Trước những cơ hội và thách thức mà DLST mang lại, làm sao để có thể phát triển DLST bền vững, vừa đem lại lợi ích cho người dân địa phương, vừa đóng góp cho bảo tồn mà không làm tổn thư
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP.HỒ CHÍ MINH
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP.HỒ CHÍ MINH
Ngành: Cảnh quan & Kỹ thuật Hoa Viên
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Người hướng dẫn: TS NGÔ AN
Thành phố Hồ Chí Minh Tháng 7/2008
Trang 3MINISTRY OF EDUCATION AND TRAINING NONG LAM UNIVERSITY – HO CHI MINH CITY
***********
BUI THI HONG NGA
APPLYING THE GIS TECHNOLOGY FOR PLANNING, MANAGEMENT AND DEVELOPING ECOTOURISM IN TRAM CHIM NATIONAL PARK, TAM NONG DISTRICT,
DONG THAP PROVINCE Department of Landscaping and Environmental Horticulture
GRADUATED THESIS
Advisor : Ngo An, Ph.D
Ho Chi Minh city
July, 2008
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Con xin cảm ơn Ba Mẹ đã nuôi dạy con khôn lớn đến ngày hôm nay
Tôi xin gởi lời cám ơn chân thành đến các cô chú, anh chị tại VQG Tràm Chim, đã
giúp đỡ tận tình, tạo điều kiện thuận lợi cho tôi khảo sát, thu thập số liệu để hoàn
thành tốt đề tài Với sự chỉ dẫn chu đáo, giải đáp thắc mắc, tôi đã học hỏi đuợc rất
nhiều điều và các kinh nghiệm bổ ích để hoàn thành bài luận văn
Tôi xin gởi lời cảm ơn sâu sắc đến các thầy cô, các giảng viên tại BM Cảnh quan và
Kỹ Thuật Hoa viên, trường Đai học Nông Lâm TP Hồ Chí Minh đã tận tâm dạy dỗ,
truyền đạt những kiến thức trong suốt thời gian học tập tại trường Đặc biệt, tôi xin
bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến thầy Ngô An đã hướng dẫn và chỉ dạy chu đáo để tôi
có thể sửa chữa những sai sót và hoàn thiện đề tài Tốt nghiệp
Tôi xin chân thành cảm ơn tất cả các bạn sinh viên lớp cảnh quan 30 và tất cả bạn
bè, những người đã luôn sát cánh, giúp đỡ và động viên tôi hoàn thành luận văn tốt
nghiệp
Xin chân thành cảm ơn
Tp Hồ Chí Minh, ngày 25/ 07/ 2008 Bùi Thị Hồng Nga
Trang 5
TÓM TẮT ĐỀ TÀI
Đề tài nghiên cứu “Ứng dụng GIS phục vụ quy hoạch, quản lý, phát triển du lịch sinh
thái tại VQG Tràm Chim, huyện Tam Nông, tỉnh Đồng Tháp” được tiến hành tại thành
phố Hồ Chí Minh thời gian từ 1/3/2008 đến 20/7/2008, trong đó thời gian thực tập tại VQG Tràm Chim, huyện Tam Nông, tỉnh Đồng Tháp từ 5/4/2008 đến 28/4/2008
3 Xây dựng cấu trúc cơ sở dữ liệu, cập nhật thông tin các lớp dữ liệu
4 Khai thác CSDL bằng công nghệ MapInfo
Kết quả thu được:
1 Hiện trạng DLST (các tuyến điểm hiện đang khai thác) và tài nguyên DLST tại VQG Tràm Chim
2 Xây dựng được hệ thống cơ sở dữ liệu trên phần mềm GIS-MapInfo về tài nguyên DLST (thực vật, phân bố chim), hiện trạng DLST tại VQG Tràm Chim
3 Vận dụng GIS truy vấn, phân tích dữ liệu, hiển thị và đưa ra các thông tin phục vụ công tác quy hoạch, quản lý và phát triển DLST tại VQG Tràm Chim
4 Xây dựng các lớp bản đồ chuyên đề
5 Đề xuất một số giải pháp về quy hoạch các tuyến, điểm DLST và phát triển DLST tại VQG Tràm Chim, huyện Tam Nông, tỉnh Đồng Tháp, phù hợp với quy hoạch phát triển Du lịch tại tỉnh Đồng Tháp
Trang 6SUMMARY
Thesis “Applying GIS technology for planning, management and developing Ecotourism
in Tram Chim National Park, Tam Nong District, Dong Thap Province” was carried out
in Ho Chi Minh city, from March, 2008 to Jully, 2008 and practiced in Tram Chim National Park, Tam Nong District, Dong Thap Province from 5 April, 2008 to 28 April, 2008
The methods:
1 Collecting maps, materials and researched results relating to study area Carrying out surveying and positioning some points of ecotourism resources in Tram Chim National Park
2 Digitizing maps, spatial data which contain the information of actual ecotourism tours, points and infrastructure
3 Building a database management system based on using Map info version 7.5 software
4 Analyzing database management system; setting up the relationship between spatial and attribute data in order to answer queries for planning, management and ecotourism development in Tram Chim National Park
3 Applying GIS to query, analyze and display information for planning, management of ecotourism resources in Tram Chim National Park
4 Setting up and displaying layout layer for manager using later on
Trang 75 Proposing some measures for planning of ecotourism tours and points and also for ecotourism development in Tram Chim national park That will be suitable for tourism development planning of Dong Thap province in future
Trang 8MỤC LỤC
TRANG
Lời cảm ơn i
Tóm tắt ii
Mục lục v
Danh sách các chữ viết tắt viii
Danh sách các hình - bảng - bản đồ ix
Chương 1 : Mở đầu 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Lý do chọn đề tài 2
Chương 2 : Tổng quan 4
2.1 Tổng quan về GIS 4
2.1.1 Định nghĩa về GIS 4
2.1.2 Các thành tố, chức năng của GIS 5
2.1.3 GIS – công cụ đắc lực cho công tác quản lý 7
2.2 Tổng quan về du lịch sinh thái 8
2.2.1 Định nghĩa về du lịch sinh thái (DLST) 8
2.2.2 Quản lý và phát triển DLST bền vững 9
2.2.3 Mối quan hệ giữa DLST và các khu bảo tồn thiên nhiên 12
2.3 Tổng quan về Vườn Quốc Gia Tràm Chim 14
2.3.1 Sơ lược quá trình hình thành và phát triển 14
2.3.2 Đặc điểm tự nhiên 16
2.3.3 Đặc điểm xã hội 22
2.3.4 Hiện trạng DLST tại VQG Tràm Chim 23
Chương 3 : Mục tiêu, nội dung, phương pháp nghiên cứu 24
Trang 93.1 Mục đích nghiên cứu 24
3.2 Nội dung nghiên cứu 24
3.3 Phương pháp nghiên cứu 24
3.3.1 Phương pháp điều tra ngoại nghiệp 24
3.3.2 Phương pháp xây dựng cơ sở dữ liệu nội nghiệp 24
Chương 4 : Kết quả và thảo luận 4.1 Tiềm năng phát triển DLST tại VQG Tràm Chim 26
4.2 Xây dựng cơ sở dữ liệu 31
4.2.1 Xây dựng dữ liệu không gian 33
4.2.2 Xây dựng dữ liệu thuộc tính 43
4.2.3 Cập nhật cơ sở dữ liệu 47
4.3 Truy vấn dữ liệu 54
4.3.1 Phục vụ cho công tác quy hoạch 54
4.3.2 Phục vụ cho công tác quản lý 61
4.4 Phân tích các lớp dữ liệu 62
4.4.1 Phục vụ cho công tác quy hoạch 62
4.4.2 Phục vụ cho công tác quản lý 69
4.5 Hiển thị thông tin 71
4.5.1 Liên kết nóng 71
4.5.2 Biên tập và kết xuất bản đồ 72
Chương 5 : Kết luận và kiến nghị 76
5.1 Kết luận 77
5.2 Kiến nghị (Đề xuất một số giải pháp) 78
Tài liệu tham khảo 79
Phụ lục 81
Trang 11DANH SÁCH CÁC HÌNH - BẢNG - BẢN ĐỒ
Hình 2.1: Vị trí các khu dân cư tập trung khu vực VQG Tràm Chim .22
Hình 4.1: Chim nước và cảnh quan rừng tràm tại VQG Tràm Chim .27
Hình 4.2: Các hình thức DLST tại VQG Tràm Chim 29
Hình 4.3: DLST tại VQG Tràm Chim (quan sát sếu và nghiên cứu khoa học) 30
Hình 4.4: Cảnh quan rừng tràm dưới những góc nhìn khác nhau 31
Hình 4.5: Cấu trúc dữ liệu không gian của lớp Phan_khu_BT (phân khu bảo tồn) 35
Hình 4.6: Cấu trúc dữ liệu thuộc tính của lớp Phan_khu_BT (phân khu bảo tồn) 35
Hình 4.7: Dữ liệu thuộc tính của lớp Phan_khu_BT (phân khu bảo tồn 35
Hình 4.8: Ngụy trang để quan sát Sếu – Sếu về bãi ăn (A3) 36
Hình 4.9: Bước 1, tạo bảng dữ liệu mới trên cơ sở bảng dữ liệu CSHT 37
Hình 4.10: Xây dựng cấu trúc cơ sở dữ liệu thuộc tính cho lớp Diem_DL_HT 37
Hình 4.11: Dữ liệu thuộc tính của lớp Diem_DL_HT 38
Hình 4.12: Dữ liệu không gian của lớp Diem_DL_HT 38
Hình 4.13: Cấu trúc dữ liệu thuộc tính của lớp Tuyen_DLST_ht 39
Hình 4.14: Dữ liệu thuộc tính của lớp Tuyen_DLST_ht 39
Hình 4.15: Hiện trạng các tuyến du lịch tại VQG Tràm Chim 39
Hình 4.16: Tạo cơ sở dữ liệu cho bản đồ mới (CQ_dt_D) 40
Hình 4.17: Dữ liệu không gian của lớp CQ_dt_D (Cảnh quan đặc trưng dạng điểm) 40
Hình 4.18: Dữ liệu thuộc tính của lớp CQ_dt_D 40
Hình 4.19: Chọn vùng đặc trưng bằng Select / Query 41
Hình 4.20: Dữ liệu không gian lớp CQ_dt_V 42
Hình 4.21: Dữ liệu thuộc tính lớp CQ_dt_V 42
Hình 4.22: Cấu trúc dữ liệu thuộc tính của lớp thông tin CSHT_DLST 43
Trang 12Hình 4.24: Dữ liệu không gian lớp thông tin CSHT_DLST 43
Hình 4.25 : Bước 1 – mở file bản đồ muốn xây dựng dữ liệu thuộc tính 44
Hình 4.26: Bước 2, 3 – xây dựng các trường dữ liệu thuộc tính phù hợp yêu cầu 44
Hình 4.27: Cấu trúc cơ sở dữ liệu thuộc tính của lớp ThamTV2006 45
Hình 4.28: Cấu trúc dữ liệu không gian của lớp ThamTV2006 45
Hình 4.29: Cơ sở dữ liệu thuộc tính của lớp ThamTV2006 46
Hình 4.30: Cấu trúc dữ liệu không gian của lớp Kenh (Kênh) 46
Hình 4.31: Cấu trúc dữ liệu thuộc tính của lớp Kenh (Kênh) 47
Hình 4.32: Dữ liệu thuộc tính của lớp Kenh (Kênh) 47
Hình 4.33: Cấu trúc dữ liệu thuộc tính của lớp Phanbo_chim 48
Hình 4.34: Dữ liệu được nhập trong Excel 49
Hình 4.35: Minh họa cho các bước chuyển số liệu từ Excel qua MapInfo 50
Hình 4.36: Dữ liệu sau khi đã chuyển qua MapInfo 50
Hình 4.37: Cập nhật dữ liệu vào lớp Phanbo_chim 51
Hình 4.38: Dữ liệu thuộc tính của lớp Phanbo_chim trước khi cập nhật 51
Hình 4.39: Dữ liệu thuộc tính của lớp Phanbo_chim sau khi cập nhật 51
Hình 4.40: Cập nhật dữ liệu thuộc tính cho lớp Phanbo_chim (cột Phan_khu) 52
Hình 4.41: Cập nhật dữ liệu thuộc tính cho lớp Phanbo_chim (Cột Toa_do_x) 52
Hình 4.42: Cập nhật dữ liệu thuộc tính cho lớp Phanbo_chim (Cột Toa_do_y) 53
Hình 4.43: Dữ liệu không gian của lớp Phanbo_chim 53
Hình 4.44: Cập nhật dữ liệu thuộc tính cho lớp Diem_DL_HT 54
Hình 4.45: Bước 1 – điều kiện trong Query 56
Hình 4.46: Bước 2 – tạo vùng đệm cho các đối tượng được chọn 56
Hình 4.47: Các vùng đệm của bãi ăn của sếu 57
Hình 4.48: Bước 3 – truy xuất bằng Query > SQL Select 57
Hình 4.49: dữ liệu thuộc tính của các đối tượng thỏa điều kiện chọn 57
Hình 4.50: Kết quả truy vấn bước 3 – dữ liệu không gian 58
Hình 4.51: Chọn đối tượng bằng Seclect / SQL Select 58
Hình 4.52: Kết quả truy vấn bước 4 58
Trang 13Hình 4.53: Xem dữ liệu thuộc tính bằng công cụ Info 59
Hình 4.54: Dữ liệu không gian lớp VD_QSChim (vùng đệm quan sát chim) 59
Hình 4.55: Truy vấn vùng câu cá từ lớp Muc_nuoc và Kenh 60
Hình 4.56: Các đối tượng được chọn từ lớp Muc_nuoc và lớp Kenh 61
Hình 4.57: Kết quả truy vấn từ lớp Kenh theo điều kiện trên 61
Hình 4.58: Tạo vùng đệm bằng Table / Buffer 63
Hình 4.59: Vùng đệm tạo theo điều kiện 63
Hình 4.60: Hiệu chỉnh vùng đệm bằng Target – Erase 63
Hình 4.61: Vùng đệm sau khi hiệu chỉnh 64
Hình 4.62: Vùng đệm sau khi thực hiện lệnh Split 64
Hình 4.63: cập nhật dữ liệu cho lớp VD_Tiepcan 65
Hình 4.64: Cấu trúc dữ liệu thuộc tính lớp VD_Tiepcan sau khi cập nhật 65
Hình 4.65: dữ liệu thuộc tính lớp VD_Tiepcan sau khi cập nhật 65
Hình 4.66: Các bước chia cắt lớp CQ_dt_V bởi lớp Muc_nuoc 66
Hình 4.67: Truy xuất đối tượng theo yêu cầu nhà quản lý – quy hoạch 67
Hình 4.68: Cấu trúc dữ liệu thuộc tính của lớp CQ_dt_V_QH 67
Hình 4.69: dữ liệu thuộc tính của lớp CQ_dt_V_QH 68
Hình 4.70: dữ liệu không gian lớp CQ_dt_V_QH 68
Hình 4.71: Chọn các đối tượng ThamTV2006 giao với đối tượng 68
Hình 4.72: Khai báo dữ liệu thuộc tính khi thực hiện lệnh Split 69
Hình 4.73: Dữ liệu không gian lớp VD_Tiepcan_TTV06 sau khi chia cắt 70
Hình 4.74: Các bước tạo Hotlink 70
Hình 4.75: Hình ảnh có được khi truy xuất bằng Hotlink 70
Hình 4.76: Bước 1 – chọn kiểu và khuôn mẫu dữ liệu muốn thể hiện 71
Hình 4.77: Bước 2 – Chọn lớp dữ liệu và cột dữ liệu muốn thể hiện 72
Hình 4.78: Bước 3 – hiệu chỉnh các thể hiện cho phù hợp 73
Hình 4.79 Kết quả tạo bản đồ lớp Tuyen_DLST_ht 73
Hình 4.80: Chuẩn bị các cửa sổ bản đồ để tạo Layout 73
Hình 4.81: Khai báo trong cửa sổ New Layout Window 74
Trang 14Hình 4.82: Layout hiện trạng DLST VQG Tràm Chim 74 Hình 4.83: Khai báo trong cửa sổ New Layout Window 75 Hình 4.84: Layout hiện trạng DLST VQG Tràm Chim 75
Trang 15DANH SÁCH CÁC BẢNG
Bảng 4.1 : Mô tả các lớp dữ liệu không gian kế thừa 32
Bảng 4.2 : Mô tả các lớp dữ liệu không gian Xây dựng 33
Bảng 4.3: Cấu trúc CSDL của lớp thông tin về các phân khu bảo tồn (Phan_khu) 34
Bảng 4.4: Cấu trúc CSDL của lớp thông tin về ThamTV2006 44
Bảng 4.5: Cấu trúc CSDL của lớp thông tin về phân bố các loài chim 47
Trang 16là một trong những lựa chọn tuyệt vời DLST đang dần trở nên quen thuộc với chúng ta, đồng thời cũng trở thành một trong những ngành dịch vụ được quan tâm đầu tư phát triển
VQG Tràm Chim, huyện Tam Nông, tỉnh Đồng Tháp là một trong những điểm DLST khá nổi tiếng, đã được quy hoạch, đầu tư trong hệ thống các tuyến, điểm du lịch của tỉnh Đồng Tháp Đây không chỉ là vùng có sinh cảnh độc nhất vô nhị ở Đông Dương, là một mẫu chuẩn quốc gia về HST đất ngập nước mà còn là nơi duy trì sự đa dạng sinh học đại diện cho cả vùng Đồng Tháp Mười Đến với VQG Tràm Chim, du khách mong muốn được tìm hiểu một Đồng Tháp Mười hoang sơ còn sót lai, được nhìn ngắm những loài chim nước đa dạng và đặc biệt là loài sếu đầu đỏ (hạc) - biểu tượng của sự thiêng liêng, cao quý, thủy chung – là một trong những loài chim đứng trước nguy cơ bị tuyệt chủng Do đó, kết hợp giữa DLST và công tác bảo tồn thiên nhiên hiệu quả, làm sao để Tràm Chim luôn là mái nhà của Sếu đầu đỏ là một bài toán không dễ Trước những cơ hội và thách thức mà DLST mang lại, làm sao để có thể phát triển DLST bền vững, vừa đem lại lợi ích cho người dân địa phương, vừa đóng góp cho bảo tồn mà không làm tổn thương HST là một trong những vấn đề hiện đang được quan tâm trong công tác quản lý VQG Tràm Chim Các công tác quản lý trước đây chủ yếu dựa trên cảm tính của người bảo tồn, vì vậy nếu có thể đưa các yếu tố quan tâm thành dữ liệu trên máy tính sẽ góp phần chuẩn hóa các tiêu chí, tiêu chuẩn đánh giá, đồng thời giúp cho
Trang 17công tác quản lý và truy cập dữ liệu nhanh chóng, chính xác và ít tốn thời gian Mặt khác, là một HST đất ngập nước có tính đa dạng sinh học cao có tầm quan trọng quốc tế, VQG Tràm Chim đã và đang thu hút nhiều sự quan tâm, hỗ trợ của thế giới, khi đó một hệ thống quản lý thông tin dữ liệu tốt không chỉ giúp ích cho công tác quản lý, kế thừa dữ liệu nói riêng mà còn tăng cơ hội hợp tác, đầu tư trong nước và trên thế giới
1.2 Lý do chọn đề tài
1.2.1 Về mặt bảo tồn đa dạng sinh học
VQG Tràm Chim là hệ sinh thái đất ngập nước nội địa với kiểu rừng kín lá rộng thường xanh, ngập nước theo mùa trên đất phèn Đây là đại diện điển hình về mặt địa mạo – cảnh quan – sinh thái cảnh quan đồng bằng ngập lũ của ĐBSCL với
hệ động thực vật phong phú đa dạng: 130 loài thực vật, 231 loài chim nước, có 32 loài quý hiếm, 12 loài trong sách đỏ Việt Nam; 130 loài cá (chiếm 40% số loài cá của ĐBSCL), 174 loài thực vật nổi, 110 loài động vật nổi, 23 loài động vật đáy cùng các loài lưỡng cư, bò sát khác Việc bảo tồn đa dạng sinh học đất ngập nước tại vùng này là việc làm thiết thực để:
1 Bảo tồn nguồn gen quý hiếm
2 Bảo tồn các loài động, thực vật hoang dã
3 Nghiên cứu khoa học, văn hóa lịch sử
1.2.2 Về mặt du lịch sinh thái
Trước những khó khăn về đời sống cộng đồng, vướng mắc trong bảo tồn, DLST được xem là một giải pháp cho việc phát triển bền vững, đóng góp cho công tác bảo tồn và kinh tế địa phương VQG Tràm Chim – HST đất ngập nước có tính ĐDSH cao – đại diện cho mẫu sinh cảnh độc đáo Đồng Tháp Mười, đó là những điều kiện cần để phát triển DLST tại VQG Tràm Chim
Bên cạnh đó, việc đưa VQG Tràm Chim vào quy hoạch phát triển du lịch của tỉnh Đồng Tháp, một trong những điểm đến trong cụm du lịch trung tâm thị xã Cao Lãnh đã tạo điều kiện phát triển DLST tại VQG Về đánh giá tính khả thi dự án phát triển DLST tại VQG Tràm Chim (Sở Thương mại và Du lịch tỉnh Đồng Tháp,
Trang 182002), VQG Tràm Chim được đánh giá có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc xây dựng nền du lịch của tỉnh trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, góp phần thúc đẩy chuyển dịch nhanh cơ cấu kinh tế và tạo ra sự tăng trường và phát triển kinh tế xã hội của tỉnh với tốc độ cao
1.2.3 Về mặt ứng dụng công nghệ thông tin
Muốn quản lý và phát triển DLST nói riêng, quản lý nguồn tài nguyên thiên nhiên nói chung, cần có sự tham gia phối hợp của nhiều ngành, do đó cần có sự thống nhất dữ liệu không gian cũng như dữ liệu thuộc tính giữa các cấp
GIS sử dụng các đặc điểm của bản đồ để quản lý dữ liệu theo các lớp độc lập giúp nhà quản lý dễ dàng cập nhật, sửa chữa mà không làm ảnh hưởng đến các lớp bản đồ khác; GIS đồng thời là một công cụ linh hoạt để truy vấn và phân tích (dữ liệu không gian, và phi không gian) phục vụ công tác quy hoạch , quản lý, việc trao đổi, liên kết thông tin với các đơn vị khác
1.3 Giới hạn đề tài
Dữ liệu làm đề tài chủ yếu được kế thừa từ các nguồn tài liệu tại VQG Tràm Chim (bản đồ giấy, bản đồ số, quy hoạch tổng thể DLST tại VQG Tràm Chim)
Ứng dụng vào công tác quản lý và phát triển DLST dưới góc độ sinh thái,
bảo tồn không tính đến các giải pháp phát triển DLST về mặt chính sách, tổ chức
Trang 19Chương 2
TỔNG QUAN
2.1 Tổng quan về GIS
2.1.1 Định nghĩa về Gis
Có nhiều định nghĩa về GIS:
GIS là công cụ trên cơ sở máy tính để lập bản đồ và phân tích những hiện
tượng đang tồn tại và các sự kiện xảy ra trên trái đất (Environmental System
Research Institute ESRI – Mỹ); GIS là hệ thống phần cứng, phần mềm và các thủ
tục được thiết kế nhằm thu thập, quản lý, xử lý, phân tích, mô hình hóa và hiển thị các dữ liệu quy chiếu không gian để giải quyết các vấn đề quản lý và lập kế hoạch
(National Center for Geography Information and Analysis NCGIA – Mỹ); GIS là
một tập hợp các nguyên lý, phương pháp, dụng cụ và dữ liệu quy chiếu không gian được sử dụng để nhập, lưu trữ, chuyển đổi, phân tích, lập mô hình, mô phỏng và lập bản đồ các hiện tượng, sự kiện trên trái đất, nhằm sản sinh các thông tin thiết thực
hỗ trợ cho việc ra quyết định (Thériault – Canada) (trích dẫn bởi Nguyễn Đức Bình, 2006)
GIS là một hộp công cụ: là tập hợp những công cụ đắc lực cho việc lưu trữ
và khôi phục khi cần, thay đổi và hiển thị dữ liệu không gian từ thế giới thực cho những mục đích đặc biệt (Burrough, 1986); là hệ thống tự động nắm bắt, lưu trữ, khôi phục, phân tích và thể hiện những dữ liệu không gian (Clarke, 1995); GIS là một hệ thống thông tin: “là một hệ thống thông tin được thiết kế để làm việc với dữ liệu tham khảo bởi các hệ tọa độ địa lý hoặc tọa độ không gian Mặt khác, GIS vừa
là hệ thống cơ sở dữ liệu với những khả năng đặc biệt cho các dữ liệu tham chiếu không gian, cũng như tập hợp những quy trình hoạt động để thao tác với dữ liệu (Star and Estes, 1990) Theo Dueker (1979) GIS phục vụ cho dự đoán thử thách với thời gian: “Một hệ thống thông tin địa lý là một trường hợp đặc biệt của hệ thống thông tin mà cơ sở dữ liệu bao gồm sự theo dõi, quan sát những đặc điểm sắp xếp
Trang 20không gian như các điểm, các đường, hay các vùng Một hệ thống thông tin địa lý thao tác bằng tay các dữ liệu về các điểm, đường và các khu vực để khôi phục dữ liệu cho việc truy vấn và phân tích” (trích dẫn bởi K Clarke, 2005)
GIS thực hiện việc thu thập, quản lý, phân tích dữ liệu địa lý cùng với việc trình bày kết quả dưới hình thức bản đồ và báo cáo Thông qua những thao tác cơ sở
dữ liệu (truy vấn, phân tích thống kê) và quy chiếu không gian (bản đồ), GIS giúp nhà quản lý giải thích sự kiện, dự đoán kết quả và hoạch định chiến lược Có thể nói GIS là một cách tiếp cận tri thức khoa học và là một ngành kinh doanh đem lại hàng triệu đô la Sự kết hợp với Công nghệ thông tin, GIS ngày càng phát triển nhanh, mạnh để trở thành công cụ đắc lực phục vụ cho ngành địa lý nói riêng và các ngành quản lý thông tin nói chung Do đó, GIS là một lựa chọn tốt trong việc quản lý tài nguyên thiên nhiên để phát triển DLST tại một địa điểm nào
2.1.2 Các thành tố, chức năng của GIS
GIS có thể gồm 5 thành tố như sau: Phần cứng, phần mềm, dữ liệu, con người và phương pháp
Phần cứng (Hardware): là hệ thống máy tính, có thể là PC, server nội bộ hay server Internet và một số thiết bị chuyên dùng như: : GPS, bàn số hóa, máy scan, máy ảnh số, máy in màu …Sự phát triển phần cứng máy tính giúp cho công nghệ GIS phát triển về tốc độ xử lý (dữ liệu lớn và phức tạp)
Phần mềm (Sofware): phần mềm hệ thống và chuyên dùng giúp cho việc quản trị cơ sở dữ liệu địa lý như công cụ phân tích không gian, hiển thị, làm báo cáo, chuyển đổi dữ liệu… Công nghệ phần mềm GIS đã phát triển nhanh tương ứng với phần cứng máy tính, thực hiện các quá trình xử lý phức tạp (dữ liệu dạng đồ họa)
Dữ liệu (Data): là một cấu phần rất quan trọng, bao gồm dữ liệu không gian (từ bản đồ, ảnh vệ tinh, …) và dữ liệu thuộc tính (giá trị các chỉ tiêu, số liệu thống kê, …) tương ứng
Con người (People): vận hành vận hành, quản trị hệ thống, phát triển ứng dụng phù hợp với thế giới thực
Trang 21 Phương pháp (Method): là nhân tố quan trọng trong việc lựa chọn và sử dụng công nghệ phù hợp, vận hành và bảo dưỡng phát triển hệ thống GIS chỉ có thể đưa ra câu trả lời hữu ích cho người dùng biết đặt những câu hỏi phù hợp
Do đó, người sử dụng GIS phải am hiểu về địa lý và biết cách sử dụng các chức năng truy vấn để đạt kết quả tốt nhất Ngoài các chuyên gia kỹ thuật còn có những người thiết kế, bảo trì hệ thống
Các chức năng của GIS:
Một bộ chương trình GIS thương mại có thể có năm loại chức năng sau:
Thu thập dữ liệu: đây là công việc quan trọng, tiêu tốn nhiều thời gian và tiền bạc Có thể có nhiều nguồn dữ liệu; đối với dữ liệu không gian: phần lớn có nguồn gốc từ các bản đồ giấy, ngoài ra còn có từ ảnh máy bay, ảnh vệ tinh, các số liệu đo đạc, dữ liệu dạng số đã có… Đối với dữ liệu thuộc tính có được từ các cuộc điều tra kinh tế – xã hội, có thể ở dạng văn bản hay bảng tính, trên giấy hay dạng số
Xử lý sơ bộ dữ liệu: Từ dữ liệu thô đã thu thập được, để có thể dùng cho GIS, cần phải chuyển sang dạng số thích hợp thông qua quá trình số hóa Có thể số hóa trực tiếp từ bản đồ giấy (tự động hoàn toàn (với những đối tượng lớn) hoặc thủ công (với các đối tượng nhỏ), hoặc chuyển đổi từ các khuôn dạng khác (như từ AutoCad – định dạng DXF; từ Intergraph / Microstation – định dạng IGDS…) hoặc nhập trực tiếp tọa độ địa lý có được qua đo đạc thực tế Ngoài ra còn có một số thao tác khác như nội suy lưới, tam giác hóa, tái phân loại, thay đổi hệ quy chiếu bản đồ…Đối với dữ liệu thuộc tính, có thể xây dựng với nhiều khuôn dạng dữ liệu phổ biến (từ Excel – định dạng XLS, từ Access – định dạng MDB…) GIS có thể tích hợp dữ liệu thuộc tính với các khuôn dạng khác nhau hoặc xây dựng dữ liệu thuộc tính ngay trong phần mềm
Lưu trữ và truy nhập dữ liệu: kế thừa các số liệu đã có, cập nhật các giá trị thuộc tính liên quan đến các đối tượng không gian
Trang 22 Phân tích dữ liệu: GIS có khả năng thực hiện các phép hỏi đáp (truy vấn dữ liệu theo các điều kiện) và phân tích không gian (perform geographic query and analysis) như tạo vùng đệm (buffer), chồng phủ (overlay), kết hợp và tách rời (combine, disaggregate), chia cắt (split)…
Hiển thị đồ họa và tương tác: có thể biên tập và xuất bản đồ các loại như bản
đồ nền, bản đồ chuyên đề cũng như các hình thức thể hiện dữ liệu của các đối tượng không gian
(Nguyễn Đức Bình, 2006; Đặng Văn Đức, 2001; K Clark, 2005)
2.1.3 GIS – Công cụ đắc lực cho công tác quy hoạch, quản lý
Quá trình thiết kế quy hoạch luôn dựa trên những thông tin về hiện trạng, không gian có thể có từ nhiều nguồn song dữ liệu truyền thống thường ở dạng bản
đồ giấy Với những ưu điểm trong việc xây dựng và quản lý dữ liệu như: cho phép tạo ra cơ sở dữ liệu từ mọi nguồn, mọi phương pháp kể cả phương pháp thủ công; tổng hợp tự động các lớp thông tin và tự động cập nhật thông tin vào dữ liệu thuộc tính; chồng ghép thông tin, mô phỏng các mối quan hệ của các lớp dữ liệu, dữ liệu thông tin không phụ thuộc vào tỉ lệ hay chuyên đề ứng dụng; có khả năng xử lý một khối lượng lớn dữ liệu một cách nhanh chóng, đáp ứng những đòi hỏi của công tác quy hoạch Đồng thời đây là công cụ giúp tổng hợp tài liệu, chồng lớp thông tin theo những yêu cầu đặt ra của các mục đích quy hoạch Công nghệ GIS đã chứng tỏ đây là một công cụ đắc lực trong việc quy hoạch và quản lý nói chung, quy hoạch
và quản lý tài nguyên thiên nhiên, DLST nói riêng Cụ thể hơn, có thể ứng dụng GIS vào việc quy hoạch và phát triển DLST tại VQG Tràm Chim như:
1 Xây dựng, cập nhật, tích hợp và phân tích thông tin không gian đa lĩnh vực (bao gồm phân tích các yếu tố kinh tế xã hội, sinh thái, yếu tố thủy văn…)
2 Thành lập các mô hình dữ liệu mở rộng, tạo ra một hệ dữ liệu không gian thống nhất, quản lý các dữ liệu tạm thời như mô tả chế độ thủy động lực của dòng chảy mặt, …
3 Quản lý dữ liệu và xây dựng thông tin chuyên đề, thể hiện được mối quan hệ giữa các lớp dữ liệu không gian, cho phép đánh giá xu thế biến động tài
Trang 23nguyên DLST, phục vụ các nhà quy hoạch đưa ra các quyết định hợp lý trong công tác quy hoạch, quản lý tài nguyên thiên nhiên, phát triển DLST bền vững
4 Liên kết dữ liệu tạo thuận lợi trong việc sử dụng, kế thừa nguồn thông tin thống nhất, hiệu quả, và chia sẻ thông tin dễ dàng
Có thể nói, GIS là một công cụ đắc lực trong việc quản lý và sử dụng tài nguyên thiên nhiên; tuy nhiên đó chỉ là công cụ để hỏi đáp, phân tích và bản đồ hóa các thông tin trong việc hỗ trợ quá trình đưa ra quyết định Bằng chính trí tuệ và sự hiểu biết của con người, chúng ta sử dụng GIS để có thể đưa ra các quyết định tốt
hơn, cách giải quyết mới cho vấn đề gặp phải
2.2 Tổng quan về Du lịch sinh thái
2.2.1 Định nghĩa về du lịch sinh thái (DLST)
Có nhiều định nghĩa về Du lịch sinh thái (DLST)
Theo Honey (1999): “DLST là du lịch tới những khu vực nhạy cảm và nguyên sinh thường đợc bảo vệ với mục đích nhằm gây ra tác hại và với quy mô nhỏ nhất Nó giúp giáo dục du khách, tạo quỹ để bảo vệ môi trường, nó trực tiếp đem lại nguồn lợi kinh tế và sự tự quản lý cho người dân địa phương và nó khuyến khích tôn trọng các giá trị văn hóa và quyền con người” (Ngô An, 2007)
DLST là loại hình du lịch lấy các HST đặc thù làm đối tượng để phục vụ cho những đối tượng du lịch yêu thiên nhiên, thưởng ngoạn cảnh quan hay nghiên cứu HST Nó cũng là hình thức kết hợp chặt chẽ, hài hòa giữa phát triển kinh tế du lịch với bảo vệ môi trường và tài nguyên thiên nhiên, phát triển bền vững (Lê Huy Bá, 2000)
DLST là loại hình du lịch khai thác các giá trị sinh thái, văn hóa một cách bền vững, góp phần nâng cao nhận thức về môi trường, ý thức bảo tồn thiên nhiên
Trang 24với giáo dục môi trương, có đóng góp cho nỗ lực bảo tồn và phát triển bền vững, với sự tham gia tích cực của cộng đồng địa phương”
DLST nói theo một định nghĩa nào chăng nữa thì nó phải hội đủ hai yếu tố là
sự quan tâm tới thiên nhiên, môi trường (được quản lý bền vững về môi trường sinh thái) và phải có trách nhiệm với xã hội và cộng đồng (đóng góp cho những nỗ lực bảo tồn; phát triển cộng đồng và đảm bảo lợi ích kinh tế do DLST mang lại được phân phối đến người dân địa phương và đóng góp vào việc bảo vệ thiên nhiên; có giáo dục và diễn giải về môi trường và sinh thái qua đó tạo ra mối quan hệ giữa con người và thiên nhiên hoang dã cùng với ý thức được giáo dục để cải tiến bản thân
du khách thành những người tiên phong trong công tác Bảo vệ môi trường) Đó là các đặc tính cơ bản của DLST, làm cho DLST khác biệt với các loại hình du lịch khác
2.2.2 Tài nguyên DLST
2.2.2.1 Khái niệm về tài nguyên DLST
Tài nguyên trong DLST được phân thành tài nguyên tự nhiên và tài nguyên nhân văn có quan hệ mật thiết với các nhân tố con người và xã hội, trong đó không thể không kể đến tài nguyên thiên nhiên Theo Lê Huy Bá và Thái Lê Nguyên (2006) “Tài nguyên DLST là các yếu tố cơ bản để hình thành các điểm, các tuyến hoặc các khu DLST; bao gồm các cảnh quan thiên nhiên, các di tích lịch sử, giá trị nhân văn, các công trình sáng tạo của nhân loại có thể được sử dụng nhằm thỏa mãn cho nhu cầu về DLST”
Theo Ngô An (2007), tài nguyên DLST là một bộ phận quan trọng của tài nguyên du lịch bao gồm các giá trị tự nhiên thể hiện trong các HST cụ thể và các giá trị văn hóa bản địa tồn tại và phát triển không tách rời HST tự nhiên đó Chỉ có thể xem là tài nguyên DLST khi có các thành phần và các thể tỏng hợp tự nhiên, các giá trị văn hóa bản địa gắn với một HST cụ thể được khai thác, sử dụng để tạo ra các sản phẩm du lịch
Tài nguyên DLST chủ yếu thường được nghiên cứu khai thác: các HST tự nhiên đặc thù, đặc biệt là nơi có tính ĐDSH cao với nhiều loài sinh vật đặc hữu, quý
Trang 25hiếm (các VQG, khu BTTN, các sân chim…); các HST nông nghiệp (vườn cây ăn trái, trang trại, làng hoa cây cảnh…); các giá trị văn hóa bản địa hình thành và phát triển gắn liền với sự tồn tại của HST tự nhiên như các phương thức canh tác, các lễ hội, sinh hoạt truyền thống gắn với các truyền thuyết… của cộng đồng
Tài nguyên DLST thường có tính đa dạng, phong phú, có sức hấp dẫn lớn song thường rất nhạy cảm với tác động, có khả năng tái tạo, sử dụng lâu dài và có thời gian khai thác khác nhau Tài nguyên DLST thường nằm xa các khu dân cư, và được khai thác tại chỗ để tạo ra các sản phẩm du lịch
Không phải khu bảo tồn thiên nhiên (KBTTN) hay vườn quốc gia (VQG) nào cũng có thể có tiềm năng phát triển DLST mà phải đáp ứng một số yêu cầu cần thiết lựa chọn một khu vực để phát triển DLST:
Có tính đại diện cao cho một hay vài HST điển hình với tính ĐDSH cao, sự tồn tại của những loài sinh vật đặc hữu có giá trị khoa học và tham quan nghiên cứu Việc tham gia nghiên cứu có khả năng tổ chức tốt trong những điều kiện mà tự nhiên ít bị ảnh hướng nhất
Gần những trung tâm du lịch (thị trường khách) lớn, điều kiện tiếp vận dễ dàng, thuận lợi
Cảnh quan tự nhiên đẹp, hấp dẫn, cùng với sự phong phú và độc đáo của giá trị văn hóa bản địa có tính đại diện cho khu vực
Gần với những điểm du lịch hấp dẫn khác trong vùng để có thể tổ chức một tour du lịch trọn gói mà trong đó VQG là một điểm DLST quan trọng
Có những điều kiện về hạ tầng và cơ sở vật chất kỹ thuật đáp ứng cho hoạt động du lịch
2.2.2.2 Mối quan hệ giữa phát triển DLST và khu BTTN, VQG
Vai trò của DLST với khu BTTN, VQG: DLST đem lại những cơ hội tiềm tàng song không ít thách thức DLST là công cụ bảo vệ khu BTTN, VQG vì có thể đem lại lợi ích cho khu bảo vệ (những cơ hội tìm kiếm thu nhập phục vụ công tác bảo tồn, tạo ra việc làm, tạo sự biện minh (chính đáng) cho sự tồn tại, xây dựng các khu bảo vệ); được xem như là một chiến lược thích hợp cho việc vượt qua các đe
Trang 26dọa, thách thức cho các mục tiêu bảo tồn Hỗ trợ cho nền kinh tế mạnh hơn; DLST
có thể là động lực quan trọng cải thiện quan hệ giữa cộng đồng và nhà quản lý khu bảo vệ, đồng thời cũng có thể là một lựa chọn tốt hơn cho các hoạt động kinh tế cạnh tranh khác trong khu bảo tồn (vd: khai thác gỗ…) với các khu BTTN; tăng cường và trao đổi văn hóa, gia tăng sự nhận thức và lòng tự hào của các bên có liên quan cùng với các nỗ lực bảo tồn của các bên cũng được cải thiện
Các thách thức tiềm tàng của DLST: đó là sự xuống cấp của môi trường do
du khách có thể hủy hoại các tài nguyên mà họ đến xem, hoặc làm thay đổi tập tính động vật hoang dã; sự không ổn định kinh tế do DLST bị chi phối bởi nhiều yếu tố bên ngoài làm giảm lượng khách du lịch (mâu thuẫn chính trị, tỷ giá hối đoái…); sự gia tăng giá cả và rò rỉ kinh tế; sự ồn ào và đông đúc do sự phát triển quá mức khiến
du khách bị quấy rầy bởi những nhóm khách khác trong sinh hoạt, người dân địa phương bị quấy rầy bởi quá nhiều du khách, kết quả là sự thay đổi văn hóa (cả tích cực và tiêu cực); Sự thừa thãi của hạ tầng cơ sở dịch vụ du lịch và lao động nhập cư phục vụ khách…
Vai trò của khu BTTN, VQG với DLST: các khu BTTN, VQG đều là những HST có tính đa dạng sinh học cao – yếu tố cần thiết để phát triển DLST Do đó, bảo tồn đa dạng sinh học (chính là các khu BTTN, VQG nói riêng, rừng và môi trường sống nói chung) sẽ giúp cho hoạt động của DLST có điều kiện để tồn tại và phát triển Mối quan hệ giữa DLST và khu BTTN, VQG có thể là mối quan hệ tương tác theo 3 dạng
Quan hệ cùng tồn tại: có rất ít mối quan hệ giữa hoạch định du lịch và BTTN, chúng tồn tại một cách độc lập
Quan hệ cộng sinh: Du lịch và BTTN cùng nhận được những lợi ích và hỗ trợ lẫn nhau
Quan hệ mâu thuẫn: sự hiện diện của Du lịch làm tổn hại đến nỗ lực BTTN Mối quan hệ này phụ thuộc vào nhiều yếu tố trong đó quan trọng nhất là mức
độ sử dụng và quản lý Tài nguyên Do đó, DLST cần được quy hoạch, quản lý và phát triển trên cơ sở các nguyên tắc phát triển bền vững và tạo mối quan hệ cộng
Trang 27sinh với môi trường Muốn vậy cần có nhận thức và đánh giá một cách đầy đủ
những lợi ích lâu dài, nhiều mặt trong quy hoạch và phát triển DLST
2.2.3 Quản lý, quy hoạch và phát triển DLST bền vững
“DLST bền vững là việc phát triển các hoạt động du lịch nhằm đáp ứng các nhu cầu hiện tại của khu du lịch và người dân bản địa trong khi đó vẫn quan tâm đến việc bảo tồn và tôn tạo các nguồn tài nguyên và phát triển du lịch trong tương lại” (Lê Huy Bá và Thái Lê Nguyên, 2006)
Theo Allen K (1993) Phát triển DLST bền vững cần có sự cân bằng giữa các mục tiêu kinh tế, xã hội và môi trường trong khuôn khổ các nguyên tắc và các giái trị đạo đức” (trích dẫn bởi Ngô An, 2007)
2.2.3.1 Quy hoạch DLST:
Có nhiều khái niệm về quy hoạch DLST:“Quy hoạch DLST là việc tổ chức phân chia các đơn vị không gian lãnh thổ trong phạm vi một khu vực có HST đặc trưng – thường là một khu có cảnh quan sinh thái đặc thù như các khu BTTN hoặc VQG sao cho vừa phù hợp với chức năng môi trương và điều kiện tự nhiên vốn có của nó, đồng thời, vừa tổ chức được hoạt động DLST, bảo vệ và tôn tạo HST trên mỗi đơn vị ấy một cách hiệu quả nhất.” (Lê Huy Bá và Thái Lê Nguyên, 2006);
“Quy hoạch DLST là công tác thiết kế sơ đồ quy hoạch mạng lưới các khu DLST, các tuyến DLST dựa trên cơ sở những đặc điểm, đặc trưng của HST các VQG, các khu BTTN, các khu rừng LSVH – MT và các miệt vườn, cơ sở hạ tầng” (Ngô An, 2007)
Tiêu chuẩn quy hoạch DLST bền vững:
Để quy hoạch DLST bền vững, cần lưu ý rằng lãnh thổ DLST có những đặc trưng cơ bản nhất là tính giao thoa, chu trình sống và khả năng chịu tải, trong đó quan trọng nhất là hai đặc tính: tính giao thoa và khả năng chịu tải
Từ đó, có một số tiêu chuẩn quy hoạch DLST bền vững:
Về HST: phải phù hợp và bảo vệ HST
Đối với bảo tồn ĐDSH: cần có quy hoạch các khu vui chơi giải trí, thể thao trong phạm vi các VQG và cùng đệm có môi trường canh tác không làm ô
Trang 28nhiễm, góp phần hạn chế sức ép của cộng đồng địa phương
Diện tích: Phải đủ rộng để chứa đựng một hay nhiều HST không bị thay đỏi bởi tác động tiêu cực của con người, tỷ lệ diện tích của HST tự nhiên phải đạt tới 70% tổng thể
Hiệu quả: có tính hiệu quả về mặt kinh doanh, hài hòa về các yếu tố môi trường, kinh tế, xã hội
Cân bằng: đem lại quyền lợi bình đẳng giữa các bên tham gia, giữa thế hệ hiện tại và tương lai, giữa con người và thiên nhiên
Quy hoạch về giao thông: tạo điều kiện tiếp cận dễ dàng
Cộng đồng địa phương: có sự tham gia của cộng đồng, góp phần bảo vệ văn hóa bản địa và đóng góp vào sự phát triển của địa phương
2.2.3.2 Quản lý và phát triển DLST bền vững
Quản lý DLST là một nhiệm vụ phức tạp vì tính chất đa mục tiêu của DLST
và có quá nhiều thành phần tham gia Tổng quát, quản lý cấu thành bởi 4 yếu tố cơ bản: là mục tiêu hướng đến, nhân lực triển khai, các nguồn lực, công nghệ, kỹ thuật,
và tổ chức có kiểm soát
Quản lý có nghĩa là làm việc với một hệ thống và thực hiện 4 nhóm hành động cơ bản sau:
Kiểm kê hiện trạng những nguồn lực cơ bản (chúng ta hiện có cái gì?)
Xây dựng các mục tiêu cần đạt (chúng ta muốn cái gì?)
Xác định các chương trình thực hiện để đạt các mục tiêu đó (Làm cách nào chúng ta đạt được cái chúng ta muốn – kế hoạch quản lý)
Đánh giá định kỳ về toàn bộ kế hoạch quản lý, so sánh mục tiêu và xem xét cải tiến (phản hồi – kế hoạch tình thế hay hiệu chỉnh mục tiêu)
2.3 Tổng quan về VQG Tràm Chim
2.3.1 Lược sử hình thành, mục tiêu của VQG Tràm Chim
VQG Tràm Chim nằm trong địa phận huyện Tam Nông – Đồng Tháp, tọa độ địa lý: 10o40’ - 10o47’ Bắc, 105o26’ - 105o36’ Đông với tổng diện tích 7.588 ha nằm trong địa giới của 5 xã (Phú Đức, Phú Hiệp, Phú Thành B, Phú Thọ, Tân Công
Trang 29Sinh) và Thị trấn Tràm Chim Quá trình hình thành và phát triển của VQG Tràm Chim qua nhiều giai đoạn:
Năm 1985, Tràm Chim được Ủy Ban Nhân Dân Tỉnh Đồng Tháp thành lập với tên gọi công ty Nông Lâm Ngư Trường Tràm Chim (thành lập 1985) với mục đích là trồng tràm, khai thác thủy sản và giữ lại được một phần hình ảnh của Đồng Tháp Mười xa xưa
Năm 1991, Tràm Chim trở thành Khu Bảo Tồn Thiên Nhiên Tràm Chim cấp
tỉnh, nhằm bảo tồn loài sếu đầu đỏ
Năm 1994, nơi đây trở thành Khu Bảo Tồn Thiên Nhiên Tràm Chim cấp quốc gia, theo Quyết định số 47/TTg ngày 2 tháng 2 năm 1994 của Thủ tương Chính phủ, với diện tích 7.500ha
Năm 1998, VQG Tràm Chim được thành lập theo quyết định số 253/1998/QĐ – TTg, ngày 29/12/1998 của Thủ tướng Chính Phủ với diện tích là 7.588ha Mục tiêu
chung là:
Bảo tồn hệ sinh thái đất ngập nước điển hình của vùng Đồng bằng sông Cửu Long thành một mẫu chuẩn quốc gia về hệ sinh thái đất ngập nước vùng lụt kín Đồng Tháp Mười
Bảo tồn những giá trị độc đáo về văn hóa, lịch sử và nghiên cứu, khai thác hợp lý hệ sinh thái của vùng vì lợi ích quốc gia và đóng góp vào việc bảo vệ
môi trường sinh thái chung của vùng Đông Nam Á (KS Huỳnh Thế Phiên,
Báo cáo “Bảo Tồn đất ngập nước ở VQG Tràm Chim”, 2005)
VQG Tràm Chim gồm 6 khu vực được bao bọc vởi các kênh và đê Phạm vi như sau:
Khu A1, giới hạn bởi các kênh An Bình, Phú Thành, đê bao số 1, đê bao số
Trang 30 Khu C: khu hành chính, văn phòng quản lý VQG Tràm Chim
(Báo cáo “Nghiên cứu khả thi dự án nâng cấp cơ sở Hạ tầng Khu du lịch sinh
thái Tràm Chim – Tam Nông – Đồng Tháp”, 2002)
Một số mục tiêu cụ thể như bảo vệ, phục hồi và sử dụng bền vững tài nguyên ĐDSH đất ngập nước VQG Tràm Chim, hỗ trợ phát triển cộng động vùng đệm, và phát triển DLST; được thực hiện qua một số công tác quan trọng như: phục hồi sinh cảnh, kiểm soát các loài ngoại lai xâm hại, quan trắc chất lượng môi trường, tài nguyên sinh học đất ngập nước Một trong những mục tiêu được quan tâm là lập kế hoạch và tiến hành những hoạt động DLST bởi DLST một cách bền vững sẽ góp phần nâng cao giá trị của HST đất ngập nước, đồng thời sự tham gia của người dân
sẽ góp phần cải thiện mức sống của cộng đồng địa phương (Sở du lịch – thương mại tỉnh Đồng Tháp, 2002)
VQG Tràm Chim có các phân khu chức năng chính sau :
- Phân khu bảo vệ nghiêm ngặt: bao gồm 2 khu vực A1 và A2 có tổng diện
tích là 6.889 ha Chức năng chính của phân khu này là bảo vệ cảnh quan và môi trường tự nhiên của vùng Đồng Tháp Mười, bảo vệ hệ sinh thái rừng Tràm và khu
cư trú của các loài động vật hoang dã, các loài sinh vật nước Phân khu này được thiết kế để giữ lại hệ thống sinh thái tự nhiên của Đồng Tháp MườI và dành cho việc thực hiện các nghiên cứu khoa học
- Phân khu phục hồi sinh thái: bao gồm các khu vực A3, A4, A5 với tổng
diện tích là 653 ha Chức năng chính của phân khu chức năng này là tái tạo các hệ sinh thái thiên nhiên đã bị tàn phá Phân khu này được thiết kế để bảo vệ khu trú, bãi ăn cho Sếu và các loại chim khác
- Phân khu hành chính và dịch vụ du lịch: bao gồm khu C với diện tích là 46
ha Phân khu này có chức năng chủ yếu là xây dựng các cộng trình phục vụ hoạt động hành chính của Ban Quản lý VQG, Trung tâm giáo dục môi trường (Trung tâm du khách), các công trình dịch vụ du lịch khác
Để điều tiết mực nước trong phạm vi VQG, đã được xây dựng 6 cửa (cống) điều tiết nước Việc điều tiết nước bằng hệ thống các cống này bước đầu có tác
Trang 31dụng lập lại chế độ thủy văn tương tự chế độ thủy văn vùng Đồng Tháp Mười, tạo điều kiện sinh thái thích hợp cho việc phục hồi và phát triển nhiều loài sinh vật, trong đó có một số diện tích cỏ, đặc biệt là cỏ năng – thức ăn chủ yếu của Sếu đầu
đỏ Điều này đã góp phần tích cực bảo tồn đa dạng sinh học của hệ sinh thái đất ngập nước nói chung và loài Sếu đầu đỏ nói riêng ở khu vực này
2.3.2 Đặc điểm tự nhiên
2.3.2.1 Đặc điểm địa hình
VQG Tràm Chim nằm trong vùng ngập lũ sâu nhất của vùng đồng bằng sông Cửu Long và nằm ở trung tâm Đồng Tháp Mười, là một đồng lụt kín được bao quanh bởi các giồng đất cao ven biên giới Việt Nam – Campuchia, dọc theo sông Tiền, sông Vàm Cỏ và vùng đất nhô cao ven biển của Tiền Giang Độ cao bình quân của VQG dao động trong khoảng từ 0,9m đến 2,3 m so với mực nước biển bình quân
Trong đó diện tích khu vực nằm ở cao trình từ 1,3 m đến 1,45 m chiếm tỉ lệ 44,4% tổng diện tích của VQG Kế đến là những khu vực nằm ở cao trình từ 1,45 – 1,60 m, chiếm tỉ lệ 20,6%
Độ ẩm: Độ ẩm trung bình hàng năm duy trì trong khoảng 82 - 83% Độ ẩm cao nhất có thể lên đến 100% và thấp nhất là 35-40%
Trang 32Chế độ gió: Từ tháng 5 đến tháng 11, hướng gió thịnh hành ở vùng này là hướng Tây–Nam (3 m/s), mang theo nhiều hơi nước và gây mưa Từ tháng 12 đến tháng 4 có gió Đông–Bắc(2 m/s)
Lượng mưa: Lượng mưa phân bố theo mùa rõ rệt, trung bình khoảng 1.650 mm/năm Mùa mưa tập trung từ tháng 5 đến tháng 11 (90% lượng mưa) Trong khi
đó, tháng 1, 2, 3 lại là những tháng khô hạn nhất, thời tiết hầu như không có mưa
2.3.2.3 Thổ nhưỡng
Thổ nhưỡng của VQG có 2 loại đất chính là:
Đất xám trên nền phù sa cổ: là loại đất nghèo dinh dưỡng có ở phía Bắc và các khu vực có địa hình gò hơi cao
Đất phèn có 2 loại: Loại tiềm tàng: đất bị yếm khí, tích lũy nhiều chất hữu
cơ, phân bố ở những nơi thấp và đọng nước, bị glay mạnh, tỉ lệ sét cao Loại đất phèn hoạt động: phân bố ở những nơi có địa hình trung bình hoặc có khả năng thoát nước nhanh, có hàm lượng chất hữu cơ cao, tỉ lệ sét cao ( trên 70%), phân bố ở khu vực giữa kênh Phú Thành và kênh Phú Hiệp, gồm những nhóm đất chính sau đây: Nhóm đất cát cổ, đất xám điển hình, đất xám đọng mùn và các nhóm đất phù sa có nền phèn
2.3.2.4 Thủy văn
VQG Tràm Chim nhận nguồn nước trực tiếp từ sông MeKong thông qua hệ thống kinh thủy lợi (kênh Hồng Ngự–Long An, Đồng Tiến, An Hòa và Phú Hiệp) tràn vào nội đồng và bị ngập lũ hàng năm từ tháng 8 đến tháng 12 Ngập sâu trung bình ở vùng từ 2,5 m đến 3 m (từ 3 – 4 tháng) trong các năm lũ lớn Do mạng lưới kinh mương được phát triển và mở rộng nên thời gian ngập hiện nay là ngắn hơn khoảng 1 tháng so với trước đây Vùng ngập sâu và lâu nhất là những nơi lung bàu trũng xung quanh Mực nước bên trong vườn quốc gia được điều tiết thông qua hệ thống cống và cửa xả nằm ở các bờ bao xung quanh
2.3.2.5 Đa dạng sinh học
a Thực vật
Trang 33Tràm Chim được coi là một mẫu chuẩn sinh thái của vùng đất ngập nước Đồng Tháp Mười Tại đây có 130 loài thực vật bậc cao, thuộc 47 họ; trong đó có 14 loài thân gỗ, 2 loài cây bụi, 5 loài dây leo, 109 loài thảo mộc và 174 loài thực vật nổi 06 kiểu quần xã đặc trưng: Sen, lúa ma, mồm mốc, cỏ ống, năng, tràm tai VQG Tràm Chim
Quần xã sen (Nelumbo nucifera) thường xuất hiện ở nơi có đất thấp như
bưng, lung, trấp, vùng ẩm lầy gần như ngập nước quanh năm, dọc theo khu trũng thấp của dòng sông cổ, chiếm diện tích khoảng 158 ha Đây là nơi trú ẩn của các loài bò sát như rắn Ri cá, rắn Bông sung, Rùa, Cua đinh, Rái cá và các loài cá thuộc nhóm cá nước tĩnh như Lươn, các loài cá thuộc họ cá Lóc, họ cá Trê, họ cá Rô
đồng Những loài chim thường gặp như le hôi (Tachybaptus raficollis), le khoang
cổ (Nettapus coromandelianus), vịt trời (Anas poecilorhyncha), trích cổ, trích ré, gà lôi nước (Hydrophasianus chirurgus), gà nước vằn (Rallus striatus), cuốc ngực nâu (Porzana fusca), mòng két (Anas crecca), bói cá (Ceryle rudis)
Quần xã nghể (Polygonum tomentosum): phân bố ở những nơi địa hình trũng
thấp khoảng 159 ha Trong đó, nghễ đơn thuần chiếm khoảng 138 ha, phần còn lại
hiện diện chung với loài thực vật khác như lúa ma (O rufipogon), rau dừa (Jussiaea
repens), nhĩ cán vàng (Utricularia aurea)… Những loài thường gặp: cò lửa
(Ixobrychus sinensis), cò lép (Egretta garzetta), cò óc (Anastomus oscitans), cò bợ (Ardeola bacclus) Sen và nghể là những quần xã thực vật điển hình trong vùng đầm
lầy lòng sông cổ ở VQG Tràm Chim
Quần xã lúa ma (Oryza rufipogon): ở kiểu quần xã này cây lúa ma có độ ưu
thế cao nhất (53%), kế đến là cỏ bắc hoặc cỏ ống (tùy theo vùng), các loài khác như rau dừa, năng ống, u du v.v… chỉ chiếm một tỷ lệ rất nhỏ; phân bố khá rộng, chiếm
diện tích khoảng 824 ha Tuy nhiên, cánh đồng lúa ma (Oryza rufipogon) đơn thuần
có diện tích khá nhỏ, khoảng 33 ha, diện tích còn lại có sự hiện diện của lúa ma là
sự kết hợp với những loài thực vật khác tạo thành những quần xã thực vật đặc trưng cho vùng đất ngập nước Đây là nơi ăn, sinh sản và trú ẩn của cá loài trích, cúm núm, ốc ao, chàng nghịch, vịt trời, le le Các loài khác như diệc, vạc, cò, cồng cộc,
Trang 34già đẩy, giang sen, sếu ăn ở đồng lúa ma, ngủ và sinh con ở các nơi khác như rừng tràm, đồng sậy Hầu như các loài chim đều có thể thích ứng với sinh cảnh này do đó
có tính đa dạng sinh học cao
Quần xã Cỏ ống (Panicum repens): thường xuất hiện ở những nơi có độ cao
khác nhau nhưng chiếm ưu thế ở những nơi đất cao, phân bố trên một diện rộng, chiếm diện tích khoảng 958,4 ha, ở dạng đơn thuần với mật độ lên đến 98% hoặc cùng xuất hiện với các loài thực vật thân thảo khác: cỏ xã, lúa ma, cỏ chỉ… Những
loài chim thường gặp ở đồng cỏ ống là: Công đất (Houbaropsis bengalensis), Chiền chiện (Prinia flaviventris), Sơn ca (Alauda gulgula), Sẻ bụi (Saxicola caprata), Trảu đầu hung (Merops superciliosus), Cú (Tyto capensis), Trích, cò (Ardeola
bacclus), Giang sen (Mycteria leucocephala), Già đãy (Leptoptilos dubius), Chích
đầm lầy (Locustella certhiola)
Quần xã Năng (Eleocharis dulcis): xuất hiện ở những nơi có độ cao trung
bình, chiếm diện tích khoảng 2.968 ha, tạo thành một trong những thảm cỏ rộng lớn; bao gồm đồng cỏ năng kim (Eleocharis atropurpurea) - đây là bãi ăn của loài chim sếu (Grus antigone), khoảng 235 ha, năng ống (Eleocharis dulcis), 1.277 ha
Năng ống có độ ưu thế cao nhất (45-50%), kế đến là cỏ ống hoặc năng kim và các loài khác như cỏ chỉ, lúa ma, mồm mốc… Các quần xã năng ống là nơi ăn của các
loài tiêu biểu như sếu, giang sen, già đẩy Những loài chim thường gặp: Sếu (Grus
antigone), Cò trắng (Egretta garzetta), Cò bợ (Ardeola bacculus), Trích cồ, trích
đất, Vịt trời (Anas poecilorhyncha), Le khoang cổ (Nettapus coromandelianus), Diệc lửa (Ardea purpurea), Diệc xám (Ardea cinerea), Cò lửa (Ixobrychus
sinensis), Cò lép
Quần xã Mồm mốc (Ischaemum rugosum): Kiểu quần xã này thường xuất
hiện ở nơi có độ cao trung bình, trong đó mồm mốc có độ ưu thế cao nhất (78%), kế đến là cỏ bắc, cỏ ống và các loài khác như rau dừa, nút áo, cỏ chỉ Một số loài chim
thường gặp như Cồng cộc (Pharacrocoraxniger), Chiền chiện (Prinia flaviventris),
Cò bợ (Ardeola bacculus), Cò lửa (Ixobrychus sinensis), Diệc xám (Ardea cinerea),
Trang 35Giang sen (Mycteria leucocephala), Già đãy (Leptoptilos dubius), Cú (Tyto
capensis), Cút nhỏ (Turnix syluatica)
Quần xã rừng tràm: là thảm thực vật thân gỗ có diện tích lớn nhất, khoảng 1.826 ha Do tác động của con người, hầu hết những cánh rừng tràm nguyên sinh đã
biến mất, hiện nay chỉ còn lại những cánh rừng tràm trồng, thuộc loài Melaleuca
cajuputi (họ Myrtaceae), nhưng do được bảo tồn nhiều năm nên có những cụm tràm
phân bố theo kiểu tự nhiên gồm hai dạng là tập trung (khoảng 1.826 ha) và phân tán Tràm phân tán có sự hiện diện thảm cỏ xen kẽ gồm các loài năng ống
(Eleocharis dulcis), cỏ mồm (Ischaemm rugosum và I indicum), hoàng đầu ấn (Xyris indica), Nhĩ cán vàng (Utricularia aurea), cỏ ống (Panicum repens), súng (Nymphaea lotus) Các loài chim thường gặp ở vùng này là Cú Muỗi (Caprimulgusmaeruru), Chèo bẻo (Dicrurus macrocercus), Hút mật (Aethopiga
siparaja), Vành khuyên (Zosterops palpebrosa), chim sẻ (Carbodacus erythrinus),
Én (Apus offinis), Rẻ quạt (Rhipidura albicollis), Chích chòe (Lucustella
lanceolata) Những loài chim thường gặp ở rừng tràm có Cò trắng (Egretta garzetta), Cò bợ (Ardeola bacculus), Diệc lửa (Ardea purpurea), Diệc xám (Ardea cinerea), Cò lửa (Ixobrychus sinensis), Cò lép, Cồng cộc (Pharacrocoraxniger), Cú
(Tyto capensis), Điêng điểng (Anhinga melanogaster), Tu hú, Cú ngói (Streptopelia
traquebarica), Cú cườm (Caprimulgusmaerurus)
b Động vật
Nghiên cứu của Chương trình bảo tồn và sử dụng bền vững đất ngập nước Mekong (Nguyễn Phúc Bảo Hòa, 2006) cho thấy VQG Tràm Chim có 231 loài chim, 32 loài chim quý hiếm ở các mức độ khác Trong số 32 loài chim quý hiếm có
16 loài năm trong sách đỏ của Việt Nam, 6 loài thuộc Nghị Định 32 của Việt Nam năm 2006; 14 loài nằm trong danh mục của công ước Cites, trong đó có 16 loài chim đang bị đe dọa trên quy mô toàn cầu Như vậy Tràm Chim là VQG có số lượng các loài chim nhiều nhất so với các khu rừng đặc dụng khác ở ĐBSCL Về môi trường sống, có 42% số loài sử dụng đầm lầy nước ngọt, 10% sử dụng các
Trang 36đồng cỏ, 8% sử dụng rừng ngập nước, 2% sử dụng các con kênh có cây bụi, cây gỗ
và 38% còn lại sử dụng tổng hợp các môi trường sống nói trên
Về thủy sản, so với các vùng khác ở Đồng Tháp Mười nói riêng và ĐBSCL nói chung, Tràm Chim vẫn còn nguồn tài nguyên thủy sàn nước ngọt rất phong phú Theo khảo sát của WWF (06, 2007) phát hiện 101 loài cá (1/4 số loài cá ở ĐBSCL) Theo kết quả khảo sát mùa lũ của Chương trình đa dạng sinh học đất ngập nước Mekong (09/2006) nhận thấy, ở Tràm Chim có 62 loài cá và 7 loài giáp xác di chuyển vào Tràm Chim (Cống C1), 41 loài cá di chuyển ra (cống C4), ¾ là cá nhỏ (2-5 cm) Hầu hết cá lớn đều mang trứng Rất nhiều trứng cá trong mẫu nước thu được Khảo sát vào mùa khô (02/2006) của MWBP có 49 loài cá và 2 loài giáp xác
di chuyển ra (có lợi cho cộng đồng)
VQG Tràm Chim là mẫu cảnh quan thiên nhiên duy nhất còn sót lại của vùng Đồng Tháp Mười xưa kia Đây là một mẫu chuẩn sinh thái quốc gia, đại diện điển hình về địa mạo, cảnh quan sinh thái của đồng bằng ngập lũ ở châu thổ sông Cửu Long Vì thế hoạt động của VQG Tràm Chim vừa tuân theo quy chế quản lý rừng của Việt Nam, vừa tuân theo công ước Ramsar mà Chính Phủ VN đã tham gia ký kết năm 1989
2.3.3 Đặc điểm xã hội
A5
A4 A2
A1
CA3
Ghi chú : khu tập trung dân cư
Hình 2.1 : Vị trí các khu dân cư tập trung khu vực VQG Tràm Chim
Xã Phú Thọ
Xã Phú Thành Xã Phú Hiệp
Xã Phú Đức
Xã Tân Công Sính
Đê Phú Hiệp
T.T Tràm Chim
Trang 37Trong ranh giới của VQG được bao bọc bởi bờ đê hiện không có dân cư sinh sống, tuy nhiên tại vùng đệm khu vực kề liền ranh giới VQG hiện có khoảng 6.327
hộ dân với tổng số trên 32.000 dân Trong số các hộ dân trên thì hiện có 1.753 hộ với gần 9.000 dân sống dọc kênh Phú Hiệp là có những ảnh hưởng trực tiếp đến VQG Tràm Chim Các hộ dân sống ở khu vực này chủ yếu sống bằng nghề nông (với tỷ lệ khoảng 93%), số còn lại làm dịch vụ (buôn bán nhỏ) và các ngành nghề khác Các cộng đồng sống tại vùng đệm của VQG Tràm Chim nằm trong số những người nghèo nhất ở ĐBSCL, điều kiện sống khá khó khăn Sinh kế chính của người dân địa phương dựa vào 3 nguồn tài nguyên chính như sau: đất đai (canh tác nông nghiệp, chủ yếu là làm lúa), tài nguyên thiên nhiên (đánh cá, săn bắt động vật hoang dã; khai thác và chế biến gỗ; thu hái lâm sản ngoài gỗ) và nguồn nhân lực (làm thuê, buôn bán nhỏ, dịch vụ) Trong các tháng nước nổi từ tháng 8 đến tháng 11 còn có nhiều dân cư từ các địa phương khác đến đây bắt cá Hằng ngày có từ 100 – 150 người xâm nhập vào VQG Tràm Chim để khai thác sản phẩm đã gây áp lực lớn đối
với tài nguyên và môi trường của VQG
2.3.4 Hiện trạng DLST tại VQG Tràm Chim
Theo định hướng phát triển Du lịch của tỉnh Đồng Tháp, VQG Tràm Chim, Tam Nông điểm du lịch có ý nghĩa quốc gia và vùng, đặc trưng bởi sự độc đáo của tài nguyên du lịch và khả năng thu hút cao đối với du khách; là điểm đến trong một
số tuyến du lịch như sau:
Tuyến du lịch nội tỉnh: Cao Lãnh – Thanh Bình – Tam Nông – Tháp Mười – Cao Lãnh với sản phẩm chính là tham quan, sinh thái, văn hóa, nghỉ dưỡng Đây là tuyến du lịch trọng điểm có sức thu hút khách cao nhất của tỉnh Trong đó có hai phụ tuyến là:
Phụ tuyến 1.1: Cao Lãnh – Thanh Bình – Tam Nông – Cao Lãnh với sản phẩm là: nghiên cứu, sinh thái, văn hóa, lễ hội
Phụ tuyến 1.2: Cao Lãnh – Tam Nông – Tháp Mười – Cao Lãnh với sản phẩm là tham quan, nghiên cứu, sinh thái, lễ hội
Trang 38Du lịch sinh thái Vườn quốc gia Tràm Chim chia thành 2 mùa rõ rệt: Mùa nắng (tháng 11 - tháng 4) và Mùa mưa (tháng 5 đến tháng 10)
Hầu hết du khách đến tham quan vào mùa khô vì 88% các loài chim đến vào mùa khô đặc biệt là Sếu đầu đỏ (chim Hạc)
Tổng lượng du khách nội địa chiếm 91,7% tổng số du khách đến Tràm Chim hàng năm Tuy nhiên, so với số lượng du khách đến tỉnh Đồng Tháp thì số lượng du khách đến Tràm Chim chỉ chiếm 0,6 - 0,7% (khách quốc tế) và khoảng 3 – 5% (khách nội địa) Phần lớn du khách đến Tràm Chim rất thích được xem Sếu và muốn hiểu đặc tính sinh học của Sếu, vì Sếu có thể gọi là “sứ giả môi trường”, “Sếu là chỉ thị môi trường của vùng Đồng Tháp Mười” Cụ thể hơn, khách quốc tế đến Tràm Chim với mục tiêu chủ yếu là tham quan, nghiên cứu; khách nội địa đến đây củ yếu
là tham quan, giải trí (câu cá) và nghiên cứu Trong đó khách đến giải trí, câu cá chiếm tới 42,6 % (năm 2006) tổng số khách nội địa đến VQG này
Trang 39Chương 3
MỤC TIÊU, NỘI DUNG, PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU
3.1 Mục tiêu nghiên cứu
Ứng dụng GIS vào việc phân tích, quản lý dữ liệu về chế độ thủy văn, thảm thực vật, hệ động vật nhằm phục vụ công tác quản lý để phát triển bền vững du lịch sinh thái tại VQG Tràm Chim
3.2 Nội dung nghiên cứu
Khảo sát đặc điểm về tài nguyên DLST tại VQG Tràm Chim, huyện Tam Nông, tỉnh Đồng Tháp, hiện trạng cơ sở hạ tầng và hoạt động DLST tại VQG Tràm Chim
Thu thập, thể hiện các nguồn tài nguyên DLST trên bản đồ giấy
Số hóa, tích hợp các lớp thông tin thể hiện tài nguyên DLST, cơ sở hạ tầng
du lịch, tuyến điểm hiện trạng và quy hoạch
Xây dựng cấu trúc CSDL cập nhật thông tin các lớp thông tin
Khai thác CSDL bằng công nghệ MapInfo theo 5 bước: Query, Display (Info Tool và Hotlink), Overlay và Analyse
3.3 Phương pháp nghiên cứu
3.3.1 Phương pháp điều tra ngoại nghiệp
Phương pháp kế thừa: thu thập, tổng hợp các tài liệu đã được công bố, các thông tin liên quan từ thư viện, Ban quản lý VQG Tràm Chim, sở Du lịch và thương mại tỉnh Đồng Tháp
Phương pháp điều tra thực địa: điều tra theo tuyến, điểm đại diện, chụp hình
3.3.2 Phương pháp xây dựng dữ liệu nội nghiệp
3.3.2.1 Xây dựng cơ sở dữ liệu
Trang 40Dữ liệu không gian: scan bản đồ thành các file ảnh, đăng nhập tọa độ địa lý cho vùng bản đồ đã được scan; hiệu chỉnh tọa độ đăng nhập; số hóa bản đồ; hoặc tạo 1 lớp dữ liệu với 2 cột kiểu số chứa dữ liệu về kinh độ hay hoành độ (trục x) và
vĩ độ hay tung độ (trục y)
Dữ liệu thuộc tính: khai báo kiểu, độ rộng cho từng thuộc tính (cột) hoặc
nhập số liệu trong Excel rồi chuyển vào MapInfo
3.3.2.2 Cập nhật dữ liệu
Thay đổi cấu trúc dữ liệu (các cột)
Cập nhật các thuộc tính không gian (chu vi, diện tích, …) của các đối tượng:
vào Table/Update Column: chú ý đơn vị của thuộc tính, giá trị tuyệt đối hay tương
đối, quan hệ không gian của các đối tượng giữa các lớp dữ liệu
Cập nhật dữ liệu từ 1 lớp dữ liệu khác: Tùy kết quả của cột dữ liệu muốn cập nhật mà xác định cách tính và quan hệ giữa 2 lớp dữ liệu (Lưu ý cách khai báo
trong mục Join)
3.3.2.3 Trích xuất dữ liệu
Để chọn đối tượng thỏa điều kiện nào đó trong 1 hay nhiều lớp dữ liệu có quan hệ với nhau, sử dụng chức năng Query/Select hay Query/SQL Select
Để tính toán các tham số thống kê, sử dụng chức năng Query/SQL Select,
với mục Aggregates và ô Group by Columns
3.3.2.4 Thể hiện dữ liệu
Thể hiện Cửa sổ thuộc tính (Browse), Cửa sổ bản đồ (map)
Thể hiện bản đồ chuyên đề