Đề tài đã trình bày cơ sở lý luận của phương pháp dạy học dự án, ưu nhược điểm của phương pháp và những lưu ý khi vận dụng dạy học dự án vào trong dạy học. Thiết kế một số chủ đề dạy học theo phương pháp dạy học dự án. Trên cơ sở kết quả của phương pháp chuyên gia và nghiên cứu tài liệu, đề tài nhận định được rằng vận dụng dạy học dự án vào dạy học có kết quả cao hơn so với dạy học truyền thống và hoàn toàn phù hợp với những nội dung mang tính ứng dụng
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP
XÂY DỰNG MỘT SỐ CHỦ ĐỀ HỌC TẬP MÔN CÔNG NGHỆ
LỚP 10 THEO PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC DỰ ÁN
Họ và tên sinh viên: NGUYỄN THỊ LỆ QUỲNH Ngành: SƯ PHẠM KỸ THUẬT NÔNG NGHIỆP Niên khoá: 2013 – 2017
Tháng 1/2017
Trang 2XÂY DỰNG MỘT SỐ CHỦ ĐỀ HỌC TẬP MÔN CÔNG NGHỆ LỚP 10
THEO PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC DỰ ÁN
Tác giả
NGUYỄN THỊ LỆ QUỲNH
Khoá luận được đệ trình để đáp ứng yêu cầu cấp bằng cử nhân ngành
Sư phạm kỹ thuật Nông nghiệp
Giáo viên hướng dẫn:
Ths Phạm Quỳnh Trang
Tháng 1 năm 2017
Trang 3CẢM TẠ
Được sự đồng ý của nhà trường, khoa Ngoại ngữ - Sư phạm, bộ môn Sư phạm
kỹ thuật Nông nghiệp, sự giúp đỡ của giáo viên hướng dẫn, tôi đã hoàn thành đề tài này
Tôi xin chân thành cảm ơn Ths Phạm Quỳnh Trang đã tận tình giúp đỡ, hướng dẫn, chỉ bảo tôi trong quá trình thực hiện đề tài này Những ý kiến đóng góp của cô thực sự rất quý báu và giúp ích rất nhiều để tôi có thể hoàn thành đề tài
Tôi cũng xin chân thành cảm ơn đến tất cả thầy, cô giáo trong bộ môn đã tận tình truyền đạt kinh nghiệm cho tôi trong quá trình học tập tại trường
Ngoài ra, tôi xin gửi lời cảm ơn đến thầy Trịnh Lê Minh Vy, thầy Nguyễn Vương Danh và cô Nguyễn Thị Thu Hằng trường THPT Nguyễn Huệ, cô Phan Thị Kim Tuyền trường THPT Tam Phú và cô Nguyễn Thị Thanh Dung trường THPT Nguyễn Văn Tăng đã giúp tôi hoàn thành đề tài này
Đồng thời, tôi cũng xin chân thành cảm ơn các thầy, cô trong Hội đồng giám khảo đã không quản thời gian để đọc và đóng góp ý kiến cho đề tài được hoàn thành Cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn đến gia đình và bạn bè đã giúp đỡ, động viên tôi trong quá trình thực hiện đề tài
Mặc dù đã rất cố gắng nhưng đề tài không tránh khỏi những sai sót; vì vậy, tôi rất mong nhận được ý kiến đóng góp từ quý thầy, cô và bạn bè
TP.Hồ Chí Minh, tháng 1, năm 2017
Sinh viên Nguyễn Thị Lệ Quỳnh
Trang 4TÓM TẮT
Đề tài nghiên cứu “Xây dựng một số chủ đề học tập môn Công nghệ lớp 10 theo phương pháp dạy học dự án” được tiến hành tại Trường đại học Nông Lâm thành phố
Hồ Chí Minh, thời gian từ 16/09/2016 đến 20/1/2017
Đề tài đã trình bày được cơ sở lý luận của phương pháp dạy học dự án, ưu nhược điểm của phương pháp và những lưu ý khi vận dụng dạy học dự án vào trong dạy học Đề tài đã thiết kế 6 chủ đề học tập môn Công nghệ lớp 10 theo phương pháp dạy học dự án bao gồm: “Trường học xanh”, “Trồng rau thuỷ canh”, “Trồng rau sạch tại nhà”, “Thiết kế và xây dựng chuồng nuôi thỏ”, “Chế biến nước hoa quả”, “Trở thành nhà kinh doanh”
Trên cơ sở kết quả thu được từ phương pháp chuyên gia và nghiên cứu tài liệu,
đề tài đã nhận định được rằng vận dụng dạy học dự án vào môn Công nghệ lớp 10 có hiệu quả cao hơn so với dạy học truyền thống và hoàn toàn phù hợp với những nội dung kiến thức mang tính ứng dụng Bên cạnh đó, đề tài cũng trình bày được làm thế nào để vận dụng dạy học dự án vào môn Công nghệ lớp 10 được thành công
Trang 5MỤC LỤC
TRANG TỰA i
CẢM TẠ ii
TÓM TẮT iii
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT .vi
DANH SÁCH HÌNH VẼ VÀ BẢNG BIẾU vii
Chương 1 1
GIỚI THIỆU 1
1.1 Lý do chọn đề tài 1
1.2 Mục đích nghiên cứu 3
1.3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu 3
1.4 Câu hỏi nghiên cứu 3
1.5 Nhiệm vụ nghiên cứu 3
1.6 Giới hạn đề tài 4
1.7 Phương pháp nghiên cứu 5
Chương 2 6
CƠ SỞ LÝ LUẬN 6
2.1 Vài nét về lịch sử vấn đề nghiên cứu 6
2.1.1 Trên thế giới 6
2.1.2 Ở Việt Nam 7
2.2 Những lý luận về dạy học tích cực 9
2.2.1 Phương pháp dạy học tích cực 9
2.2.2 Đặc trưng của phương pháp dạy học tích cực 10
2.3 Cơ sở lý luận của phương pháp DHDA 11
2.3.1 Khái niệm 11
2.3.1.1 Dự án 11
2.3.1.2 Phương pháp DHDA 12
2.3.2 Đặc điểm của phương pháp DHDA 13
2.3.3 Tiến trình dạy học theo phương pháp DHDA 14
2.3.4 Bộ công cụ đánh giá 21
Trang 62.3.5 Vai trò của giáo viên và học sinh trong DHDA 22
2.3.6 Ưu, nhược điểm của DHDA 23
2.3.9 Giới thiệu môn Công Nghệ 10 26
Chương 3 28
NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU KHOA HỌC 28
3.1 Nghiên cứu tài liệu 28
3.2 Phương pháp chuyên gia 28
Chương 4 30
KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 30
4.1 Kết quả thiết kế một số bài giảng sử dụng phương pháp DHDA 30
4.1.1 Chủ đề 1: Trường học xanh 30
4.1.2 Chủ đề 2: Trồng rau thuỷ canh 38
4.1.3 Chủ đề 3: Trồng rau sạch tại nhà 46
4.1.4 Chủ đề 4 “Thiết kế và xây dựng chuồng nuôi thỏ” 55
4.1.5 Chủ đề 5 “Chế biến nước hoa quả” 63
4.1.6 Chủ đề 6 “Trở thành nhà kinh doanh” 72
4.2 Kết quả khảo sát chuyên gia 81
Chương 5 87
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 87
5.1 Kết luận 87
5.2 Kiến nghị 88
TÀI LIỆU THAM KHẢO 90
PHỤ LỤC 1: GIÁO ÁN CHỦ ĐỀ 1 “TRƯỜNG HỌC XANH” 92
PHỤ LỤC 2: GIÁO ÁN CHỦ ĐỀ 2: TRỒNG RAU THUỶ CANH 94
PHỤ LỤC 3: GIÁO ÁN CHỦ ĐỀ 3: TRỒNG RAU SẠCH TẠI NHÀ 100
PHỤ LỤC 4: GIÁO ÁN CHỦ ĐỀ 4: 106
THIẾT KẾ VÀ XÂY DỰNG CHUỒNG NUÔI THỎ 106
PHỤ LỤC 5: GIÁO ÁN CHỦ ĐỀ 5: CHẾ BIẾN NƯỚC HOA QUẢ 110
PHỤ LỤC 6: GIÁO ÁN CHỦ ĐỀ 6: TRỞ THÀNH NHÀ KINH DOANH 117
PHỤ LỤC 7: PHIẾU THAM KHẢO Ý KIẾN CHUYÊN GIA 120
Trang 8DANH SÁCH HÌNH VẼ VÀ BẢNG BIẾU
Danh sách hình vẽ
Hình 2.1: Sơ đồ tiến trình thực hiện dự án
Hình 4.1: Sơ đồ quy trình thực hiện dự án “Trường học xanh”
Hình 4.2: Sơ đồ quy trình thực hiện dự án “Trồng rau thuỷ canh”
Hình 4.3: Sơ đồ quy trình thực hiện dự án “Trồng rau sạch tại nhà”
Hình 4.4: Sơ đồ quy trình thực hiện dự án “Thiết kế và xây dựng chuồng nuôi thỏ” Hình 4.5; Sơ đồ quy trình thực hiện dự án “Chế biến nước hoa quả”
Hình 4.6: Sơ đồ quy trình thực hiện dự án “Trở thành nhà kinh doanh”
Hình 4.7: Biểu đồ kết quả chuyên gia về việc vận dụng phương pháp DHDA vào môn Công nghệ lớp 10 so với dạy học truyền thống
Hình 4.8: Biểu đồ hiệu quả DHDA mang lại cho học sinh
Danh sách các bảng biểu
Bảng 2.1: Các bước tiến hành dạy học theo DHDA
Bảng 4.1: Kế hoạch làm việc dự kiến dự án “Trường học xanh”
Bảng 4.2: Bảng phân chia công việc dự án “Trường học xanh”
Bảng 4.3: Sổ theo dõi dự án “Trường học xanh”
Bảng 4.4: Kế hoạch thực hiện dự án “Trường học xanh”
Bảng 4.5: Phiếu đánh giá bài thuyết trình dự án “Trường học xanh”
Bảng 4.6: Phiếu đánh giá sản phẩm dự án “Trường học xanh”
Bảng 4.7: Phiếu đánh giá đồng đẳng dự án “Trường học xanh”
Bảng 4.8: Kế hoạch làm việc dự kiến dự án “Trồng rau thuỷ canh”
Trang 9Bảng 4.9: Bảng phân chia công việc dự án “Trồng rau thuỷ canh”
Bảng 4.10: Sổ theo dõi dự án “Trồng rau thuỷ canh”
Bảng 4.11: Kế hoạch thực hiện dự án “Trồng rau thuỷ canh”
Bảng 4.12: Phiếu đánh giá bài thuyết trình dự án “Trồng rau thuỷ canh”
Bảng 4.13: Phiếu đánh giá sản phẩm dự án “Trồng rau thuỷ canh”
Bảng 4.14: Phiếu đánh giá đồng đẳng dự án “Trồng rau thuỷ canh”
Bảng 4.15: Kế hoạch làm việc dự kiến dự án “Trồng rau sạch tại nhà”
Bảng 4.16: Bảng phân chia công việc dự án “Trồng rau sạch tại nhà”
Bảng 4.17: Sổ theo dõi dự án “Trồng rau sạch tại nhà”
Bảng 4.18: Kế hoạch thực hiện dự án “Trồng rau sạch tại nhà”
Bảng 4.19: Phiếu đánh giá bài thuyết trình dự án “Trồng rau sạch tại nhà”
Bảng 4.20: Phiếu đánh giá sản phẩm dự án “Trồng rau sạch tại nhà”
Bảng 4.21: Phiếu đánh giá đồng đẳng dự án “Trồng rau sạch tại nhà”
Bảng 4.22: Kế hoạch làm việc dự kiến dự án “Thiết kế và xây dựng chuồng nuôi thỏ” Bảng 4.23: Bảng phân chia công việc dự án “Thiết kế và xây dựng chuồng nuôi thỏ” Bảng 4.24: Sổ theo dõi dự án “Thiết kế và xây dựng chuồng nuôi thỏ”
Bảng 4.25: Kế hoạch thực hiện dự án “Thiết kế và xây dựng chuồng nuôi thỏ”
Bảng 4.26: Phiếu đánh giá bài thuyết trình dự án “Thiết kế và xây dựng chuồng nuôi thỏ”
Bảng 4.27: Phiếu đánh giá sản phẩm dự án “Thiết kế và xây dựng chuồng nuôi thỏ” Bảng 4.28: Phiếu đánh giá đồng đẳng dự án “Thiết kế và xây dựng chuồng nuôi thỏ” Bảng 4.29: Kế hoạch làm việc dự kiến dự án “Chế biến nước hoa quả”
Trang 10Bảng 4.30: Bảng phân chia công việc dự án “Chế biến nước hoa quả”
Bảng 4.31: Sổ theo dõi dự án “Chế biến nước hoa quả”
Bảng 4.32: Kế hoạch thực hiện dự án “Chế biến nước hoa quả”
Bảng 4.33: Phiếu đánh giá bài thuyết trình dự án “Chế biến nước hoa quả” Bảng 4.34: Phiếu đánh giá sản phẩm dự án “Chế biến nước hoa quả”
Bảng 4.35: Phiếu đánh giá đồng đẳng dự án “Chế biến nước hoa quả”
Bảng 4.36: Kế hoạch làm việc dự kiến dự án “Trở thành nhà kinh doanh” Bảng 4.37: Bảng phân chia công việc dự án “Trở thành nhà kinh doanh” Bảng 4.38: Sổ theo dõi dự án “Trở thanh nhà kinh doanh”
Bảng 4.39: Kế hoạch thực hiện dự án “Trở thành nhà kinh doanh”
Bảng 4.40: Phiếu đánh giá bài thuyết trình dự án “Trở thành nhà kinh doanh” Bảng 4.41: Phiếu đánh giá sản phẩm dự án “Trở thành nhà kinh doanh” Bảng 4.42: Phiếu đánh giá đồng đẳng dự án “Trở thành nhà kinh doanh”
Trang 11Giáo dục từ lâu được xem như cái nôi sinh thành nguồn nhân lực cho đất nước, vì vậy muốn nâng cao nguồn nhân lực thì trước hết phải đầu tư nâng cao chất lượng giáo dục
Ngành giáo dục Việt Nam từ năm 1950 đến nay đã trải qua ba cuộc cải cách lớn và có rất nhiều đổi mới Đến Đại hội Đảng XI của Đảng, nghị quyết số 29 NQ/TW “Về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá trong điều kiện thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế” đã được thông qua với hai vấn đề chính là: thứ nhất, chuyển giáo
Trang 12dục từ truyền thụ kiến thức sang giáo dục phát triển nhân cách, năng lực; hai là xây dựng một nền giáo dục mở, học tập suốt đời gắn liền với xây dựng xã hội học tập, phát triển giáo dục điện tử
Cải cách và nâng cao chất lượng giáo dục đòi hỏi phải thực hiện nhiệm vụ như: đổi mới chương trình học, đổi mới nội dung, đổi mới mục tiêu dạy học, đổi mới phương pháp dạy học (PPDH)… Một trong những định hướng cơ bản của việc đổi mới giáo dục chính là chuyển nền giáo dục Việt Nam từ nền giáo dục mang tính hàn lâm, kinh viện, xa rời thực tiễn sang một nền giáo dục chú trọng việc hình thành năng lực hành động, phát huy tính chủ động, sáng tạo của người học Định hướng quan trọng trong đổi mới PPDH là phát huy tính tích cực, tự lực và sáng tạo, phát triển năng lực hành động, năng lực cộng tác làm việc của người học Tức là phải đổi mới PPDH Định hướng đổi mới phương pháp dạy và học đã được xác định ở khoản 2, điều 28, mục 2, Luật Giáo dục, 2005 đã ghi: "Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh; phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn; tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh"
Một phương pháp dạy học có thể làm được điều đó chính là phương pháp dạy học dự án (DHDA) Đây là phương pháp lấy học sinh làm trung tâm, giáo viên chỉ đóng vai trò là người hướng dẫn nên sẽ phát huy cao tính cực của học sinh trong quá trình chiếm lĩnh tri thức
Công nghệ là một môn học mang tính khoa học ứng dụng, đặc biệt môn Công nghệ 10 sẽ giúp các em học sinh làm quen với một số ứng dụng của công nghệ sinh học, hoá học, kinh tế học… trong các lĩnh vực sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp: bảo quản, chế biến sản phẩm sau thu hoạch và trong tạo lập doanh nghiệp Hơn nữa, những hiểu biết này làm cơ sở cho các ngành nghề sau này cũng như áp dụng vào thực tiễn cuộc sống của bản thân và cộng đồng Có nghĩa là có tính hướng nghiệp và hình thành kĩ năng nghề nghiệp cho học sinh Do đó, người nghiên cứu nhận thấy môn Công nghệ lớp 10 rất thích hợp để áp dụng phương
Trang 13pháp DHDA góp phần nâng cao chất lượng học tập môn Công nghệ lớp 10 ở trường Trung học phổ thông (THPT)
Xuất phát từ những lý do trên, người nghiên cứu chọn đề tài “Xây dựng một
số chủ đề học tập môn Công nghệ lớp 10 theo phương pháp dạy học dự án” làm
đề tài nghiên cứu dưới sự hướng dẫn của Ths Phạm Quỳnh Trang
1.2 Mục đích nghiên cứu
Mục tiêu: Xây dựng được một số chủ đề học tập môn Công nghệ lớp 10 theo phương pháp DHDA
Mục đích: Góp phần nâng cao chất lượng dạy và học môn Công nghệ lớp 10
ở trường phổ thông nói riêng và chất lượng giáo dục nói chung
1.3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
Chủ thể nghiên cứu: Thiết kế một số chủ đề trong môn Công nghệ lớp 10 theo phương pháp dạy học dự án
Khách thể nghiên cứu: Chương trình dạy học môn Công nghệ 10
1.4 Câu hỏi nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu nhằm trả lời câu hỏi:
- Câu hỏi 1: Thế nào là phương pháp dạy học dự án?
- Câu hỏi 2: Thiết kế bài giảng dạy học dự án theo chủ đề được thực hiện như thế nào?
- Câu hỏi 3: Dạy học dự án theo chủ đề có mang lại hiệu quả hơn phương pháp dạy học truyền thống không?
1.5 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để trả lời cho các câu hỏi nghiên cứu thì đề tài có những nhiệm vụ chính sau:
- Nhiệm vụ 1: Nghiên cứu về phương pháp DHDA (cấu trúc, đặc điểm, cách thức thực hiện, ưu điểm, nhược điểm và một số vấn đề có liên quan…) (Phục vụ câu hỏi
1, câu hỏi 2 và câu hỏi 3)
Trang 14- Nhiệm vụ 2: Thiết kế giáo án theo chủ đề bằng phương pháp DHDA (Phục vụ câu hỏi 2)
- Nhiệm vụ 3: Tiến hành tham khảo ý kiến của chuyên gia về dạy học môn Công nghệ 10 theo phương pháp DHDA (Phục vụ câu hỏi 3)
- Bài 15: Điều kiện phát sinh, phát triển của sâu, bệnh hại cây trồng
Chủ đề 2: Trồng rau thuỷ canh
Kết hợp nội dung kiến thức 2 bài sau:
- Bài 14: Thực hành: Trồng cây trong dung dịch
- Bài 15: Điều kiện phát sinh, phát triển của sâu, bệnh hại cây trồng
Chủ đề 3: Trồng rau sạch tại nhà
Kết hợp nội dung kiến thức 2 bài sau:
- Bài 12: Đặc điểm, tính chất, kĩ thuật sử dụng một số loại phân bón thông thường
- Bài 15: Điều kiện phát sinh, phát triển của sâu, bệnh hại cây trồng
Chủ đề 4: Thiết kế và xây dựng chuồng nuôi thỏ
- Bài 34: Tạo môi trường sống cho vật nuôi và thuỷ sản
Chủ đề 5: Chế biến nước hoa quả
- Bài 45: Thực hành: Chế biến xi rô từ quả
Chủ đề 6: Trở thành nhà kinh doanh
Kết hợp nội dung kiến thức chương 4 và chương 5
Trang 15Do giới hạn về mặt thời gian nên đề tài chỉ dùng phương pháp chuyên gia để đánh giá kết quả của đề tài chứ chưa thực nghiệm
1.7 Phương pháp nghiên cứu
Phục vụ cho các nhiệm vụ nghiên cứu, người nghiên cứu sử dụng những
phương pháp nghiên cứu sau đây:
Phương pháp nghiên cứu tài liệu
Phương pháp thực hiện bằng cách nghiên cứu sách báo, internet, tài liệu có liên quan đến đổi mới phương pháp dạy học, phương pháp dạy học tích cực và dạy học dự
án
- Tìm hiểu lịch sử của vấn đề nghiên cứu
- Nhằm thu thập những vấn đề có liên quan đến vấn đề đang nghiên cứu
- Làm sơ sở lý luận cho đề tài
Phương pháp chuyên gia
Phương pháp thực hiện bằng cách xin ý kiến chuyên gia về một số câu hỏi cụ thể liên quan đến vấn đề nghiên cứu, nhờ đấy có giải thích đúng đắn về những vấn đề thực tiễn và lý luận liên quan đến dạy học môn Công nghệ 10 bằng phương pháp dạy học dự án
Trang 16
Chương 2
CƠ SỞ LÝ LUẬN
2.1 Vài nét về lịch sử vấn đề nghiên cứu
Trước đòi hỏi đổi mới giáo dục nói chung và đổi mới PPDH nói riêng thì phương pháp DHDA đang là một phương pháp đang được nhiều giáo viên áp dụng Hiện nay cũng có rất nhiều nghiên cứu về phương pháp này, trên Thế giới và Việt Nam có một số công trình nghiên cứu sau đây
Trang 17trách nhiệm, từ việc biết sự kiện thuật ngữ và nội dung sang vận dụng lý thuyết, từ chỗ
lệ thuộc vào giáo viên sang được trao quyền
Boaler, J., “Toán học cho thời điểm hiện tại hay cho thiên niên kỉ?” Nhật báo giáo dục, 1999, March 31 Theo ông “Học sinh trong các lớp học truyền thống phát triển kiến thức thụ động mà họ cho rằng không có ích lợi gì trong thực tế” Trong khi
đó, “Học sinh được dạy theo kiểu dạy học dự án cởi mở hơn, tiến bộ hơn thì phát triển vốn kiến thức linh hoạt và có ích lợi hơn để áp dụng vào nhiều hoàn cảnh khác nhau”
2.1.2 Ở Việt Nam
Nguyễn Thị Diệu Thảo (2004) với bài viết Dạy học dự án và đào tạo giáo viên
“Kinh tế gia đình”, được giới thiệu trong tạp chí giáo dục số 88, trang 22-24 Tác giả
đã giới thiệu mô hình áp dụng DHDA vào trong đào tạo giáo viên môn kinh tế gia đình Tác giả đã tiến hành thực nghiệm để khẳng định tính khả thi của vấn đề nghiên cứu Đề tài nhận định rằng DHDA là một phương pháp đặc thù trong đào tạo giáo viên môn kinh tế gia đình
Nguyễn Văn Cường và Nguyễn Thị Diệu Thảo với bài viết “Dạy học dự án- một phương pháp có chức năng kép trong đào tạo giáo viên” được đăng trên Tạp chí giáo dục số 80, tr.15-17
Trịnh Văn Biều và tgk với bài viết “Dạy học dự án – Từ lý luận đến thực tiễn” được giới thiệu trên Tạp chí khoa học ĐHSP TP.HCM (Số 28, năm 2011), bài viết đã trình bày một cách cơ bản nhất về DHDA: khái niệm, phân loại, cấu trúc, đặc điểm, tác dụng, ưu nhược điểm, cách tiến hành, đánh giá và những bài học kinh nghiệm để thành công
Trần Văn Thành (2013), Tổ chức dạy học dự án một số kiến thức điện từ học - Vật lí 9 Trung học cơ sở, Luận án tiến sĩ giáo dục học, ĐHSPHN Theo tác giả, phân tích các đặc trưng của DHDA, đối chiếu định hướng đổi mới dạy học thì việc tổ chức DHDA có thể rèn luyện và phát triển năng lực của học sinh
Nguyễn Thanh Hà – Đỗ Hương Trà với bài viết “Tổ chức dạy học dự án trong dạy học Vật lý đại cương cho sinh viên ngành kỹ thuật theo hướng tiếp cận chuyên
Trang 18ngành” được đăng trên Tạp chí giáo dục số 320 (Kì II – tháng 10 ,2013) Tác giả đã phân tích tiến trình DHDA đối với sinh viên chuyên ngành kĩ thuật và đề xuất dạy học Vật Lý đại cương theo hướng tiếp cận chuyên ngành Tác giả đã chứng tỏ rằng việc tổ chức dạy học dự án trong Vật Lý đại cương theo hướng tiếp cận chuyên ngành là phù hợp và đạt hiệu quả cao
Nguyễn Thế Hưng – Lại Phương Liên với bài viết “Tổ chức dạy học dự án trong dạy học Sinh học ở trường THPT” được đăng trên Tạp chí giáo dục số 333 (Kì I – tháng 5,2014) Bài viết xây dựng một quy trình dạy học theo dự án trong dạy học Sinh học ở trường THPT qua những ví dụ cụ thể Tác giả nhận định rằng sử dụng phương pháp DHDA rất có hiệu quả, giúp học sinh tích cực hơn vào bài học
Lê Khoa (2015) với bài viết “Vận dụng phương pháp dạy học theo dự án trong dạy học kiến thức về sản xuất và sử dung điện năng cho học sinh trung học phổ thông” Tác giả đã khẳng định rằng “Nếu dạy học các kiến thức về “sản xuất và sử dụng điện năng” theo chương trình Vật lý phổ thông đã được tiến hành thông qua DHDA thì có thể đạt được mục tiêu phát triển năng lực vận dụng kiến thức, năng lực giải quyết vấn đề và góp phân nâng cao chất lượng giáo dục kỹ thuật tổng hợp cho học sinh”
Nguyễn Thị Diệu Thảo (2009) với bài viết “Dạy học theo dự án và vận dụng trong đào tạo giáo viên trung học cơ sở môn Công nghệ”, tác giả đã đưa ra cơ sở lý luận và thực tiễn của việc vận dụng DHDA trong đào tạo giáo viên trung học cơ sở môn Công Nghệ
Đoàn Ngọc Thuận (2009) với bài viết “Thiết kế và thử nghiệm một số bài giảng
sử dụng phương pháp dạy học dự án vào môn Công nghệ 10 tại trường THPT Nguyễn Huệ, quận 9, TP.HCM” tác giả đã có kết luận rằng học sinh rất hứng thú và tích cực tham gia tiết học Học sinh thể hiện mức độ tư duy của mình là khá tốt Phương pháp này phát triển cho các em kĩ năng làm việc nhóm cũng như kĩ năng thuyết trình trước tập thể lớp, đồng thời giúp các em học sinh tự rèn luyện bản thân
Nguyễn Văn Luyện (2009) với bài viết “Thiết kế và thử nghiệm bài một số bài giảng môn Công nghệ 10 theo phương pháp dạy hoc dự án tại trường THPT Thủ Đức,
Trang 19TP.HCM”, tác giả có kết luận rằng việc vận dụng DHDA vào môn Công nghệ 10 giúp phát triển khả năng tư duy sáng tạo của các em học sinh
Như vậy, trên Thế giới và Việt Nam đã có nhiều công trình nghiên cứu về việc
áp dụng phương pháp DHDA vào trong dạy học Các nghiên cứu trên đã nêu lên cơ sở
lý thuyết cơ bản và quy trình vận dụng DHDA, đồng thời có thực nghiệm sư phạm đưa
ra được các dẫn chứng sinh động về hiệu quả của phương pháp DHDA Tuy nhiên, người nghiên cứu nhận thấy chưa có nhiều các công trình nghiên cứu về DHDA trong môn Công nghệ lớp 10 cũng như các công trình nghiên cứu này chỉ mới mới áp dụng với một số bài giảng chứ chưa có sự liên kết nội dung các bài giảng lại với nhau thành một chủ đề cho nên người nghiên cứu nhận thấy nghiên cứu này là cần thiết
Kết quả của các công trình nghiên cứu trên chính là cơ sở cho các công trình tiếp theo, đồng thời cũng là cơ sở giúp người nghiên cứu giải quyết nhiệm vụ do đề tài đặt ra
2.2 Những lý luận về dạy học tích cực
2.2.1 Phương pháp dạy học tích cực
Phan Long (2004) nhận định về phương pháp dạy học tích cực trong đó giáo viên tổ chức hoạt động nhận thức về thực tiễn, học sinh là người tìm kiếm tri thức để đạt được mục đích dạy học, giáo dưỡng, giáo dục và phát triển
Theo Nguyễn Thị Minh Phượng (2013), phương pháp dạy học tích cực hay phương pháp giáo dục, phương pháp sư phạm hiện đại là những cách gọi để chỉ những phương pháp, cách thức, kĩ thuật khác nhau làm cho giờ học sinh động hấp dẫn, người học được làm việc, được sáng tạo Ví dụ như phương pháp làm việc nhóm, sắm vai, tình huống, sơ đồ tư duy, não công, DHDA… (Trích cẩm nang phương pháp sư phạm, Nguyễn Thị Minh Phượng và tgk, 2013)
Từ đó, người nghiên cứu nhận thấy phương pháp dạy học tích cực hướng tới việc hoạt động hoá tính tích cực, chủ động trong học tập của người học Phương pháp dạy học tích cực là sự lựa chọn những phương pháp theo hướng mới “lấy người học làm trung tâm” Bên cạnh đó, khả năng chuyên môn của người giáo viên sẽ được nâng
Trang 20lên nhờ áp lực của phương pháp, nhờ nội dung giảng dạy được cập nhật liên tục để đáp ứng câu hỏi của người học trong thời đại thông tin rộng mở
2.2.2 Đặc trưng của phương pháp dạy học tích cực
Theo Nguyễn Quang Huỳnh (2006), phương pháp dạy học tích cực có bốn đặc trưng cơ bản sau:
- Người học, chủ thể của hoạt động học, tự học, tự nghiên cứu, tự mình tìm ra kiến thứ bằng hành động của chính mình, cá nhân hoá việc học
- Người học tự thể hiện mình, hợp tác với các bạn trong lớp học, làm cho kiến thức cá nhân tự tìm ra, mang tính xã hội, khách quan hơn, tức là xã hội hoá người học
- Người học tự thể hiện mình, hợp tác với các bạn trong lớp học, làm cho kiến thức cá nhân tự tìm ra, mang tính xã hội, khách quan hơn, tức là xã hội hoá người học
- Người học tự đánh giá và điều chỉnh bản thân
Từ đó, người nghiên cứu nêu ra 4 đặc trưng cơ bản sau đây để phân biệt với phương pháp thụ động:
Dạy học thông qua hoạt động học tập của học sinh
Tức là thông qua việc tổ chức các hoạt động học tập cho học sinh để học sinh tự khám phá ra những kiến thức cần thiết chứ không phải thụ động hấp thu những kiến thức đã có sẵn, tự tìm ra kiến thức bằng hoạt động của chính mình
Dạy và học chú trọng phương pháp rèn luyện tự học
Phương pháp dạy học tích cực chú trọng phát huy tính tích cực chủ động của người học tức là rèn luyện tính tự học của người học Ở bất kì phương pháp nào thì tự học là cốt lõi của mọi phương pháp Cho nên, dạy học tích cực rèn luyện cho học sinh
có kỹ năng, thói quen, ý chí tự học, rèn luyện cho học sinh các thao tác tư duy như phân tích , tổng hợp, khái quát hoá… để hình thành và phát triển năng lực sáng tạo của người học
Tăng cường học tập cá thể phối hợp với học tập hợp tác
Trang 21Trong dạy học tích cực, giáo viên chỉ đóng vai trò là người hướng dẫn chứ không phải là người trực tiếp làm việc, mà người trực tiếp làm việc ở đây là các em học sinh Tức là tạo điều kiện cho học sinh tự mình nghĩ nhiều hơn, làm nhiều hơn và thảo luận nhiều hơn Có nghĩa là học sinh vừa phải vận dụng hết năng lực của mình để làm việc cho tốt còn phải hỗ trợ, hợp tác một cách tốt nhất với những người khác để đạt được kết quả cao
Kết hợp đánh giá của thầy và đánh giá của trò
Ở phương pháp truyền thống thì giáo viên có quyền độc quyền đánh giá học sinh Song, trong dạy học tích cực thì ngoài việc đánh giá học sinh thì giáo viên còn có nhiệm vụ hướng dẫn học sinh tự đánh giá lẫn nhau cũng như tự đánh giá bản thân mình qua đó biết tự điều chỉnh bản thân một cách phù hợp
Một vấn đề đặt ra ở đây là khi áp dụng phương pháp dạy học tích cực thì vai trò của người giáo viên có bị lu mờ đi không? Hoàn toàn “không” xảy ra việc vai trò của giáo viên bị lu mờ Ngược lại, vai trò của người giáo viên càng trở nên quan trọng Với nhiều luồng thông tin, kiến thức khác nhau thì điều gì là cần thiết và áp dụng nó ra sao… Tất cả những công việc đó đều cần đến sự chỉ dạy của người giáo viên
Các phương pháp dạy học tích cực với những đặc trưng cơ bản trên hướng tới quá trình học tập của người học nói chung và học sinh nói riêng, tạo điều kiện cho họ làm chủ bản thân và làm chủ kiến thức
2.3 Cơ sở lý luận của phương pháp DHDA
2.3.1 Khái niệm
2.3.1.1 Dự án
Theo Từ điển Tiếng Việt (của tác giả Hoàng Phê), dự án là bản dự thảo về một văn kiện về luật pháp hay về một kế hoạch cụ thể nào đó Theo Từ điển Tiếng Việt của Bùi Quang Tịnh, dự án là “bản dự thảo về một việc gì” Còn theo Đại từ điển tiếng Việt của Nguyễn Như Ý, thì dự án là “một dự thảo, một văn kiện quan trọng về luật pháp hay kế hoạch”
Trang 22Thuật ngữ Dự án tiếng Anh là “project” có nghĩa là phác thảo, dự thảo, thiết kế Thuật ngữ này được sử dụng trong nhiều lĩnh vực Đới với giáo dục thì dự án có nghĩa
là một tập hợp các công việc đươc thực hiện bởi một nhóm học sinh, nhằm đạt được mục tiêu giáo dục trong một thời gian nhất định
2.3.1.2 Phương pháp DHDA
Năm 1918, nhà lí luận người Mỹ W.H Kilpatrick có một bài viết “Phương pháp
dự án” (The project method) Ông định nghĩa dự án trong dạy học là “hành động có chủ ý, với toàn bộ nhiệt tình, diễn ra trong một môi trường xã hội, hay nói ngắn hơn là hoạt động có chủ ý và có tâm huyết”
Phương pháp dạy học dự án (Project Based Learning) thường được gọi tắt là dạy học dự án DHDA là một hình thức dạy học, trong đó người học thực hiện một nhiệm
vụ học tập phức hợp, gắn với thực tiễn kết hợp với lý thuyết và thực hành, tự lực lập
kế hoạch, thực hiện và đánh giá kết quả Hình thức làm việc chủ yếu theo nhóm, kết quả dự án là những sản phẩm hành động có thể giới thiệu được (Viện nghiên cứu sư phạm)
Theo Nguyễn Thị Diệu Thảo (2004), “Dạy học theo dự án là một hình thức dạy học, trong đó người học dưới sự chỉ đạo của GV thực hiện một nhiệm vụ học tập phức hợp mang tính thực tiễn với hình thức làm việc nhóm là chủ yếu Nhiệm vụ này được thực hiện bởi tính tự lực cao trong toàn bộ quá trình học tập, tạo ra những sản phẩm có thể trình bày và giới thiệu” (Dạy học dự án và đào tạo giáo viên kinh tế gia đình, trang 6)
Từ ba khái niệm trên người nghiên cứu nhận thấy phương pháp DHDA là phương pháp dạy học trong đó người học thực hiện nhiệm vụ học tập (thường làm việc nhóm), sẽ cùng tham gia để tự mình giải quyết vấn đề dưới sự hướng dẫn của giáo viên, gắn lý thuyết với thực hành để tạo ra một hay nhiều sản phẩm có thể giới thiệu Trong giai đoạn thực hiện nhiệm vụ, người học luôn phải làm việc tự lực, tự điều khiển và có tinh thần trách nhiệm cao đối với nhiệm vụ học tập Từ đó, người học sẽ nắm vững, hiểu rõ kiến thức bài học cũng như tự mình làm việc và tạo ra sản phẩm sẽ tạo hứng thú học tập cho học sinh
Trang 232.3.2 Đặc điểm của phương pháp DHDA
Theo Nguyễn Thị Diệu Thảo (2004) và Trần Văn Thành (2013), DHDA có những đặc điểm sau: Định hướng thực tiễn, định hướng hứng thú, tính tự lực cao của người học, định hướng hành động, định hướng sản phẩm, cộng tác làm việc Những đặc trưng này cho phép nói DHDA là một kiểu dạy học mở
Trên cơ sở đó, người nghiên cứu đưa ra những đặc điểm của DHDA như sau: 2.3.2.1 Định hướng người học
- Học sinh được tham gia chọn đề tài, chọn nội dung học tập phù hợp với hứng thú của bản thân mình Để từ đó, qua quá trình thực hiện dự án để tăng hứng thú và nhờ hứng thú sẽ đạt kết quả học tập cao hơn
- Tính tự lực của người học: Trong DHDA, người học cần nâng cao tinh thần tự lực vì không có sự giúp đỡ từ giáo viên mà tất cả công việc muốn hoàn thành thì phải dựa vào năng lực của bản thân mình, giáo viên chỉ đóng vai trò là người hướng dẫn
- Người học được cộng tác làm việc: các dự án học tập được thực hiện theo hình thức làm bài tập nhóm, có sự cộng tác giữa các thành viên và phân công công việc một cách
rõ ràng, cụ thể Đặc điểm này đòi hỏi người học phải có tinh thần làm việc nhóm cao, biết lắng nghe quan điểm của người khác để hoàn thành nhiệm vụ học tập một cách xuất sắc
Trang 24chất… những sản phẩm này đều có thể công bố và giới thiệu Sản phẩm này thể hiện quá trình làm việc của người học
2.3.3 Tiến trình dạy học theo phương pháp DHDA
Có rất nhiều tác giả đã đưa ra tiến trình dạy học theo DHDA, tuy nhiên chưa có một quy trình thống nhất cụ thể nào, vì các tác giả thuộc các lĩnh vực khác nhau do đó khi nghiên cứu, họ đưa ra tiến trình thực hiện dưới nhiều góc nhìn khác nhau
PGS.TS Đỗ Hương Trà với bài viết “Dạy học dự án và tiến trình thực hiện” được đăng trên Tạp chí Giáo dục số 157 (Kì 1, tháng 3, 2007), ông đã đưa ra tiến trình dạy học dự án có 3 pha: (1) Chuẩn bị, (2) Thực hiện, (3) Khai thác một cách sư phạm các hoạt động học sinh thực hiện trong quá trình tương tác giữa họ và đặc biệt là tương tác với mạng tin học Kết quả của pha đầu tiên là một kế hoạch, pha thứ 2 là sản phẩm, pha thứ 3 là sản phẩm tri thức tập thể của lớp học
Nguyễn Văn Cường và Nguyễn Thị Diệu Thảo (2004) đã đưa ra tiến trình dạy học theo DHDA bao gồm 5 bước: (1) Quyết định chủ đề, (2) Xây dựng kế hoạch, (3) Thực hiện, (4) Giới thiệu sản phẩm, (5) Đánh giá sản phẩm
Nguyễn Thị Diệu Thảo (2004) đã đưa ra tiến trình DHDA bao gồm 4 bước: (1) Lựa chọn chủ đề, xác định mục tiêu dự án, (2) Xây dựng kế hoạch thực hiện, (3) Thực hiện dự án, (4) Đánh giá sản phẩm
Theo tác giả Trịnh Văn Biều (2011), tiến trình DHDA có 5 bước: (1) Chọn đề tài, chia nhóm, (2) Xây dựng đề cương dự án, (3) Thực hiện dự án, (4) Thu thập kết quả và công bố sản phẩm, (5) Đánh giá dự án, rút kinh nghiệm
Trên cơ sở tìm hiểu những nghiên cứu có liên quan về DHDA, người nghiên cứu tổng hợp được tiến trình dạy học dự án như sau:
Trang 25Hình 2.1 Sơ đồ tiến trình thực hiện dự án 2.3.3.1 Lựa chọn chủ đề
Ở bước này, Nguyễn Thị Diệu Thảo (2004), xác định công việc của giáo viên và học sinh là:
có thể xuất phát từ sáng kiến của giáo viên, của học sinh hay một nhóm học sinh Rồi
từ đó, học sinh quyết định chọn đề tài nào làm đề tài nhưng phải đảm bảo phù hợp với yêu cầu của mục tiêu bài học và phù hợp với yêu cầu của giáo viên Yêu cầu đối với một dự án:
- Chủ đề phải gây được sự quan tâm của người học
- Có giá trị về mặt giáo dục: Tức là dự án phục vụ cho nhiệm vụ học tập
- Thực hiện trong một thời gian nhất định
Thành lập kế hoạch thực hiện
Thực hiện dự án Lựa chọn chủ đề
Giới thiệu sản phẩm
Đánh giá sản phẩm
Trang 26- Sản phẩm có giá trị sử dụng
2.3.3.2 Thành lập kế hoạch thực hiện dự án
Đây có thể xem là bước chuẩn bị cho dự án
Ở bước này, Nguyễn Thị Diệu Thảo (2004) xác định công việc của giáo viên và học sinh là:
- Học sinh xác định các công việc, điều kiện thực hiện
- Học sinh xây dựng kế hoạch thời gian, chuẩn bị nguồn lực
- Học sinh phân công nhiệm vụ trong nhóm
- GV xem xét tính khả thi của dự án
Theo người nghiên cứu, ở bước này thì giáo viên và học sinh cần thực hiện những nhiệm vụ sau:
Xây dựng bộ ba câu hỏi định hướng
Bộ ba câu hỏi định hướng giúp học sinh kết nối những khái niệm cơ bản trong cùng một môn học hoặc giữa các môn học với nhau Các câu hỏi này tạo điều kiện để định hướng các vấn đề học tập của học sinh thông qua các câu hỏi kích thích tư duy, sáng tạo Bộ ba câu hỏi định hướng bao gồm: câu hỏi khái quát, câu hỏi bài học và câu hỏi nội dung
- Câu hỏi khái quát
Là những câu hỏi mở, có phạm vi rộng, kích thích sự khám phá của học sinh
Giới thiệu được khái quát, đầy đủ những ý tưởng xuyên suốt nội dụng của dự án
Trang 27 Thường là những câu hỏi kiến thức môn học đó hoặc kiến thức liên môn
Ví dụ dự án “Trở thành nhà kinh doanh”, câu hỏi khái quát: “Với độ tuổi này, các em có thể kinh doanh hay không?”
- Câu hỏi bài học
Câu hỏi bài học là những câu hỏi mở có liên hệ trực tiếp với dự án hoặc bài học
cụ thể, đòi hỏi các kỹ năng tư duy bậc cao hướng học sinh vào chủ đề của bài học
Không có câu trả lời đúng nhất, được thiết kế để tạo ra hứng thú cho học sinh, kích thích học sinh trả lời theo cách tiếp cận sáng tạo, độc đáo
Ví dụ dự án “Trở thành nhà kinh doanh”, câu hỏi bài học: “Làm thế nào để trở thành những nhà kinh doanh?”
- Câu hỏi nội dung
Là những câu hỏi cụ thể, yêu cầu học sinh về các kiến thức kĩ năng
Khác với câu hỏi bài học thì câu hỏi nội dung, các câu trả lời đúng được xác định rõ ràng, trực tiếp hỗ trợ các kiến thức của bài học một cách cụ thể
Câu hỏi nội dung là những câu hỏi hỗ trợ quan trọng cho câu hỏi nội dung và
câu hỏi bài học
Ví dụ dự án “Trở thành nhà kinh doanh”, câu hỏi nội dung:
Thế nào là kinh doanh theo mô hình nhỏ lẻ?
Làm thế nào để có được một kế hoạch kinh doanh?
Chúng ta sẽ thực hiện mô hình kinh doanh ở đâu?
Mặt hàng kinh doanh là gì?
Chi phí dự kiến cho việc kinh doanh là bao nhiêu?
Trang 28 Thiết kế dự án
Sau khi đã có mục tiêu và bộ ba câu hỏi định hướng thì chúng ta cần tiến hành thiết kế dự án Khi thiết kế dự án thì cần đạt được những nội dung cơ bản sau đây:
- Xác định những công việc cần làm của dự án
- Địa điểm và điều kiện thực hiện dự án
- Thời điểm thực hiện dự án, giới hạn thực hiện
- Phân công nhiệm vụ cụ thể cho từng nhóm, từng cá nhân
- Kinh phí thực hiện dự án
- Phương pháp thực hiện dự án
- Kết quả dự kiến đạt được
Tài liệu hỗ trợ giáo viên và học sinh
Trong bước này giáo viên cần hỗ trợ cho học sinh những tài liệu sau: Nội dung bài học, nguồn tài liệu tham khảo, sổ theo dõi đánh giá thành viên…
Chuẩn bị các điều kiện thực hiện dự án
Đối với giáo viên, cần chuẩn bị những điều kiện vật chất cần thiết như phòng thí nghiệm, máy chiếu,…
Đối với học sinh cần chuẩn bị các tài liệu hỗ trợ cho dự án, kinh phí…
2.3.3.3 Thực hiện dự án
Ở bước này, Nguyễn Thị Diệu Thảo (2004) xác định những nhiệm vụ cần thực hiện:
- Học sinh quyết định phương án hợp lý
- Học sinh thực hiện nhiệm vụ và hoàn thành sản phẩm
Theo người nghiên cứu, ở bước thực hiện dự án GV và học sinh cần thực hiện:
Đối với GV: Bước này GV sẽ tiến hành theo dõi, giám sát, đánh giá học sinh thực hiện giai đoạn cuối của dự án và chuẩn bị cơ sở vật chất tạo mọi điều kiện cho học sinh hoàn thành tốt dự án
Trang 29Đối với học sinh: Ở bước này, học sinh sẽ thực hiện nhiệm vụ mình đã được phân công Trong giai đoạn này học sinh thực hiện các hoạt động trí tuệ, hoạt động thực hành, vận dụng kiến thức, kĩ năng làm việc để hoàn thành nhiệm vụ được giao Đối với nhóm trưởng cần theo dõi, đốc thúc tiến trình làm việc của các thành viên trong nhóm đồng thời thường xuyên phản hồi, thông báo thông tin cho giáo viên 2.3.3.4 Giới thiệu sản phẩm
Theo Trịnh Văn Biều (2011), kết quả thực hiện dự án có thể viết dưới dạng ấn phẩm (bản tin, thu hoạch, báo cáo…) Kết quả của dự án có thể trình bày giữa các nhóm, có thể giới thiệu ngoài trường hoặc ngoài xã hội
Theo người nghiên cứu, đây là bước mà học sinh giới thiệu kết quả mà mình đạt được đem ra giới thiệu và công bố Mục đích của dự án đạt được ở đây
Như đã nói ở phần trước sản phẩm có thể là một bài thuyết trình, bài tiểu luận, các mô hình dân dụng, những sản phẩm vật chất… Học sinh giới thiệu và bảo vệ dự án của mình
Đối với GV: ở bước này GV cần:
- Tổ chức cho học sinh trình bày kết quả
- Tổ chức cho các nhóm trao đổi ý kiến
- Đặt những câu hỏi liên quan đến dự án
- Góp ý
2.3.3.5 Đánh giá dự án
Theo Trịnh Văn Biều (2011), GV và học sinh đánh giá quá trình thực hiện dự án
và kết quả dựa trên những sản phẩm thu được, tính khúc chiết và hợp lý trong cách thức trình bày của học sinh Người nghiên cứu đồng ý với ý kiến này của tác giả Bước đánh giá dự án chính là bước đánh giá xem dự án đạt được tới đâu, có đạt được nhiệm vụ học tập hay không, trong quá trình tiến hành làm dự án học sinh gặp phải những khó khăn gì và đã đạt được những gì
Trang 30Công việc đánh giá không chỉ thực hiện bởi GV mà còn được học sinh thực hiện dưới sự hướng dẫn của GV: tự đánh giá, đánh giá giữa các nhóm
Từ việc đánh giá học sinh tự rút ra bài học, kình nghiệm thực tiễn cho bản thân Bên cạnh đó, học sinh tự nhận ra năng lực của bản thân để phấn đấu nhiều hơn trong học tập
Như vậy công việc cụ thể của GV và học sinh trong DHDA được tóm tắt như sau:
- Cung cấp tài liệu tham khảo cho học sinh
- Xét duyệt dự án của học sinh
Trang 31- Hướng dẫn học sinh rút kinh nghiệm để thực hiện những dự án tiếp theo
- Đánh giá sản phẩm của nhóm khác dựa trên các tiêu chí mà giáo viên cung cấp
Bảng 2.1: Các bước tiến hành dạy học theo phương pháp DHDA
2.3.4 Bộ công cụ đánh giá
Theo Trần Văn Thành (2013), đánh giá trong DHDA là đánh giá năng lực của học sinh trong quá trình thực hiện dự án thông qua hoạt động học tập do giáo viên tổ chức nhằm nâng cao chất lượng học tập và năng lực của học sinh Đánh giá trong DHDA phải đánh giá kết hợp các hình thức với nhau, đánh giá tại nhiều thời điểm khác nhau và được kết hợp đánh giá của giáo viên và đánh giá của học sinh
Bộ công cụ đánh giá giữ một vai trò rất quan trọng trong dự án Nó là thước
đo những nỗ lực của học sinh trong quá trình thực hiện dự án để có sản phẩm cuối cùng GV và học sinh sẽ sử dụng bộ công cụ đánh giá để đánh giá quá trình thực hiện cũng như sản phẩm cuối cùng của dự án GV phải cung cấp các tiêu chí đánh giá cho học sinh trước khi học sinh bắt tay vào dự án để học sinh biết mình cần đạt được những gì ở dự án
Trong DHDA, có thể dùng nhiều công cụ để đánh giá học sinh như phiếu hỏi, phiếu học tập, phiếu quan sát, rubric và các bài kiểm tra… Trong DHDA, có 2 công cụ đánh giá thường được sử dụng:
- Hồ sơ dự án (Sổ theo dõi dự án) Nó là bằng chứng về
+ Tên dự án
+ Lý do chọn dự án
+ Kế hoạch thực hiện
Trang 32+ Thời gian tiến hành dự án
+ Phân công nhiệm vụ
- Bảng Rubric (Bảng tiêu chí đánh giá) Là công cụ căn cứ để liệt kê tiêu chí đánh giá sản phẩm Giáo viên và học sinh dựa vào các tiêu chí này để đánh giá sản phẩm của dự án (Được người nghiên cứu thiết kế cụ thể ở chương 4)
2.3.5 Vai trò của giáo viên và học sinh trong DHDA
2.3.5.1 Vai trò của giáo viên trong DHDA
Theo PGS.TS Đỗ Hương Trà (2007), học sinh có thể tìm kiếm thông tin trên trang web, tuy nhiên sẽ không hiểu thấu đáo và nắm được kiến thức nếu không có
sự hướng dẫn của giáo viên GV có vai trò hướng dẫn cộng đồng người học, tạo điều kiện thuận lợi, kích thích hứng thú của học sinh làm cho học sinh thấu hiểu tiến trình dạy học
Như vậy, giáo viên trong DHDA có vai trò như sau:
- Khác với dạy học truyền thống, giáo viên trong DHDA đóng vai trò là người hướng dẫn chứ không phải là “người cầm tay chỉ việc” cho học sinh
- Hình thành ý tưởng liên quan đến nội dung bài học
- Giám sát, theo dõi tiến trình công việc của học sinh
- Đánh giá kết quả của học sinh
Tóm lại, giáo viên không còn giữ vai trò chủ đạo trong quá trình dạy học mà trở thành người hướng dẫn, người giúp đỡ học sinh, tạo môi trường thuận lợi nhất cho học sinh trên con đường thực hiện dự án
2.3.5.2 Vai trò của học sinh đối với DHDA
Theo Nguyễn Đức Trí (2011), trong DHDA, học sinh phải lập kế hoạch, phải
tự chỉ đạo, điều hành, tự tổ chức, quản lý và thực hiện, đưa ra kết quả có thể thực
hiện được (Trích Giáo trình Giáo dục học nghề nghiệp)
Trang 33HS cũng là người trình bày kiến thức mới mà họ đã tích lũy thông qua dự án Cuối cùng, bản thân học sinh là người đánh giá và được đánh giá dựa trên những gì
đã thu thập được, dựa trên tính khúc chiết, tính hợp lý trong cách thức trình bày của các em theo những tiêu chí đã xây dựng trước đó
Tóm lại, học sinh không còn thụ động trong việc tiếp thu kiến thức mà học tự mình để chiếm lĩnh tri thức, học sinh trở thành trung tâm của hoạt động dạy học
2.3.6 Ưu, nhược điểm của DHDA
Không có phương pháp nào là hoàn hảo, cũng như các phương pháp dạy học khác, phương pháp DHDA có những ưu, nhược điểm sau đây:
2.3.6.1 Ưu điểm
Theo Trịnh Văn Biều (2011), DHDA có những ưu điểm sau đây:
- DHDA làm cho nội dung học tập trở nên có ý nghĩa hơn
Trong DHDA, nội dung học tập được tích hợp với các vấn đề đời sống thực
từ đó kích thích hứng thú của người học
DHDA gắn lý thuyết với thực hành, tư duy và hành động, nhà trường và xã hội, giúp việc học tập trong nhà trường giống hơn với việc học tập ngoài thế giới thật
- DHDA góp phần đổi mới PPDH và thay đổi phương thức đào tạo
Trong DHDA, người học trở thành người giải quyết vấn đề chứ không phải người nghe thụ động
DHDA tạo điều kiện cho nhiều phong cách học tập khác nhau, sử dụng nhiều nguồn thông tin khác nhau Nó giúp người học với cùng một nội dung nhưng có thể thực hiện theo nhiều cách khác nhau
DHDA yêu cầu học sinh tư duy, sáng tạo để thực hiện dự án, kích thích động
cơ, hứng thú học tập
- DHDA tạo môi trường thuận lợi cho người học rèn luyện và phát triển
Trang 34Học sinh nào cũng được hoạt động vì nhiệm vụ học tập được phân công đến tất cả mọi người
Học sinh được rèn khả năng tư duy, suy nghĩ sâu sắc khi gặp vấn đề khó khăn, phức tạp
- DHDA phát huy tính tích cực, tự lực, chủ động, sáng tạo của người học
- DHDA giúp người học phát triển khả năng giao tiếp
2.3.6.2 Nhược điểm
Theo Trịnh Văn Biều (2011), DHDA có những nhược điểm sau đây:
- DHDA không phù hợp với những kiến thức trừu tượng, hệ thống cũng như rèn luyện hệ thống kĩ năng cơ bản
- Một dự án đòi hỏi mất nhiều thời gian thực hiện Vì vậy, DHDA không thể thay thế cho phương pháp thuyết trình vè luyện tập mà chỉ là hình thức dạy học bổ sung
- Một dự án cần lên kế hoạch và chuẩn bị một cách chu đáo mới thu hút được người học
- Một dự án đòi hỏi điều kiện vật chất và tài chính phù hợp
Do đó, khi quyết định áp dụng phương pháp DHDA giáo viên cần cân nhắc
và đưa ra phương án phù hợp để mang lại tiết học hiệu quả
2.3.7 Những lưu ý khi sử dụng phương pháp DHDA
- Cần chuẩn bị kiến thức cơ bản ban đầu cho học sinh
Sự thiếu hiểu biết hay nhầm lẫn về những khái niệm cơ bản có thể cản trở việc hiểu hay hiệu quả khai thác thông tin tiếp nhận từ dự án
- Không để nội dung của dự án lái nội dung bài học mà phải ngược lại
- Không được cả tin ở DHDA:
DHDA không hữu hiệu trong việc dạy học sinh viết, tính toán và giải mã
Trang 35DHDA hầu hết thực hiện việc áp dụng kiến thức sẵn có hơn là kiến thức mới
- Không được phó thác tất cả mọi việc cho công nghệ
Các công cụ kĩ thuật hỗ trơ cho DHDA chứ không phải đó là tiêu điểm của bài học
2.3.8 Đặc điểm học sinh THPT
Theo Đỗ Văn Thông, giai đoạn THPT (từ 15 – 18 tuổi) được gọi là đầu thanh niên ( Trích Giáo trình tâm lý học lứa tuổi và tâm lý học sư phạm, NXB đại học sư phạm TP.HCM), giai đoạn này các em bắt đầu tập làm người lớn Các em có xu hướng vươn lên làm người lớn và luôn cố gắng để mọi người công nhận mình là người lớn
Thái độ học tập của các em có những chuyển biến rõ rệt, các em bắt đầu có tính tự lập hơn, các em có thể tự mình chuẩn bị các hoạt động học tập cho bản thân như chuẩn bị bài báo cáo trước lớp, tìm kiếm tài liệu, tham gia các hoạt động nhóm trong học tập, tự thiết kế những hoạt động ngoài giờ lên lớp, các hoạt động hướng nghiệp
Ở thời điểm này, các em đã đạt được những thành tựu nổi bật về sự phát triển tâm lý như: tư duy trừu tượng phát triển và tính chủ định trong quá trình nhận thức Cùng với cảm giác mình trở thành người lớn, các em có nhu cầu được tôn trọng và đối xử bình đẳng Ý thức về tính người lớn của bản thân phát triển mạnh
mẽ, ý thức sẵn sàng dấn thân để chứng tỏ mình đang hừng hực trong các em Các
em có xu hướng muốn chiếm lĩnh và trở thành vai trò chủ đạo trong hoạt động học tập và hướng nghiệp so với tất cả hoạt động khác của lứa tuổi
Những đặc điểm này rất thích hợp để áp dụng phương pháp DHDA một cách
có hiệu quả
Trang 362.3.9 Giới thiệu môn Công Nghệ 10
Chương trình Công Nghệ 10 có 70 tiết trong đó có 45 tiết lý thuyết và 19 tiết thực hành, 6 tiết ôn tập và kiểm tra Trong từng nội dung cụ thể của mỗi bài đều có những câu hỏi gợi mở giúp học sinh tích cực, chủ động tìm hiểu bài cũng như nắm được trọng tâm bài học (Nguyễn Văn Khôi, 2006)
2.3.9.1 Mục tiêu của môn Công Nghệ 10
Sau khi học xong môn Công nghệ 10 học sinh cần đạt được:
2.3.9.2 Chương trình khung môn Công Nghệ 10
Phần 1: Nông, Lâm, Ngư nghiệp gồm 3 chương:
Chương 1: Trồng trọt, Lâm nghiệp đại cương
Chương 2: Chăn nuôi, Thuỷ sản đại cương
Chương 3: Bảo quản, chế biến Nông, Lâm, Thuỷ sản
Trang 37Phần 2: Tạo lập doanh nghiệp gồm 2 chương:
Chương 4: Doanh nghiệp và lựa chọn lĩnh vực kinh doanh
Chương 5: Tổ chức và quản lý doanh nghiệp
2.3.9.3 Đặc điểm kiến thức của môn Công Nghệ 10 phù hợp với DHDA
Công Nghệ 10 bao gồm các kiến thức về Nông, Lâm, Ngư nghiệp, các kiến thức về chế biến món ăn, chăn nuôi, kinh doanh Nội dung chương trình bao gồm
lý thuyết và thực hành gắn với thực tiễn, phù hợp với việc vận dụng DHDA
Trang 38Chương 3
NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
3.1 Nghiên cứu tài liệu
Người nghiên cứu thu thập tài liệu bằng cách đọc sách, báo, tạp chí khoa học, các nghiên cứu khoa học
Trong nghiên cứu này, người nghiên cứu tiến hành thu thập những tài liệu có liên quan đến phương pháp dạy học tích cực, phương pháp dạy học dự án cũng như thu thập những tài liệu có liên quan đến môn Công nghệ lớp 10
Trên cơ sở những tài liệu thu thập được, người nghiên cứu tiến hành phân tích, đánh giá và tổng hợp, hệ thống lại lý thuyết có liên quan đến dạy học tích cực nói chung và DHDA nói riêng Đồng thời, xây dựng 6 chủ đề học tập môn Công nghệ lớp 10 theo phương pháp DHDA
3.2 Phương pháp chuyên gia
Phương pháp chuyên gia là phương pháp thu thập và xử lý những đánh giá,
dự báo bằng cách hỏi ý kiến chuyên gia trong lĩnh vực hẹp của khoa học – kỹ thuật hoặc sản xuất Phương pháp chuyên gia là phương pháp tổng hợp nhiều phương pháp mang tính kinh nghiệm cao của chuyên gia
Ở đề tài này, người nghiên cứu tiến hành thu thập ý kiến của các thầy (cô) dạy Công nghệ lớp 10 có kinh nghiệm nhiều năm bao gồm thầy Trịnh Lê Minh Vy, Nguyễn Vương Danh và cô Nguyễn Thị Thu Hằng trường THPT Nguyễn Huệ, cô
Trang 39Phan Thị Kim Tuyền trường THPT Tam Phú và cô Nguyễn Thị Thanh Dung trường THPT Nguyễn Văn Tăng
Người nghiên cứu lấy ý kiến chuyên gia bằng hình thức điều tra bảng hỏi, các vấn đề xin ý kiến bao gồm các nội dung trọng tâm của đề tài:
- Mục tiêu dự án
- Nội dung dự án
- Hoạt động dạy học
- Phương pháp DHDA vận dụng vào Công nghệ lớp 10 có phù hợp hay không?
- Phương pháp DHDA có hiệu quả hơn dạy học truyền thống hay không?
- Lợi ích mà DHDA mang lại cho học sinh khi vận dụng vaò môn Công nghệ 10
- Những ý kiến đóng góp để vận dụng DHDA vào môn Công nghệ lớp 10 được thành công
Trang 40Chương 4
KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
4.1 Kết quả thiết kế một số bài giảng sử dụng phương pháp DHDA
Thực hiện đề tài này, người nghiên cứu tiến hành thiết kế 6 chủ đề thuộc 5 chương trong SGK Công Nghệ 10 Đây chỉ là các đề tài dùng để tham khảo để dạy bổ sung trong quá trình dạy học, các bài còn lại GV có thể áp dụng PPDH khác
4.1.1 Chủ đề 1: Trường học xanh
4.1.1.1 Thiết kế đơn vị kiến thức chuẩn
Với chủ đề “Trường học xanh” giáo viên cho học sinh vận dụng kết hợp kiến thức của chương 1 (SGK CN10): “Trồng trọt, Lâm nghiệp đại cương” bao gồm các bài:
- Bài 7: “Một số tính chất của đất trồng.”
- Bài 12: “Đặc điểm, tính chất, kỹ thuật sử dụng của một số loại phân bón thông thường.”
- Bài 15: “Điều kiện phát sinh, phát triển của sâu bệnh hại cây trồng.”
Ngoài kiến thức trong SGK, giáo viên còn cung cấp một số đơn vị kiến thức liên quan sau:
- Kiến thức về một số cây trồng thích hợp với điều kiện nhà trường
- Một số mô hình trường học xanh