Các tham số đặc trưng của đề trắc nghiệm Các tham số đặc trưng của đề trắc nghiệm Các tham số đặc trưng của đề trắc nghiệm Các tham số đặc trưng của đề trắc nghiệm Các tham số đặc trưng của đề trắc nghiệm Các tham số đặc trưng của đề trắc nghiệm Các tham số đặc trưng của đề trắc nghiệm Các tham số đặc trưng của đề trắc nghiệm Các tham số đặc trưng của đề trắc nghiệm Các tham số đặc trưng của đề trắc nghiệm Các tham số đặc trưng của đề trắc nghiệm Các tham số đặc trưng của đề trắc nghiệm Các tham số đặc trưng của đề trắc nghiệm Các tham số đặc trưng của đề trắc nghiệm Các tham số đặc trưng của đề trắc nghiệm
Trang 1ĐẠI HỌC HUẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
…… & ……
BÀI TẬP NHÓM
KIỂM TRA, ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ HỌC TẬP CỦA HỌC SINH THEO ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC HỌC SINH
HỌC PHẦN: ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ GIÁO DỤC CỦA HỌC SINH
GVHD: Cô Nguyễn Thị Thùy Trang Nhóm:
- Trương Thị Đơn (NT) - Dương Thị Quỳnh Trang
- Nguyễn Thị Thu Hà - Bạch Thị Thu Hiền
- Nguyễn Thị Kiều My - Trần Thị Thanh Thủy
- Hồ Thị Mỹ Diệu
HUẾ, 07/03/2019
Trang 2Chương III: KIỂM TRA ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ HỌC TẬP CỦA HỌC SINH
THEO ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC
3.6 Các tham số đặc trưng cho một câu hỏi trắc nghiệm và một đề trắc nghiệm
3.6.1 Độ khĩ của câu hỏi
Độ khĩ của câu trắc nghiệm
Độ khĩ của câu trắc nghiệm được đánh giá trên cơ sở số người trả lời đúng câu trắc nghiệm Nếu hầu hết người dự kiểm tra trả lời đúng câu hỏi thì đĩ là một câu trắc nghiệm dễ Nếu rất ít người trả lời đúng câu hỏi thì đĩ là một câu trắc nghiệm khĩ Tuy nhiên khi nĩi đến mức độ khĩ cịn phải xem xét mức độ khĩ đối với đối tượng nào Vì vậy, việc biên soạn và đánh giá mức độ khĩ của câu trắc nghiệm cần phải chú ý đến đặc điểm của đối tượng người học Cần thử nghiệm trên một số nhĩm đối tượng để xác định và điều chỉnh mức độ khĩ cho hợp
Mức độ khĩ của câu trắc nghiệm cĩ thể được tính theo tỉ lệ phần trăm (%) số người trả lời đúng câu trắc nghiệm đĩ
= Sốngườitrảlờiđúngcâui Mứcđộkhócâutrắcnghiệmthứi
Sốngườilàmbàitrắcnghiệm
Cách tính tổng quát độ khĩ theo cơng thức: ĐK
c t
N N 2n
+
=
Trong đĩ:
- n: Số học sinh mỗi nhĩm (nhĩm cao và nhĩm thấp)
- Nhĩm cao gồm 27% số người đạt được điểm cao trong tổng số người tham gia Nhĩm thấp gồm 27% số người đạt điểm thấp trong tổng số người tham gia
- Nc: Số người trả lời đúng của nhĩm đạt điểm cao
- Nt: Số người trả lời đúng trong nhĩm đạt điểm thấp
Trang 3Giá trị độ khó của câu trắc nghiệm dao động từ 0 – 1; các câu trắc nghiệm trong một bài trắc nghiệm có thể có mức độ khó khác nhau Giá trị độ khó càng nhỏ thì mức độ khó càng cao và ngược lại, giá trị càng lớn thì mức độ khó càng thấp
Vậy, độ khó của câu trắc nghiệm bao nhiêu thì được coi là câu có mức độ khó trung bình Để xem xét mức độ khó như thế nào là phù hợp thì cần phải tính xác suất làm đúng câu trắc nghiệm Xác suất này thay đổi tùy theo số phương án lựa chọn trong mỗi câu trắc nghiệm, hay là tính may rủi (T) T được tính theo công
thức
1
T
n
=
(n: là số lựa chọn của mỗi câu T được tính ra tỉ lệ phần trăm (%))
Độ khó trung bình (ĐKTB) của câu trắc nghiệm có n phương án lựa chọn
100% T
2
+
=
Ví dụ: Giả sử bài trắc nghiệm có 40 câu, mỗi câu có 4 phương án trả lời Điểm có
thể đạt được do chọn may rủi là
1 1
T 0, 25 25%
n 4
Vậy
ĐKTB
100% T 100% 25%
62,5%
Độ khó của bài trắc nghiệm
Độ khó của bài trắc nghiệm phụ thuộc vào trình độ của thí sinh, thí sinh khá có điểm trắc nghiệm cao, thí sinh kém sẽ có điểm trắc nghiệm thấp Do vậy, một bài trắc nghiệm có thể là dễ đối với thí sinh khá, giỏi nhưng có thể lại khó đối với thí sinh kém hoặc trung bình Độ khó của bài trắc nghiệm đối với một lớp học là tỉ số giữa điểm trung bình của bài trắc nghiệm với tổng số câu trắc nghiệm
Một bài trắc nghiệm tốt không phải chỉ toàn câu khó hay toàn câu dễ mà phải gồm những câu có độ khó vừa phải
Chỉ số độ khó của bài trắc nghiệm càng nhỏ thì mức độ khó càng cao Như vậy, khi độ khó của bài trắc nghiệm nhỏ hơn độ khó vừa phải thì bài trắc nghiệm là khó
Trang 4đối với trình độ lớp Khi độ khó của bài trắc nghiệm lớn hơn độ khó vừa phải thì bài trắc nghiệm là dễ đối với trình độ của lớp
Độ khó của bài trắc nghiệm đối với một lớp học là tỉ số giữa điểm trung bình của bài trắc nghiệm với tổng số câu trắc nghiệm
ĐKBTN
X
K
=
Trong đó:
- X : Điểm trung bình của bài trắc nghiệm
- K: Tổng số câu trắc nghiệm = điểm tối đa của bài trắc nghiệm
- Độ khó vừa phải của bài trắc nghiệm thường tính thành tỉ lệ phần trăm (%)
Độ khó vừa phải (ĐKVP) của bài trắc nghiệm (về mặt lý thuyết)
TBLT 100% K
=
TBLT (Trung bình lý thuyết) 2
K T+
=
Trong đó:
- T: Là điểm có được do may rủi
- K: Tổng số câu trắc nghiệm
Mỗi loại câu trắc nghiệm có tỉ lệ may rủi khác nhau:
- Câu Đ – S: 50%
- Câu có 4 lựa chọn: 25%
- Câu có 5 lựa chọn: 20%
Ví dụ: Giả sử bài trắc nghiệm có 50 câu, mỗi câu có 5 phương án trả lời Điểm thô tối đa là 50, điểm có thể đạt được do chọn may rủi là 0,2 x 50 = 10,
TBLT
50 10
30 2
+
Suy ra, ĐKVP
.100% 100% 60%
Trang 5Nếu điểm trung bình quan sát được trên hay dưới 30 quá xa thì bài trắc nghiệm
ấy sẽ quá dễ hay quá khó Nói chung, nếu điểm trung bình lý tưởng nằm ở khoảng giữa phân bố các điểm quan sát được thì bài trắc nghiệm là vừa sức với đối tượng thí sinh, còn khi điểm đó nằm ở phía trên hoặc phía dưới phân bố điểm quan sát được thì bài trắc nghiệm tương ứng là khó hơn hoặc dễ hơn so với đối tượng thí sinh
Độ khó của bài trắc nghiệm nhỏ hơn độ khó vừa phải thì bài trắc nghiệm là khó
so với trình độ lớp
Độ khó của bài trắc nghiệm lớn hơn độ khó vừa phải thì bài trắc nghiệm là dễ với trình độ của lớp
Để xác định thống kê độ khó, người ta tiến hành như sau: chia mẫu học sinh làm ba nhóm làm bài kiểm tra:
- Nhóm điểm cao (H): Từ 25% 27%÷
số học sinh đạt điểm cao nhất
- Nhóm điểm thấp (L): Từ 25% 27%÷
số học sinh đạt điểm thấp nhất
- Nhóm điểm trung bình (M): Từ 46% 50%÷
số học sinh còn lại
Tất nhiên việc chia nhóm này chỉ là tương đối
Nếu gọi
N: là tổng số học sinh tham gia làm bài kiểm tra;
NH là số học sinh nhóm giỏi chọn câu hỏi đúng;
NM là số học sinh nhóm trung bình chọn câu hỏi đúng;
NL là số học sinh nhóm kém chọn câu hỏi đúng
thì độ khó của câu hỏi được tính bằng công thức:
N
hay 0% K 100%)≤ ≤
K càng lớn thì câu hỏi càng dễ:
Trang 60 K 0, 2 ≤ ≤
: Là câu hỏi rất khó
0, 2 K 0, 4 ≤ ≤
: Là câu hỏi khó
0, 4 K 0,6 ≤ ≤
: Là câu hỏi trung bình
0,6 K 0,8 ≤ ≤
: Là câu hỏi dễ
0,8 K 1 ≤ ≤
: Là câu hỏi rất dễ
3.6.2 Độ phân biệt của câu hỏi
Trong một nhóm thí sinh làm bài trắc nghiệm, chúng ta thường muốn phân biệt trong nhóm đó những thí sinh có trình độ khác nhau trong lĩnh vực mà bài trắc
nghiệm cần đo lường Khả năng mà câu trắc nghiệm thể hiện được sự phân biệt đó
được gọi là độ phân biệt.
Như vậy, một câu trắc nghiệm có độ phân biệt tức là có khả năng phân biệt được sinh viên giỏi và sinh viên kém theo mục đích đặt ra cho bài trắc nghiệm Sự phân biệt này thường được mô tả chi tiết như sau: Số người trả lời đúng (nằm trong nhóm người đạt điểm cao của toàn bài trắc nghiệm) nhiều hơn so với những người trả lời sai (nằm trong nhóm người đạt điểm thấp ở toàn bài trắc nghiệm) theo một tiêu chí của bài trắc nghiệm đó
Có nhiều cách tính độ phân biệt của câu trắc nghiệm Một trong những cách tính đơn giản và thông dụng để tính độ phân biệt là:
ĐPB
c t
n
−
=
Trong đó:
- n: Số sinh viên của mỗi nhóm (nhóm cao bằng nhóm thấp Nhóm cao gồm những người đạt điểm cao ở toàn bài trắc nghiệm Nhóm thấp gồm những người đạt điểm thấp ở toàn bài trắc nghiệm, chiếm 27% tổng số người làm trắc nghiệm)
Trang 7- c
N
: Số người trả lời đúng của nhóm cao
- t
N
: Số người trả lời đúng của nhóm thấp
Cách tính thứ hai là lấy tỉ lệ phần trăm người làm đúng câu trắc nghiệm trong nhóm cao trừ đi phần trăm người làm đúng trong nhóm thấp Cách này cũng cho
ra trị số phân biệt tương tự như cách đã nêu ở trên Giá trị phân biệt của câu trắc nghiệm thay đổi từ -1 đến +1
Ví dụ: Xác định chỉ số khó và chỉ số phân biệt của câu trắc nghiệm
Nhóm cao: 27% sinh viên đạt điểm cao nhất; nhóm thấp: 27% sinh viên đạt điểm thấp nhất; mỗi nhóm có 50 sinh viên; ghi chú: câu trắc nghiệm có 5 phương án chọn: A, B, C, D, E; ký hiệu "Đ" là đáp án đúng
Câu 1
- Chỉ số phân biệt : (41 - 19) /100 = 0,22
- Đánh giá: câu này rất tốt
Câu 2
- Chỉ số phân biệt : (10 - 11)/100 = - 0,01
- Đánh giá: câu này có độ phân biệt rất kém, dường như quá khó hoặc không rõ nghĩa nên học sinh đoán mò Nên loại bỏ
Câu 3
- Chỉ số phân biệt : (49 - 47)/100 = 0,02
- Đánh giá: câu này quá dễ, không thể phân biệt được giữa nhóm cao với nhóm thấp Nên loại bỏ
Câu 4
- Chỉ số phân biệt : 15/100 = 0,15
- Đánh giá: câu này phân biệt tốt nhưng rất khó, có thể chưa rõ nghĩa Nên kiểm tra lại câu B để chắc chắn đó không phải là một câu đúng và diễn đạt lại cho rõ nghĩa Có thể dùng được nhưng phải sửa chữa
Trang 8Ví dụ trên cho thấy một câu trắc nghiệm được chuẩn hóa đưa vào ngân hàng để sử dụng thì đồng thời phải đáp ứng chỉ số khó và chỉ số phân biệt Ngày nay, nhờ các phần mềm thống kê hoặc các Module phần mềm chuyên dùng đánh giá câu trắc nghiệm được tích hợp trong Hệ thống phần mềm Thi trắc nghiệm có thể dễ dàng đánh giá chỉ số khó và chỉ số phân biệt của câu trắc nghiệm
Xét về góc độ lý thuyết, câu trắc nghiệm sau khi được đánh giá và chuẩn hóa đưa vào ngân hàng thì không phải sửa chữa Tuy nhiên, trong thực tế xảy ra trường hợp câu trắc nghiệm trước đây được đánh giá là tốt thì hiện tại vì nhiều lý do khác nhau nên không còn phù hợp Chính vì vậy, thường xuyên kiểm tra, đánh giá xác định chỉ số khó, chỉ số phân biệt của các câu trắc nghiệm đóng vai trò rất quan trọng trong triển khai trắc nghiệm khách quan đo lường, lượng giá kiến thức tại các nhà trường nói chung
Chỉ số độ phân biệt bao nhiêu là chấp nhận được? Khi xét yêu cầu về chỉ số độ phân biệt cần căn cứ vào mục đích trắc nghiệm Nếu bài trắc nghiệm theo chuẩn (nhằm mục đích phân biệt, lựa chọn học sinh) thì cần những câu trắc nghiệm có chỉ
số về độ phân biệt cao, còn bài trắc nghiệm theo tiêu chí (xác định mức độ đạt được mục tiêu môn học) thì chỉ số này không quan trong
Thông thường, bài trắc nghiệm theo chuẩn có độ phân biệt từ 0,30 trở lên là tốt Đôi khi cũng chấp nhận chỉ số 0,20, lúc đó cần phải xem xet các chỉ số khác nữa Bài trắc nghiệm theo tiêu chí thì chỉ số về độ phân biệt không nhất thiết phải loại
bỏ câu hỏi nhưng nếu độ phân biệt là âm thì cần xem lại hoặc loại bỏ câu trắc nghiệm
Một số quy tắc để đánh giá sơ bộ đô phân biệt là:
- Số lượng học sinh của nhóm cao và nhóm thấp cùng đạt được số câu hỏi đúng như nhau thì độ phân biệt của câu hỏi bằng 0
- Số học sinh của nhóm cao đạt được số câu hỏi đúng nhiều hơn số học sinh ở nhóm thấp thì độ phân biệt là dương
- Số học sinh của nhóm cao đạt được số câu hỏi đúng ít hơn số học sinh ở nhóm thấp thì độ phân biệt là âm
Độ phân biệt của một câu trắc nghiệm hay của một bài trắc nghiệm có liên quan đến độ khó Nếu một bài trắc nghiệm dễ đến mức mọi học sinh đều làm tốt, các điểm số đạt được sẽ chụm ở phần điểm cao, thì độ phân biệt của nó rất kém Nếu một bài trắc nghiệm khó đến mức mọi học sinh đều không làm được, các điểm số chụm ở phần điểm thấp thì độ phân biệt của nó cũng rất kém Như vậy, muốn có độ
Trang 9phân biệt tốt thì bài trắc nghiệm cần phải có độ khó ở mức trung bình, khi đó điểm
số thu được sẽ được trải rộng
Ví dụ:
Kết quả trắc nghiệm của môn Đánh giá trong Hóa học của một lớp gồm 60 học viên như sau:
- Bài thu về: 60 bài
- Điểm cao nhất = 10
- Điểm thấp nhất = 4
Tính độ phân biệt
ĐPB
c t
N N 10 4
0,1
Ta thấy bài tập trắc nghiệm có độ phân biệt chưa tốt
3.6.3 Độ tin cậy của đề trắc nghiệm
Nếu như phân biệt câu trắc nghiệm để giúp ta sữa chữa các câu nhiễm nhằm làm thay đổi bộ phân biệt và độ khó của câu trắc nghiệm, thì đánh giá bài trắc nghiệm
sẽ giúp chúng ta thay đổi độ tin cậy của bài trắc nghiệm thông qua việc thay đổi và
bổ sung câu hỏi
Một bài trắc nghiệm khách quan tin cậy để sử dụng kiểm tra đánh giá khi gồm những câu hỏi tương đối đạt tiêu chuẩn dựa vào những đặc điểm sau:
Trung bình cộng số câu đúng:
i f X N
=∑
Với X là số câu hỏi
N là số học sinh tham gia kiểm tra và fi là số học sinh trả lời đúng câu hỏi thứ i
Trung bình cộng số câu trả lời đúng phải vào khoảng X/2
Phương sai, độ lệch chuẩn của bài trắc nghiệm khách quan:
Trang 10Phương sai có công thức:
2 i
2 (X X) S
N
−
=∑
Với X là trung bình cộng số câu đúng, Xi là số câu trả lời đúng của học sinh thứ i
và N là số học sinh tham gia kiểm tra
Độ lệch chuẩn có công thức: S = S2
Độ lệch chuẩn cho ta biết mức độ khác nhau trong điểm số của một nhóm học sinh
Độ tin cậy: độ tin cậy của bài trắc nghiệm khách quan được xem như là một số đo
về sự sai khác giữa điểm số quan sát và điểm số thực
Điểm số quan sát được là điểm số trên thực tế học sinh có được Điểm số thực là điểm số lý thuyết mà học sinh sẽ phải có nếu phép đo lường không có sai số
Tính chất tin cậy của bài trắc nghiệm khách quan cho chúng ta biết mức độ chính xác khi thực hiện phép đo Có hai nguồn sai số phép đo là sai số bên ngoài (điều kiện tiến hành làm bài và điều kiện chấm bài) và sai số bên trong (bản thân bài kiểm tra) Vì vậy, một bài trắc nghiệm khách quan có thể chấp nhận nếu có thỏa đáng về nội dung và có độ tin cậy 1 ≥ R ≥ 0,6
Như vậy, một bài trắc nghiệm khách quan hay là bài phải có giá trị, tức là nó đo được cái cần đo, định đo, muốn đo
Bài trắc nghiệm khách quan có độ tin cậy, một bài trắc nghiệm khách quan hay nhưng có độ tin cậy thấp thì cũng không có ích, một bài trắc nghiệm khách quan có
độ tin cao nhưng vẫn có thể có độ giá trị thấp, như vậy một bài trắc nghiệm khách quan có độ tin cậy thấp thì không thể có độ giá trị cao
Để đánh giá độ tin cậy cần chú ý đến sai số đo lường chuẩn, số học sinh tham gia làm bài kiểm tra và đặc điểm thống kê của bài trắc nghiệm khách quan
Tóm lại: độ tin cậy của bài trắc nghiệm chính là đại lượng biểu thị mức độ chính xác của phép đo nhờ bài trắc nghiệm
3.6.3.1 Khái niệm độ tin cậy
- Là một khái niệm cho biết mức độ ổn định tính vững chãi của các kết quả đo được khi tiến hành đo vật thể đó nhiều lần
Trang 11Ví dụ: Cho một lớp kiểm tra cùng một bài trắc nghiệm về tính chất của oxi nhưng
ở nhiều thời điểm khác nhau sau khi học sinh đã học về tính chất của oxi đó
- Về mặt lí thuyết: độ tin cậy được xem như số đo về sự sai khác giữa điểm số quan sát được và điểm số thực Điểm số thực được ước tính trên cơ sở điểm số quan sát được
- Một bài trắc nghiệm được xem là không tin cậy khi điểm số quan sát được lệch khỏi điểm số thực với phạm vi lớn Có sự lệch như vậy là do sai số của phép đo
- Độ tin cậy được thể hiện ở hệ số tin cậy, nó chính là căn cứ để đánh giá tiêu chuẩn của bài trắc nghiệm
3.6.3.2 Các phương pháp xác định độ tin cậy của bài trắc nghiệm
- Phương pháp trắc nghiệm - trắc nghiệm lại đòi hỏi hai lần tiến hành cùng một bài trắc nghiệm cho cùng một nhóm người và tính toán độ tương quan giữa hai điểm
số thu được Tùy thuộc vào bản chất của bài trắc nghiệm và khoảng thời gian giữa hai lần trắc nghiệm mà việc tính toán độ tin cậy có thể bị ảnh hưởng ở một mức độ nào đó bởi nhân tố bên ngoài Nhược điểm của phương pháp này là tùy thuộc vào thời gian giữa hai lần trắc nghiệm mà người làm có thể đạt những mức độ khác nhau
Ví dụ: Sử dụng một đề trắc nghiệm về tính chất hóa học anken khi học sinh vừa mới học xong bài anken và khi học bài luyện tập anken và ankadien học sinh sẽ làm được điểm khác nhau vì đã có thời gian học và làm các bài tập để tiếp thu kiến thức của bài anken nên sẽ hoàn thành bài tốt hơn
- Phương pháp dùng bài trắc nghiệm tương đương đòi hỏi tiến hành hai bài trắc nghiệm có dạng tương đương nhau trên cùng một nhóm và tính toán hệ số tương quan giữa hai bộ điểm số thu được Cả hai bài trắc nghiệm này thường tiến hành trong những thời điểm gần nhau nên độ tương quan thu được ít bị ảnh hưởng bởi các yếu tố như học tập, động cơ và các điều kiện tự nhiên…
- Phương pháp trắc nghiệm phân nhỏ đòi hỏi ước tính hệ số tin cậy từ việc phân tích các điểm chấm của một lần trắc nghiệm Do vậy việc đánh giá độ tin cậy không phải tính đến các nhân tố thay đổi theo thời gian Một trong số những cách
để thực hiện phương pháp là phương pháp phân đôi bài trắc nghiệm, tức là bài trắc nghiệm được phân thành hai phần tương đương về tính chất, nội dung, độ khó của câu hỏi