Nắm bắt tình hình đó, Đảng và Chính Phủ ta đã có đường lối chủ trương chính sách về phát triển nông nghiệp và nông thôn, đòi hỏi lựa chọn quy mô chủng loại sản phẩm các ngành nông nghiệp
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP HỒ CHÍ MINH
************
NGUYỄN NGỌC THANH
ĐIỀU TRA HIỆN TRẠNG SỬ DỤNG ĐẤT SẢN XUẤT CÂY HOA KIỂNG PHỤC VỤ CHO QUY HOẠCH ĐẤT
NÔNG NGHIỆP Ở TỈNH BÌNH DƯƠNG
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC NGÀNH CẢNH QUAN & KỸ THUẬT HOA VIÊN
Thành phố Hồ Chí Minh
Tháng 7/2008
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP HỒ CHÍ MINH
************
NGUYỄN NGỌC THANH
ĐIỀU TRA HIỆN TRẠNG SỬ DỤNG ĐẤT SẢN XUẤT CÂY HOA KIỂNG PHỤC VỤ CHO QUY HOẠCH ĐẤT
NÔNG NGHIỆP Ở TỈNH BÌNH DƯƠNG
Ngành: Cảnh Quan & Kỹ Thuật Hoa Viên
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Giáo viên hướng dẫn: ThS TRƯƠNG THỊ CẨM NHUNG
Thành phố Hồ Chí Minh
Tháng 7/2008
Trang 3MINISTRY OF EDUCATION AND TRAINING NONG LAM UNIVERSITY - HO CHI MINH CITY
************
NGUYEN NGOC THANH
INVESTIGATING LAND USE OF FLOWER-ORNAMENTAL
FOR LAND AGRICULTURAL PROJECT IN
BINH DUONG PROVINCE
DEPARTMENT OF LANDSCAPING AND ENVIRONMENTAL HORTICULTURE
GRADUATION THESIS
Advisor : TRUONG THI CAM NHUNG, M.Sc
Ho Chi Minh City
July 2008
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Lời đầu tiên, con xin tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến Cha Mẹ và người thân đã
luôn ủng hộ, chia sẻ và tạo điều kiện để giúp con hoàn thành tốt quá trình học tập
tại trường như ngày hôm nay
Trong suốt quá trình học tập tại trường và hoàn thành luận văn này, tôi xin
chân thành cảm ơn sự giúp đỡ rất tận tình của các Thầy Cô trong Bộ môn Cảnh
quan và Kỹ thuật hoa viên trường Đại học Nông Lâm - Thành phố Hồ Chí Minh
Đặc biệt, đối với Cô Trương Thị Cẩm Nhung, tôi xin bày tỏ lòng kính trọng
và biết ơn sâu sắc đến Cô - người đã trực tiếp hướng dẫn và giúp đỡ tôi rất nhiều
trong suốt quá trình thực hiện luận văn
Cảm ơn Ban lãnh đạo trường Đại học Nông Lâm Thành phố Hồ Chí Minh
và tất cả các Thầy Cô đã giúp đỡ tôi trong suốt thời gian học tại trường
Cảm ơn các cô, chú trong Hội nông dân, các ban đoàn thể của các huyện
Dĩ An, Bến Cát, thị xã Thủ Dầu Một và các xã, phường đã tạo điều kiện và cung
cấp các thông tin cần thiết giúp tôi hoàn thành luận văn tốt nghiệp
Cám ơn tập thể lớp Cảnh quan và Kỹ thuật hoa viên 30 và các bạn thân đã
chia sẻ cùng tôi trong quá trình học tập và sinh hoạt
Xin cám ơn tất cả mọi người đã giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện luận
văn này
Chân thành cảm ơn!
Nguyễn Ngọc Thanh
Trang 5TÓM TẮT
Tên đề tài: Điều tra hiện trạng sử dụng đất sản xuất cây hoa kiểng phục vụ cho quy hoạch đất nông nghiệp ở tỉnh Bình Dương Thời gian thực hiện đề tài:
10/3/2008 đến 15/7/2008 trên hai huyện Dĩ An, Bến Cát và thị xã Thủ Dầu Một của
tỉnh Bình Dương Đề tài được tiến hành điều tra ngẫu nhiên
Kết quả :
- Điều tra được từ khu vực nghiên cứu:
+ Quy mô kinh doanh: 61,7% sản xuất cá thể, 35% cơ sở kinh doanh, 3,3% công ty kinh doanh
+ Diện tích trồng cây hoa kiểng: 35% các hộ có diện tích từ 100 m2 đến 500 m2 và 41,7% các hộ có diện tích từ 500-3000m2
+ Về thâm niên canh tác: trên 10 năm chiếm tỷ lệ 13,3% tập trung ở những nghệ nhân cao tuổi; nhiều nhất 41,7% các hộ có 2-5 năm
+ Chủng loại cây hoa kiểng: 56,7% các hộ chỉ sản xuất kinh doanh hoa-kiểng trang trí, 26,7% ở các hộ chỉ sản xuất bon sai kiểng cổ và chỉ 16,6% các hộ là sản xuất đủ loại
+ Lực lượng lao động: các hộ có số lao động từ 1-2 người có tỷ lệ cao nhất 75%, tỷ
lệ thấp nhất 3,3% các hộ có số lao động từ 4-6 người
+ Thị trường tiêu thụ: tỷ lệ 100% hộ tiêu thụ bằng cách bán lẻ, có 18 hộ trong số 60
hộ giao cho mối tiêu thụ, có 22 hộ được nhận đơn đặt hàng và 19 hộ tự tiêu thụ bằng cách thi công công trình
+ Hoạt động vay vốn: các hộ có nguồn vốn tự có chiếm tỷ lệ 80% và các hộ vừa có
nguồn vốn tự có vừa có vốn vay chiếm tỷ lệ 20% toàn tỉnh
- Đánh giá hiệu quả kinh tế cho hoa-kiểng trang trí trên 600m2 trong 1 năm là: tổng doanh thu là 63,1 triệu đồng, lợi nhuận thu được trong một năm 20,637 triệu đồng
Và cho bon sai kiểng cổ trong một năm/300 m2 là chi phí ĐTXDCB: doanh thu của một chu kỳ đầu tư: 371,5 triệu đồng Lợi nhuận là: 195,061 triệu đồng
Trang 6SUMMARY
The thesis: “Investigating land use of flower-ornamental for land agricultual project in Binh Duong province” was carried out from March/10th/2008 to July/15th/2008
The results show that:
- Investigating from actual state:
+ The styles of farm there are 61,7% personal farm, 35% business, 3,3% comany
farm-+ Cultivated area : the farmers who have 100-500m2 are 35% and there are 41,7% the number of farmers have 500-3000m2
+ Experience: the number of farmers has experience uper 10 year is 13,3% and the other farmers have from 2 to 5 year are 41,7%
+ The kind of flower- ornamental: the farmers cash ornamental-speciality are 56,7%, the number of farmers plant bonsai tree is 26,7%, the other farmers plant many of tree are 16,6%
+ Local labor: the farmers who have 75% are 1-2 person and they who have 3,3% are 4-6 person
+ Consuming market: All farmers are retail, the number of farmers sale connection
is 18 farm, there are 22 farm sale order-form and 19 farm owner design landscape + Financial aid: the farmers have 80% relay their income souce, and they have 20% need lend funs
- Evaluating effect of economy for flower- ornamental in 600m2/1year: total of income is 63,1 million VND, profits :20,637 million VND And effect of economy for bonsai tree in 300m2/1 year: total of in come is 371,5 million VND, profits:
195,061 million VND
Trang 7MỤC LỤC
TRANG
Trang tựa i
Lời cảm ơn iii
Tóm tắt iv
Summary vi
Mục lục viii
Danh sách các chữ viết tắt xii
Danh sách các ảnh và hình xiii
Danh sách các bảng và biểu đồ xiv
1 ĐẶT VẤN ĐỀ 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục tiêu của đề tài 3
1.3 Giới hạn của đề tài 3
2 TỔNG QUAN VỀ ĐỀ TÀI 4
2.1 Tổng quan về tỉnh Bình Dương 4
2.1.1 Điều kiện tự nhiên 4
2.1.1.1 Vị trí địa lý 4
2.1.1.2 Địa hình, thổ nhưỡng 5
2.1.1.3 Khí hậu thời tiết 6
2.1.1.4 Nguồn nước và chế độ thủy văn 9
2.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội: 13
2.1.2.1 Kinh tế: 13
2.1.2.2 Dân số - lao động 14
2.1.2.3 Giao thông 14
2.2 Tình hình sử dụng đất tỉnh Bình Dương 15
2.3.Sơ lược về tình hình sản xuất, tiêu thụ hoa kiểng trong nước và thế giới 17
Trang 82.3.1 Tình hình sản xuất, tiêu thụ cây hoa kiểng trên thế giới 17
2.3.2 Tình hình sản xuất, tiêu thụ cây hoa kiểng trong nước 18
2.4 Đánh giá chung về tổng quan 19
2.4.1 Thuận lợi 19
2.4.2 Khó khăn 19
3 MỤC TIÊU, NỘI DUNG, PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 20
3.1 Thời gian và địa điểm khảo sát đề tài 20
3.2 Nội dung 20
3.3 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu: 21
3.3.1 Cơ sở lý luận 21
3.3.1.1 Hiệu quả kinh tế 21
3.3.1.2 Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh tế 22
3.3.2 Phương pháp nghiên cứu 23
3.3.2.1 Công tác ngoại nghiệp 23
3.3.2.2 Công tác nội nghiệp 23
4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 25
4.1 Kết quả điều tra từ khu vực nghiên cứu 25
4.1.1 Khái quát tình hình sử dụng đất trồng hoa kiểng ở Bình Dương 25
4.1.2 Quy mô sản xuất kinh doanh 26
4.1.3 Diện tích trồng cây hoa kiểng 28
4.1.4 Thâm niên canh tác 30
4.1.5 Chủng loại cây hoa kiểng trong sản xuất kinh doanh 30
4.1.6 Đặc trưng hoa kiểng 32
4.1.7 Lực lượng lao động phục vụ sản xuất hoa kiểng 34
4.1.8 Thị trường tiêu thụ 35
4.1.9 Hoạt động vay vốn, hoạt động khuyến nông 36
4.2 Đánh giá hiệu quả kinh tế, xã hội và môi trường cho sử dụng đất sản xuất cây hoa kiểng ở tỉnh Bình Dương 37
4.2.1 Hiệu quả kinh tế 38
Trang 94.2.1.1 Hiệu quả kinh tế ngành SXKD hoa – kiểng trang trí tỉnh Bình Dương 39
4.2.1.2 Đánh giá hiệu quả kinh tế cho bon sai kiểng cổ 46
4.2.2 Hiệu quả xã hội 53
4.2.3 Hiệu quả môi trường 54
4.3 Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến ngành sản xuất kinh doanh hoa kiểng 55
4.3.1 Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế ngành sản xuất kinh doanh hoa kiểng 55
4.3.1.1 Nhóm các nhân tố kinh tế 55
4.3.1.2 Nhóm các nhân tố phi kinh tế 59
4.3.2 Tiềm năng phát triển sản xuất cây hoa kiểng 59
4.3.3 Về thách thức và nguy cơ ảnh hưởng đến ngành sản xuất kinh doanh cây hoa kiểng 60
4.4 Đề xuất một số phương hướng và giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất cho ngành sản xuất kinh doanh hoa kiểng theo hướng ổn định và bền vững 61
4.4.1 Đề xuất một số phương hướng 61
4.4.1.1 Phương hướng trước mắt 61
4.4.1.2 Phương hướng lâu dài 62
4.4.2 Đề xuất một số giải pháp 63
4.4.2.1 Giải pháp kinh tế - xã hội 63
4.4.2.2 Giải pháp kĩ thuật 64
5 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 66
5.1 Kết luận 66
5.2 Đề nghị 67
TÀI LIỆU THAM KHẢO 69
PHỤ LỤC 70
Phụ lục 1 Danh sách một số nhà vườn đã điều tra 70
Phụ lục 2 Phiếu điều tra hiện trạng sử dụng đất sản xuất cây hoa kiểng ở tỉnh Bình Dương 73
Trang 10DANH SÁCH CÁC CHỮ VIẾT TẮT
- ĐTXDCB : Đầu tư xây dựng cơ bản
- SXKD: Sản xuất kinh doanh
- Tp: thành phố
Trang 11DANH SÁCH CÁC ẢNH
Ảnh 4.1.Các hình thức bố trí đa dạng của lan ở các hộ có diện tích < 100 m2 29
Ảnh 4.2 Cách bố trí bon sai, lan tận dụng diện tích của một cơ sở kinh doanh 29
Ảnh 4.3 Cách bố trí kiểng bon sai tận dụng diện tích ở các hộ có diện tích 100 m2 đến 500 m2 29
Ảnh 4.4 Một cơ sở sản xuất kinh doanh đa dạng về chủng loại hoa kiểng 31
Ảnh 4.5 Một cơ sở chỉ chuyên kinh doanh về hoa-kiểng trang trí 32
Ảnh 4.6 Hộ gia đình chỉ chuyên sản xuất về kiểng sứ 32
Ảnh 4.7 Mô hình trồng hoa lan của hộ gia đình ở Dĩ An 33
Ảnh 4.8 Cây kiểng – bon sai ở Bến Cát 33
Ảnh 4.9 Mô hình kinh doanh hoa kiểng đa chủng loại ở Thủ dầu một 34
Ảnh 4.10 Nhà lưới, giàn khung bằng tre được sử dụng trong sản xuất hoa lan 40
Ảnh 4.11 Chậu và vòi phun được sử dụng trong nhà ươm 40
Ảnh 4.12 Nhà lưới, kệ bê tông , vòi phun được sử dụng trong sản xuất hoa kiểng 40
Ảnh 4.13 Hoa kiểng tạo cảnh quan cho ngôi nhà 54
Ảnh 4.14 Tác phẩm bon sai nghệ thuật của các nghệ nhân 57
DANH SÁCH CÁC HÌNH Hình 2.1 Bản đồ các tỉnh Đông Nam Bộ 4
Hình 2.2 Bản đồ tỉnh Bình Dương 4
Trang 12DANH SÁCH CÁC BẢNG
Bảng 2.1: Lượng mưa các tháng trong năm 6
Bảng 2.2 Độ ẩm tương đối trung bình các tháng trong năm 8
Bảng 2.3: Tình hình sử dụng đất của tỉnh Bình Dương từ năm 2000-2006 16
Bảng 4.1 Quy mô sản xuất kinh doanh hoa kiểng của các hộ 26
Bảng 4.2 Diện tích trồng cây hoa kiểng của các hộ: 28
Bảng 4.3 Thâm niên canh tác của chủ hộ 30
Bảng 4.4 Phân loại hoa kiểng của các hộ điều tra 31
Bảng 4.5 Lực lượng lao động phục vụ sản xuất hoa kiểng của các hộ điều tra 35
Bảng 4.6 Thị trường tiêu thụ của các hộ điều tra 35
Bảng 4.7 Hoạt động vay vốn, hoạt động khuyến 37
Bảng 4.8.Chi phí cho hoa-kiểng trang trí/600m2 giai đoạn ĐTXDCB trong 1 năm…41 Bảng 4.9 Chi phí cho hoa – kiểng trang trí/600 m2 giai đoạn SXKD trong 1 năm: 43
Bảng 4.10 Tổng doanh thu của hoa kiểng trang trí trong 1 năm/ 600 m2 44
Bảng 4.11 Tổng hợp kết quả sản xuất kinh doanh hoa-kiểng trang trí trong 1 năm/600 m2 45
Bảng 4.12 Chi phí ĐTXDCB cho bon sai kiểng cổ trong một năm/ 300 m2 47
Bảng 4.13 Chi phí SXKD cho bon sai kiểng cổ trong một năm/ 300 m2: 49
Bảng 4.14 Doanh thu của một năm đầu tư bon sai trên 300 m2 51
Bảng 4.15.Tổng hợp kết quả sản xuất kinh doanh bon sai kiểng cổ trong 1 năm/ 300 m2 DANH SÁCH CÁC BIỂU ĐỒ Biểu đồ 2.1: Lượng mưa các tháng trong năm 7
Biểu đồ 2.2: Độ ẩm tương đối trung bình các tháng trong năm 9
Biểu đồ 4.1.Quy mô sản xuất kinh doanh hoa kiểng của các hộ ở Bình Dương 27
Biểu đồ 4.2 Diện tích trồng cây hoa kiểng của các hộ ở tỉnh Bình Dương 2
Trang 13cứ ai cũng dễ dàng nhận biết được Hơn thế nữa, xét về mặt kinh tế, hoa kiểng còn mang lại một nguồn thu đáng kể cho người sản xuất-kinh doanh ra hoa kiểng Thực
tế đã chứng minh, lợi nhuận hàng năm từ sản xuất cây hoa kiểng của các nước trên thế giới là rất lớn Giá trị nhập khẩu hoa cây kiểng của thế giới tăng hàng năm Năm
1996 là 7,5 tỷ đô la Trong đó thị trường hoa cây kiểng của Hà Lan chiếm gần 50% Sau đó đến các nước Colombia, Ý, Đan Mạch, Mỹ, Bỉ, Israel, Úc, Đức, Canada, Pháp, Tây Ban Nha, Kênia, Ecuado Mỗi nước xuất trên 100 triệu đô la, tỷ lệ tăng hàng năm là 10% Còn nói về mặt xã hội đã góp phần xoá đói giảm nghèo, giải quyết việc làm cho hàng ngàn người lao động sau những mùa vụ
Trước sự phát triển ngày càng lớn mạnh của ngành hoa kiểng trên thế giới và những lợi ích của chúng mang lại như thế Trong khi đó, ở Việt Nam chỉ tập trung một số ít nơi có làng nghề hoa kiểng nổi tiếng như: Gò Vấp của Tp.Hồ Chí Minh, Cái Mơn của Bến Tre, Hasfarm của Đà Lạt… Vì thế, dẫn đến ngành hoa kiểng của chúng ta còn gặp nhiều khó khăn chưa bắt kịp tiến độ phát triển trong sản xuất hoa của thế giới được, mà chỉ nhỏ lẻ ở các quy mô sản xuất cá thể
Như vậy, để cho ngành hoa kiểng không chỉ đơn thuần là món ăn tinh thần
mà còn thật sự mang lại hiệu quả kinh tế cao cho người sản xuất ra chúng? Đây không chỉ là vấn đề đáng được các ngành, các cấp quan tâm mà còn là một nhu cầu đòi hỏi cấp thiết của xã hội Bởi vì, cây hoa kiểng sản xuất tại nhà vườn ngày càng
Trang 14nhiều hơn mà không có nơi tiêu thụ thường xuyên hay chỉ tiêu thụ nhỏ lẻ thiếu qui
mô chuyên nghiệp; trong khi đó nhu cầu đòi hỏi của xã hội ngày càng nhiều nhưng không được đáp ứng Nắm bắt tình hình đó, Đảng và Chính Phủ ta đã có đường lối chủ trương chính sách về phát triển nông nghiệp và nông thôn, đòi hỏi lựa chọn quy
mô chủng loại sản phẩm các ngành nông nghiệp phải khai thác lợi thế của từng vùng, bám sát nhu cầu thị trường trong nước và thế giới, phải có khả năng tiêu thụ hàng hóa, có hiệu quả cao về kinh tế, xã hội và sinh thái Một trong những chính sách đó là “giữ vững nghề sản xuất có hiệu quả kinh tế cao” theo xu hướng phát triển “nông nghiệp hóa đô thị” đã và đang từng bước được thực hiện ở các địa phương
Bình Dương nằm ở vị trí thuận lợi cho ngành phát triển công-nông nghiệp nói chung, trong đó có hoa kiểng nói riêng Hơn nữa tốc độ tăng trưởng của Bình Dương lại cao và ổn định Sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế khá rõ nét theo hướng gia tăng tỷ trọng ngành công nghiệp và dịch vụ, đặc biệt là công nghiệp chế biến và dịch vụ du lịch Đây là thuận lợi cho nông nghiệp phát triển theo hướng công nghệ cao, gắn nông nghiệp với phát triển dịch vụ du lịch Với điều kiện tự nhiên và kinh
tế xã hội rât thuận lợi sẽ khá phù hợp phát triển ngành hoa kiểng lợi nhuận cao Tuy nhiên, thực tế nghề trồng hoa kiểng ở đây chỉ mới phát triển trong những năm gần đây, nên mang tính tự phát, nhỏ lẻ, không đáp ứng nhu cầu thị trường
Từ những lý do nêu trên và nhằm phục vụ cho công tác quy hoạch vùng chuyên canh trồng hoa kiểng, định hướng phát triển ngành hoa kiểng ở Bình
Dương Chúng tôi đã tiến hành thực hiện đề tài: “Điều tra hiện trạng sử dụng đất sản xuất cây hoa kiểng phục vụ cho quy hoạch đất nông nghiệp ở tỉnh Bình Dương” qua đó đánh giá được hiệu quả kinh tế - xã hội mà ngành sản xuất hoa
kiểng mang lại Giúp cho công tác quy hoạch có cái nhìn tổng quát hơn về tình hình sản xuất hoa kiểng đồng thời đề xuất một số giải pháp cụ thể nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất cho ngành hoa kiểng theo hướng bền vững
Trang 151.2 Mục tiêu
- Nắm được hiện trạng sử dụng đất sản xuất cây hoa kiểng ở tỉnh Bình Dương
- Đánh giá hiệu quả kinh tế - xã hội - môi trường cho sản xuất cây hoa kiểng ở tỉnh Bình Dương
- Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến ngành sản xuất kinh doanh hoa kiểng
- Đề xuất một số phương hướng và giải pháp cụ thể nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất cho ngành hoa kiểng
1.3 Giới hạn của đề tài:
Đề tài được tiến hành từ 10/3/2008 đến 15/7/2008, đây là khoảng thời gian
không dài nên đề tài chỉ tập trung tiến hành điều tra hiện trạng sử dụng đất sản xuất cây hoa kiểng ở 3 đơn vị hành chính của tỉnh Bình Dương là: thị xã Thủ Dầu Một, huyện Dĩ An và huyện Bến Cát.Qua đó đánh giá hiệu quả kinh tế - xã hội - môi trường trên mảnh đất mà các nông hộ đang sản xuất hoa kiểng; đồng thời đề xuất một số giải pháp cụ thể nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất sản xuất cho ngành hoa kiểng theo hướng ổn định và bền vững nhằm phục vụ quy hoạch đất nông nghiệp ở tỉnh Bình Dương
Trang 16Bộ và là một trong các tỉnh thuộc vùng phát triển kinh tế trọng điểm phía Nam; tổng diện tích tự nhiên 269.554,79 ha với
7 đơn vị hành chính là thị xã Thủ Dầu Một
và 6 huyện (Thuận An, Dĩ An, Tân Uyên, Bến Cát, Phú Giáo và Dầu Tiếng) Ranh giới hành chính:
Hình 2.1 Bản đồ các tỉnh Đông Nam Bộ
- Phía Bắc giáp tỉnh Bình Phước
- Phía Tây và Tây Bắc giáp tỉnh Tây
Ninh
- Phía Đông giáp tỉnh Đồng Nai
- Phía Nam và Tây Nam giáp Thành phố
Hồ Chí Minh
Hình 2.2 Bản đồ tỉnh Bình Dương
Trang 172.1.1.2 Địa hình, thổ nhưỡng:
Bình Dương nằm trong vùng chuyển tiếp giữa cao nguyên Nam Trung Bộ với đồng bằng sông Cửu Long nên địa hình chủ yếu là những đồi thấp, thế đất bằng phẳng, nền địa chất ổn định, vững chắc, phổ biến là những dãy đồi phù sa cổ nối tiếp nhau với độ cao trung bình 20-25m so với mặt biển, độ dốc 2-5° và độ chịu nén 2kg/cm² Đặc biệt có một vài đồi núi thấp nhô lên giữa địa hình bằng phẳng như núi Châu Thới (Dĩ An) cao 82m và ba ngọn núi thuộc huyện Dầu Tiếng là núi Ông cao
284,6m, núi La Tha cao 198m, núi Cậu cao 155m
- Từ phía Nam lên phiá Bắc, theo độ cao có các vùng địa hình:
+ Vùng thung lũng bãi bồi, phân bố dọc theo các sông Đồng Nai, sông Sài Gòn và sông Bé Đây là vùng đất thấp, phù sa mới, khá phì nhiêu, bằng phẳng, cao
trung bình 6 - 10m
+ Vùng địa hình bằng phẳng, nằm kế tiếp sau các vùng thung lũng bãi bồi,
địa hình tương đối bằng phẳng, độ dốc 3 - 120, cao trung bình từ 10 - 30m
+ Vùng địa hình đồi thấp có lượn sóng yếu, nằm trên các nền phù sa cổ, chủ yếu là các đồi thấp với đỉnh bằng phẳng, liên tiếp nhau, có độ dốc 5 - 120, độ cao phổ biến từ 30 - 60m
- Các nhà thổ nhưỡng đã tìm thấy ở Bình Dương 7 loại đất khác nhau, nhưng chủ yếu là đất xám và đất đỏ vàng Theo kết quả tổng điều tra đất năm 2000 thì hai loại đất này chiếm 76,5% diện tích tự nhiên toàn tỉnh, trong đó đất xám chiếm 52,5%; đất đỏ vàng chiếm 24,0%
- Đây là hai loại đất rất thích hợp với các loại cây công nghiệp lâu năm và cây ăn quả Chính nhờ điều kiện thổ nhưỡng này mà Bình Dương từ lâu đã nổi tiếng với vườn cây Lái Thiêu, trải rộng trên diện tích 1.250 ha, thuộc địa bàn bốn xã: An Sơn, An Thạnh, Bình Nhâm và Hưng Định
- Với địa hình cao trung bình từ 6 - 60m, nên chất lượng và cấu trúc đất Bình Dương không chỉ thích hợp với các loại cây trồng mà còn rất thuận lợi đối với việc xây dựng kết cấu hạ tầng và phát triển các khu công nghiệp
Trang 182.1.1.3 Khí hậu thời tiết:
Khí hậu của tỉnh mang đặc điểm nhiệt đới gió mùa, nóng ẩm với 2 mùa rõ rệt: mùa mưa từ tháng 5 - 11, mùa khô từ khoảng tháng 12 năm trước đến tháng 4
năm sau
- Lượng mưa trung bình hàng năm từ 1.800 - 2.000mm với số ngày có mưa
là 120 ngày Tháng mưa nhiều nhất là tháng 9, trung bình 335mm, năm cao nhất có khi lên đến 500mm, tháng ít mưa nhất là tháng 1, trung bình dưới 50mm và nhiều năm trong tháng này không có mưa:
Bảng 2.1: Lượng mưa các tháng trong năm
2.160,6 22,6 10,3 49,2 129,8 226,7 377,0 223,7 401,5 274,3 314,6 108,9 22,0
1.225,7 0,3
- 13,0 13,2 113,8 215,0 165,5 163,8 173,4 259,0 108,7
1.734,2 15,4 24,2 9,1 113,9 212,4 268,3 232,7 263,6 313,7 242,6 34,1 4,2
(Theo Niên giám thống kê 2006 (cục thống kê Bình Dương))
Trang 19Biểu đồ 2.1: Lượng mưa các tháng trong năm
- Nhiệt độ trung bình hằng năm là 26,50C, nhiệt độ trung bình tháng cao nhất
290C (tháng 4), tháng thấp nhất 240C (tháng 1) Tổng nhiệt độ hoạt động hàng năm khoảng 9.500 - 10.0000C, số giờ nắng trung bình 2.400 giờ, có năm lên tới 2.700 giờ
- Chế độ gió tương đối ổn định, không chịu ảnh hưởng trực tiếp của bão và
áp thấp nhiệt đới Về mùa khô gió thịnh hành chủ yếu là hướng Đông, Đông - Bắc,
về mùa mưa gió thịnh hành chủ yếu là hướng Tây, Tây - Nam Tốc độ gió bình quân khoảng 0.7m/s, tốc độ gió lớn nhất quan trắc được là 12m/s thường là Tây, Tây - Nam
- Chế độ không khí ẩm tương đối cao, trung bình 80-90% và biến đổi theo mùa Độ ẩm được mang lại chủ yếu do gió mùa Tây Nam trong mùa mưa, do đó độ
ẩm thấp nhất thường xảy ra vào giữa mùa khô và cao nhất vào giữa mùa mưa Giống như nhiệt độ không khí, độ ẩm trong năm ít biến động Với khí hậu nhiệt đới mang tính chất cận xích đạo, nền nhiệt độ cao quanh năm, ẩm độ cao và nguồn ánh sáng dồi dào, rất thuận lợi cho phát triển nông nghiệp, đặc biệt là trồng cây công
Trang 20nghiệp ngắn và dài ngày Khí hậu Bình Dương tương đối hiền hoà, ít thiên tai như bão, lụt…
Bảng 2.2 Độ ẩm tương đối trung bình các tháng trong năm
Tháng 4
Tháng 5
Tháng 6
Tháng 7
Tháng 8
Tháng 9
Tháng 10
Tháng 11
Tháng 12
Năm 2000 Năm 2001 Năm 2003 Năm 2005 Năm 2006
Biểu đồ 2.2: Độ ẩm tương đối trung bình các tháng trong năm
Trang 212.1.1.4 Nguồn nước và chế độ thủy văn
Tài nguyên nước mặt: Các nguồn nước mặt (sông, suối, hồ đập…) trên lãnh thổ Bình Dương có:
Sông Bé:
- Là một chi lưu lớn của sông Đồng Nai, bắt nguồn từ Nam Tây Nguyên, tổng chiều dài khoảng 350 km, diện tích lưu vực 7.650 km2, chảy vào địa phận tỉnh Bình Dương từ xã An Linh, qua các xã An Long, Tân Long, Tân Hiệp, Phước Hòa, Vĩnh Hòa huyện Phú Giáo rồi đổ ra sông Đồng Nai tại xã Tân Định huyện Tân Uyên; chiều dài đoạn chạy trong phạm vi tỉnh Bình Dương là 120 km
- Phần thượng nguồn của sông Bé thuộc tỉnh Bình Phước, đã xây dựng công trình thủy điện tại Thác Mơ: dung tích hồ chứa 1,47 tỷ m3, công suất phát điện 150.000 KW, lưu lượng xả mùa khô dưới tua - bin là 60 m3/s Theo Quyết định số: 1122/QĐCP-NN của Chính phủ phê duyệt dự án khả thi hệ thống thuỷ lợi Phước Hòa với tổng vốn đầu tư 2.602,489 tỷ đồng Đây là dự án vay vốn của ngân hàng Châu Á; dự án dự kiến thi công vào đầu năm 2004, Dự án sau khi hoàn thành, nước
sẽ được chuyển qua hồ Dầu Tiếng để phục vụ các công trình tưới ở tỉnh Tây Ninh, Long An, Thành phố Hồ Chí Minh; một phần phục vụ cho công nghiệp Bình Dương
- Như vậy, với việc xây dựng công trình thủy lợi Phước Hòa, giai đoạn từ nay đến năm 2010, ngành nông nghiệp Bình Dương không được hưởng lợi nhiều ngoài việc tăng mực nước ngầm khu vực ven hồ và tưới cho khu vực ven sông Bé, ven suối Cái thuộc các huyện Phú Giáo và Tân Uyên
Sông Sài Gòn:
- Cũng là một trong bốn chi lưu lớn của hệ thống sông Đồng Nai, bắt nguồn
từ vùng đồi núi Lộc Ninh; đoạn đầu chảy theo hướng Đông Bắc – Tây Nam, sau khi
đổ vào hồ Dầu Tiếng sông chảy theo hướng Tây Bắc – Đông Nam cho đến khi hợp lưu với sông Đồng Nai tại nhà Bè Tổng chiều dài sông Sài Gòn là 280 km, diện tích lưu vực 4.500 km2; Ngay sau ngày miền Nam được giải phóng, ngành thủy lợi
Trang 22đã xây dựng công trình thủy lợi Dầu Tiếng với dung tích chứa 1,1 tỷ m3, cấp nước chủ yếu cho các tỉnh Tây Ninh, thành phố Hồ Chí Minh, Long An và Bình Dương
- Phía hạ lưu, đoạn từ hồ Dầu Tiếng đến xã Vĩnh Phú huyện Thuận An có chiều dài 140 km; đoạn này, sông Sài Gòn chính là ranh giới của tỉnh Bình Dương Hàng năm, nước hồ Dầu Tiếng vẫn xả xuống sông Sài Gòn với đặc điểm như sau:
+ Nước xả trong mùa khô sẽ góp phần đẩy mặn ở hạ lưu, gia tăng lượng nước tưới phục vụ sản xuất nông nghiệp; do phía hạ lưu còn chịu ảnh hưởng của thủy triều nên có thể tận dụng chênh lệch giữa đỉnh triều và chân triều để tưới tiêu
tự chảy cho sản xuất nông nghiệp
+ Khó khăn lớn nhất cho sản xuất nông nghiệp ở các xã ven sông Sài Gòn của Bình Dương là lượng xả từ hồ Dầu Tiếng trong mùa mưa sẽ gây úng ngập diện tích đất thấp ven sông, ảnh hưởng đến sản xuất và đời sống của nhân dân
- Tuy không được hưởng lợi nhiều từ nguồn nước nhưng sông Sài Gòn đã tạo cho Bình Dương một cảnh quan sông nước hết sức thơ mộng để hình thành tuyến
du lịch trên sông Sài Gòn từ Vĩnh Phú qua Cầu Ngang, lên Thanh An, Núi Cậu và
hồ Dầu Tiếng; tạo cho nông nghiệp Bình Dương một hướng sản xuất mới phục vụ
du lịch sinh thái mà dự án xây dựng nông thôn mới xã Vĩnh Phú, dự án khu du lịch Cầu Ngang, dự án rừng sinh thái Núi Cậu là những mô hình điển hình cần nhân ra diện rộng
Sông Đồng Nai:
Sông Đồng Nai được lấy làm ranh giới của tỉnh Bình Dương về phía Đông, chiều dài sông thuộc địa phận Bình Dương là 58 km; trong đoạn này, lượng nước dồi dào, chất lượng nước tốt có thể khai thác phục vụ cho sản xuất nông nghiệp nói chung và sản xuất hoa kiểng nói riêng
Các sông suối khác:
Ngoài 3 sông chính kể trên, nguồn nước mặt ở Bình Dương còn được cung cấp bởi sông Thị Tính, suối Giai, suối Cái, suối Sâu, suối Giữa, suối Cần Nôm…Các suối này do không có nguồn sinh thủy, lòng suối dốc, nhỏ nên thường chỉ có nước trong mùa mưa; đến mùa khô các dòng suối trên cũng cạn Để khai thác
Trang 23nguồn nước này, ngành thủy lợi đã xây dựng những hồ, đập, cản vừa và nhỏ theo từng bậc thanh như các hồ Cần Nôm, đập Thị Tính…Tuy nhiên, lợi ích đem lại thường không lớn do ít nước và tỷ lệ thất thoát nhiều
Tóm lại, tổng nguồn nước mặt ở 3 sông chính và hệ thống sông suối, hồ đập của Bình Dương là khá lớn Song phân bố không đều nên khả năng khai thác, phục
vụ sản xuất và đời sống còn nhiều hạn chế; đặc biệt trong nông nghiệp do địa hình dốc, mặt ruộng cao hơn mức nước sông, đất xám có thành phần cơ giới nhẹ, tỷ lệ thất thoát lớn nên rất khó khai thác hoặc phải đầu tư lớn và đồng bộ
Tài nguyên nước ngầm:
Kết quả khảo sát về nước ngầm ở Bình Dương của đoàn 801 (Liên đoàn Địa chất 8), cho thấy: trữ lượng nước ngầm ở Bình Dương được đánh giá ở mức từ trung bình đến nghèo, chất lượng khá tốt; phần lớn nguồn nước ngầm thuộc hai tầng trầm tích Pliocen và Miocen với các đặc tính như sau:
- Các tầng chứa nước lổ hổng thuộc trầm tích Holocen (QIV) Pleistocen (giữa QII – QIII) và Pleistocen (QI) có lưa lượng nhỏ 0,4 – 0,5 l/s; chất lượng nước hầu hết bị nhiễm phèn
- Các tầng trầm tích Pliocen trên (N2), dưới (N21) và trầm tích Miocen (N23);
có khả năng trữ nước trung bình, chất lượng nước tốt; có thể sử dụng cho công nghiệp và sinh hoạt; tuy nhiên, chi phí khai thác khá tốn kém
Phân vùng nước ngầm ở Bình Dương có thể chia thành 3 khu vực như sau:
- Khu vực giàu nước ngầm: Phân bố ở các xã ven sông Sài Gòn thuộc huyện Dầu Tiếng, một phần thuộc huyện Bến cát Khảo sát các giếng đào thấy lưu lượng nước từ 0,1 – 1,1 lít/s, cá biệt, gặp mạch nước có thể đạt 5 – 30 l/s Bề dày tầng nước 15 – 20 m Đây là một lợi thế phục vụ cho sản xuất nông nghiệp nói chung và sản xuất hoa kiểng nói riêng
- Khu vực nước ngầm có trữ lượng trung bình: Phân bố ở các huyện Thuận
An, Dĩ An, Thị xã Thủ Dầu Một và phía Nam huyện Tân Uyên Các giếng đào có lưu lượng 0,05 – 0,6 lít/s; những nơi gặp mạch nước, lưu lượng có thể đạt 1.3 – 5,0 lít/s, bề dày tầng nước 10- 12 m Khu vực này là nơi phát triển mạnh ngành công
Trang 24nghiệp và dịch vụ nên nước ngầm chủ yếu phục vụ sinh hoạt và sản xuất công nghiệp
- Khu vực nghèo nước ngầm: Phân bố các huyện Bến Cát, Phú Giáo và Bắc Tân Uyên Lưu lượng các giếng đào từ 0,05 – 4,0 lít/s; song do bề dày tầng chứa nước mỏng lại phân bố khá sâu, khó khai thác nên được xếp vào khu vực nghèo nước ngầm
Ngoài ra, ở các vùng thấp, triền đồi, thường xuất hiện những mạch lộ có áp;
từ dưới ngầm trào lên mạch ruộng (gọi là nước mọi) Đây là một trong những điều kiện thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp
Chế độ thủy văn:
Chế độ thủy văn ở tỉnh Bình Dương khá ổn định Do vị trí của Bình Dương ở
xa cửa sông nên chế độ thủy văn các sông Sài Gòn và Đồng Nai không ảnh hưởng nhiều đến sản xuất nông – lâm – ngư nghiệp; ngoại trừ việc tận dụng sự chênh lệch giữa chân triều và đỉnh triều để tưới tiêu cho các vùng đất thấp ven sông Tuy nhiên, nếu đồng thời kết hợp đỉnh triều và hai yếu tố khác là mưa lớn và xả lũ từ hồ Trị
An, Dầu Tiếng sẽ làm cho phần lớn diện tích đất thấp ven sông bị ngập nước, ảnh hưởng đến sản xuất và đời sống ngừơi dân nơi đây Tình trạng này sẽ phải khắc phục bằng hệ thống đê bao
2.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội:
2.1.2.1 Kinh tế:
Bình Dương là một trong những địa phương năng động trong kinh tế, thu hút đầu tư nước ngoài Với chủ trương tạo ra một môi trường đầu tư tốt nhất hiện nay tại Việt Nam, tính đến tháng 10/2006, tỉnh đã có 1.285 dự án FDI với tổng số vốn 6
tỷ 507 triệu USD Năm 2007, tỉnh Bình Dương đặt mục tiêu thu hút trên 900 triệu USD vốn đầu tư nước ngoài (FDI), tăng hơn 2,5 lần so với năm ngoái Vào năm
2006, một cuộc điều tra về "Chỉ số Năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI)" đã được gửi tới 31.000 doanh nghiệp trên phạm vi 64 tỉnh, thành và nhận được sự hợp tác rất tích cực từ các doanh nghiệp, đã thực sự phản ánh sát thực nguyện vọng của các doanh nghiệp trong xu thế hội nhập Theo bảng xếp hạng Chỉ số Năng lực cạnh
Trang 25tranh cấp tỉnh (PCI) năm 2006, tỉnh Bình Dương tiếp tục đứng đầu với 76,23 điểm, trong khi thủ độ Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh, trung tâm kinh tế lớn nhất của
cả nước, lần lượt xếp thứ thứ 40 với 50,34 điểm và xếp thứ 7 với 63,39 điểm
Theo số 95/BC-UBND Tỉnh Bình Dương ngày 23/11/2007, tổng giá trị sản phẩm trong tỉnh (GDP) tăng 15% so với năm 2006, GDP bình quân đầu người 21 triệu đồng, tăng 19,8% so với năm 2006; cơ cấu ngành kinh tế là công nghiệp - dịch
vụ - nông lâm nghiệp với tỷ lệ tương ứng là 64,4% - 29,2% - 6,4% (năm 2006: 64,1% - 28,9% - 7%) Giá trị sản xuất công nghiệp tăng 25%, giá trị sản xuất nông nghiệp tăng 6%, giá trị dịch vụ tăng 24,1%, kim ngạch xuất khẩu tăng 27,5% Thu hút đầu tư nước ngoài (đến tháng 11/2007) đạt: 2 tỷ 322 triệu đô la Mỹ, thu mới ngân sách tăng 28%, chi ngân sách tăng 12% Tỷ lệ hộ nghèo giảm 3%, tỷ lệ hộ dân
sử dụng điện đạt 98,7%, tỷ lệ hộ dân nông thôn sử dụng nước sạch đạt 89,2%
2.1.2.2 Dân số - lao động:
Dân số:
Dân số tỉnh Bình Dương năm 2006 là: 1.050.124 người Mật độ dân số tỉnh Bình Dương năm 2006: 390 người/km2.Trong đó, Thị xã Thủ Dầu Một: 174.359 người (mật độ: 1.984 người/km2), huyện Bến Cát: 138.525 người (mật độ: 237người/km2) , huyện Dĩ An: 181.038 người (mật độ: 3.012 người/km2)
Theo thống kê năm 2002, dân số phân bố ở thành thị: 239.849 người (chiếm 29,60%) và nông thôn 570.341 người (chiếm 70,40%) Là một trong những tỉnh có tốc độ đô thị hóa cao; tính từ năm 1996 đến nay, dân cư đô thị ở Bình Dương tăng bình quân 10,56%/năm
Do làn sống người nhập cư đến Bình Dương ngày càng đông nên tốc độ tăng dân số hàng năm ở mức rất cao (bình quân 4,44%/năm); đặc biệt là 2 huyện Thuận
An và Dĩ An có tốc độ tăng dân số từ 9-10%/năm
Lao động:
Theo số 95/BC-UBND Tỉnh Bình Dương ngày 23/11/2007, năm 2007 tỉnh
đã giải quyết việc làm đạt 46.722 lao động (kế hoạch: 35-40 ngàn lao động) So với năm 2002, lao động xã hội toàn tỉnh có 446.364 người, trong đó lao động nông –
Trang 26lâm - ngư nghiệp: 225567 người (chiếm 39,55% lao động xã hội); trong khi lao động xã hội toàn tỉnh tăng với tốc độ cao (bình quân 9,11%) thì lao động trong nông nghiệp giảm với tốc độ khá nhanh (bình quân -2,56%/năm) Ngành nông nghiệp tỉnh xem đây là một trong những động lực lớn thúc đẩy quá trình chuyển đổi cơ cấu cây trồng vật nuôi cho phù hợp với xu thế mới theo hướng tăng nhanh năng suất, chất luợng sản phẩm và giảm nhẹ lao động trong nông nghiệp
2.1.2.3 Giao thông:
Giao thông đường bộ: Giao thông đường bộ của tỉnh Bình Dương khá thuận tiện, có tuyến quốc lộ 13 và quốc lộ 14 xuyên suốt tỉnh, nhiều đường liên tỉnh nối liền các vùng Thị xã Thủ Dầu Một cách Tp Hồ Chí Minh 30 km, cách Hà Nội
1740km, Tây Ninh 129km, Biên Hòa (Đồng Nai) 40km
Giao thông đường thủy: Gồm hai con sông Sài Gòn và sông Đồng Nai để vận chuyển vật tư, nông sản và vận chuyển hành khách; các sông suối khác như sông Bé, Thị Tính…do lòng sông hẹp, độ dốc lớn nên không tận dụng làm đường giao thông được Trong tương lai, khi nạo vét sông Thị Tính để xây dựng khu nông nghiệp sinh thái phục vụ phát triển ngành dịch vụ du lịch và vận chuyển vật tư hàng hóa với tải trọng nhỏ
Giao thông đường sắt: Tuyến đường sắt quốc gia chạy qua huyện Dĩ An khoảng 8km, trong đoạn này có 2 ga: Sóng Thần và Dĩ An; hiện tại là hai ga xép Theo quy hoạch, tuyến đường sắt Dĩ An - Lộc Ninh sẽ được phục hồi trong dự án
“Đường sắt xuyên Á”; hai ga này sẽ được mở rộng; đặc biệt là ga Sóng Thần sẽ là đầu mối vận chuyển hàng hóa quan trọng nhất phía Nam
2.2 Tình hình sử dụng đất tỉnh Bình Dương:
Qua bảng 2.3, diện tích đất dành cho nông nghiệp chiếm nhiều nhất trong tổng diện tích ở tỉnh Bình Dương nhưng việc sử dụng đất này còn chưa hiệu quả Đòi hỏi Nhà nước phải có chính sách phát triển sản xuất nông nghiệp, lựa chọn quy hoạch vùng chuyên canh cây nông nghiệp hợp lý và mang lại lợi nhuận cao cho người dân Đây là một thuận lợi cho sự phát triển hoa kiểng ở tỉnh Bình Dương, nếu
Trang 27biết sử dụng diện tích đất này hợp lý và tạo điều kiện thuận lợi cho nông nghiệp phát triển nói chung và hoa kiểng nói riêng
Bảng 2.3: Tình hình sử dụng đất của tỉnh Bình Dương từ năm 2000-2006
- Màu và cây CN hàng năm
1.2.Cây lâu năm
-Cây công nghiệp lâu năm
-Cây ăn quả
1.3.Đất trồng cỏ
1.4.Đất có mặt nước đang
dùng vào nông nghiệp
2.Đất dùng vào lâm nghiệp
349
409
12.791 5.165 7.625 22.563 4.254 7.431 5.679 5.845 12.879 4.793 1.102
184
2001 269.522215.47742.553 22.357 20.185 145.081112.1169.220
394
409
13.922 5.935 7.987 23.174 4.632 7.602
256 5.904 12.379 4.380 1.075
183
2003 269.522 215.479 39.543 21.280 18.263 146.875 114.687 10.543
455
524
14.115 5.023 9.092 28.464 8.233 7.966
274 6.317 11.587 4.067
896
182
2005 269.522 215.481 30.859 17.699 13.160 174.206 119.254 8.944
379
513
12.651 2.291 10.360 30.035 11.567 8.221
312 7.227 1.112 1.063
40
2006 269.522 215.482 30.696 17.612 12.903 174.158 121.897 7.826
180
513
12.651 2.291 10.360 30.154 11.625 8.223
331 7.322 1.110 1.061
40
(Theo Niên giám thống kê 2006 (cục thống kê Bình Dương))
Trang 282.3 Sơ lược về tình hình sản xuất, tiêu thụ cây hoa kiểng trong nước và trên thế giới:
2.3.1 Tình hình sản xuất, tiêu thụ cây hoa kiểng trên thế giới:
Ngày nay sản xuất hoa cây kiểng trên thế giới đang phát triển một cách mạnh
mẽ và đã trở thành một ngành thương mại cao Sản xuất hoa cây kiểng đã mang lại lợi ích to lớn cho nền kinh tế các nước trồng hoa cây kiểng Diện tích hoa cây kiểng của thế giới ngày càng mở rộng, không ngừng tăng lên Năm 1995 sản lượng hoa cây kiểng thế giới đạt khoảng 31 tỷ đô la Trong đó hoa hồng chiếm tới 25 tỷ USD
Ba nước sản xuất hoa cây kiểng lớn đã có sản lượng khoảng 50% sản lượng hoa của thế giới đó là Nhật, Hà Lan, Mỹ
Giá trị nhập khẩu hoa cây kiểng của thế giới tăng hàng năm Năm 1996 là 7,5
tỷ đô la Trong đó thị trường hoa cây kiểng của Hà Lan chiếm gần 50% Sau đó đến các nước Colombia, Ý, Đan Mạch, Mỹ, Bỉ, Israel, Úc, Đức, Canada, Pháp, Tây Ban Nha, Kênia, Ecuado Mỗi nước xuất trên 100 triệu đô la, tỷ lệ tăng hàng năm là 10%
Sản xuất hoa cây kiểng của thế giới sẽ tiếp tục phát triển và mạnh mẽ nhất ở các nước châu Á, châu Phi, và châu Mỹ La tinh Hướng sản xuất hoa cây kiểng là tăng năng suất, giảm chi phí lao động, giảm giá thành sản phẩm Mục tiêu sản xuất hoa cây kiểng cần hướng tới là giống hoa cây kiểng đẹp, tươi, chất lượng cao và giá thành thấp
Các nước châu Á có diện tích hoa cây kiểng lớn là: Trung Quốc, Ấn Độ, Malaysia, Srilanka, Thái Lan, Việt Nam, Inđônêsia, Philippin Nghề trồng hoa cây kiểng ở châu Á có từ lâu đời, nhưng trồng hoa cây kiểng thương mại mới phát triển mạnh từ những năm 80 của thế kỷ
Đông Nam Á: Singapo năm 1991 xuất khẩu 13 triệu USD, nay đã đạt đến 20 triệu USD Thái Lan năm 1991 xuất khẩu 80 triệu USD, đến nay đã đưa doanh số xuất khẩu lên 200 triệu USD/năm
Trang 292.3.2 Tình hình sản xuất, tiêu thụ cây hoa kiểng trong nước:
Nhân dân ta có truyền thống yêu hoa từ lâu đời Nước ta lại là một nước nông nghiệp, diện tích tự nhiên lớn, 80% dân số sống về nghề nông, nông dân lại cần cù, giàu kinh nghiệm sản xuất Khi nhà nước ta mở cửa, tăng cường đầu tư, đời sống nhân dân được nâng cao, yêu cầu hoa cây kiểng cho khách sạn, du lịch lớn, các thị trường hoa cây kiểng phát triển Thì ngành kinh doanh hoa kiểng đã phát triển khá mạnh mẽ, sản xuất đa dạng nhiều chủng loại, với những vùng hoa kiểng lớn như:
- Miền Bắc: Nam định, Hải Phòng
- Miền Trung: Bình Định, Đà Nẵng
- Đông Nam Bộ: Đà Lạt (Lâm Đồng), Biên Hòa (Đồng Nai), Gò Vấp, Hóc Môn, Thủ Đức (Tp Hồ Chí Minh)
- Tây Nam Bộ: Sa Đéc (Đồng Tháp), chợ Lách, Cái Mơn (Bến Tre)
Diện tích hoa cây kiểng nước ta ngày càng mở rộng không ngừng và theo số liệu thống kê năm 2004 diện tích trồng hoa cây kiểng của cả nước xấp xỉ 9000 ha
Hiện nay, nhà nước ta đang khuyến khích phát triển hoa để phục vụ nhu cầu trong nước và xuất khẩu Tuy nhiên, sản xuất hoa cây kiểng nước ta chủ yếu dựa vào kinh nghiệm truyền thống, mang tính tự phát, manh mún, quy mô nhỏ lại thiếu thông tin hỗ trợ về giống, kỹ thuật…nên không đạt các tiêu chuẩn về số lượng và chất lượng mà thị trường đòi hỏi Vì vậy, tính cạnh tranh kém cả thị trường xuất khẩu và nội địa Do đó, dẫn đến doanh thu xuất khẩu hoa cây kiểng của nước ta trong những năm qua rất thấp Đòi hỏi Đảng và Chính Phủ ta đã có đường lối chủ trương chính sách về phát triển nông nghiệp và nông thôn, đòi hỏi lựa chọn quy mô chủng loại sản phẩm các ngành nông nghiệp phải khai thác lợi thế của từng vùng, bám sát nhu cầu thị trường trong nước và thế giới, phải có khả năng tiêu thụ hàng hóa, có hiệu quả cao về kinh tế, xã hội và sinh thái
2.4 Đánh giá chung về tổng quan
Qua nghiên cứu đặc điểm về vị trí địa lý kinh tế của tỉnh Bình Dương cho thấy có một số thuận lợi và khó khăn như sau:
Trang 30- Vùng PTKTTĐPN cũng là nơi tập trung các ngành công nghiệp phát triển nhất cả nước với công nghệ hiện đại như công ty, các viện trường… chuyên nghiên cứu sâu về nông - lâm – ngư nghiêp; điều kiện này không chỉ thuận lợi đối với các yếu tố đầu ra cho sản xuất nông nghiệp (gắn sản xuất nông nghiệp với công nghiệp chế biến nông sản) mà còn là thuận lợi lớn để giảm chi phí đầu vào cho nông lâm ngư nghiệp như: phân bón, thuốc bảo vệ thực vật, giống, thức ăn gia súc,
2.4.2 Khó khăn:
Tỉnh Bình Dương có những điều kiện thuận lợi phù hợp phát triển hoa kiểng, tuy nhiên còn nhiều khó khăn trong quá trình sản xuất hoa kiểng: việc trồng hoa kiểng lại tự phát, nhỏ lẻ, không đáp ứng nhu cầu thị trường xuất khẩu và nội địa; Sản xuất hoa kiểng còn hạn chế về giống hoa chất lượng cao, thích ứng với điều kiện sinh thái của từng vùng; kỹ thuật trong sản xuất, bảo quản hoa chưa được áp dụng rộng rãi; thị trường tiêu thụ chưa phát triển cả trong nước và xuất khẩu; đặc biệt là chưa có định hướng phát triển trên cơ sở khoa học phù hợp điều kiện tự nhiên và kinh tế - xã hội
Trang 31Chương 3
NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Thời gian và địa điểm nghiên cứu:
- Thời gian: đề tài được tiến hành từ 10/3/2008 đến 15/7/2008
- Địa điểm: Tại hai huyện và một thị xã: huyện Dĩ An, huyện Bến Cát và thị xã Thủ Dầu Một của tỉnh Bình Dương
3.2 Nội dung:
3.2.1 Khảo sát và điều tra hiện trạng sử dụng đất cho ngành hoa kiểng về:
- Quy mô sản xuất, diện tích, loại hình sản xuất cây hoa kiểng, về thị trường tiêu thụ, vốn…
- Xác định các yêu cầu về các yếu tố kinh tế và phi kinh tế phù hợp phát triển hoa kiểng
- Tiềm năng sản xuất hoa kiểng của đất
- Điều tra hiện trạng quy hoạch sử dụng đất cho hoa kiểng: theo quy hoạch chung của tỉnh và thực tế sử dụng đất sản xuất
3.2.2 Điều tra hiệu quả kinh tế, xã hội và môi trường cho sử dụng đất sản xuất hoa kiểng ở Bình Dương
- Hiệu quả về kinh tế
- Hiệu quả về xã hội
- Hiệu quả về môi trường
3.2.3 Đánh giá các yếu tố ảnh hưởng đến ngành sản xuất kinh doanh hoa kiểng:
- Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế ngành sản xuất kinh doanh hoa kiểng
- Tiềm năng phát triển sản xuất cây hoa kiểng
- Về thách thức và nguy cơ ảnh hưởng đến ngành sản xuất kinh doanh cây hoa kiểng
Trang 323.2.4 Đề xuất một số phương hướng và giải pháp cụ thể nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất cho ngành hoa kiểng theo hướng ổn định và bền vững:
- Phương hướng trước mắt và lâu dài
- Giải pháp kinh tế-xã hội và kĩ thuật
3.3 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu:
3.3.1 Cơ sở lý luận:
3.3.1.1 Hiệu quả kinh tế:
Hiệu quả kinh tế là một phạm trù kinh tế quan trọng, nó thể hiện kết quả của sản xuất trong mỗi đơn vị chi phí bỏ ra Vì vậy mục tiêu hàng đầu của một nền kinh
tế là không ngừng nâng cao hiệu quả sản xuất để duy trì ổn định và phát triển kinh
tế - xã hội
Về mặt hình thức, hiệu quả kinh tế là một đại lượng so sánh kết quả sản xuất với chi phí bỏ ra Hiệu quả kinh tế phải cân đối, hợp lý các mặt kinh tế, chính trị, xã hội Xác định hiệu quả kinh tế là điểm xuất phát cho mọi tính toán kinh tế trong kế hoạch phát triển kinh tế hợp lý, tạo nguồn sản phẩm dồi dào đáp ứng nhu cầu xã hội đồng thời mang lại lợi ích thiết thực cho người sản xuất
Khái niệm về hiệu quả kinh tế trong nông nghiệp: hiệu quả kinh tế trong nông nghiệp thể hiện bằng cách so sánh kết quả sản xuất với chi phí bỏ ra (gồm chi phí vật chất và chi phí lao động) Khi xác định hiệu quả kinh tế trong nông nghiệp phải tính đến việc sử dụng đất đai, các nguồn dự trữ vật chất lao động trong nông nghiệp, tức phải sử dụng đến các nguồn tiềm năng trong sản xuất nông nghiệp
3.3.1.2 Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh tế: gồm các chỉ tiêu sau
Các chỉ tiêu kinh tế
- Tổng chi phí (TCP): chỉ tiêu này phản ánh toàn bộ chi phí bỏ ra đầu tư vào quá trình sản xuất Chỉ tiêu này phản ánh nhiều hay ít phụ thuộc vào qui mô trồng, kĩ thuật và có sự tham gia của một số yếu tố khác:
Tổng chi phí sản xuất = chi phí máy móc + chi phí vật chất + chi phí dịch vụ
+ chi phí lao động
Trang 33- Doanh thu (DT): chỉ tiêu này phản ánh kết quả trong quá trình sản xuất Chỉ tiêu này cao hay thấp phụ thuộc vào năng suất, giá bán
CPCLĐN: chi phí công lao động nhà
Các chỉ tiêu xác định hiệu quả kinh tế:
- Tỷ suất lợi nhuận theo chi phí sản xuất:
Tỷ suất lợi nhuận theo chi phí = LN / CPSX
Ý nghĩa: tỷ suất này nói lên 1 đồng chi phí sản xuất bỏ ra thì thu được bao nhiêu đồng lợi nhuận
- Tỷ suất thu nhập theo chi phí sản xuất:
Tỷ suất thu nhập theo tổng chi phí = TN / CPSX
Ý nghĩa: cứ 1 đồng chi phí bỏ ra thì tạo ra được bao nhiêu đồng thu nhập
- Tỷ suất doanh thu theo chi phí sản xuất:
Tỷ suất doanh thu theo chi phí sản xuất = DT / TCP
Ý nghĩa: Cứ 1 đồng chi phí bỏ ra thì thu được bao nhiêu đồng doanh thu
- Tỷ suất lợi nhuận theo tổng doanh thu
Tỷ suất lợi nhuận theo tổng doanh thu = LN / TDT
Ý nghĩa: chỉ tiêu này phản ánh trong 1 đồng doanh thu có bao nhiêu đồng lợi nhuận hay lợi nhuận chiếm bao nhiêu phần trăm trong tổng doanh thu
- Tỷ suất thu nhập theo tổng doanh thu:
Tỷ suất thu nhập theo tổng doanh thu = TN / DT
Ý nghĩa: chỉ tiêu này phản ánh trong 1 đồng doanh thu có bao nhiêu đồng thu nhập hay thu nhập chiếm bao nhiêu phần trăm trong tổng doanh thu
Trang 34Đây là các chỉ tiêu quan trọng phản ánh hiệu quả kinh tế Nếu giá trị của chúng càng lớn thì hiệu quả kinh tế càng cao
3.3.2 Phương pháp nghiên cứu
3.3.2.1 Công tác ngoại nghiệp
Phương pháp điều tra ngẫu nhiên: điều tra 30% hộ trên tổng số hộ một cách ngẫu nhiên để chỉ tiêu lựa chọn, phân tích, đánh giá được khách quan, theo phiếu điều tra đã chuẩn bị sẵn ( phụ lục 2)
3.3.2.2 Công tác nội nghiệp
+ Tra cứu các tài liệu có liên quan trên sách, báo, internet…để bổ sung những thông tin cần thiết
+ Thu thập số liệu thứ cấp: tại các phòng kinh tế và các phòng ban khác ở các huyện, thị xã và tỉnh Bình Dương
+ Phương pháp tính toán thống kê: để thống kê tỷ lệ quy mô kinh doanh, diện tích trồng cây hoa kiểng, loại hình kinh doanh….của các hộ đã điều tra qua các phần mềm máy tính như: excel, word…
+ Phương pháp phân tích: trên cơ sở các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh tế nhằm đánh giá hiệu quả kinh tế, xã hội cho ngành hoa kiểng
+ Phương pháp tổng hợp: tổng hợp các kết quả phân tích để đề xuất các giải pháp cụ thể nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất cho ngành hoa kiểng theo hướng ổn định
và bền vững phục vụ cho quy hoạch đất nông nghiệp ở tỉnh
Trang 35Chương 4
KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
4.1 Kết quả điều tra từ khu vực nghiên cứu:
4.1.1 Khái quát tình hình sử dụng đất trồng hoa kiểng ở Bình Dương:
Khi tốc độ công nghiệp hóa - đô thị hóa liên tục phát triển ở tỉnh Bình Dương, một mặt làm cho nền kinh tế phát triển, một mặt thu hẹp diện tích sản xuất cây nông nghiệp nói chung và hoa kiểng nói riêng Với diện tích sản xuất hoa kiểng ngày càng thu hẹp như vậy, đòi hỏi phải có một kế hoạch quy hoạch sử dụng đất
hợp lý phù hợp với từng vùng và đạt hiệu quả sản xuất cao
Tuy ngành trồng hoa kiểng ở tỉnh Bình Dương đã có từ lâu đời, nhưng mới phát triển trong những năm gần đây nên lợi nhuận mà nó mang lại mới thật sự được quan tâm Vì vậy, các cơ quan chức năng chưa có sự thống kê diện tích sử dụng đất
cụ thể cho hoa kiểng như những cây nông nghiệp khác
Nói chung, tình hình sử dụng đất cho hoa kiểng đang có xu hướng tăng lên trong những năm gần đây, nguyên nhân là do giai đọan này có sự quan tâm của chính quyền, của lãnh đạo địa phương muốn “phát triển nghề sản xuất có hiệu quả kinh tế cao” theo xu hướng phát triển “vùng chuyên canh cây hoa kiểng” chung của toàn tỉnh Thực tế, Đảng và Nhà nước ta đã có Chính sách quan tâm đến ngành nông nghiệp trong đó có ngành hoa kiểng, đòi hỏi quy hoạch vùng chuyên canh cây hoa kiểng phù hợp với từng vùng, mang lại hiệu quả kinh tế cao cho người sản xuất ra chúng đáp ứng nhu cầu thị trường trong nước và ngoài nước Hành động cụ thể là
Hội sinh vật cảnh tỉnh đã tổ chức các khóa học cho từng huyện, từng xã học hỏi về
kinh nghiệm trồng và chăm sóc cho người dân Đó là một điều đáng mừng cho các
hộ sản xuất hoa kiểng nói chung và cho nền nông nghiệp của tỉnh nói chung
Trang 364.1.2 Quy mô sản xuất kinh doanh:
Phần lớn các hộ sản xuất kinh doanh với qui mô nhỏ, lẻ mang tính chất hộ
gia đình Quy mô chưa sản xuất tập trung, phân vùng, tạo nên một mãng lớn cho
từng khu vực nên từ đó chưa hình thành nên các làng nghề hoa kiểng; như một số
làng nghề hoa kiểng nổi tiếng đã có của nước ta như Cái Mơn của Bến Tre, Gò Vấp
của Tp.Hồ Chí Minh…Chúng tôi đã chọn mẫu là 60 hộ sản xuất kinh doanh hoa
kiểng để tiến hành điều tra, thu thập số liệu cho toàn tỉnh Trong quá trình thu thập
thông tin từ các hộ, tôi đã chia thành ba quy mô thường gặp qua bảng 4.1 là: quy
mô sản xuất cá thể chiếm tỷ lệ lớn nhất 61,7% toàn tỉnh, đây là các hộ sản xuất
riêng lẻ, cá thể còn mang tính chất hộ gia đình; quy mô cơ sở kinh doanh: các hộ
này có vốn đầu tư lớn hơn vươn lên mở rộng quy mô thành các cơ sở kinh doanh
chiếm tỷ lệ 35%; còn lại các hộ có vốn lớn và có điều kiện thuận lợi thành lập thành
công ty kinh doanh chỉ chiếm tỷ lệ 3,3% Cơ sở kinh doanh và công ty kinh doanh
là hai quy mô sản xuất có đầu ra tốt hơn do có thể tự tiêu thụ sản phẩm làm ra chủ
động hơn Tuy chưa sản xuất tập trung và phân vùng hoa kiểng nhưng ở các huyện
và thị xã đã có thành lập hội sinh vật cảnh và chương trình quy hoạch vùng chuyên
canh hoa kiểng, đây sẽ là khởi đầu cho những mối liên kết trong sản xuất và kinh
doanh sau này tạo nên vùng chuyên canh hoa kiểng trong tỉnh
Bảng 4.1 Quy mô sản xuất kinh doanh hoa kiểng của các hộ
Quy mô sản xuất kinh
Trang 37cá thể
cơ sở công ty
Biểu đồ 4.1 Quy mô sản xuất kinh doanh hoa kiểng của các hộ ở tỉnh Bình Dương
Mặc dù hội đã có những buổi sinh hoạt và trao đổi kinh nghiệm thường xuyên của các thành viên trong hội Đồng thời hội đã tổ chức những lớp học hướng dẫn cách trồng và chăm sóc cây hoa kiểng cho các hộ nông dân có nhu cầu học hỏi
về kĩ thuật Nhưng hội chỉ là tổ chức tự thành lập của một số anh em yêu, đam mê
và có lòng nhiệt huyết với nghề, chưa phải là một tổ chức của Nhà nước Nhìn chung ngành hoa kiểng Bình Dương còn phát triển manh mún, nhỏ lẻ, tự phát không đáp ứng được nhu cầu thị trường Các hộ kinh doanh hoa kiểng có quy mô lớn, thu nhập cao chỉ chiếm số ít Vì vậy, đòi hỏi Nhà nước phải thành lập các tổ chức cụ thể để quan tâm ngành hoa kiểng một cách sâu sắc hơn, ví dụ như trung tâm khuyến nông, hội nông dân theo sát kĩ thuật cho nông hộ các cây trồng nông nghiệp
khác, để biến ngành hoa kiểng là một ngành thật sự mang lại hiệu quả kinh tế
4.1.3 Diện tích trồng cây hoa kiểng:
Bảng 4.2 Diện tích trồng cây hoa kiểng của các hộ:
Trang 380 5 10 15 20 25 30 35 40 45
< 0,1 0,1 – 0,5 0,5 – 3 3 – 6 >6
Diện tích trồng cây hoa kiểng
Biểu đồ 4.2 Diện tích trồng cây hoa kiểng của các hộ ở tỉnh Bình DươngQua bảng thống kê 4.2 ta thấy diện tích trên 6000m2 chiếm tỷ lệ ít nhất 1,6% toàn tỉnh Chiếm tỷ lệ thấp kế tiếp là 10% ở các hộ có diện tích dưới 100 m2 tập trung chủ yếu là các hộ sản xuất hoa lan, vì các chủ nhân này trồng lan do đam mê, giải trí là chủ yếu, tuy chỉ có ít diện tích nhưng các hộ này vẫn đạt năng suất nhờ vào các hình thức bố trí tốn ít diện tích của hoa lan như: ta có thể treo khắp mọi nơi, trồng dưới đất… Chiếm tỷ lệ 11,7% là ở hộ có diện tích 3000-6000m2 Các hộ có diện tích từ 100 m2 đến 500 m2 chiếm tỷ lệ 35% và hộ có diện tích từ 500-3000m2
chiếm 41,7%, đây là hai khoảng diện tích chiếm tỷ lệ thường gặp của sản xuất hoa kiểng Bình Dương Chính vì vậy, chúng tôi đã chọn diện tích hoa kiểng trang trí là
600 m2 và bon sai là 300 m2 để phân tích hiệu quả kinh tế cho ngành sản xuất kinh doanh hoa kiểng ở Bình Dương
Trang 39
nh 4.1 Các hình thức bố trí đa dạng của hoa lan ở các hộ có diện tích < 100 m2
Ảnh 4.2 Cách bố trí bon sai và hoa lan tận dụng diện tích của một cơ sở kinh doanh
Ảnh 4.3 Cách bố trí kiểng bon sai tận dụng diện tích ở các hộ có diện tích 100 m2đến 500 m2
4.1.4 Thâm niên canh tác:
Thâm niên canh tác có ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng sản phẩm và hiệu quả kinh tế sản xuất của nông hộ Tuy ngành hoa kiểng ở Bình Dương đã có từ lâu đời nhưng chỉ mới phát triển những năm gần đây, nên thâm niên canh tác không nhiều Qua bảng 4.3, trong 60 hộ điều tra thâm niên cao nhất trên 10 năm chỉ chiếm
tỷ lệ 13,3% tập trung ở những nghệ nhân cao tuổi chủ yếu do đam mê, giải trí; chiếm tỷ lệ nhiều nhất 41,7% các hộ có 2-5 thâm niên canh tác trong các hộ đã điều tra Thâm niên canh tác từ 5-10 năm hộ chiếm tỷ lệ 23,3% các hộ đã điều tra Các
hộ có số năm canh tác từ 1-2 năm chiếm tỷ lệ 21,7%; đây là các hộ mới phát triển
Trang 40ngành hoa kiểng, sản phẩm làm ra còn trong giai đoạn tiềm năng, hứa hẹn một hiệu
quả kinh tế lớn trong tương lai, còn bây giờ thì chỉ bán lẻ ra được số lượng rất ít,
không đáng kể; nên trong quá trình tính hiệu quả kinh tế tôi đã không tính các hộ
này mà chỉ cho các hộ này vào trường hợp dự báo trong tương lai
Bảng 4.3 Thâm niên canh tác của chủ hộ
4.1.5 Chủng loại cây hoa kiểng trong sản xuất kinh doanh:
Tuy sản xuất số lượng hoa kiểng không nhiều như các làng nghề hoa kiểng
khác trong cả nước, nhưng về chất lượng sản phẩm thì không kém và chủng loại
hoa kiểng ở Bình Dương thì thật là đa dạng và phong phú với hàng trăm loại khác
nhau từ kiểng cổ đến nhiều dạng bon sai lớn nhỏ, rồi đến rất nhiều loại hoa ngắn
ngày, loại cau, nhóm lá màu…
Trong luận văn này, để thuận lợi cho việc tính toán tôi chia các loại hoa
kiểng vào 2 nhóm là: hoa - kiểng trang trí và bon sai - kiểng cổ Qua quá trình thu
thập thông tin, tôi đã thống kê được ở bảng 4.4 có: 56,7% chiếm tỷ lệ nhiều nhất các
hộ chỉ riêng sản xuất kinh doanh hoa-kiểng trang trí (trong đó hoa lan chiếm 26 hộ
và hoa nền-kiểng trang trí chiếm 9 hộ trong 60 hộ điều tra); chiếm 26,7% ở các hộ
chỉ chuyên sản xuất bon sai kiểng cổ; và chỉ chiếm tỷ lệ 16,6% các hộ là sản xuất
kinh doanh hoa kiểng đủ loại vừa có hoa-kiểng trang trí vừa có bon sai kiểng cổ