại huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà NamNghiên cứu thực trạng và đề xuất giải pháp thúc đẩy tích tụ và tập trung đất đai tại huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà NamNghiên cứu thực trạng và đề xuất giải pháp thúc đẩy tích tụ và tập trung đất đai tại huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà NamNghiên cứu thực trạng và đề xuất giải pháp thúc đẩy tích tụ và tập trung đất đai tại huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà NamNghiên cứu thực trạng và đề xuất giải pháp thúc đẩy tích tụ và tập trung đất đai tại huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà NamNghiên cứu thực trạng và đề xuất giải pháp thúc đẩy tích tụ và tập trung đất đai tại huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà NamNghiên cứu thực trạng và đề xuất giải pháp thúc đẩy tích tụ và tập trung đất đai tại huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà NamNghiên cứu thực trạng và đề xuất giải pháp thúc đẩy tích tụ và tập trung đất đai tại huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà NamNghiên cứu thực trạng và đề xuất giải pháp thúc đẩy tích tụ và tập trung đất đai tại huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà NamNghiên cứu thực trạng và đề xuất giải pháp thúc đẩy tích tụ và tập trung đất đai tại huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG HÀ NAM

LÊ TUẤN MINH

NGHIÊN CỨU THỰC TRẠNG VÀ ĐỀ XUẤT

GIẢI PHÁP THÚC ĐẨY TÍCH TỤ VÀ TẬP TRUNG ĐẤT ĐAI TẠI HUYỆN THANH LIÊM, TỈNH HÀ NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI

Hà Nội – 2019

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG HÀ NAM

LÊ TUẤN MINH

NGHIÊN CỨU THỰC TRẠNG VÀ ĐỀ XUẤT

GIẢI PHÁP THÚC ĐẨY TÍCH TỤ VÀ TẬP TRUNG ĐẤT ĐAI TẠI HUYỆN THANH LIÊM, TỈNH HÀ NAM

Ngành : Quản lý đất đai

Mã số : 8.85.01.03

Người hướng dẫn khoa học: TS Dương Đăng khôi

Hà Nội – 2019

Trang 3

CÔNG TRÌNH ĐƯỢC HOÀN THÀNH TẠI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG HÀ NỘI

Cán bộ hướng dẫn: TS DƯƠNG ĐĂNG KHÔI

Cán bộ chấm phản biện 1: PGS.TS ĐỖ THỊ TÁM

Cán bộ chấm phản biện 2: TS NGUYỄN TIẾN SỸ

Luận văn thạc sĩ được bảo vệ tại:

HỘI ĐỒNG CHẤM LUẬN VĂN THẠC SĨ TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG HÀ NỘI

Ngày 06 tháng 04 năm 2019

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Những kết quả nghiên cứu được trình bày trong luận văn là hoàn toàn

trung thực, của tôi, không vi phạm bất cứ điều gì trong luật sở hữu trí tuệ và pháp luật Việt Nam Nếu sai, tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm trước pháp luật

TÁC GIẢ LUẬN VĂN

Lê Tuấn Minh

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN ii

MỤC LỤC iii

THÔNG TIN LUẬN VĂN v

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT vi

DANH MỤC BẢNG vii

DANH MỤC HÌNH viii

MỞ ĐẦU 1

1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI 1

2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 2

3 Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 2

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 3

1.1.Cơ sở lý luận: 3

1.1.1.Khái niệm tích tụ đất đai 3

1.1.2 Khái niệm tập trung đất đai 3

1.1.3 Vai trò tích tụ, tập trung đất đai đối với phát triển nông nghiệp và kinh tế xã hội 4 1.1.4.Tích tụ, tập trung đất nông nghiệp 4

1.2 Cơ sở pháp lý 17

1.3 Cơ sở thực tiễn 20

1.3.1 Tích tụ đất nông nghiệp tại một số nước trên thế giới 20

1.3.2 Tích tụ đất nông nghiệp tại Việt Nam 23

CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 28

2.1 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU 28

2.2 PHẠM VI NGHIÊN CỨU 28

2.3 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 28

2.3.1 Khái quát điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của huyện Thanh Liêm 28

2.3.2 Tình hình quản lý và sử dụng đất đai của huyện Thanh Liêm 28

2.3.3 Đánh giá thực trạng tích tụ, tập trung đát nông nghiệp tại huyện Thanh Liêm 28

2.3.4 Đề xuất một số giải pháp thúc đẩy tích tụ, tập trung đất đai tại huyện 28

2.4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 28

2.4.1 Phương pháp điều tra, thu thập số liệu thứ cấp 28

Trang 6

2.4.2 Phương pháp điều tra, thu thập số liệu sơ cấp 29

2.4.3 Phương pháp phân tích và xử lý số liệu 29

CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 30

3.1 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ VÀ XÃ HỘI CỦA HUYỆN THANH LIÊM, TỈNH HÀ NAM 30

3.1.1 Điều kiện tự nhiên 30

3.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 38

3.2 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC DỒN ĐIỀN ĐỔI THỬA 43

3.2.1 Khái quát chung công tác dồn điền đổi thửa 43

3.2.2 Thực trạng dồn điền đổi thửa trên địa bàn huyện Thanh Liêm 45

3.2.3 Một số thuận lợi và khó khăn 51

3.2.4 Đánh giá tác động của việc dồn điền đổi thửa đất nông nghiệp 54

3.3.ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG TÍCH TỤ ĐẤT ĐAI TẠI HUYỆN THANH LIÊM 61

3.3.1 Chủ trương, chính sách và một số kết quả đạt được về tích tụ tập trung đất nông nghiệp tại huyện Thanh Liêm 61

3.3.2 Chuyển nhượng đất nông nghiệp ở hộ gia đình 63

3.3.3 Chuyển nhượng đất nông nghiệp ở các trang trại 66

3.3.4 Thực trạng cho thuê đất nông nghiệp theo đơn vị hành chính xã 67

3.3.5 Thực trạng thuê đất nông nghiệp theo hộ gia đình 71

3.3.6 Những yếu tố ảnh hưởng tới tích tụ đất nông nghiệp hiện nay 73

3.4 ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP THÚC ĐẨY TẬP TRUNG TÍCH TỤ ĐẤT ĐAI TẠI HUYỆN THANH LIÊM, TỈNH HÀ NAM 75

3.4.1 Hoàn thiện hệ thống chính sách pháp luật, tạo dựng môi trường để thực hiện công tác tích tụ đất đai 76

3.4.2 Giải pháp về tổ chức 76

3.4.3 Giải pháp khuyến nông và ứng dụng tiến bộ kỹ thuật 77

3.4.4 Giải pháp về quản lý và sử dụng đất nông nghiệp 77

3.4.5 Giải pháp về thị trường 78

TÀI LIỆU THAM KHẢO 81

Trang 7

THÔNG TIN LUẬN VĂN

1 Họ và tên học viên: Lê Tuấn Minh

2 Lớp: CH3A.QĐ Khóa : 3A

3 Cán bộ hướng dẫn: TS Dương Đăng Khôi

4 Tên đề tài : Nghiên cứu thực trạng và đề xuất giải pháp thúc đẩy tích tụ và tập trung đất đai tại huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam

5 Những nội dung chính được nghiên cứu trong luận văn và kết quả đạt được:

- Nội dung chính được nghiên cứu: Nghiên cứu thực trạng tích tụ, tập trung đất đai tại huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam Từ đó đề xuất một số giải pháp thúc đẩy, nâng cao hiệu quả trong công tác tích tụ và tập trung đất đai trên địa bàn huyện

- Kết quả đạt được: Đã đánh giá tình hình tích tụ và tập trung đất đai tại huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam và đề xuất một số giải pháp thúc đẩy, nâng cao hiệu quả trong công tác tích tụ và tập trung đất đai trên địa bàn huyện

- Kết quả của luận văn là tài liệu có giá trị tham khảo trong đào tạo, nghiên cứu khoa học tại các trường đại học cũng như những nhà quản lý đất đai

Trang 8

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

Từ viết tắt Nghĩa tiếng Việt

DĐĐT Tích tụ đất nông nghiệp UBND Ủy ban nhân dân

Trang 9

DANH MỤC BẢNG

Bảng 1.1 Quy mô bình quân trang trại của một số nước 20

Bảng 3.1 Tình hình phát triển kinh tế giai đoạn 2015 - 2017 40

Bảng 3.2 Tình hình sản xuất một số cây trồng chính 3 năm (2015- 2017) 41

Bảng 3.3 Biểu tổng hợp kết quả thực hiện dồn đổi ruộng đất 47

Bảng 3.4 Bình quân số thửa/hộ trước và sau dồn điền đổi thửa 50

Bảng 3.5 Sự thay đổi canh tác của huyện sau dồn điền đổi thửa 51

Bảng 3.6 Số hộ nhận chuyển nhượng theo giai đoạn 64

Bảng 3.7 Diện tích đất nông nghiệp trung bình của mỗi vụ nhận chuyển nhượng 65

Bảng 3.8 Lý do, mục đích chuyển nhượng và nhận chuyển nhượng 66

Bảng 3.9 Số trang trại trên địa bàn theo giai đoạn 67

Bảng 3.10 Tình hình cho thuê đất tại các xã, thị trấn 68

Bảng 3.11 Lý do, mục đích thuê và cho thuê đất nông nghiệp của nông dân và các chủ trang trại 69

Bảng 3.12 Chuyển đổi nghề nghiệp sau khi cho thuê đất dài hạn 70

Bảng 3.13 Đối tượng cho thuê và thuê đất nông nghiệp 70

Bảng 3.14 Tình hình thuê mướn đất nông nghiệp 71

Bảng 3.15 Hệ thống giao thông thủy lợi nội đồng đã hoàn thiện của huyện 75

Trang 10

DANH MỤC HÌNH

Hình 3.1 Cơ cấu kinh tế của huyện Thanh Liêm năm 2017 40 Hình 3.2 Diện tích trồng rau màu và thủy sản giai đoạn 2012 - 2017 55 Hình 3.3 Biểu đồ tổng diện tích đất nông nghiệp tham gia dồn đổi ruộng đất 58 Hình 3.4 Biểu đồ thể hiện sự thay đổi diện tích trung bình của một thửa trước và sau dồn điền đổi thửa 59

Trang 11

MỞ ĐẦU

1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI

Hiện nay, Việt Nam vẫn là một nước có nền kinh tế nông nghiệp chiếm trọng yếu với khoảng 73,3% dân số sống ở nông thôn, 71% dân số làm nông dân (Đỗ Kim Chung, 2008) Sự phát triển của ngành nông nghiệp ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển của cả nền kinh tế quốc dân Để tiến hành bất cứ quá trình sản xuất nào cũng cần phải có các đầu vào cần thiết, sản xuất nông nghiệp cũng vậy Thực tế cho thấy, sản xuất nông nghiệp tại Việt Nam được thực hiện dưới các hình thức tổ chức sản xuất khác nhau như hộ nông nghiệp, trang trại, doanh nghiệp nông nghiệp,… Và khoảng 90% đất nông nghiệp thuộc các hộ nông nghiệp và các trang trại, 6% thuộc các doanh nghiệp, số còn lại thuộc các cơ sở khác Đa phần các hộ nông nghiệp có quy mô rất nhỏ Theo số liệu Tổng điều tra nông nghiệp của Tổng cục Thống kê, cơ cấu thành phần kinh tế trong nông nghiệp thay đổi rất ít Nhóm có quy mô sản xuất nhỏ dưới 0,2 ha chiếm khoảng 35%; nhóm có quy mô trên 2 ha chiếm khoảng 6% Nhìn chung, các hộ nông dân nhỏ không đạt hiệu suất cao do ruộng đất manh mún, phân tán ảnh hưởng đến năng suất lao động và hiệu quả quản lý

Trong điều kiện Việt Nam, quỹ đất nông nghiệp chỉ có hạn lại đang bị thu hẹp, dân số lớn, chủ yếu sống bằng nông nghiệp nên bình quân ruộng đất thấp,

do lịch sử để lại nên bình quân diện tích đất nông nghiệp trên hộ đã nhỏ, lại phân chia phân tán Tổ chức quản lý và sử dụng quỹ đất trong điều kiện quy mô nhỏ

và lại manh mún là vấn đề rất khó khăn, không thể sản xuất tập trung, không thể sản xuất có hiệu quả cao nên cứ để tình trạng đất nông nghiệp bị phân bố nhỏ lẻ

và manh mún

Vì vậy, để tổ chức và sử dụng quỹ đất nông nghiệp một cách hợp lý, tiết kiệm, đem lại hiệu quả cao nhưng vẫn đảm bảo được tính bền vững trong công cuộc hiện đại hoá – công nghiệp hoá của nước ta cần thiết phải đưa ra những biện pháp thiết thực Một trong những biện pháp quan trọng và thực tiễn trong giai đoạn này là giải pháp tích tụ tập trung đất nông nghiệp Bởi vì tích tụ đất đai là phương thức giúp giảm chi phí, tăng sản lượng, giảm giá thành, tăng khả năng cạnh tranh giúp người nông dân tăng thu nhập, cải thiện đời sống

Trang 12

Thanh Liêm là một huyện bán sơn địa, nằm ở phía Tây Nam của tỉnh Hà Nam Trung tâm huyện cách tỉnh Phủ Lý 4km, cách Thủ đô Hà Nội 62km trên tuyến đường giao thông xuyên Việt quan trọng vào bậc nhất của cả nước Hệ thống sông Đáy, đường Quốc lộ 1A, 21A, đường sắt Bắc Nam là những tuyến giao thông quan trọng thuận lợi cho Thanh Liêm có điều kiện giao lưu kinh tế, văn hoá với các tỉnh trong cả nước Tuy nhiên hiện nay ở huyện tình trạng manh mún đất đai vẫn cản trở đối với quá trình hiện đại hóa nông nghiệp, chưa khuyến khích, tích tụ đất đai quy mô lớn, hạn chế về quy mô thửa ruộng nên việc triển khai các dự án đầu tư của doanh nghiệp sản xuất quy mô lớn còn gặp rất nhiều khó khăn làm cho nền kinh tế huyện còn hạn chế

Xuất phát từ thực tế nêu trên tôi tiến hành thực hiện đề tài:“ Nghiên cứu

thực trạng và đề xuất giải pháp thúc đẩy tích tụ và tập trung đất đai huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam”

2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

- Đánh giá thực trạng tích tụ, tập trung đất nông nghiệp huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam;

- Đề xuất một số giải pháp góp phần thúc đẩy quá trình tích tụ, tập trung đất đai huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam

3 Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI

Ý nghĩa khoa học

Luận văn đã góp phần hệ thống hóa được cơ sở lý luận và thực tiễn về tích

tụ, tập trung đất nông nghiệp

Ý nghĩa thực tiễn

- Kết quả nghiên cứu trong luận văn đã đánh giá được thực trạng tích tụ, tập trung đất đai tại huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam và đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất cho các hộ dân tích tụ, tập trung đất đai Kết quả nghiên cứu của đề tài có thể áp dụng cho các vùng có điều kiện tương đồng

- Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho học viên cao học và sinh viên cũng như những nhà quản lý đất đai về tích tụ, tập trung đất nông nghiệp

Trang 13

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1.Cơ sở lý luận:

1.1.1.Khái niệm tích tụ đất đai

Tích tụ tư bản là tập trung vốn đủ lớn vào một đơn vị kinh doanh (DN) dưới nhiều hình thực khác nhau Tích tụ ruộng đất là một dạng tích tụ tư bản dưới hình thức hiện vật trong nông nghiệp, vì ruộng đất là tư liệu sản xuất chủ yếu không thể thay thế được của nông nghiệp Nhưng do đặc điểm sản xuất mang tính sinh học, nên tích tụ ruộng đất nói riêng và tích tụ tư bản nói chung trong nông nghiệp khác hẳn với tích tụ tư bản trong công nghiệp Quá trình tích tụ tư bản trong công nghiệp hình thành các doanh nghiệp cực lớn, các tập đoàn kinh tế đa quốc gia, đa

sở hữu, đa ngành nghề, với cơ cấu công ty mẹ với nhiều công ty con, công ty cháu… vươn rộng hoạt động trên phạm vi toàn cầu, tận dụng triệt để lợi thế kinh tế theo qui mô, để tăng sức cạnh tranh, nâng cao hiệu quả kinh tế Còn trong nông nghiệp thì không hoàn toàn như vậy Lợi thế kinh tế theo qui mô của doanh nghiệp nông nghiệp là có giới hạn, do đặc điểm sản xuất mang tính sinh học quy định Tích tụ đất nông nghiệp là việc được thực hiện thông qua việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất từ một hay nhiều người vào một người, một tổ chức, làm quy mô ruộng đất của người nhận quyền sử dụng đất dần tăng lên,quyền sử dụng đất được chuyển từ người bán sang người mua (nhận) Người mua (nhận) được Nhà nước bảo vệ quyền lợi hợp pháp theo quy định của pháp luật và phải tuân thủ các quy định về quản lý đất đai , toàn quyền tổ chức sản xuất nhưng phải

sử dụng đất theo đúng quy hoạch của địa phương

Việc tích tụ đất đai ở nước ta hiện nay, người mua đất đai nhưng chỉ có sở hữu còn hạn chế, trong một khoảng thời gian và phải sử dụng theo đúng quy hoạch do Nhà nước quy định

1.1.2 Khái niệm tập trung đất đai

Tập trung tư bản là sự tăng thêm quy mô của tư bản cá biệt bằng cách hợp nhất những tư bản cá biệt có sẵn trong xã hội thành một tư bản cá biệt khác lớn hơn.Tập trung đất đai luôn được coi là một công cụ hoặc điểm xuất phát cho phát triển nông thôn

Trang 14

Tập trung đất nông nghiệp là việc tự nguyện dồn, góp một số mảnh đất từ một hay nhiều người để cùng hợp tác,liên kết sản xuất mang lại hiệu quả kinh tế cao hơn nhưng không có chuyển đổi về quyền sử dụng đất

1.1.3 Vai trò tích tụ, tập trung đất đai đối với phát triển nông nghiệp và kinh tế xã hội

Chính sách tích tụ, tập trung đất đai đã được Đảng và Nhà nước ta đặc biệt quan tâm, nhằm tái cơ cấu sản xuất nông nghiệp, phát triển nông nghiệp quy mô lớn, ứng dụng khoa học công nghệ cao nhằm tạo ra khối lượng sản xuất hàng hóa nông nghiệp đạt yêu cầu về cả chất lượng lẫn số lượng

Trong đó, nhằm triển khai chính sách tích tụ, tập trung đất đai một cách hiệu quả, việc nghiên cứu và đưa ra góc nhìn tổng quát về hệ thống pháp luật liên quan đến tích tụ, tập trung đất đai, từ đó bình luận các quy định pháp luật và đề xuất giải pháp khắc phục là vô cùng cấp bách Qua đó, góp phần điều hòa lợi ích

và bảo vệ quyền lợi của người có quyền sử dụng đất và các nhà đầu tư/doanh nghiệp trong đầu tư, khai thác sử dụng quyền sử dụng đất, đồng thời tìm ra các giải pháp hiệu quả trong việc thi hành chính sách tích tụ, tập trung đất đai trên thực tế Vì vậy, cần nghiên cứu từ góc độ liên ngành, trên cơ sở đường lối, quan điểm của Đảng và Nhà nước và chính sách phát triển kinh tế trong đó có phát triển kinh tế nông nghiệp, gắn với điều kiện kinh tế, văn hóa, xã hội của từng địa phương xuyên suốt qua các thời kỳ lịch sử [7]

1.1.4 Tích tụ, tập trung đất nông nghiệp

1.1.4.1 Khái niệm đất nông nghiệp và sử dụng đất nông nghiệp

a Đất nông nghiệp

Đất nông nghiệp được định nghĩa là đất sử dụng vào mục đích sản xuất, nghiên cứu, thí nghiệm về nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản, làm muối và mục đích bảo vệ, phát triển rừng Đất nông nghiệp bao gồm đất sản xuất nông nghiệp, đất lâm nghiệp, đất nuôi trồng thuỷ sản, đất làm muối và đất nông nghiệp khác

Phân loại đất nông nghiệp: Theo điều 10 Luật Đất Đai năm 2013 căn cứ vào mục đích sử dụng đất nông nghiệp bao gồm các loại đất sau:

Trang 15

- Đất trồng cây hàng năm bao gồm đất trồng lúa và đất trồng cây hàng năm khác; Đất trồng cây lâu năm; Đất rừng sản xuất; Đất rừng phòng hộ; Đất rừng đặc dụng; Đất nuôi trồng thủy sản; Đất làm muối

- Đất nông nghiệp khác bao gồm đất sử dụng để xây dựng nhà kính và các loại nhà khác phục vụ mục đích trồng trọt, kể cả các hình thức trồng trọt không trực tiếp trên đất; xây dựng chuồng trại chăn nuôi gia súc, gia cầm và các loại động vật khác được pháp luật cho phép; đất trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản cho mục đích học tập, nghiên cứu thí nghiệm; đất ươm tạo cây giống, con giống và đất trồng hoa, cây cảnh

Đất nông nghiệp có sự khác biệt rõ rệt với các loại đất khác, nó có vai trò quan trọng trong sự phát triển ngành nông nghiệp, là tư liệu sản xuất đặc biệt, là thành phần quan trọng của môi trường sống [5], là nơi tạo ra giá trị sản xuất và thu nhập của các hộ dân Nếu con người biết cách sử dụng các công thức luân canh cây trồng phù hợp với từng loại đất sẽ đảm bảo được năng suất cho cây cũng như đảm bảo được tính bền vững trong quá trình sử dụng đất nông nghiệp

cơ giới hóa và tiến bộ khoa học kỹ thuật nhằm hướng tới một nền sản xuất hàng hóa tập trung

1.1.4.2 Sự cần thiết phải tích tụ đất nông nghiệp

Tích tụ ruộng đất là quá trình tập trung ruộng đất từ nhiều thửa nhỏ thành

Trang 16

thửa lớn, từ nhiều chủ sử dụng đất (tổ chức, hộ gia đình, cá nhân) vào một số chủ

sử dụng đất có khả năng vốn, lao động, kinh nghiệm quản lý để sản xuất hàng hóa Từ thực tiễn ở Việt Nam cho thấy sự cần thiết của tích tụ đất nông nghiệp để hướng tới sản xuất hàng hóa bởi:

- Việc giao đất cho các hộ dân theo tinh thần cho các hộ gia đình, cá nhân

đã gặp một số khó khăn;

- Kết quả của việc giao đất nông nghiệp cho các hộ gia đình là tình trạng đất đai manh mún, nhỏ lẻ cụ thể: cả nước có 75 triệu thửa đất, bình quân mỗi hộ có 6-8 thửa với khoảng 0,3 – 0,5 ha/hộ Đồng bằng sông Hồng là khu vực có quy

mô sản xuất nông nghiệp của các hộ dân dưới 0,5 ha là nhiều nhất (chiếm 94,46%), Đông Nam Bộ là khu vực có quy mô sản xuất nông nghiệp của các hộ dân trên 3 ha là nhiều nhất (chiếm 12,16%) Tình trạng này sẽ gây khó khăn trong quá trình sản xuất đặc biệt là việc chuyển dịch cơ cấu cây trồng, áp dụng cơ giới hóa, tăng chi phí sản xuất

- Phong tục và thói quen sản xuất nông nghiệp manh mún và nhỏ lẻ của người dân hiện nay là một trong số các nguyên nhân kìm hãm sự phát triển của sản xuất nông nghiệp Ngoài ra, hiện nay quỹ đất nông nghiệp bị thu hẹp do phải chuyển sang các mục đích khác nhằm phục vụ nhu cầu phát triển kinh tế xã hội

Do vậy, tổ chức quản lý và sử dụng quỹ đất trong điều kiện quy mô nhỏ, lại manh mún là vấn đề rất khó khăn, không thể sản xuất tập trung, không thể sản xuất hiệu quả cao Chính vì vậy, cần phải có phương thức mới làm thay đổi thói quen sản xuất nhỏ lẻ, manh mún đó là tích tụ đất nông nghiệp sản xuất theo hướng hàng hóa

Hiện nay, tích tụ đất nông nghiệp đang diễn ra tại các địa phương nhằm khắc phục tình trạng manh mún đất nông nghiệp cũng như hướng tới nền sản xuất nông nghiệp hàng hóa như điển hình một số tỉnh: Bắc Ninh, Thái Bình, Nghệ An, Nam Định, Hà Nam, Bắc Giang Thực tế, có nhiều mô hình thực hiện thành công với việc hình thành các trang trại quy mô lớn đạt tiêu chí mới và thủ tục cấp giấy chứng nhận kinh tế trang trại

1.1.4.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến tích tụ, tập trung đất nông nghiệp

a Chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước:

Yếu tố này có vai trò quan trọng trong việc tích tụ, tập trung đất đai, nó là yếu tố thúc đẩy hoặc ngược lại là yếu tố cản trở quá trình tập trung tích tụ đất

Trang 17

nông nghiệp Khi chính sách nhà nước chưa cho phép chuyển nhượng (mua bán) đất đai thì không có thị trường đất đai hợp pháp Có chăng chỉ có thị trường ngầm, các hoạt động mua bán là bất hợp pháp, trái pháp luật, do vậy, nếu có giao dịch sẽ là bất hợp pháp và mang nhiều rủi ro

Có thể nói, các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước là một trong những yếu tố quan trọng nhất ảnh hưởng tới tích tụ, tập trung đất nông nghiệp hiện nay ở nước ta Yếu tố này sẽ thúc đẩy, hay kìm hãm quá trình tích tụ tập trung đất đai trong thời gian tới

b Yếu tố thị trường

Yếu tố thị trường là yếu tố khá quan trọng của quá trình tích tụ đất đai Khi nền kinh tế là nền kinh tế tập trung bao cấp thì khi đó mọi nguồn lực, nhất là đất đai được tập trung hóa cao độ ở các HTX, khi đó đất đai được tập trung vào kinh

tế tập thể, không có chỗ cho tích tụ đất đai [6]

Chỉ khi cơ chế tập trung bao cấp không còn phù hợp, các HTX không còn vai trò, đất đai được chia cho nông dân, nông dân được giao quyền sử dụng đất, trong đó có quyền chuyển nhượng, quyền thuê mướn, quyền góp đất là điều kiện để nông dân có thể tham gia thị trường quyền sử dụng đất, tham gia các quá trình tích tụ tập trung đất đai

Nền kinh tế chuyển dần từ bao cấp sang kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa,

và đang ngày càng hòa nhập sâu hơn vào nền kinh tế thế giới; khi đó yêu cấp thiết là phải chuyển từ sản xuất tự cấp tự túc, sản xuất nhỏ lẻ sang sản xuất tập trung, sản xuất hàng hóa, có quy mô lớn

Thị trường đòi hỏi phải có nông sản hàng hóa tập trung, có chất lượng cao

và đồng đều thì đất đai nhỏ lẻ phân tán không còn phù hợp nữa Muốn có sản xuất hàng hóa tập trung thì buộc phải tích tụ đất đai thành các tranh trại, hoặc là tập trung đất đai trong các liên kết trong sản xuất

Như vậy nhu cầu của nền sản xuất hàng hóa tập trung đã đòi hỏi phải có tích tụ tập trung đất nông nghiệp, đây là yếu tố thúc đẩy quá trình tích tụ, tập trung đất nông nghiệp

Trang 18

c Các yếu tố về kinh tế -xã hội

- Sự phát triển của các ngành phi nông nghiệp (công nghiệp, dịch vụ .) không chỉ chiếm đất nông nghiệp, mà quan trọng hơn, tạo thêm nhiều việc làm, tăng thu nhập, thu hút lao động từ nông nghiệp, làm cho nhiều hộ có quyền sử dụng đất nhưng không có lao động để làm sản xuất, là điều kiện cần thiết để các

hộ này chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho người khác

- Sản xuất phát triển, kinh tế tăng trưởng, thu nhập của nông dân ngày càng cao là điều kiện quan trọng, không chỉ nâng cao về nhận thức mà còn giúp họ có tiền vốn để mua đất, thu đất cho tích tụ tập trung đất nông nghiệp

- Hiệu quả sản xuất nông nghiệp là yếu tố quan trọng, những người có nguồn vốn họ chỉ đầu tư khi có lãi, trong trường hợp này, họ bỏ vốn mua đất, thuê đất sản xuất nông nghiệp phải có lãi, nghĩa là sản xuất nông nghiệp phải mang lại hiệu quả kinh tế cao hơn so với gửi lãi suất ngân hàng

- Yếu tố về lao động, vốn sản xuất và cơ sở hạ tầng: Người lao động phải có trình độ học vấn và kỹ năng lao động để tiếp thu tiến bộ khoa học kỹ thuật về kinh nghiệm sản xuất tiên tiến Trong sản xuất phải giỏi chuyên môn, kỹ thuật mới mạnh dạn áp dụng thành tựu khoa học vào sản xuất nhằm đem lại lợi nhuận cao Trình độ học vấn và trình độ chuyên môn, cũng như kinh nghiệm sản xuất của người chủ hộ có vị trí quan trọng, ảnh hưởng trực tiếp đến sự thành công và thất bại trong sản xuất hàng hoá của hộ nông dân

- Vốn là điều kiện không thể thiếu trong quá trình sản xuất kinh doanh Nó

là một yếu tố cơ bản của quá trình sản xuất và lưu thông hàng hoá Hiện nay với

kỹ thuật canh tác tiên tiến, công cụ sản xuất nông nghiệp đã không ngừng được cải tiến và đem lại hiệu quả kinh tế rất lớn cho các hộ nông dân đã đưa năng suất cây trồng, vật nuôi không ngừng tăng lên, chất lượng sản phẩm được đảm bảo tốt hơn Do đó nó ảnh hưởng rất lớn đến kết quả sản xuất hàng hoá của hộ nông dân

- Cơ sở hạ tầng chủ yếu trong nông nghiệp nông thôn bao gồm: đường giao thông nông thôn, hệ thống thuỷ lợi, hệ thống điện, trang thiết bị trong nông nghiệp Đây là yếu tố quan trọng trong quá trình phát triển sản xuất nông nghiệp hàng hoá quy mô lớn Thực tế cho thấy, nơi nào cơ sở hạ tầng phát triển nơi đó sản xuất phát triển, thu nhập tăng, đời sống của các hộ nông dân được cải thiện

Trang 19

- Cách nghĩ, quan niệm của người nông dân về đất đai: Khi nông dân nghĩ quyền sử dụng đất nông nghiệp là một tài sản để dành cho bản thân và các thế hệ sau của họ thì họ sẽ tìm mọi cách giữ lại mà không muốn chuyển nhượng cho người khác mặc dù họ không có nhu cầu sử dụng Nếu người nông dân quan niệm quyền sử dụng đất nông nghiệp là tư liệu sản xuất, là một hàng hóa có giá trị trên thị trường, thì họ sẵn sàng bán đi khi không có không sử dụng và ngược lại sẽ mua về khi có nhu cầu

d Các nhân tố về khoa học kỹ thuật công nghệ

- Yếu tố kỹ thuật canh tác: Do điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội của mỗi vùng có khác nhau, với yêu cầu giống cây, con khác nhau đòi hỏi phải có kỹ thuật canh tác khác nhau Trong nông nghiệp, tập quán, kỹ thuật canh tác của từng vùng, từng địa phương có ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả sản xuất nông nghiệp và phát triển kinh tế hộ nông dân sản xuất hàng hoá

- Yếu tố ứng dụng tiến bộ khoa học - công nghệ: Việc ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật mới vào sản xuất hàng hoá phát triển, thậm chí những tiến bộ

kỹ thuật có thể làm thay đổi hẳn trình độ sản xuất hàng hoá của một vùng

- Yếu tố về hợp tác trong sản xuất kinh doanh: Trong nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, để cạnh tranh có hiệu quả các hộ nông dân càng cần có sự hợp tác, liên doanh liên kết để có thêm nguồn vốn, nguồn nhân lực cũng như kinh nghiệm sản xuất để sản xuất nông nghiệp có hiệu quả cao hơn

e Yếu tố điều kiện tự nhiên

Nông nghiệp là một ngành kinh tế đặc thù với những đặc điểm riêng biệt, vì vậy sản xuất nông nghiệp cũng có những nét đặc trưng riêng, không giống bất cứ một ngành sản xuất nào trong nền kinh tế Kết quả của sản xuất nông nghiệp chịu nhiều ảnh hưởng của điều kiện tự nhiên như: vị trí địa lý, điều kiện thời tiết khí hậu, chế độ thổ nhưỡng và nền địa hình Đặc biệt, khi tích tụ đất nông nghiệp để sản xuất quy mô lớn thì điều kiện tiên quyết phải có những nghiên cứu, phân tích, đánh giá rất sâu sắc về các yếu tố điều kiện tự nhiên của vùng, chất lượng đất cũng như các đặc điểm của đất, địa hình của từng vùng miền Chất lượng đất tốt hay xấu ảnh hưởng rất lớn tới quá trình thực hiện đầu tư và thành quả thu được

Trang 20

Vị trí địa lý: Vị trí địa lý có ảnh hưởng trực tiếp đến sản xuất nông nghiệp

và đến sự phát triển sản xuất hàng hóa quy mô lớn Những vị trí thuận lợi như gần đường giao thông, gần cơ sở chế biến nông sản, gần thị trường tiêu thụ sản phẩm, gần trung tâm các khu công nghiệp, đô thị lớn sẽ là những điều kiện tốt cho phát triển sản xuất hàng hoá [8]

Địa hình: Địa hình có ảnh hưởng rất lớn đến tích tụ đất nông nghiệp cho

sản xuất hàng hóa quy mô lớn, nếu địa hình bằng phẳng thì có thể đầu tư nhiều loại cây trồng, vật nuôi thích hợp cho vùng đồng bằng như trồng cây lương thực, nuôi trồng thủy sản, đỡ tốn công san lấp và thuận lợi về giao thông do vậy vận chuyển các nông sản mang ra thị trường nhanh, đảm bảo tươi sống và sản xuất được trên quy mô lớn Ngược lại, địa hình phức tạp, bị chia cắt mạnh, đất đai manh mún phù hợp cho sản xuất nhỏ lẻ Ở đây manh mún đất đai không phải là điều bất lợi do điều kiện tự nhiên ở vùng núi mà ở đó số mảnh ruộng nhiều phản ánh các loại đất và lựa chọn cây trồng khác nhau Khi đầu tư dựa vào điều kiện của địa hình để có những chính sách đầu tư phù hợp nhất

Khí hậu và môi trường sinh thái: Khí hậu thời tiết có ảnh hưởng trực tiếp

đến sản xuất nông nghiệp Điều kiện thời tiết, khí hậu có lượng mưa, độ ẩm, nhiệt độ, ánh sáng có mối quan hệ chặt chẽ đến sự hình thành và sử dụng các loại đất Những nơi có điều kiện thời tiết, khí hậu thuận lợi, được thiên nhiên ưu đãi sẽ hạn chế được những bất lợi, những rủi ro do thiên nhiên gây ra và có cơ hội để phát triển nông nghiệp, tăng cường nông sản hàng hoá của các hộ nông dân Môi trường sinh thái cũng ảnh hưởng đến phát triển kinh tế hộ nông dân, nhất là nguồn nước, không khí Bởi vì, những cây trồng và con gia súc tồn tại và phát triển theo quy luật sinh học Nếu môi trường sinh thái thuận lợi thì cây trồng, con gia súc phát triển tốt, cho năng suất sản phẩm cao Nếu môi trường sinh thái không phù hợp dẫn đến cây trồng, con gia súc phát triển, năng suất, chất lượng sản phẩm giảm, từ đó sản xuất hiệu quả của hộ nông dân thấp

Do vậy, khi đầu tư vào nông nghiệp các nhà đầu tư phải nghiên cứu rất kĩ đặc điểm tự nhiên của từng vùng để có thể có những công cuộc đầu tư mang hiệu quả cao hoặc có những biện pháp phòng tránh ảnh hưởng xấu của tự nhiên hữu hiệu

Trang 21

1.1.4.4 Vai trò, ý nghĩa của tích tụ, tập trung đất nông nghiệp

a Tích tụ, tập trung đất với các hình thức tổ chức sản xuất

Hiện nay, việc sản xuất nông nghiệp tại các địa phương được tổ chức sản xuất với nhiều hình thức khác nhau như: hộ gia đình, hợp tác xã, trang trại, doanh nghiệp…

Sản xuất, kinh doanh theo kiểu trang trại, gia trại có đặc điểm ruộng đất một phần là của hộ gia đình (chủ trang trại), phần còn lại có thể do hộ gia đình nhận chuyển nhượng, thuê lại, nhận góp ruộng đất từ người khác; còn tiền vốn cho quá trình sản xuất, kinh doanh nông nghiệp có thể do hộ gia đình tự có hoặc huy động

từ các nguồn vốn vay, huy động và sức lao động có thể thuê mướn và chủ yếu

là sử dụng sức lao động trong hộ gia đình, hơn nữa, lợi ích của tất cả các thành viên trong hộ gia đình phụ thuộc trực tiếp vào năng suất, chất lượng của cây trồng, vật nuôi Vì vậy, xét trong ngắn hạn, trang trại gia đình quy mô nhỏ có thể không đạt hiệu quả cao trong việc sử dụng các nguồn tài nguyên hạn chế của cộng đồng cũng như phải gánh chịu những rủi ro lớn hơn Nhưng trong dài hạn, những trang trại gia đình quy mô nhỏ lại đạt được sự ổn định cao hơn và hiệu suất sản xuất lớn hơn trên mỗi đơn vị diện tích đất canh tác so với các trang trại quy mô lớn hoạt động trong điều kiện tương tự

Cả nước có khoảng 17.900 hợp tác xã, trong đó có khoảng 8.553 hợp tác xã nông nghiệp chiếm 47%, tiếp đến là hợp tác xã công nghiệp và xây dựng (16%), hợp tác xã điện nước (15%)và các loại hình hợp tác xã khác (Liên minh hợp tác

xã Việt Nam) Các HTX hoạt động chủ yếu tập trung ở vùng Đồng bằng Bắc Bộ chiếm 47,1% số HTX nông nghiệp trong cả nước, tiếp đến là Bắc Trung bộ chiếm 21,1%, Tây Bắc 1,8%, Tây Nguyên 1,9%, Đông Nam bộ 2,7% Riêng vùng Đồng bằng sông Cửu Long nơi sản xuất nông nghiệp hàng hoá lớn nhất cả nước cũng chỉ có 496 hợp tác xã nông nghiệp

Nhìn chung, mô hình HTX hiện nay chưa phát huy được đúng vai trò và tiềm năng phát triển của loại hình kinh tế tập thể này Đối với các HTX kiểu cũ

đã chuyển đổi sang mô hình HTX mới theo luật HTX, song còn rất nhiều bất cập trong tổ chức và hoạt động và đã ảnh hưởng không nhỏ đến kết quả hoạt động của HTX Đặc điểm chung của những hợp tác xã kiểu mới hiện nay là: Về tổ

Trang 22

chức, quản lý: xã viên tham gia HTX chủ yếu là đại diện hộ gia đình, việc chuyển xã viên ở HTX cũ sang HTX mới còn mang tính hình thức, vốn góp xã viên được phân bổ từ giá trị tài sản, vốn của HTX cũ chuyển sang, xã viên không góp thêm vốn Do đó xã viên không có ý thức trách nhiệm xây dựng HTX

Các HTX thành lập mới xuất phát từ nhu cầu của xã viên và phát huy được tính tự nguyện, dân chủ trong HTX, song do năng lực quản lý yếu kém, vốn tài sản nhỏ bé do đó hoạt động cầm chừng hiệu quả chưa cao Phần lớn các HTX mới được thành lập trong những năm gần đây trên cơ sở tập đoàn, liên tập đoàn,

tổ hợp tác, tổ, nhóm nông dân… Trong lĩnh vực nông nghiệp: Quy mô nhiều HTX còn nhỏ, chưa được sắp xếp lại Cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ cho sản xuất kinh doanh còn thiếu Tỷ lệ lãi trên doanh thu đạt thấp, đặc biệt là các HTX dịch vụ thủy nông, bảo vệ thực vật, cung ứng vật tư và làm đất Hình thức HTX hiện nay khả năng thu hút lao động và giải quyết việc làm cho người lao động ở khu vực nông thôn thấp Trình độ cán bộ quản lý của nhiều HTX còn yếu, phần lớn chưa qua đào tạo nghiệp vụ chuyên môn

Do vậy, mục đích của chính sách tích tụ đất nông nghiệp ở nước ta là nhằm tạo điều kiện để hộ gia đình, cá nhân phát huy lợi thế quy mô trong nông nghiệp Tuy nhiên, chúng ta cần phải chọn ra được các hình thức tích tụ và quy mô diện tích đất đai phù hợp cho các hộ gia đình, cá nhân để vừa đạt được mục trên nhưng đồng thời cũng vừa giúp họ ngăn ngừa được những rủi ro do đầu tư quá mức gây ra

Việc pháp luật quy định các quyền chuyển nhượng, cho thuê, góp vốn bằng giá trị QSDĐ đối với hộ gia đình, cá nhân đã tạo điều kiện để hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp có năng lực về vốn, lao động và quản lý tổ chức sản xuất tốt mở rộng quy mô đất canh tác nông nghiệp tận dụng được lợi thế kinh tế theo qui mô để phát triển kinh tế hộ Đây cũng chính là quá trình đưa

hộ gia đình và các thành viên trong hộ từ địa vị làm thuê trong các doanh nghiệp nông nghiệp qui mô lớn, có nhiều cấp quản lý trung gian, trở thành người chủ trang trại gia đình thực thụ; đưa kinh tế hộ gia đình trở thành đơn vị kinh tế tự chủ trong nền nông nghiệp sản xuất lớn XHCN Tuy nhiên, mức tích tụ hiện nay theo quy định của pháp luật đã phù hợp với điều kiện cụ thể ở nước ta hay chưa

Trang 23

Đây là một vấn đề không dễ và rất khó được sự đồng thuận cao trong nghiên cứu cũng như trong xã hội

Thực tiễn trong hơn một thế kỷ qua cho thấy, các lý thuyết kinh tế chủ đạo

ở cả các nước tư bản lẫn các nước XHCN đều tin tưởng và sốt sắng dự báo cho

sự thất bại của mô hình trang trại gia đình quy mô nhỏ Các nhà kinh tế luôn cho

rằng trang trại nhỏ là “không sinh lợi” và “không có hiệu quả”; rằng năng suất

đất đai của các trang trại lớn cao hơn của các trang trại nhỏ, vì thế cần phải hợp nhất đất đai của các trang trại nhỏ lại để phát huy lợi thế của sản xuất quy mô lớn

có hiệu quả hơn, hơn nữa họ còn dự báo trang trại nhỏ khó có thể tồn tại trong điều kiện nền kinh tế tự do cạnh tranh Sở dĩ có tình trạng này là vì các trang trại nhỏ có xu hướng đi vào sản xuất các loại nông sản quy mô nhỏ nhưng giá trị cao

và kinh doanh tổng hợp Họ kết hợp hoặc quay vòng cây trồng và vật nuôi, với việc sử dụng nhiều lao động và các yếu tố đầu vào hơn cho một đơn vị diện tích

và sử dụng đa dạng hơn các hệ thống canh tác Vì vậy, mặc dù năng suất trên một đơn vị diện tích gieo trồng trong trang trại nhỏ có thể thấp hơn so với trang trại lớn chuyên canh, nhưng giá trị tổng sản lượng trên một đơn vị diện tích canh tác được xác định thông qua nhiều loại sản phẩm khác nhau có thể có sự khác biệt rất lớn và thường cao hơn so với trang trại có quy mô lớn [12]

Những lợi thế của trang trại quy mô lớn được tìm thấy bởi một số phân tích trước đây đã biến mất, đó là bằng chứng của tính phi hiệu quả khi quy mô trang trại tăng lên Hơn nữa các nghiên cứu cũng cho thấy: Các trang trại quy mô rất nhỏ thường hoạt động không hiệu quả bởi vì chúng không có khả năng sử dụng hết công suất các máy móc thiết bị đắt tiền, trong khi đó các trang trại quy mô rất lớn cũng không hiệu quả vì những vấn đề quản lý và lao động cố hữu trong những hoạt động lớn Hiệu quả có vẻ tập trung ở các trang trại ở nhóm giữa, thường có từ 01 đến 02 lao động làm thuê

Tóm lại, chính sách tích tụ đất nông nghiệp áp dụng đối với hộ gia đình, cá nhân không chỉ tác động trực tiếp tới sự phát triển của riêng ngành nông nghiệp - khu vực có trên 10 triệu hộ gia đình nông dân, với gần 80% dân số cả nước có thu nhập chính từ nông nghiệp - mà còn tác động chung tới cơ cấu của toàn bộ nền kinh tế đất nước Một chính sách tích tụ đất nông nghiệp đúng đắn sẽ tạo đà

Trang 24

cho tăng trưởng kinh tế mạnh và ngược lại sẽ đẩy đất nước vào tình trạng trì trệ, kém phát triển Tuy nhiên, Nhà nước thông qua việc tổng kết thực tiễn cũng cần

có các điều tiết, hướng dẫn hoặc khuyến cáo việc tích tụ đất nông nghiệp của nông dân theo một lộ trình nhất định, phù hợp với xu thế phát triển chung của nền kinh tế thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa, để nông dân tránh những tổn thất, mất mát do sự thái quá trong đầu tư mở rộng quy mô sản xuất gây ra [3]

b Tích tụ tập trung đất với chuyển dịch dân cư, cơ cấu lao động

Trong tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước các hộ gia đình sẽ được tiếp thu cơ giới hóa, điện khí hóa và tin học hóa, chuyển dần từ tiểu nông tự cấp, tự túc sang sản xuất hàng hóa trên cơ sở tích tụ đất đai, tiến tới kinh tế trang trại hộ gia đình Tích tụ đất nông nghiệp sẽ là phương án khả thi khi chúng ta giải quyết tốt vấn đề chuyển bớt lao động ra khỏi khu vực nông nghiệp, tham gia vào khu vực kinh tế phi nông nghiệp Tuy nhiên, tỷ lệ lao động chưa qua đào tạo ở khu vực nông thôn chiếm tỷ trọng vẫn còn khá lớn [8] Do vậy, Việt Nam đang phải giải quyết một nghịch lý đã và đang diễn ra trong thời gian qua với công nghiệp tăng trưởng trên hai con số, một diện tích đất sản xuất nông nghiệp không nhỏ bị chuyển sang phát triển công nghiệp và mục đích phi nông nghiệp khác trong khi điều kiện chưa có sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế phù hợp dẫn đến lao động nông nghiệp thiếu việc làm, dịch chuyển lao động tự do từ các vùng nông thôn ra các tỉnh lớn ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống xã hội hiện nay Một hiện tượng đáng chú ý hiện nay là mối liên kết giữa thị trường đất đai và thị trường

lao động còn chưa tốt

Vấn đề hiện nay chúng ta chưa quan tâm nhiều đến sự chuyển dịch cơ cấu lao động trong nông nghiệp với công nghiệp, dịch vụ thương mại nên sự mất cân đối về lao động được bộc lộ rõ nhất trong khi công nghiệp không đủ nguồn lao động có chất lượng, tay nghề đã qua đào tạo thì lao động nông nghiệp chiếm đa

số nhưng là lao động thủ công Đây là một xu thế tất yếu và phù hợp với quy luật khách quan, tuy nhiên, Nhà nước cần đầu tư cho đào tạo nghề để người lao động đáp ứng trước yêu cầu dịch chuyển đó

Trang 25

c Tích tụ và tập trung đất ảnh hưởng đến hiệu quả sản xuất nông nghiệp

Đất đai là một trong bốn yếu tố đầu vào quan trọng cho phát triển nông nghiệp Áp lực của gia tăng dân số, sự phát triển của ngành công nghiệp và dịch

vụ cùng với quá trình đô thị hóa làm giảm quỹ đất Đặc biệt ở những nước đang phát triển, diện tích canh tác giảm trở thành yếu tố cản trở sự phát triển bền vững của khu vực nông nghiệp

Có thể nhận thấy hệ thống quản lý và phương thức trồng trọt là những yếu

tố quan trọng trong việc đẩy mạnh năng suất ở các nước đang phát triển Cơ cấu của ngành nông nghiệp của mỗi nước đều rất khác nhau, nguyên nhân chính do lịch sử phát triển, tuy nhiên, cơ cấu cũng có sự giống nhau ở chỗ hạn chế tăng năng suất Ở nhiều nước, quy mô canh tác rất nhỏ và đất đai manh mún Tình trạng này có thể thấy rõ ở các quốc gia Châu Á nơi có mật độ dân số cao với nhiều mảnh đất bị chia nhỏ; khi số hộ gia tăng, đất đai sẽ được tiếp tục chia và điều này dẫn đến kém hiệu quả trong sử dụng đất Trái ngược với các quốc gia ở Châu Á, các nước Mỹ Latin lại có chủ trương tập trung đất Nhiều trang trại lớn được quản lý bởi một nhóm các nông dân giàu có Ở Brazil 90% đất thuộc về 15% dân số Trong trường hợp này, đất đai cũng được sử dụng kém hiệu quả [6] Hiện nay, có nhiều tranh cãi quanh mối quan hệ giữa tập trung ruộng đất và năng suất Tập trung ruộng đất sẽ tạo ra các trang trại lớn có thể tận dụng các lợi thế của quy mô lớn như là thực hiện cơ giới hóa để tăng năng suất Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng càng tăng lương trong khu vực phi nông nghiệp thì càng nhiều lao động chuyển từ khu vực nông nghiệp sang phi nông nghiệp Điều này cho thấy các nước đang phát triển không cần phải lo lắng về vấn đề bất bình đẳng trong phân phối đất đai nếu thị trường bất động sản ổn định và kiểm soát được Một trong những thách thức lớn nhất trong việc giải quyết vấn đề tăng trưởng nông nghiệp ở các quốc gia có tình trạng manh mún và phân tán đất đai cao

là đẩy mạnh tích tụ và tập trung ruộng đất Quá trình này bị ngăn chặn bởi một nền nông nghiệp kém phát triển nơi mà sản xuất thực hiện bởi hiệu ứng đám đông không phải bởi sản xuất hàng loạt Nếu ngành nông nghiệp muốn bắt kịp các

Trang 26

ngành khác thì nó phải có ảnh hưởng đến phần còn lại của nền kinh tế Như vậy

để có thêm đất nông nghiệp, lao động phải bị đấy ra khỏi khu vực nông nghiệp

d Tích tụ, tập trung đất ảnh hưởng đến khác biệt xã hội ở nông thôn

Các nước đang phải đối mặt với những thách thức khi tích tụ và tập trung đất chủ yếu là các nước có sự mất cân bằng lớn trong thu nhập Rủi ro trong thị trường kinh tế buộc người dân phải hứng chịu khoản nợ khổng lồ và phải thế chấp hoặc bán đất của họ và trở thành người làm thuê Bên cạnh đó, quá trình đô thị hóa, công nghiệp hóa và hạn chế của quyền sở hữu đất sẽ dễ dàng thay đổi mục đích sử dụng đất Nông dân bị thu hồi đất và không có cơ hội tham gia vào các khu vực khác và do đó khoảng cách nông thôn và thành thị ngày càng lớn Một trong những yếu tố làm giảm tác động của tích tụ và tập trung đất về sự khác biệt xã hội là thu nhập từ khu vực phi nông nghiệp Báo cáo của Ngân hàng thế giới (2008) cho rằng thu nhập từ khu vực phi nông nghiệp cao hơn khu vực nông nghiệp [6]

Di cư đóng vai trò quan trọng trong thúc đẩy tập trung ruộng đất và giảm bất bình đẳng ở khu vực nông thôn Nghiên cứu cho rằng quá trình chuyển đổi đô thị hóa tạo ra thu nhập tốt hơn là cách để xóa đói giảm nghèo Những người trẻ

và có trình độ dễ dàng di cư và tạo ra sự khác biệt hơn đối với người nông dân bị mất đất và không có cơ hội tham giá vào các hoạt động phi nông nghiệp Bởi vậy, vai trò của giáo dục trong đẩy mạnh tập trung ruộng đất là tạo ra cơ hội để thay đổi nghề nghiệp và cải thiện thu nhập

Các nước có sự bất bình đẳng cao trong vấn đề sở hữu đất đai, cơ cấu và phân bổ lại đất là giải pháp thiết yếu để giải quyết vấn đề Tuy nhiên, ở một số trường hợp, phân bổ lại đất đai không cẩn thận gây ra ảnh hưởng tiêu cực Đẩy chủ sở hữu đất ra khỏi mảnh đất của họ hoặc thay đổi mục đích sử dụng trước khi

có một khuôn khổ pháp lý tốt cho người sử dụng đất hoặc quốc hữu hóa đất đai là nguyên nhân khiến cho người dân nghèo đi Nếu đất đai được phân bổ lại thông qua cải cách ruộng đất qua đó nâng cao kĩ năng quản lý, áp dụng công nghệ cao, tiếp cận tín dụng là điều kiện cần thiết để đảm bảo khả năng cạnh tranh của chủ

sở hữu đất mới

Trang 27

1.2 Cơ sở pháp lý

Năm 1960, miền Bắc thực hiện phong trào “hợp tác hóa” vận động nông dân đóng góp ruộng đất vào làm ăn tập thể, trong đó “chế định sở hữu đất đai” vẫn theo các quy định của Hiến pháp năm 1959 Theo đó, Điều 14 Hiến pháp

năm 1959 có quy định: “Nhà nước chiếu theo pháp luật bảo hộ quyền sở hữu về

ruộng đất và các tư liệu sản xuất khác của nông dân.” Tuy nhiên, tại thời điểm

đó, 95% diện tích đất do hợp tác xã quản lý chỉ tạo ra 30 – 40% thu nhập, còn 5% đất giao cho hộ gia đình xã viên làm kinh tế phụ gia đình đem lại 60 – 70% thu nhập Việc các hợp tác xã quản lý và sử dụng đất đai kém hiệu quả đã dẫn đến cuộc khủng hoảng kinh tế - xã hội, khủng hoảng lương thực trầm trọng [1]

Năm 1980, bản Hiến pháp năm 1980 đã ghi nhận “đất đai thuộc sở hữu

toàn dân do nhà nước thống nhất quản lý theo quy hoạch chung” Ngay sau đó,

Chỉ thị số 100/CT-TƯ ngày 15/1/1981 (hay còn gọi là Khoán 100) về khoán sản phẩm đến nhóm và người lao động đã tạo ra bước ngoặt trong việc quản lý và sử dụng có hiệu quả tư liệu sản xuất mà chủ yếu là đất đai Khoán 100 đã bước đầu khôi phục quyền tự chủ trong sử dụng đất đai phục vụ sản xuất nông nghiệp, gắn lao động với đất đai, làm cho người lao động trong các hợp tác xã quan tâm hơn đến kết quả cuối cùng

Luật đất đai ra đời năm 1987, đánh dấu một cột mốc quan trọng của hệ

thống pháp luật về đất đai Luật đất đai đầu tiên của nước ta quy định: “Đất đai

thuộc sở hữu toàn dân, do Nhà nước thống nhất quản lý” Đồng thời, Nhà nước

giao đất cho các nông trường, lâm trường, xí nghiệp, đơn vị vũ trang nhân dân,

cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội và cá nhân để sử dụng ổn định, lâu dài tùy theo loại đất thông qua việc cấp giấy chứng nhận việc giao đất Tuy nhiên, Luật đất đai năm 1987 vẫn hạn chế việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất thông qua quy

định: “nghiêm cấm việc mua, bán, lấn chiếm đất đai, phát canh thu tô dưới mọi

hình thức” Sau một thời gian ngắn, Nghị quyết 10 của Ban Chấp hành Trung

ương Đảng Cộng sản Việt Nam khóa VI năm 1988 về "Đổi mới quản lý nông

nghiệp" (còn gọi là Khoán 10) được ban hành và được coi là dấu mốc quan trọng

đánh dấu bước đột phá về nông nghiệp Theo đó, hộ nông dân được thừa nhận là một đơn vị kinh tế độc lập, có quyền bình đẳng với các thành phần kinh tế khác,

Trang 28

và được giao đất đai ổn định và lâu dài (từ 10 – 15 năm) Sau khoán 10, một số văn kiện Đảng về đất đai tiếp tục khẳng định quyền sử dụng đất thuộc về toàn dân và đẩy mạnh công cuộc phát triển kinh tế nông nghiệp như: Nghị quyết Đại hội VII và Nghị quyết Hội nghị Trung ương 2 khóa VII năm 1992 đã đề ra chủ

trương: “Ruộng đất thuộc quyền sở hữu toàn dân, giao cho nông dân quyền sử

dụng lâu dài.”; Nghị quyết Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương

khóa VII (tháng 6-1993) về "Tiếp tục đổi mới và phát triển mạnh mẽ kinh tế - xã hội nông thôn"

Năm 1993, Luật đất đai tiếp tục được sửa đổi và ban hành đã tách quyền sở hữu và quyền sử dụng đất đai theo hướng khẳng định quyền sở hữu đất thuộc về toàn dân do Nhà nước là đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý, nhưng hộ gia đình vẫn được giao quyền sử dụng đất ổn định, lâu dài và có quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, thế chấp và thừa kế quyền sử dụng đất, đó là quyền sở hữu quyền sử dụng đất Vấn đề hạn mức giao đất nông nghiệp cho hộ nông dân

và thời hạn giao đất cũng được Luật đất đai năm 1993 quy định cụ thể Điều 44

Luật đất đai năm 1993 quy định: “Hạn mức đất nông nghiệp trồng cây hàng năm

của mỗi hộ gia đình là không quá 3 ha do Chính phủ quy định cụ thể đối với từng địa phương Chế độ quản lý và sử dụng đối với phần đất mà các hộ gia đình sử dụng vượt quá hạn mức nói trên do Chính phủ quy định Hạn mức đất nông nghiệp trồng cây lâu năm và hạn mức đất trống, đồi núi trọc, đất khai hoang, lấn biển của mỗi hộ gia đình khai thác để sản xuất nông nghiệp, trồng rừng, nuôi trồng thuỷ sản do Chính phủ quy định.” Khung giá các loại đất đối với từng

vừng và theo từng mốc thời gian được nhà nước quy định làm cơ sở để thu thuế giao đất, tính thuế chuyển nhượng quyền sử dụng đất và bồi thường thiệt hại khi thu hồi đất

Đến năm 2003, Luật đất đai được sửa đổi nhằm phù hợp với tình hình kinh

tế - xã hội bấy giờ Luật đất đai năm 2003 đã xác định quyền sử dụng đất là hàng hóa, được tham gia vào thị trường và theo điểm a khoản 1 Điều 56 thì việc định

giá đất của Nhà nước quy định tại phải đảm bảo nguyên tắc: “Sát với giá chuyển

nhượng quyền sử dụng đất thực tế trên thị trường trong điều kiện bình thường; khi có chênh lệch lớn so với giá chuyển nhượng quyền sử dụng đất thực tế trên

Trang 29

thị trường thì phải điều chỉnh cho phù hợp;” Về hạn mức nhận chuyển nhượng

quyền sử dụng đất, Điều 2 Nghị quyết số 1126/2007/NQ-UBTVQH11 ngày

21/6/2007 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quyết định: “Hạn mức nhận chuyển

quyền sử dụng đất trồng cây hàng năm, đất trồng cây lâu năm, đất rừng sản xuất

là rừng trồng, đất nuôi trồng thuỷ sản và đất làm muối của mỗi hộ gia đình, cá nhân để sử dụng vào mục đích nông nghiệp” Trong Nghị quyết Hội nghị lần thứ

bảy Ban Chấp hành Trung ương khóa X, Nghị quyết số 26-NQ/TW “Về nông

nghiệp, nông dân, nông thôn" đã tiếp tục khẳng định đất đai là sở hữu toàn dân,

Nhà nước thống nhất quản lý theo quy hoạch, kế hoạch để sử dụng có hiệu quả; giao đất cho hộ gia đình sử dụng lâu dài; mở rộng hạn mức sử dụng đất, thúc đẩy quá trình tích tụ đất đai

Đến năm 2012, Nghị quyết số 19-NQ/TW, ngày 31-10-2012, của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI một lần nữa khẳng định và xác định rõ mục tiêu tiếp tục đổi mới chính sách, pháp luật về đất đai trong thời kỳ đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới, tạo nền tảng để đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành

nước công nghiệp theo hướng hiện đại, theo đó: “Tiếp tục giao đất, cho thuê đất

nông nghiệp cho hộ gia đình, cá nhân sử dụng có thời hạn theo hướng kéo dài hơn quy định hiện hành để khuyến khích nông dân gắn bó hơn với đất và yên tâm đầu tư sản xuất Đồng thời, mở rộng hạn mức nhận chuyển quyền sử dụng đất nông nghiệp phù hợp với điều kiện cụ thể từng vùng, từng giai đoạn để tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình tích tụ, tập trung đất đai, từng bước hình thành những vùng sản xuất hàng hóa lớn trong nông nghiệp Sớm có giải pháp đáp ứng nhu cầu đất sản xuất và việc làm cho bộ phận đồng bào dân tộc thiểu số đang không có đất sản xuất.” Gần đây nhất tại văn kiện đại hội VII của Đảng đã nêu

rõ quan điểm về tích tụ và tập trung đất đai: “Chú trọng đầu tư vùng trọng điểm

sản xuất nông nghiệp Có chính sách phù hợp để tích tụ, tập trung ruộng đất, thu hút mạnh các nguồn lực đầu tư phát triển nông nghiệp; từng bước hình thành các tổ hợp nông nghiệp - công nghiệp - dịch vụ công nghệ cao.”

Trang 30

1.3 Cơ sở thực tiễn

1.3.1 Tích tụ đất nông nghiệp tại một số nước trên thế giới

Tại các quốc gia trên thế giới, quá trình sử dụng đất nông nghiệp để phát triển trang trại với hàng chục hecta đã được thực hiện từ lâu như: Hà Lan, Mỹ, Úc… Kinh nghiệm quốc tế cho thấy, muốn cho nông nghiệp phát triển thì quy

mô trang trại phải được tăng dần lên Quy mô của các trang trại sản xuất nông nghiệp của một số nước đã được nghiên cứu từ những năm 90 được thể hiện tại bảng 1.1

Bảng 1.1 Quy mô bình quân trang trại của một số nước

Nguồn: Đỗ Kim Chung (2000)

Ngày nay, trong quá trình phát triển kinh tế xã hội thì việc tích tụ đất nông nghiệp vẫn được duy trì ở các quốc gia Đó cũng là một trong những động lực

giúp cho ngành nông nghiệp tại các quốc gia phát triển

1.3.1.1 Tại Mỹ

Mỹ là một quốc gia có nhiều ưu điểm trong phát triển nông nghiệp, điển

hình là các mô hình nông nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa điển hình Năm

2010, Mỹ là nước có GDP/PPP tới 14.660 tỷ USD, tuy nhiên nông nghiệp chỉ chiếm 1,1% GDP, số lượng lao động làm nông nghiệp chiếm 0,7% Nhà nước

Mỹ đặc biệt quan tâm hỗ trợ nông nghiệp về nhiều mặt từ sản xuất đến tiêu thụ nông sản Về sản xuất Nhà nước tạo môi trường thuận lợi cho hoạt động sản xuất kinh doanh của các trang trại như về năng lượng điện,nông nghiệp được ưu tiên

số một giống như các công trình quốc phòng Về tiêu thụ nông sản, Nhà nước tác động vào giá cả đảm bảo lợi ích của nông dân, tích cực hỗ trợ xuất khẩu nông sản [7] Tại các cánh đồng của Mỹ trông hút tầm mắt mà không thấy những chiếc bờ

Trang 31

quen thuộc như ở Việt Nam Nước Mỹ có khoảng 2,1 triệu trang trại với diện tích bình quân mỗi trang trại là 446 acres (1acre = 0,4 ha); tương đương với 178,4 ha tại Việt Nam Các trang trại chiếm mật độ cao ở một số bang của vùng Trung Tây nước Mỹ như: Texas là 230.000 trang trại, Montana có 105.000 trang trại, Indiana có 88.600 trang trại, Kentucky có 84.000 trang trại Theo thống kê của

Bộ Nông nghiệp Mỹ vào tháng 02/2014 Mỹ có tổng số nông trại là 2.109.363 nông trại, trung bình mỗi nông trại có diện tích 174 ha Sự thành công trong sản xuất nông nghiệp tại nông trại này là do quá trình cơ giới hóa các phương tiện canh tác, sử dụng máy móc thay cho lao động thủ công Việc cơ giới hóa máy móc không chỉ đơn thuần là tăng số lượng máy móc trên đồng ruộng mà còn chú

ý đến thực hiện kết hợp các tính năng tạo ra các máy liên quan như kết hợp máy

kéo, máy cày, máy gieo trồng và máy gặt

1.3.1.2 Hà Lan

Hà Lan là một quốc gia nhỏ bé và diện tích canh tác nông nghiệp được xếp vào hạng thấp nhất trên thế giới, nhưng nông nghiệp của Hà Lan lại có một bước đột phá đứng đầu thế giới Cơ sở của nền nông nghiệp Hà Lan là các trang trại gia đình theo chế độ tư hữu Tỷ lệ sở hữu đất tự có với số lượng tương đối lớn, còn lại là các trang trại dựa vào thuê đất để sản xuất kinh doanh Hà Lan có một nền kinh tế thị trường hoàn chỉnh, đảm bảo các chủ trang trại có toàn quyền quyết định hoạt động sản xuất và quyền định đoạt tài nguyên của mình Các chủ trang trại không ngừng nâng cao hiệu suất sử dụng tài nguyên có hạn, không ngừng đổi mới, thích ứng kịp tình hình biến động cơ cấu, công nghệ, hạn chế rủi

ro về thiên nhiên và thị trường Việc mở rộng quy mô trang trại dựa vào 2 chính sách của Nhà nước là: 1) Chính sách mua và thuê đất; 2) Chính sách khuyến khích trang trại làm kém được giải thể Với những chính sách khuyến khích này đến năm 1950 có 349.000 trang trại với quy mô bình quân là 7 ha/ trang trại nhưng đến năm 1987 con số tương ứng là 128.000 trang trại và bình quân 16 ha/trang trại (quy mô 1 trang trại là 128,57 ha) Thực chất, trang trại nông nghiệp của Hà Lan là một chủ thể sản xuất kinh doanh hàng hóa, là một doanh nghiệp nông nghiệp, hoạt động trong cơ chế thị trường, hội nhập hoàn toàn vào thị trường thế giới, đọ sức với mọi thử thách trong cạnh tranh quốc tế Điều đó cho

Trang 32

thấy hoạt động tích tụ đất nông nghiệp để phát triển sản xuất hàng hóa quy mô lớn của Hà Lan diễn ra mạnh mẽ Tích tụ làm giảm lao động trong ngành nông nghiệp xuống 62,58% tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển các ngành kinh tế khác Điều này cũng thúc đẩy sự phát triển kinh tế của Hà Lan

1.3.1.3 Tại Nhật Bản

Nhật Bản thực hiện chính sách “Người cày có ruộng” để đảm bảo công bằng xã hội, chia đất đều cho nông dân và hạn chế bởi chính sách hạn điền Ban đầu nông nghiệp tăng trưởng khá nhưng về sau bị chững lại do giá đất nông thôn lên cao, khó áp dụng công nghệ mới Đây là cái “bẫy quy mô sản xuất nhỏ” mà

cả ba nền kinh tế mắc phải

Nhật Bản là quốc gia có nền công nghiệp phát triển đến chóng mặt, có trình độ công nghệ bậc nhất thế giới, kể cả nông nghiệp Nhật có 127,8 triệu dân, diện tích đất canh tác có 4,75 triệu ha, bình quân 360 m2/người Trong 20 năm

1980 - 1999 xuất khẩu nông sản lũy kế đạt 40,9 tỉ USD, chỉ bằng mức xuất khẩu năm 1996 của Hà Lan Trong 5 năm 1995 - 1999, nhập khẩu nông sản trên 269 tỉ USD, mức nhập siêu nông sản lũy kế đạt 51,6 tỉ USD Chính sách khuyến khích tích tụ đất nông nghiệp ở Nhật Bản đã được thực hiện, kết quả rõ nét nhất là số trang trại giảm từ 5.543.000 trang trại năm 1970 xuống còn 3.789.000 trang trại năm 1990 với diện tích bình quân là 4,26 ha/trang trại Sở dĩ có sự giảm về số lượng trang trại là do nhiều trang trại quy mô nhỏ, sản xuất không hiệu quả đã nhượng lại đất sản xuất nông nghiệp cho các hộ xung quanh Nông nghiệp Nhật Bản với quy mô sản xuất chính là hộ gia đình nhỏ, mang đậm văn hóa lúa nước Diện tích trung bình một hộ nông dân Nhật năm 1878 là 1,0 ha và năm 1962 chỉ còn 0,8 ha

Thời kỳ này, các trang trại trung bình và lớn trên mỗi hộ ở dạng điền chủ kết hợp với thuê đất lớn hơn Điền chủ kết hợp với thuê đất là những nông dân thuê thêm đất để làm trang trại lớn hơn khi họ có sẵn lao động và năng lực quản

lý trang trại lớn hơn Thực tế cho thấy thị trường thuê đất canh tác đã vận hành tốt và các nông dân là chủ đất có thể mở rộng kinh doanh thông qua thị trường

Có thể nói, việc hình thành trang trại vừa, nhỏ, lớn ở Nhật Bản thông qua hình

Trang 33

thức tích tụ là một trong những thành công lớn, sản lượng nông sản ở Nhật tăng mạnh

1.3.1.4 Tại Đài Loan

Chính sách cải cách ruộng đất của Đài Loan được tiến hành từ những năm đầu 1950 và được tiến hành theo 3 bước: 1) Giảm địa tô để giảm bớt gánh nặng

về kinh tế cho nông dân; 2) Nhà nước quy định mức ruộng đất cá nhân có quyền chiếm hữu; 3) Số ruộng đất trên hạn mức được pháp luật quy định giá hợp lý ưu tiên cho nông dân mua nhằm làm cho người cày có ruộng

Chính quyền Đài Loan đã thực hiện cải cách ruộng đất theo nguyên tắc phân phối đồng đều đất cho nông dân Điều này tạo điều kiện thuận lợi cho ra đời các trang trại gia đình quy mô nhỏ Tuy nhiên quá trình công nghiệp hóa nông nghiệp nông thôn đòi hỏi phải mở rộng diện tích sản xuất của các trang trại nhằm ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật, máy móc, cơ giới hóa, giảm chi phí sản xuất, hạ giá thành sản phẩm Đến năm 1983, Đài Loan công bố Luật phát triển nông nghiệp trong đó công nhận phương thức sản xuất ủy thác của các hộ nông dân, Nhà nước công nhận việc chuyển quyền sử dụng ruộng đất cho các hộ khác nhưng chủ ruộng cũ vẫn được thừa nhận quyền sở hữu Sau khi thực hiện, ước tính trên 75% số trang trại áp dụng phương thức này để mở rộng quy mô sản xuất Ngoài ra, các trang trại cùng địa phương còn tiến hành hợp tác trong một số khâu sản xuất: làm đất, mua bán chung một số vật tư máy móc và sản phẩm nông nghiệp Năm 1953, Đài Loan có 679.000 trang trại với quy mô trung bình 1,29

ha Đầu năm 1991, tổng số trang trại tăng lên đến 823.256 trang trại với quy mô trung bình là 1,08 ha Chính sách tích tụ đất nông nghiệp tại Đài Loan nhằm giúp cho người dân mở rộng quy mô sản xuất nông nghiệp hình thành lên các trang trại nông nghiệp, tăng khả năng chuyên môn hóa tại khu vực nông thôn Ở đây, các trang trại có mối liên kết với nhau trong các khâu sản xuất Đây là một trong những ưu điểm cần được phát huy trong sản xuất nông nghiệp của các hộ dân tại Việt Nam

1.3.2 Tích tụ đất nông nghiệp tại Việt Nam

Tích tụ đất nông nghiệp đã và đang diễn ra tại các địa phương trên cả nước nhưng quy mô và hình thức giữa các địa phương, giữa các vùng là khác

Trang 34

nhau Tuy nhiên, tích tụ đất nông nghiệp của Việt Nam hiện nay có một số đặc điểm sau:

- Quy mô tích tụ đất nông nghiệp của các hộ dân nhỏ, chủ yếu là dưới 0,5

ha chiếm tỷ lệ lớn Sở dĩ có đặc điểm này là do tập quán canh tác nhỏ lẻ và tình trạng manh mún đất đai diễn ra trên khắp các địa phương

- Hiệu quả kinh tế của tích tụ đất nông nghiệp có sự khác nhau giữa các vùng Mỗi vùng miền sẽ có ưu thế khác nhau về các sản phẩm nông nghiệp cũng như điều kiện tự nhiên

- Tích tụ đất nông nghiệp chưa gắn với phân công lại lao động trong nông thôn, nông nghiệp một cách chặt chẽ: các trang trại trồng trọt chỉ sử dụng lao động gia đình là chính, kết hợp với thuê máy móc làm đất, gặt đập (đồng bằng sông Cửu Long), hoặc sử dụng lao động chủ yếu của gia đình kết hợp với thuê lao động gặt, cấy theo thời vụ (ở vùng trung du miền núi và đồng bằng Bắc Bộ)

- Tích tụ đất nông nghiệp vẫn mang tính chất tự phát

Với những chính sách về tích tụ đất nông nghiệp được thể hiện gián tiếp thông qua các chính sách đất đai qua các thời kỳ cho thấy sơ khởi tích tụ đã hình thành và vẫn phát triển cho đến nay Quá trình này được thể hiện rõ hơn khi Nhà nước công nhận việc phát triển kinh tế trạng trại và việc cấp giấy chứng nhận kinh tế trang trại do Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn quy định

1.3.2.1 Vùng Đồng bằng sông Hồng

Đồng bằng sông Hồng là một trong hai đồng bằng lớn nhất của cả nước, có diện tích tự nhiên là 2.097 ngàn ha, chiếm 6,33% diện tích tự nhiên của cả nước Dân số của vùng 19,65 triệu người, mật độ dân số 933 người/m2 Tổng số lao động trong vùng là 8,1 triệu người, trong đó lao động nông nghiệp 6,3 triệu người, chiếm 78,03% lao động của vùng

Mặc dù tỉ lệ gia tăng dân số tự nhiên của vùng giảm mạnh nhưng mật độ dân số vẫn cao, gấp 5 lần so với mật độ trung bình của cả nước, gấp 3 lần so với vùng đồng bằng sông Cửu Long và gấp 17,6 lần so với vùng Tây Nguyên Dân

cư đông đúc tạo cho vùng nguồn lao động dồi dào, với truyền thống kinh nghiệm sản xuất phong phú, chất lượng cao dẫn đầu cả nước Tuy nhiên, bình quân đất

Trang 35

nông nghiệp của vùng thấp nhất cả nước, 0,0472 ha/người, trung bình mỗi hộ chỉ

có 0,2 ha đất nông nghiệp Dân số đông, đất canh tác ít cũng đem đến những khó khăn, gây sức ép nặng nề lên sự phát triển kinh tế - xã hội

Đồng bằng sông Hồng hiện có 26,3 triệu thửa ruộng, chia cho 2,8 triệu hộ Đây là vùng có mức độ ruộng đất manh mún nhất cả nước, trung bình mỗi hộ gần 9,4 thửa, ở các vị trí khác nhau Quy mô đất nông nghiệp của các nông hộ quá nhỏ đã ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả sản xuất nông nghiệp, không áp dụng được cơ giới hoá đồng bộ và tiến bộ khoa học kỹ thuật

Trước thực trạng trên, đã xuất hiện nhiều điển hình về tích tụ ruộng đất ở

tỉnh Vĩnh Phúc, Bắc Ninh, Hưng Yên, Thái Bình… Nhiều hộ nông dân có điều

kiện, có vốn và khả năng sản xuất đã tích tụ ruộng đất bằng nhiều hình thức như nhận chuyển nhượng, thuê đất để phát triển những mô hình sản xuất gia trại, trang trại, đem lại hiệu quả kinh tế cao

Nhưng nhìn chung, do nhiều nguyên nhân như thiếu quy hoạch, tâm lý sản xuất tiểu nông… quá trình tích tụ đất nông nghiệp của vùng diễn ra chậm, quy

mô nhỏ Hiện nay, quy mô sử dụng đất dưới 0,5ha/hộ vẫn chiếm tới 61,02%, từ 0,5 đến dưới 1ha là 17,14%, từ 1ha trở lên là 17,8% Việc sử dụng đất nông nghiệp manh mún theo quy mô hộ tiểu nông, sản xuất tự cấp tự túc vẫn phổ biến làm cho việc sử dụng đất kém bền vững và hiệu quả thấp Quá trình tích tụ ruộng đất chưa gắn với phân công lại lao động trong nông nghiệp, nông thôn một cách hợp lý

Trong những năm qua, nhiều mô hình kinh tế trang trại chuyên canh cây công nghiệp (cà phê, chè, cao su, điều, hồ tiêu ), chuyên chăn nuôi bò đàn, lợn hướng nạc được hình thành và phát triển nhanh chóng Các thế mạnh về nông

Trang 36

nghiệp của Tây Nguyên như: phát triển trang trại lâm nghiệp, trang trại trồng cây công nghiệp, trang trại chăn nuôi đại gia súc trên cơ sở thâm canh, sử dụng các tiến

bộ khoa học kỹ thuật mới vào sản xuất được phát huy và đem lại kết quả tích cực Việc phát triển kinh tế trang trại là đơn vị kinh tế tự chủ đã thực sự tác động đến người dân Việc giao đất, giao rừng ngày càng ổn định gắn với lợi ích kinh tế là động lực thúc đẩy kinh tế phát triển Nhiều nơi người dân đã nhận chuyển nhượng đất sản xuất, tích tụ đất đai để có được những diện tích lớn, sản xuất tập trung, chủ yếu ở những nơi có đất trống, đồi núi trọc, đất lâm nghiệp Bên cạnh những kết quả đạt được trong sản xuất nông nghiệp, Tây Nguyên

là vùng còn gặp rất nhiều khó khăn do trình độ dân trí thấp Phần lớn nông dân chưa thoát khỏi tư tưởng sản xuất tự cung, tự cấp Đây là nguyên nhân cơ bản hạn chế rất nhiều tới việc tích tụ ruộng đất, đưa tiến bộ khoa học kỹ thuật vào thực tế sản xuất nông, lâm nghiệp ở Tây Nguyên

1.3.2.3 Vùng Đông Nam bộ

Vùng Đông Nam bộ có diện tích tự nhiên 2.360 ngàn ha, chiếm 7,12% diện tích cả nước Dân số toàn vùng là 12,8 triệu người, mật độ dân số khá cao 543 người/km2, gấp 2 lần mật độ dân số cả nước Tổng số lao động của vùng có 5,83 triệu người Bình quân đất nông nghiệp trên một lao động nông nghiệp là 0,40 ha

và trên một hộ làm nông nghiệp là 0,95 ha

1.3.2.4 Vùng Đồng bằng sông Cửu Long

Đồng bằng sông Cửu Long có diện tích tự nhiên 4.060 ngàn ha, chiếm 12,26% diện tích cả nước Trong đó diện tích đất nông nghiệp của vùng chiếm 2.960.486 ha, lớn nhất so với các vùng trong cả nước

Tổng dân số là 17,7 triêu người, mật độ dân số 436 người/km2 Tổng số lao động 9,8 triêu người, trong đó lao động nông nghiệp là 8,1 triệu người, chiếm 82,69% lao động vùng Bình quân đất nông nghiệp trên một lao động nông nghiệp là 0,36 ha và trên một hộ làm nông nghiệp là 1,03 ha

Những năm qua, diện tích đất nông nghiệp không ngừng được mở rộng thông qua khai hoang, cải tạo; cơ cấu cây trồng - vật nuôi được chuyển dịch theo hướng sản xuất hàng hóa, nâng cao giá trị kinh tế trên cùng một đơn vị diện tích Kết quả điều tra cho thấy, khi sản xuất lúa hàng hóa tăng mạnh, việc tích tụ

Trang 37

ruộng đất của vùng tăng rất nhanh Năm 1994, toàn vùng có 3,63% số hộ có từ 3

- 5ha và 0,73% số hộ có trên 5ha, năm 1998 tỷ lệ này tăng tương ứng lên 30,32%

và 12,65% Hiện nay, số lượng ruộng đất được tích tụ tập trung nhiều nhất ở vùng Đồng Tháp Mười, tứ giác Long Xuyên, bán đảo Cà Mau

Tích tụ ruộng đất để phát triển kinh tế trang trại đang là xu hướng ở Đồng bằng sông Cửu Long, nhất là các tỉnh ven biển Cụ thể, tỉnh Kiên Giang có hơn 7.500 trang trại, quy mô trung bình mỗi trang trại gần 5ha Trong đó có 5.000 trang trại trồng trọt, hơn 2.200 trang trại nuôi trồng thủy sản Vùng tứ giác Long Xuyên chiếm tới trên 31% số trang trại toàn tỉnh và chiếm gần 50% trang trại nuôi trồng thủy sản Một tính toán sơ bộ cho thấy, hiệu quả từ mô hình này cao hơn 1,5 lần so với kinh tế hộ Các trang trại đã tạo việc làm ổn định cho khoảng 25.800 lao động thường xuyên với mức thu nhập từ 800.000 đồng - 1 triệu đồng/tháng

Trang 38

CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG

VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU

- Đất nông nghiệp và các yếu tố ảnh hưởng đến tích tụ, tập trung và hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp tại huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam;

- Các đối tượng sử dụng đất tham gia vào quá trình tích tụ, tập trung đất đai tại huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam

2.2 PHẠM VI NGHIÊN CỨU

- Không gian: Trên địa bàn huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam

- Thời gian: Giai đoạn từ 2012 – 2017

2.3 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

2.3.1 Khái quát điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của huyện Thanh Liêm

- Điều kiện tự nhiên

- Điều kiện kinh tế - xã hội

- Đánh giá chung về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của huyện Thanh Liêm

2.3.2 Tình hình quản lý và sử dụng đất đai của huyện Thanh Liêm

- Tình hình quản lý đất đai của huyện Thanh Liêm giai đoạn 2012 - 2017

- Hiện trạng sử dụng đất của huyện Thanh Liêm năm 2017

2.3.3 Đánh giá thực trạng tích tụ, tập trung đát nông nghiệp tại huyện Thanh Liêm

- Khái quát chung về tích tụ đất nông nghiệp

- Kết quả công tác tích tụ đất nông nghiệp huyện Thanh Liêm

- Đánh giá công tác tích tụ, tập trung đất nông nghiệp huyện Thanh Liêm

2.3.4 Đề xuất một số giải pháp thúc đẩy tích tụ, tập trung đất đai tại huyện

2.4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.4.1 Phương pháp điều tra, thu thập số liệu thứ cấp

Đề tài đã sử dụng phương pháp điều tra thu thập số liệu thứ cấp để tiến hành thu thập số liệu đã được công bố từ các cơ quan nghiên cứu, cơ quan quản

lý các cấp tại huyện Thanh Liêm:

Trang 39

- Các số liệu được thu thập từ Cục Thống kê, Sở Tài nguyên và môi trường tỉnh Hà Nam và Phòng Tài nguyên và môi trường huyện Thanh Liêm

2.4.2 Phương pháp điều tra, thu thập số liệu sơ cấp

- Sử dụng 100 phiếu điều tra ngẫu nhiên 100 hộ gia đình, cá nhân đã thực hiện tích tụ đất nông nghiệp Các tiêu chí điều tra bao gồm: thông tin chung về

hộ điều tra; tác động của công tác dồn điền đổi thửa, thực trạng thuê đất nông nghiệp theo hộ gia đình, nhân tố ảnh hưởng đến tích tụ đất đai

2.4.3 Phương pháp phân tích và xử lý số liệu

- Tổng hợp tình hình thực hiện tích tụ,tập trung đất nông nghiệp trên địa bàn huyện theo từng đơn vị hành chính và theo giai đoạn từ 2012 - 2017 của huyện Thanh Liêm;

- Trên cơ sở điều tra thực tế, sử dụng phần mềm Excel để tiến hành thống

kê và tổng hợp theo từng đơn vị hành chính, từng nội dung để phân loại các thông tin theo các nội dung nghiên cứu và lập thành bảng Sau đó, sử dụng phương pháp phân tích số liệu để tiến hành phân tích các kết quả nghiên cứu trong đề tài

Trang 40

CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

3.1 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ VÀ XÃ HỘI CỦA HUYỆN THANH LIÊM, TỈNH HÀ NAM

3.1.1 Điều kiện tự nhiên

3.1.1.1 Vị trí địa lý

Thanh Liêm là một huyện bán sơn địa, nằm ở phía Tây Nam của tỉnh Hà Nam Trung tâm huyện cách tỉnh Phủ Lý 4km, cách Thủ đô Hà Nội 62km trên tuyến đường giao thông xuyên Việt quan trọng vào bậc nhất của cả nước Hệ thống sông Đáy, đường Quốc lộ 1A, 21A, đường sắt Bắc Nam là những tuyến giao thông quan trọng thuận lợi cho Thanh Liêm có điều kiện giao lưu kinh tế, văn hoá với các tỉnh trong cả nước

Thanh Liêm có vị trí giáp ranh như sau:

- Phía Bắc giáp huyện Kim Bảng, huyện Duy Tiên và Tỉnh Phủ Lý;

- Phía Nam giáp huyện Ý Yên - tỉnh Nam Định và huyện Gia Viễn - tỉnh Ninh Bình;

- Phía Đông giáp huyện Bình Lục;

- Phía Tây giáp huyện Lạc Thuỷ - tỉnh Hoà Bình

Toàn huyện có 17 đơn vị hành chính cấp xã với tổng diện tích tự nhiên là: 16.491,36 ha

Thanh Liêm có dải núi đá vôi ở phía Tây sông Đáy, có trữ lượng lớn và dãy núi phía Đông Quốc lộ 1A có hàm lượng sét cao, là tiềm năng, thế mạnh của Thanh Liêm trong quá trình phát triển công nghiệp, sản xuất vật liệu xây dựng

3.1.1.2 Địa hình, địa mạo

Huyện Thanh Liêm chịu ảnh hưởng của nhiều đới cấu trúc địa chất khác nhau khiến cho địa hình khu vực có sự phân hoá tương phản thể hiện rõ nét theo hướng Tây - Đông và hướng Bắc - Nam Xét về mặt cấu trúc ngang đi từ Tây sang Đông có thể chia địa hình khu vực nghiên cứu thành vùng chính như sau:

a Vùng núi

Địa hình núi phân bố dọc phía Tây của huyện chủ yếu thuộc thị trấn Kiện Khê, xã Thanh Thủy, Thanh Tân, Thanh Nghị và Thanh Hải và chiếm khoảng

Ngày đăng: 11/05/2019, 23:02

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đặng Kim Sơn (2014), Nông nghiệp nông thôn Việt Nam: 20 năm đổi mới và phát triển, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nông nghiệp nông thôn Việt Nam: 20 năm đổi mới và phát triển
Tác giả: Đặng Kim Sơn
Nhà XB: Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia
Năm: 2014
2. Lâm Thị Mai Lan (2015), “Manh mún đất đai – một rào cản đối với nông nghiệp Việt Nam”, Tạp chí phát triển Kinh tế - Xã hội Việt Nam, số 27, pp.73-80 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Manh mún đất đai – một rào cản đối với nông nghiệp Việt Nam”, "Tạp chí phát triển Kinh tế - Xã hội Việt Nam
Tác giả: Lâm Thị Mai Lan
Năm: 2015
3. Lê Du Phong (2014), Các vấn đề đất đai ở khu vực nông thôn Việt Nam, Tài liệu nghiên cứu trong Hội thảo quốc tế đƣợc tổ chức bởi Viện Khoa học xã hội và Trung tâm nghiên cứu phát triển Trung Quốc, Hà Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các vấn đề đất đai ở khu vực nông thôn Việt Nam
Tác giả: Lê Du Phong
Năm: 2014
4. Nakachi (2001), “Cơ cấu của việc nắm giữ đất tại khu vực nông thôn và luật đất đai”, Nông nghiệp Việt Nam trong nền kinh tế thị trường, Nhà xuất bản nông nghiệp, Hà Nam, pp.71-96 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ cấu của việc nắm giữ đất tại khu vực nông thôn và luật đất đai”, " Nông nghiệp Việt Nam trong nền kinh tế thị trường
Tác giả: Nakachi
Nhà XB: Nhà xuất bản nông nghiệp
Năm: 2001
5. Phạm Văn Hùng, T.Gordon MaAulay, Saly P.Marsh (2013), Phát triển nông nghiệp và chính sách đất đai ở Việt Nam, Trung tâm Nghiên cứu Nông nghiệp Quốc tế Úc (ACIAR) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển nông nghiệp và chính sách đất đai ở Việt Nam
Tác giả: Phạm Văn Hùng, T.Gordon MaAulay, Saly P.Marsh
Năm: 2013
6. Vũ Trọng Khải (2015), “Tích tụ ruộng đất – trang trại và nông dân”, Tin tức nông nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tích tụ ruộng đất – trang trại và nông dân”
Tác giả: Vũ Trọng Khải
Năm: 2015
7. Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn, Các văn bản pháp luật về nông nghiệp và phát triển nông thôn, Nhà xuất bản lao động xã hội, Hà Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các văn bản pháp luật về nông nghiệp và phát triển nông thôn
Nhà XB: Nhà xuất bản lao động xã hội
8. Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn, Đánh giá lại chính sách đất đai và đề xuất sửa đổi luật đất đai, Báo cáo cho Ủy ban kinh tế trung ƣơng Đảng, Hà Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá lại chính sách đất đai và đề xuất sửa đổi luật đất đai
9. Bộ Tài nguyên và Môi trường (2011), Quy hoạch sử dụng đất đai giai đoạn 2011 – 2015 tầm nhìn đến 2020, Hà Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy hoạch sử dụng đất đai giai đoạn 2011 – 2015 tầm nhìn đến 2020
Tác giả: Bộ Tài nguyên và Môi trường
Năm: 2011
10. Viện Quy hoạch và Thiết kế nông nghiệp, Báo cáo biến động sử dụng và mất đất nông nghiệp nông thôn trong giai đoạn công nghiệp hóa, hiện đại hóa, Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo biến động sử dụng và mất đất nông nghiệp nông thôn trong giai đoạn công nghiệp hóa, hiện đại hóa
17. Nguyễn Thanh Sơn (2010), "Sơ kết 1 năm thực hiện chuyển đổi ruộng đất", Tạp chí Nông nghiệp nông thôn Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sơ kết 1 năm thực hiện chuyển đổi ruộng đất
Tác giả: Nguyễn Thanh Sơn
Năm: 2010
11. Công báo UBND tỉnh Hà Nam (2010), Hướng dẫn số 34/HD-BCĐ ngày 09/02/2010 về việc thành lập ban chỉ đạo tích tụ đất nông nghiệp tỉnh Hà Nam Khác
12. Nguyễn Hữu Cát (1997), Chuyển đổi ruộng đất từ ô thửa nhỏ thành ô thửa lớn ở tỉnh Hải Dương, Ban kinh tế Tỉnh uỷ Hải Dương Khác
13. Nguyễn Trọng Kim (2007), Đánh giá ảnh hưởng công tác tích tụ đất nông nghiệp đến hiệu quả sử dụng đất của nông dân huyện Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ, Luận văn Thạc sỹ trường Đại học Nông nghiệp I Hà Nội Khác
14. Nguyễn Hữu Tri, Giáo trình Kinh tế học Mác – Lênin về Bản chất của địa tô, Nxb Khoa học kỹ thuật Khác
15. Nguyễn Hữu Trọng (2009), Vận dụng lí luận về địa tô để chứng minh Nhà nước ta giao đất lâu dài cho nông dân là có cơ sở khoa học. Luận văn thạc sỹ trường Đại học Kinh tế Quốc dân, Hà Nội Khác
16. Nguyễn Văn Tuân (2007), Đánh giá tác động của tích tụ đất nông nghiệp đất nông nghiệp đến sản xuất của nông hộ ở huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang, Luận văn Thạc sỹ, Trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên, Đại học Thái Nguyên Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm