1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Quản lý nhà nước đối với các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài trên địa bàn tỉnh Phú Thọ (Luận văn thạc sĩ)

108 178 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 108
Dung lượng 1,81 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Quản lý nhà nước đối với các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài trên địa bàn tỉnh Phú ThọQuản lý nhà nước đối với các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài trên địa bàn tỉnh Phú ThọQuản lý nhà nước đối với các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài trên địa bàn tỉnh Phú ThọQuản lý nhà nước đối với các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài trên địa bàn tỉnh Phú ThọQuản lý nhà nước đối với các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài trên địa bàn tỉnh Phú ThọQuản lý nhà nước đối với các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài trên địa bàn tỉnh Phú ThọQuản lý nhà nước đối với các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài trên địa bàn tỉnh Phú ThọQuản lý nhà nước đối với các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài trên địa bàn tỉnh Phú ThọQuản lý nhà nước đối với các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài trên địa bàn tỉnh Phú ThọQuản lý nhà nước đối với các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài trên địa bàn tỉnh Phú ThọQuản lý nhà nước đối với các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài trên địa bàn tỉnh Phú ThọQuản lý nhà nước đối với các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài trên địa bàn tỉnh Phú ThọQuản lý nhà nước đối với các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài trên địa bàn tỉnh Phú Thọ

Trang 1

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH

NGUYỄN THỊ THU HIỀN

QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI CÁC DOANH NGHIỆP

CÓ VỐN ĐẤU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI

TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH PHÚ THỌ

LUẬN VĂN THẠC SĨ THEO ĐỊNH HƯỚNG ỨNG DỤNG

NGÀNH: QUẢN LÝ KINH TẾ

THÁI NGUYÊN - 2018

Trang 2

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH

NGUYỄN THỊ THU HIỀN

QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI CÁC DOANH NGHIỆP

CÓ VỐN ĐẤU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI TRÊN

ĐỊA BÀN TỈNH PHÚ THỌ

Ngành: Quản lý kinh tế

Mã số: 8.34.04.10

LUẬN VĂN THẠC SĨ THEO ĐỊNH HƯỚNG ỨNG DỤNG

Người hướng dẫn khoa học: TS PHẠM THỊ NGA

THÁI NGUYÊN - 2018

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan Luận văn này do tôi thực hiện dưới sự hướng dẫn của

cô giáo TS Phạm Thị Nga và không trùng lặp với các công trình khác Các tư liệu và số liệu được sử dụng trong luận văn được thu thập từ nguồn số liệu có nguồn gốc rõ ràng, đáng tin cậy và được trích dẫn đầy đủ, chính xác

Thái Nguyên, tháng 12 năm 2018

Tác giả

Nguyễn Thị Thu Hiền

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành luận văn này, tôi xin trân trọng gửi lời cảm ơn tới TS Phạm Thị Nga, người luôn hết sức tận tình hướng dẫn, góp ý, chỉnh sửa giúp

tôi hoàn thành luận văn của mình

Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn đến Ban Giám hiệu, Khoa Quản lý Luật -Kinh

tế, Phòng Đào tạo - bộ phận sau đại học, các nhà khoa học, các thầy cô giáo trong hội đồng đánh giá các cấp đã tạo điều kiện giúp đỡ trong suốt quá trình thực hiện luận văn của mình

Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn tới lãnh đạo, đồng nghiệp đã tận tình giúp đỡ trong quá trình học tập và thực hiện luận văn của mình

Xin cảm ơn sự động viên, hỗ trợ to lớn của gia đình, bạn bè và người thân

đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn của mình!

Xin trân trọng cảm ơn!

Thái Nguyên, tháng 12 năm 2018

Tác giả

Nguyễn Thị Thu Hiền

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT vii

DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU ĐỒ viii

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục tiêu nghiên cứu 2

2.1 Mục tiêu chung 2

2.2 Mục tiêu cụ thể 3

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3

3.1 Đối tượng nghiên cứu 3

3.2 Phạm vi nghiên cứu 3

4 Ý nghĩa khoa học của luận văn 3

5 Kết cấu của luận văn 4

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI CÁC DOANH NGHIỆP CÓ VỐN ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI 5

1.1 Cơ sở lý luận về quản lý nhà nước đối với các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài 5

1.1.1 Những vấn đề chung về doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài 5

1.1.2 Quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài 13

1.2 Kinh nghiệm quản lý nhà nước đối với các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài của một số địa phương ở Việt Nam 28

1.2.1 Kinh nghiệm quản lý nhà nước đối với các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài của thành phố Hà Nội 28

Trang 6

1.2.2 Kinh nghiệm quản lý nhà nước đối với các doanh nghiệp có vốn đầu

tư trực tiếp nước ngoài của tỉnh Bắc Ninh 31

1.2.3 Bài học kinh nghiệm rút ra đối với tỉnh Phú Thọ 34

Chương 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 36

2.1 Các câu hỏi nghiên cứu đặt ra cần giải quyết 36

2.2 Phương pháp nghiên cứu 36

2.2.1 Phương pháp thu thập thông tin 36

2.2.2 Phương pháp xử lý số liệu 38

2.2.3 Phương pháp phân tích 39

2.3 Hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu 40

2.3.1 Các chỉ tiêu đối với các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài 40

2.3.2 Chỉ tiêu đối với các cơ quan quản lý nhà nước 40

Chương 3: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI CÁC DOANH NGHIỆP CÓ VỐN ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH PHÚ THỌ 42

3.1 Khái quát về các doanh nghiệp FDI trên địa bàn tỉnh Phú Thọ 42

3.1.1 Tổng vốn đầu tư thực hiện theo giá hiện hành trên địa bàn tỉnh Phú Thọ 42

3.1.2 Số dự án được cấp phép và vốn đăng ký của doanh nghiệp FDI trên địa bàn tỉnh 45

3.1.3 Tổng sản phẩm của các doanh nghiệp FDI 46

3.1.4 Thu nhập bình quân một tháng của người lao động trong doanh nghiệp FDI 48

3.2 Thực trạng quản lý nhà nước đối với các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài trên địa bàn tỉnh Phú Thọ 49

3.2.1 Thực trạng cải cách thủ tục hành chính 49

3.2.2 Thực trạng hỗ trợ doanh nghiệp 52

3.2.3 Thực trạng công tác thẩm định đối với hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp FDI 53

Trang 7

3.2.4 Thực trạng thanh tra, kiểm tra, giám sát hoạt động của doanh nghiệp

FDI 55

3.2.5 Thực trạng quản lý nhà nước về thực hiện chính sách lao động - tiền lương, bảo hiểm xã hội của doanh nghiệp FDI 58

3.2.6 Thực trạng quản lý người lao động nước ngoài trên địa bàn tỉnh 59

3.2.7 Thực trạng quản lý nghĩa vụ thuế và các nghĩa vụ khác của doanh nghiệp FDI 61

3.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến công tác quản lý nhà nước đối với các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài trên địa bàn tỉnh Phú Thọ 64

3.3.1 Điều kiện tự nhiên 64

3.3.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 65

3.3.3 Năng lực và đạo đức của cán bộ quản lý Nhà nước 66

3.3.4 Hệ thống văn bản pháp luật của địa phương 68

3.3.5 Khả năng ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác quản lý 68

3.3.6 Sự phối hợp giữa các cơ quan chức năng trong công tác quản lý 70

3.4 Đánh giá chung về quản lý nhà nước đối với các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài trên địa bàn tỉnh Phú Thọ 71

3.4.1 Kết quả đạt được 71

3.4.2 Hạn chế 72

Chương 4: GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI CÁC DOANH NGHIỆP CÓ VỐN ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH PHÚ THỌ 75

4.1 Quan điểm, mục tiêu, định hướng nhằm tăng cường quản lý Nhà nước đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài trên địa bàn tỉnh Phú Thọ 75

4.1.1 Quan điểm tăng cường quản lý Nhà nước đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài trên địa bàn tỉnh Phú Thọ 75

4.1.2 Mục tiêu tăng cường quản lý Nhà nước đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài trên địa bàn tỉnh Phú Thọ 76

Trang 8

4.1.3 Định hướng cao tăng cường quản lý Nhà nước đối với doanh nghiệp

có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài trên địa bàn tỉnh Phú Thọ 77

4.2 Giải pháp tăng cường quản lý nhà nước đối với các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài trên địa bàn tỉnh Phú Thọ 78

4.2.1 Lựa chọn các đối tác đầu tư hợp lý, có chính sách khuyến khích doanh nghiệp trong nước phát triển, đảm bảo định hướng phát triển bền vững của tỉnh 78

4.2.2 Nâng cao trình độ cán bộ quản lý 79

4.2.3 Đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra 81

4.2.4 Tiếp tục đẩy mạnh hoạt động xúc tiến đầu tư 82

4.2.5 Đổi mới công tác quản lý các khu công nghiệp FDI, tăng cường giám sát, hỗ trợ các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài 84

4.2.6 Thực hiện tốt chính sách quản lý lao động trên địa bàn tỉnh 85

4.2.7 Chính sách quản lý nghĩa vụ thuế đối với doanh nghiệp FDI 87

KẾT LUẬN 89

TÀI LIỆU THAM KHẢO 91

PHỤ LỤC 93

Trang 9

KCN Khu công nghiệp

NGO Tổ chức phi Chính phủ Non-Governmental Organization NSNN Ngân sách Nhà nước

ODA Hỗ trợ phát triển chính thức Official Development Assistance QLNN Quản lý Nhà nước

XHCN Xã hội chủ nghĩa

TNHH Trách nhiệm hữu hạn

UBND Ủy ban nhân dân

Trang 10

DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU ĐỒ

Bảng:

Bảng 3.1: Tổng vốn đầu tư thực hiện theo giá hiện hành phân theo khu

vực kinh tế tỉnh Phú Thọ năm 2010 và giai đoạn

2015-2017 42 Bảng 3.2: Cơ cấu vốn của khu vực FDI năm 2017 của Phú Thọvà một

số tỉnh lân cận 44 Bảng 3.3: Số dự án được cấp phép và tổng vốn đăng kí của Doanh

nghiệp FDI trên địa bàn tỉnh Phú Thọ năm 2012 và giai đoạn 2015-2017 46 Bảng 3.4: Tổng sản phẩm theo giá hiện hành phân theo ngành kinh tế

tỉnh Phú Thọ giai đoạn 2015- 2017 46 Bảng 3.5: Thu nhập bình quân đầu người/tháng của các doanh nghiệp

tỉnh Phú Thọ năm 2010 và giai đoạn 2015-2017 48 Bảng 3.6: Số lao động làm việc trong các doanh nghiệp tỉnh Phú Thọ

giai đoạn 2015-2017 49 Bảng 3.7: Đánh giá cải cách thủ tục hành chính đối với nguồn vốn FDI

tỉnh Phú Thọ 50 Bảng 3.8: Một số chỉ tiêu của khu vực FDI giai đoạn 2015-2017 54 Bảng 3.9: Đánh giá về công tác thanh tra, kiểm tra tại các doanh nghiệp

FDI trên địa bàn tỉnh Phú Thọ 57 Bảng 3.10: Tình hình nộp Ngân sách Nhà nước của các doanh nghiệp

FDI trên địa bàn tỉnh Phú Thọ 62 Bảng 3.11: Đánh giá năng lực và đạo đức của cán bộ quản lý đối với

doanh nghiệp FDI 67 Bảng 3.12: Đánh giá hiệu quả hệ thống văn bản đối với doanh nghiệp

FDI 68 Bảng 3.13: Đánh giá tình hình ứng dụng công nghệ thông tin trong công

tác quản lý đối với doanh nghiệp FDI 69 Bảng 3.14: Đánh giá tình hình phối hợp giữa các cơ quan chức năng trong

công tác quản lý đối với các doanh nghiệp FDI 71

Biểu đồ:

Biểu đồ 3.1: Cơ cấu vốn đầu tư thực hiện theo giá hiện hành trên địa bàn

tỉnh Phú Thọ năm 2010 và giai đoạn 2015-2017 43

Trang 11

Biểu đồ 3.2: Cơ cấu vốn và cơ cấu tổng sản phẩm của khu vực FDI trong

toàn ngành kinh tế tỉnh Phú Thọ giai đoạn 2015-2017 47

Trang 12

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Hiện nay, tranh thủ nguồn lực từ bên ngoài là bước đi hiệu quả nhất cho các nước đang phát triển, trong đó, nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (Foreign Direct Investment - FDI) thường được các nước lựa chọn trong chiến lược phát triển kinh tế của mình FDI giúp khắc phục tình trạng thiếu vốn mà không gây ra tình trạng nợ đối các nước nhận đầu tư Đối với Việt Nam, FDI

là một kênh quan trọng đối với sự phát triển kinh tế - xã hội nhất là trong bối cảnh nguồn vốn trong nước còn hạn chế như hiện nay

Trong những năm qua, số lượng doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đầu tư vào tỉnh Phú Thọ không ngừng tăng lên Nếu như năm 2012 trên địa bàn tỉnh mới có 85 dự án FDI, vốn đăng ký 491,83 triệu USD, trong đó chỉ có 68 dự án hoạt động, vốn đầu tư 393,2 triệu USD, bình quân 5,78 triệu USD/dự án thì đến năm 2015 trên địa bàn tỉnh có 99 doanh nghiệp FDI, năm

2016 là 108 doanh nghiệp Đến hết năm 2017, Phú Thọ hiện có 135 doanh nghiệp

có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài với tổng số vốn đăng ký gần 1,1 tỷ USD, trong số đó có 120 dự án từ Hàn Quốc với tổng số vốn đăng ký 793 triệu USD, chiếm 80% đầu tư trực tiếp nước ngoài trên địa bàn tỉnh 1

Góp phần vào những thành tựu của các doanh nghiệp FDI trên địa bàn tỉnh Phú Thọ thời gian qua phải kể đến là công tác quản lý của tỉnh Phú Thọ Tỉnh Phú Thọ đã đưa ra nhiều cơ chế, chính sách đồng bộ, phù hợp nhằm hỗ trợ doanh nghiệp phát triển: UBND tỉnh đã cụ thể hóa việc hỗ trợ đầu tư đối với các dự án đầu tư trên địa bàn như chính sách về đất đai, hạ tầng và chi phí san lấp mặt bằng; cung cấp các dịch vụ liên quan đến điện nước tới chân hàng rào khu, cụm công nghiệp, đường giao thông đến ngoài hàng rào các khu công

1 “ Hoạt động của các doanh nghiệp FDI ở Phú Thọ, nhìn từ góc độ thuế”, Trang Thông tin điện tử Đảng ủy khối doanh nghiệp tỉnh Phú Thọ, 2018

Trang 13

nghiệp; hỗ trợ, tạo điều kiện cho doanh nghiệp xúc tiến đầu tư, xúc tiến thương mại…Các sở, ngành và các cấp chính quyền địa phương đã có những hành động

cụ thể hỗ trợ doanh nghiệp về thủ tục hành chính, tiếp cận đất đai, tín dụng… cũng như lắng nghe, nắm bắt và tháo gỡ khó khăn trong sản xuất, kinh doanh cho doanh nghiệp.

Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đạt được nêu trên thì công tác quản

lý của tỉnh thời gian qua đối với các doanh nghiệp FDI trên địa bàn tỉnh Phú Thọ còn nhiều hạn chế như: hiện tượng nhập khẩu thiết bị công nghệ lạc hậu, tình trạng ô nhiễm môi trường, vấn đề chuyển giá, trốn thuế gây thất thu ngân sách nhà nước Mặt khác, việc thúc đẩy tính lan tỏa từ hiệu ứng thu hút FDI và gia tăng kết nối giữa khu vực FDI với doanh nghiệp trong nước là cực kỳ cần thiết trong giai đoạn hiện nay, đặc biệt khi cuộc cách mạng 4.0 đã và đang làm thay đổi phương thức sản xuất trên toàn thế giới theo hướng tự động hóa, sử dụng trí tuệ nhân tạo vào sản xuất, kinh doanh và dịch vụ ở tất cả các ngành, lĩnh vực của nền kinh tế.Thêm vào đó, hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp FDI trên địa bàn tỉnh thời gian qua chưa tương xứng với tiềm năng của địa phương, của doanh nghiệp cũng như các chính sách ưu đãi, hỗ trợ của Nhà nước

Xuất phát từ những lý do trên, tôi lựa chọn đề tài “Quản nhà nước đối

với các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài trên địa bàn tỉnh Phú Thọ” làm đề tài luận văn thạc sĩ

2 Mục tiêu nghiên cứu

Trang 14

đối với các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài trên địa bàn tỉnh trong thời gian tới

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Luận văn tập trung vào nghiên cứu hoạt động quản lý nhà nước đối với các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài trên địa bàn tỉnh Phú Thọ

3.2 Phạm vi nghiên cứu

- Về nội dung: Nghiên cứu hoạt động quản lý nhà nước đối với các doanh

nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài

- Về không gian: Nghiên cứu thực hiện tại tỉnh Phú Thọ, với các doanh

nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài

- Về thời gian: Để đảm bảo tính thời sự và cập nhật của số liệu, luận văn

sử dụng số liệu thứ cấp thu thập từ năm 2015 đến năm 2017; Số liệu sơ cấp thu thập trong năm 2018

4 Ý nghĩa khoa học của luận văn

- Về mặt lý luận: Đề tài góp phần hệ thống hóa những lý luận cơ bản về

quản lý nhà nước đối với các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài Đồng thời, luận văn cũng nghiên cứu và tổng kết một số kinh nghiệm quản lý nhà nước đối với các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài của một

Trang 15

số địa phương ở Việt Nam, từ đó rút ra bài học có thể áp dụng cho tỉnh Phú

Thọ

- Về mặt thực tiễn: Kết quả nghiên cứu của đề tài có thể sử dụng làm tài

liệu tham khảo cho các cơ quan quản lý nhà nước của tỉnh Phú Thọ và các địa

phương khác có điều kiện tương đồng trong việc tăng cường quản lý, thúc đẩy

và thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào địa phương, góp phần vào sự

phát triển của các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài và của địa

phương

Luận văn cũng có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo cho các nhà

nghiên cứu trong quá trình giảng dạy, các học viên trong quá trình học tập

chuyên ngành quản lý kinh tế; và những độc giả quan tâm đến lĩnh vực này

5 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn

được kết cấu thành 4 chương:

Chương 1 Cơ sở lý luận và thực tiễn về quản lý nhà nước đối với các

doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài

Chương 2 Phương pháp nghiên cứu

Chương 3 Thực trạng quản lý nhà nước đối với các doanh nghiệp có vốn

đầu tư trực tiếp nước ngoài trên địa bàn tỉnh Phú Thọ

Chương 4 Giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước đối với các

doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài trên địa bàn tỉnh Phú Thọ

Trang 16

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC

ĐỐI VỚI CÁC DOANH NGHIỆP

CÓ VỐN ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI

1.1 Cơ sở lý luận về quản lý nhà nước đối với các doanh nghiệp có vốn đầu

tư trực tiếp nước ngoài

1.1.1 Những vấn đề chung về doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài

1.1.1.1 Khái niệm đầu tư trực tiếp nước ngoài

Hiện nay, có nhiều quan niệm khác nhau về vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) Mỗi khái niệm đều nhấn mạnh đến một khía cạnh nào đó của FDI

Theo Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF, 1993), FDI được định nghĩa là: “một khoản

đầu tư với những quan hệ, theo đó một tổ chức trong một nền kinh tế (nhà đầu

tư trực tiếp) thu được lợi ích lâu dài từ một doanh nghiệp đặt tại nền kinh tế khác Mục đích của nhà đầu tư trực tiếp là muốn có nhiều ảnh hưởng trong việc quản lý doanh nghiệp đặt tại một nền kinh tế khác đó“

Khái niệm do Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) đưa ra năm 1997 được chấp nhận khá rộng rãi về đầu tư trực tiếp nước ngoài là: “Số vốn đầu tư được thực hiện

để thu được lợi ích lâu dài trong một doanh nghiệp hoạt động ở nền kinh tế khác với nền kinh tế của nhà đầu tư Mục đích của nhà đầu tư là có được tiếng

nói hiệu lực và đạt hiệu quả cao trong quản lý doanh nghiệp" (Nguyễn, 2017,

tr 1)

Ủy ban Liên hợp quốc về Thương mại và phát triển (UNCTAD) định nghĩa đầu tư trực tiếp nước ngoài là: “Một khoản đầu tư bao gồm mối quan hệ trong dài hạn, phản ánh lợi ích và quyền kiểm soát lâu dài của một thực thể thường trú ở một nền kinh tế (nhà đầu tư nước ngoài hoặc công ty mẹ nước ngoài) trong một doanh nghiệp thường trú ở một nền kinh tế khác với nền kinh tế của nhà đầu tư nước ngoài (doanh nghiệp đầu tư nước ngoài trực tiếp, doanh nghiệp

liên doanh hoặc chi nhánh nước ngoài) (Thọ, 2018, tr 465)

Trang 17

Theo khái niệm của Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam năm 1987: “Đầu

tư trực tiếp nước ngoài là việc tổ chức, cá nhân nước ngoài đưa vào Việt Nam vốn bằng tiền nước ngoài hoặc bất kỳ tài sản nào được Chính Phủ Việt Nam chấp thuận để hợp tác kinh doanh trên cơ sở hợp đồng hoặc thành lập xí nghiệp Liên doanh hoặc doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài theo quy định của luật này”

Theo quy định tại khoản 1 điều 2, Luật đầu tư nước ngoài được sửa đổi bổ

sung năm 2000 quan niệm: “Đầu tư trực tiếp nước ngoài là việc nhà đầu tư

nước ngoài đưa vào Việt Nam vốn bằng tiền nước ngoài hoặc bất kỳ tài sản nào để tiến hành các hoạt động đầu tư theo quy định của luật này”

Năm 2005, Luật đầu tư được điều chỉnh và đã đưa ra định nghĩa đầu tư

trực tiếp nước ngoài như sau: “Đầu tư trực tiếp nước ngoài là việc nhà đầu tư

nước ngoài đưa vào Việt Nam vốn bằng tiền và các tài sản hợp pháp khác để tiến hành hoạt động đầu tư”

Từ những khái niệm trên có thể hiểu một cách khái quát về đầu tư trực tiếp nước ngoài như sau: Đầu tư trực tiếp nước ngoài là một loại hình di chuyển vốn quốc tế, trong đó người chủ sở hữu vốn đồng thời là người trực tiếp quản

lý và điều hành hoạt động sử dụng vốn Sự ra đời và phát triển của đầu tư trực tiếp nước ngoài là kết quả tất yếu của quá trình quốc tế hóa và phân công lao động quốc tế

Đặc điểm cơ bản của hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài:

Thứ nhất, hoạt động đầu trực tiếp gắn liền với việc di chuyển vốn đầu tư,

tức là việc di chuyển tiền, công nghệ và các tài sản khác giữa các quốc gia, hệ quả là việc làm tăng lượng tài sản của nền kinh tế nước tiếp nhận đồng thời làm giảm lượng tài sản của nước đi đầu tư

Thứ hai, hoạt động đầu tư trực tiếp được thực hiện thông qua việc góp vốn

thành lập các doanh nghiệp liên doanh hoặc doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài hoặc hình thức hợp đồng hợp tác kinh doanh BBC, hợp đồng PPP; góp vốn mua cổ phần, phần vốn góp của các doanh nghiệp trong nước

Trang 18

Thứ ba, nhà đầu tư nước ngoài là chủ sở hữu nguồn vốn đầu tư với một tỷ

lệ nhất định trong trường hợp góp một phần vốn hoặc toàn quyền sở hữu khi góp toàn bộ vốn

Thứ tư, đầu tư trực tiếp nước ngoài là hoạt động đầu tư của tư nhân hoặc

tổ chức và chịu sự ảnh hưởng của các nền kinh tế trên quy mô toàn cầu, ít bị chịu ảnh hưởng của mối quan hệ chính trị giữa các nước

Thứ năm, mục tiêu cơ bản của hoạt động đầu tư luôn là vì mục đích lợi

nhuận, hoạt động kinh doanh đạt được lợi nhuận cao nhất có thể

Thứ sáu, nhà đầu tư trực tiếp điều hành và kiểm soát dòng vốn đầu tư kinh

doanh

1.1.1.2 Khái niệm doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài

Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam là hình thức đầu tư

mà ở đó các nhà đầu tư nước ngoài đầu tư một phần hoặc toàn bộ vốn để lập ra pháp nhân mới tại Việt Nam theo quy định của luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam nhằm thực hiện mục tiêu chung của các nhà đầu tư Đến nay, có nhiều quan niệm khác nhau về doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài

Doanh nghiệp FDI là những pháp nhân mới được thành lập tại nước nhận đầu tư Trong đó, các đối tác có quốc tịch khác nhau và bên nước ngoài có tỷ

lệ góp vốn tối thiểu đủ đề trực tiếp tham gia quản lý doanh nghiệp [6, 2016] Quan niệm này nhấn mạnh đến vai trò sáng lập của nhà đầu tư nước ngoài trong doanh nghiệp FDI

Luật đầu tư nước ngoài năm 1996 cũng không đưa ra khái niệm về doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài mà chỉ thừa nhận doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài gồm doanh nghiệp liên doanh và doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài Và về mặt pháp lý, các doanh nghiệp liên doanh và doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài đều hoạt động với tư cách công ty trách nhiệm hữu hạn

Luật doanh nghiệp năm 2005 đã phân loại doanh nghiệp theo tiêu chí cách thức góp vốn và chịu trách nhiệm (công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty

Trang 19

cổ phần, công ty hợp danh, doanh nghiệp tư nhân) mà không phụ thuộc vào nguồn gốc vốn góp (tức là không phân biệt doanh nghiệp của nhà đầu tư trong nước hay nước ngoài, của một nhà đầu tư hay nhiều nhà đầu tư Luật đầu tư năm 2005 khi định nghĩa về doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài cũng không còn sử dụng khái niệm doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài và doanh nghiệp liên doanh nữa mà thay vào đó, đã sử dụng khái niệm: “doanh nghiệp

có vốn đầu tư nước ngoài bao gồm doanh nghiệp do nhà đầu tư nước ngoài thành lập để thực hiện hoạt động đầu tư tại Việt Nam; doanh nghiệp Việt Nam

do nhà đầu tư nước ngoài mua cổ phần, sáp nhập, mua lại” Từ đó, có thể hiểu, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam là hình thức đầu tư mà ở

đó các nhà đầu tư nước ngoài đầu tư một phần hoặc toàn bộ vốn để lập ra pháp nhân mới tại Việt Nam theo quy định của luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam nhằm thực hiện mục tiêu chung của các nhà đầu tư

Luật đầu tư năm 2014 không còn quy định về thuật ngữ “doanh nghiệp

có vốn đầu tư nước ngoài” Thay vào đó, khoản 18 điều 3 quy định: “Tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài là tổ chức kinh tế có nhà đầu tư nước ngoài là thành viên hoặc cổ đông”

Như vậy, “Doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (hay còn

gọi là doanh nghiệp FDI) là một hình thức tổ chức kinh doanh, trong đó có một bên hoặc các bên mang quốc tịch khác nhau cùng góp vốn, cùng quản lý cơ sở kinh tế đó vì mục tiêu sinh lời, phù hợp với các quy định luật pháp của nước sở tại và thông lệ quốc tế”

1.1.1.3 Đặc điểm của doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài

Doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài có nhiều loại hình, nhiều cách thức tổ chức hoạt động khác nhau Do vậy, nhận thức các đặc điểm hoạt động của các doanh nghiệp này có vai trò quan trọng trong việc đảm bảo hiệu quả quản lý nhà nước đối với chúng Doanh nghiệp FDI ở Việt Nam có các đặc điểm cơ bản sau:

Trang 20

Thứ nhất, doanh nghiệp FDI là những tổ chức kinh doanh có yếu tố quốc

tế, chủ yếu được thành lập theo hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn, thuộc một phần sở hữu nước ngoài (doanh nghiệp liên doanh) hoặc thuộc toàn bộ sở hữu nước ngoài (doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài) Quá trình thành lập và vận hành của doanh nghiệp FDI luôn có sự cộng đồng trách nhiệm của các bên, đại diện cho lợi ích của các quốc gia khác nhau và được các bên lấy phương châm “cùng có lợi” làm nguyên tắc cơ bản để giải quyết các vấn đề trong quá trình hoạt động của doanh nghiệp;

Thứ hai,doanh nghiệp FDI có sự tham gia quản lý trực tiếp của nước

ngoài, quyền quản lý của các bên phụ thuộc vào tỷ lệ vốn góp Tuy nhiên, các doanh nghiệp đều là những pháp nhân Việt Nam, ra đời và hoạt động theo luật pháp của Nhà nước Việt Nam, đồng thời chịu sự chi phối của nhiều hệ thống pháp luật (bao gồm luật pháp của các quốc gia xuất thân của các bên và luật pháp quốc tế)

Thứ ba, doanh nghiệp FDI thường có phần sở hữu của các công ty đa

quốc gia, nên các quyết định của nó không hoàn toàn phụ thuộc vào khuôn khổ pháp lý của Việt Nam Phần vốn góp của nhà đầu tư nước ngoài càng cao, thì hoạt động của doanh nghiệp FDI có thể càng chịu nhiều sự ảnh hưởng của bên nước ngoài

Thứ tư, doanh nghiệp FDI nằm trên lãnh thổ Việt Nam, chịu sự quản lý

vĩ mô, chịu ảnh hưởng của tình hình chính trị, kinh tế - xã hội của Nhà nước Việt Nam trên các phương tiện môi trường sinh thái, môi trường chính trị, kinh

tế - xã hội…, đồng thời cũng có tác động trở lại đối với đất nước Việt Nam, có thể tích cực hoặc tiêu cực, tuỳ thuộc vào tình hình hoạt động đúng hay chệch hướng, hiệu quả, hay thua lỗ của doanh nghiệp

Thứ năm, doanh nghiệp FDI hoạt động trong một thời hạn nhất định do

Chính phủ nước Cộng Hòa XHCN Việt Nam quyết định đối với từng dự án, thường không quá 50 năm, trường hợp đặc biệt có thể dài hơn nhưng tối đa

Trang 21

không quá 70 năm Hết thời hạn qui định, doanh nghiệp FDI phải giải thể hoặc chuyển cho phía Việt Nam (theo hình thức bồi hoàn hoặc không bồi hoàn) Như vậy, chế độ sở hữu đối với bên nước ngoài chỉ giới hạn trong thời gian hoạt động của doanh nghiệp, trừ số doanh nghiệp phải giải thể, khi hết thời hạn hoạt động những doanh nghiệp FDI đó dù tốt, xấu đều trở thành đơn vị kinh doanh

và sở hữu của phía Việt Nam;

Thứ sáu, doanh nghiệp FDI là nơi gặp gỡ và cọ xát giữa các nền văn hoá

khác nhau, phản ánh sự pha trộn các yếu tố văn hoá của nhiều nước, thể hiện qua triết lý kinh doanh, tập quán, sự hiểu biết pháp luật, ngôn ngữ, lối sống, thói quen, lòng tin, thái độ, phong cách ứng xử của các bên tham gia Văn hoá kinh doanh của doanh nghiệp FDI tương đối phức tạp, nhiều khi mang sắc thái chính trị, tôn giáo rõ rệt, làm cho quá trình triển khai và vận hành doanh nghiệp FDI hết sức phức tạp đòi hỏi Việt Nam phải chuẩn bị đủ các điều kiện cần thiết

để tham gia kinh doanh với các nhà đầu tư nước ngoài một cách bình đẳng và đảm bảo hiệu quả, đồng thời hạn chế tới mức thấp nhất những thua thiệt có thể xảy ra đối với nước mình;

1.1.1.4 Vai trò của doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đối với nền kinh tế

Thứ nhất, góp phần tăng quy mô vốn đầu tư, khắc phục tình trạng thiếu

vốn của nền kinh tế

Theo lý thuyết “vòng luẩn quẩn của sự chậm tiến và cú huých từ bên

ngoài” của Paul Samuelson thì đa số các nước đang phát triển đều thiếu vốn,

do khả năng tích lũy hạn chế Do vậy, để phát triển kinh tế cần có “cú huých”

từ bên ngoài nhằm phá vỡ cái “vòng luẩn quẩn” và do vậy FDI được xem là

giải pháp thực tế nhất đối với các nước đang phát triển

Ở Việt Nam hiện nay, trong điều kiện vốn đầu tư cho phát triển còn nhiều hạn chế do tích lũy nội bộ thấp, điều kiện đổi mới khoa học công nghệ còn khó khăn thì FDI có vai trò quan trọng trong việc giải quyết tình trạng thiếu vốn,

Trang 22

thúc đẩy đầu tư, đổi mới khoa học công nghệ, nâng cao năng suất lao động, phát triển kinh tế, tăng tích lũy nội bộ, thúc đẩy sự phát triển của một số ngành công nghiệp công nghệ cao, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tiến bộ, hiện đại, hiệu quả (Nguyễn, 2017)

Thứ hai, giải quyết việc làm và phát triển nguồn nhân lực

Tạo ra nhiều việc làm cũng như nâng cao hơn nữa chất lượng lao động là một trong những mục tiêu đặt ra khi thực thi chính sách thu hút FDI Vấn đề giải quyết việc làm cho người lao động là một trong những nhân tố quan trọng thúc đẩy tăng trưởng kinh tế góp phần vào sự phát triển bền vững của nền kinh tế Hiện nay, FDI đang có vai trò quan trọng trong việc tạo việc làm, tăng thu nhập, từng bước nâng cao đời sống nhân dân (Vietnamplus.vn, 2015)

Song song với việc giải quyết việc làm là nâng cao chất lượng người lao động, FDI cũng có tác động tích cực trong phát triển nguồn nhân lực của nước chủ nhà thông qua các dự án đầu tư vào lĩnh vực giáo dục đào tạo Các cá nhân làm việc cho các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài có cơ hội học hỏi, nâng cao trình độ bản thân khi tiếp cận với công nghệ và kỹ năng quản lý tiên tiến Các doanh nghiệp FDI cũng có thể tác động tích cực đến việc cải thiện nguồn nhân lực ở các công ty khác mà họ có quan hệ, đặc biệt là các công ty bạn hàng Những cải thiện về nguồn nhân lực ở các nước tiếp nhận đầu tư còn

có thể đạt hiệu quả lớn hơn khi những người làm việc trong các doanh nghiệp FDI chuyển sang làm việc cho các doanh nghiệp trong nước hoặc tự mình thành lập doanh nghiệp mới

Thứ ba, thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng hiện đại

Yêu cầu chuyển dịch cơ cấu kinh tế không chỉ là đòi hỏi của bản thân sự phát triển nội tại nền kinh tế mà còn là đòi hỏi của xu hướng quốc tế hoá đời sống kinh tế đang diễn ra mạnh mẽ hiện nay FDI là một bộ phận quan trọng của hoạt động kinh tế đối ngoại mà thông qua đó các quốc gia sẽ tham gia ngày càng nhiều vào quá trình liên kết kinh tế giữa các nước trên thế giới, đòi hỏi

Trang 23

mỗi quốc gia phải thay đổi cơ cấu kinh tế trong nước cho phù hợp với sự phân công lao động quốc tế

Thông qua đầu tư trực tiếp nước ngoài, một số ngành công nghiệp chủ lực của nền kinh tế ra đời và phát triển: dầu khí, công nghệ thông tin, điện tử

và điện tử gia dụng, công nghiệp chế biến nông sản thực phẩm Đồng thời nó thúc đẩy ứng dụng công nghệ ở nhiều ngành kinh tế, góp phần tăng năng suất lao động và chuyển dịch cơ cấu tỷ trọng các ngành trong nền kinh tế, làm tăng năng lực sản xuất của nền kinh tế quốc dân nhờ có cơ cấu kinh tế tiến bộ hơn Mặt khác, dưới tác động của FDI, một số ngành nghề bị mai một và dần bị xoá

bỏ (Nguyễn, 2017)

Thứ tư, thúc đẩy phát triển khoa học công nghệ

Có thể nói công nghệ là yếu tố quyết định tốc độ tăng trưởng và sự phát triển của mọi quốc gia Đối với các nước đang phát triển thì vai trò này càng được khẳng định rõ Bởi vậy, tăng cường khả năng công nghệ luôn là một trong những mục tiêu ưu tiên hàng đầu của mọi quốc gia trong chiến lược phát triển của mình và mục tiêu này được thực hiện thông qua FDI

FDI được coi là kênh quan trọng để phát triển năng lực công nghệ của nước tiếp nhận đầu tư Đây là những mục tiêu quan trọng được nước chủ nhà mong đợi từ các nhà đầu tư nước ngoài Thông qua FDI, Việt Nam có điều kiện tiếp cận với công nghệ tiên tiến của thế giới để phát triển những ngành công nghệ cao: điện tử, bưu chính viễn thông, công nghệ sinh học Nhiều công nghệ hiện đại thông qua FDI được chuyển giao tới các nước nhận đầu tư đã tạo

ra bước ngoặt quan trọng trong sự phát triển của một số ngành kinh tế mũi nhọn của đất nước Mặt khác, khu vực FDI kích thích các doanh nghiệp Việt Nam đầu tư đổi mới công nghệ, nâng cao chất lượng, đa dạng hóa sản phẩm với giá

cả cạnh tranh (Ngô, 2015)

Thứ năm, FDI vào Việt Nam sẽ tạo ra tác động lan tỏa mà kinh tế học

gọi là “hiệu ứng tràn„ từ đó thu hút các nguồn vốn khác vào Việt Nam như

Trang 24

ODA, NGO Đồng thời, có tác động lan tỏa đến các thành phần kinh tế khác của nền kinh tế thông qua sự liên kết giữa các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài với các doanh nghiệp trong nước, công nghệ và năng lực quản lý, kinh doanh được chuyển giao từ doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài Sự lan tỏa này có thể theo hàng dọc giữa các doanh nghiệp trong ngành dọc hoặc theo hàng ngang giữa các doanh nghiệp cùng ngành Mặt khác, các doanh nghiệp đầu tư nước ngoài cũng tạo động lực cạnh tranh cho các doanh nghiệp trong nước nhằm thích ứng trong bối cảnh toàn cầu hóa, qua đó nâng cao được năng lực của các doanh nghiệp trong nước (Nguyễn, 2017)

1.1.2 Quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài

1.1.2.1 Khái niệm quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài

Quản lý là một chức năng bắt nguồn từ tính xã hội của lao động trong điều kiện phát triển kinh tế, quản lý được xem là thước đo của hầu hết các hoạt động xã hội

QLNN chủ yếu là quá trình tổ chức, điều hành của hệ thống cơ quan hành chính Nhà nước đối với hành vi hoạt động của cong người theo pháp luật Đồng thời, các cơ quan QLNN nói chung còn thực hiện các hoạt động có tính chất chấp hành, điều hành, tính chất hành chính Nhà nước nhằm xây dựng tổ chức

bộ máy và củng cố chế độ công tác nội bộ của mình

Theo giáo trình quản lý hành chính Nhà nước: “Quản lý Nhà nước là sự tác

động có tổ chức và điều chỉnh bằng quyền lực Nhà nước đối với các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người để duy trì và phát triển các mối quan hệ

xã hội và trật tự pháp luật nhằm thực hiện những chức năng và nhiệm vụ của Nhà nước trong công cuộc xây dựng CNXH và bảo vệ tổ quốc XHCN”

QLNN đối với các doanh nghiệp là một bộ phận, đồng thời là nội dung

cơ bản của QLNN về kinh tế Nhà nước có chức năng và nhiệm vụ quản lý đối

Trang 25

với tất cả doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế, nhưng không can thiệp trực tiếp và các hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế nói chung, doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (doanh nghiệp FDI) nói riêng hoàn toàn có quyền tự chủ khi tiến hành hoạt động kinh doanh những gì mà pháp luật không cấm

Doanh nghiệp FDI cũng như các đơn vị khác ngoài sự khi phối của thị trường còn chịu sự điều chỉnh bởi hệ thống pháp luật và sự quản lý vĩ mô của Nhà nước kể từ khi thành lập cho đến khi giải thể Quan hệ giữa Nhà nước và doanh nghiệp FDI trong nền kinh tế thị trường chủ yếu là quan hệ quản lý bằng pháp luật, cơ chế chính sách, kế hoạch, định hướng, hỗ trợ, điều chỉnh và khống chế trong phạm vi cần thiết để đảm bảo lợi ích chung của quốc gia

Như vậy: “Quản lý Nhà nước đối với các doanh nghiệp FDI là tác động

của chủ thể mang tính quyền lực nhà nước bằng nhiều biện pháp tới các doanh nghiệp FDI và hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp nhằm thực hiện những chức năng của nhà nước trên cơ sở pháp luật”

Trong quá trình thực hiện chức năng quản lý của mình, một mặt Nhà nước với vai trò quản lý sẽ đảm bảo cho lợi ích doanh nghiệp, cạnh tranh lành mạnh, phát triển ổn định theo định hướng của Nhà nước, của địa phương Mặt khác, Nhà nước thực hiện chức năng điều hòa xung đột lợi ích giữa các doanh nghiệp FDI và giữa doanh nghiệp FDI với các doanh nghiệp trong nước

Như vậy, Nhà nước với doanh nghiệp FDI có mối quan hệ qua lại với nhau và tác động qua lại với nhau bởi hai khía cạnh:

Về phía Nhà nước, việc thiết lập quản lý đối với các doanh nghiệp FDI

là cần thiết vì quan hệ giữa từng doanh nghiệp với nền kinh tế nói chung là quan hệ giữa bộ phận và tổng thể, nhiều khi quyền lợi giữa bộ phận và tổng thể

là không thống nhất, thậm chí còn mâu thuẫn nhau Vai trò của quản lý nhà nước là để cho lợi ích của từng doanh nghiệp FDI không lấn át nhau, không làm tổn hại tới lợi ích các quốc gia của doanh nghiệp khác

Trang 26

Về phía doanh nghiệp FDI, cũng cần có sự quản lý của Nhà nước, vì đó

chính là chỗ dựa về mặt pháp lý để doanh nghiệp hoạt động Nhà nước không những đóng vai trò trong việc tạo lập môi trường kinh doanh, mà còn hỗ trợ, khuyến khích thúc đẩy doanh nghiệp FDI phát triển Phần lớn hoạt động này thực hiện thông quan sự điều tiết, quản lý của Nhà nước Mặt khác, trong quá trình hoạt động của doanh nghiệp FDI, mỗi bước đi từ khởi đầu đến kết thúc đều phải gắn liền với quá trình quản lý dưới cả góc độ vĩ mô và vi mô Doanh nghiệp FDI có thành công hay không, hoạt động có theo chiến lược phát triển chung của xã hội hay không, không những phụ thuộc vào quản lý kinh tế vi mô của doanh nghiệp mà còn phụ thuộc rất nhiều vào quản lý kinh tế vĩ mô của Nhà nước

Như vậy, Nhà nước có ảnh hưởng quyết định tới cách thức hoạt động của doanh nghiệp FDI, ngược lại, sự phát triển và lớn mạnh của các doanh nghiệp FDI ảnh hưởng tới sức mạnh của Nhà nước và tác động đến kinh tế - xã hội của đất nước Nhà nước có nhiệm vụ hướng các doanh nghiệp FDI sản xuất kinh doanh theo định hướng mà nhà nước đã chọn, đảm bảo quyền tự do kinh doanh của doanh nghiệp, trên cơ sở pháp luật cho phép, Nhà nước với tư cách là chủ thể quản lý có những tác động đến hoạt động của doanh nghiệp, có thể khuyến khích, giúp đỡ doanh nghiệp nếu đem lại hiệu quả kinh tế - xã hội, hoặc có thể ngăn cản, hạn chế nếu hoạt động của doanh nghiệp FDI không theo định hướng hay làm tổn hại đến lợi ích quốc gia

Trong hoạt động quản lý Nhà nước đối với các doanh nghiệp FDI, yếu

tố quan trọng có ý nghĩa quyết định đến mức độ thành công của quản lý là xác định rõ mục tiêu quản lý, từ đó làm rõ nội dung QLNN đối với các doanh nghiệp FDI

Trang 27

1.1.2.2 Vai trò của quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài

Nhà nước có vai trò hết sức quan trọng trong việc huy động và sử dụng

có hiệu quả nguồn vốn FDI Thông qua các công cụ của mình, nhà nước tạo lập môi trường đầu tư hấp dẫn, có sức cạnh tranh cao với khu vực và thế giới Vai trò quản lý nhà nước đối với các doanh nghiệp FDI trước hết được thể hiện ở việc tạo dựng môi trường đầu tư hấp dẫn, điều này thể hiện trên các khía cạnh:

sự ổn định chính trị, môi trường kinh tế vĩ mô, môi trường pháp lý, thủ tục hành chính, cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội

Sự ổn định chính trị là mối quan tâm hàng đầu, là điều kiện tiên quyết để thu hút các nhà đầu tư Nhà nước có vai trò quyết định trong việc lựa chọn, thực thi chính sách kinh tế và chương trình đối ngoại theo hướng mở rộng các quan

hệ song phương và đa phương với các quốc gia và tổ chức quốc tế

Sự ổn định kinh tế vĩ mô thể hiện vai trò quản lý của nhà nước trên các khía cạnh: giải quyết những vấn đề lạm phát, chính sách tài khóa, tiền tệ, tỉ giá hối đoái và xây dựng, củng cố hệ thống tài chính vững mạnh, tạo lập cân đối cung - cầu trong ba lĩnh vực để ổn định kinh tế vĩ mô, duy trì tốc độ tăng trưởng kinh tế và tăng trưởng xuất khẩu cao, ổn định, trên cơ sở đó đảm bảo ổn định các cân đối vĩ mô, tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động kinh doanh có hiệu quả, ổn định, bền vững

Tạo lập môi trường pháp lý đảm bảo và khuyến khích doanh nghiệp FDI

có điều kiện phát triển trong khuôn khổ của pháp luật Cơ chế quản lý kinh tế hiện nay ở nước ta là cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước bằng pháp luật, kế hoạch và các công cụ quản lý khác Nhà nước đóng vai trò quan trọng trong điều hành kinh tế vĩ mô nhằm phát huy các mặt tích cực, hạn chế những mặt tiêu cực của FDI (buôn lậu, trốn thuế, chuyển giá, làm hàng giả, gây ô nhiễm môi trường ) Hệ thống pháp luật càng hoàn chỉnh, phù hợp với các thông lệ của khu vực và quốc tế, không có sự phân biệt giữa các doanh nghiệp

Trang 28

trong hay ngoài nước, công tác quản lý của nhà nước ngày càng đơn giản, tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu tư thì môi trường đầu tư càng có tính cạnh tranh cao và có khả năng hấp dẫn các nhà đầu tư nước ngoài

Xây dựng cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội và đảm bảo an toàn cho sự vận động của FDI Cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội là một trong những yếu tố cơ bản ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh của các nhà đầu tư, là cơ sở hình thành các chỉ tiêu kinh tế - kỹ thuật của các dự án đầu tư Cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội hiện đại sẽ tạo điều kiện cung cấp các dịch vụ thông tin để mở rộng quan hệ thương mại, giao lưu hàng hóa, giảm chi phí sản xuất đầu vào, hạ giá thành sản phẩm, tăng lợi nhuận cho các nhà đầu tư Cơ sở hạ tầng có vai trò quan trọng trong việc quyết định lựa chọn nơi đầu tư của các nhà đầu tư Do vậy, vai trò quản lý nhà nước thể hiện trong việc huy động và phân bổ các nguồn vốn tập trung đầu tư để phát triển cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội

1.1.2.3 Nội dung của quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài

Quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp FDI là việc Nhà nước sử dụng chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chính sách, pháp luật và thông qua bộ máy hành chính để quản lý doanh nghiệp FDI Đồng thời, quản lý nhà nước tạo môi trường kinh doanh ổn định, các điều kiện cần thiết đảm bảo cho sự hình thành

và hoạt động của doanh nghiệp FDI

Như vậy, quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp FDI có các nội dung

cơ bản sau:

Thứ nhất, cải cách thủ tục hành chính

Thủ tục hành chính là một yếu tố rất quan trọng góp phần tạo nên sự thành công của việc thu hút vốn FDI Thủ tục hành chính càng đơn giản, gọn nhẹ, rõ ràng thì sức hút của môi trường đầu tư đối với các nhà đầu tư nước ngoài càng lớn Thủ tục hành chính ảnh hưởng đến tất cả các hoạt động đầu tư, nếu thủ tục hành chính không được quan tâm sát sao dễ tạo ra hiện tượng nhũng

Trang 29

nhiễu, tiêu cực từ đó làm tăng chi phí kinh doanh, làm mất lòng tin của các nhà đầu tư nước ngoài Ngoài quy trình thực hiện chung, cách thực hiện thủ tục hành chính của mỗi địa phương là khác nhau, vì vậy có những nơi nhà đầu tư gặp rất nhiều khó khăn trong việc xin cấp giấy phép đầu tư, đăng ký kinh doanh… Sự đơn giản hóa các thủ tục hành chính sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho nhà đầu tư nước ngoài trong quá trình đăng ký, triển khai thực hiện dự án đầu

tư cũng như giảm các chi phí cả về vật chất và thời gian, tạo dựng được độ tin cậy của các nhà đầu tư nước ngoài

Thứ hai, chính sách hỗ trợ doanh nghiệp

Chính sách và pháp luật có vai trò đặc biệt quan trọng trong quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp FDI Bởi vì, chính sách mang tính định hướng và nền tảng để xây dựng pháp luật, còn pháp luật là phương tiện để cụ thể hóa và thực thi chính sách Vì vậy, chính sách và pháp luật là hai phạm trù song hành

và gắn kết chặt chẽ với nhau Giải quyết đúng đắn mối quan hệ này sẽ góp phần nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp FDI Trong mối quan

hệ giữa chính sách và pháp luật đối với doanh nghiệp FDI thì chính sách bao giời cũng đi trước một bước Chính sách phải phản ánh một cách trung thực, khách quan về khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài và dự báo khả năng, khuynh hướng phát triển của loại hình kinh tế này trong tương lai Nếu chính sách không đảm nhận được vai trò của mình, thì tất yếu sẽ dẫn đến tình trạng khi luật hóa các chính sách thành các văn bản pháp luật, pháp luật hoặc sẽ không

có tính khả thi, hoặc sẽ kìm hãm sự phát triển của khu vực doanh nghiệp FDI

Do đó, khi xây dựng chính sách và pháp luật đối với doanh nghiệp FDI, đòi hỏi phải được đúc kết từ thực tiễn và dự báo được tương lai

Để thu hút các nhà đầu tư FDI, trước mắt, chúng ta cần rà soát lại hệ thống pháp luật bởi thực tế cho thấy một hệ thống pháp luật được xây dựng theo hướng thông thoáng, đầy đủ chặt chẽ sẽ tạo hành lang pháp lý đảm bảo sự

an tâm cho các nhà đầu tư nước ngoài là cơ sở tạo môi trường đầu tư thuận lợi

Trang 30

Hoạt động FDI liên quan đến nhiều chủ thể tham gia và có yếu tố nước ngoài

vì vậy các văn bản ngoài yếu tố đồng bộ, chặt chẽ, tránh chồng chéo gây khó hiểu, còn phải phù hợp với thông lệ quốc tế Mặt khác, hệ thống pháp luật không chỉ tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu tư nước ngoài mà còn có chức năng ngăn cản những tác động tiêu cực mà các nhà đầu tư cố tình vi phạm ảnh hưởng đến lợi ích cộng đồng, an ninh quốc gia và tạo ra sự cạnh tranh bình đẳng giữa các nhà đầu tư Đồng thời với việc xây dựng hệ thống pháp luật, phải xây dựng

hệ thống chính sách kinh tế liên quan đến đầu tư nước ngoài thực sự mềm dẻo, hấp dẫn cũng là điều kiện quan trọng để thu hút vốn FDI như: chính sách quản

lý ngoại tệ, chính sách thương mại, chính sách ưu đãi về tài chính, tín dụng, ưu đãi về thuế

Bên cạnh đó, chúng ta cần có những chính sách hỗ trợ cho doanh nghiệp

để kịp thời giải quyết những vướng mắc, tránh gây phiền hà nhũng nhiễu cho doanh nghiệp, kịp thời áp dụng công nghệ thông tin trong quản lý nhằm kịp thời hỗ trợ doanh nghiệp FDI

Thứ ba, thẩm định hiệu quả hoạt động của dự án FDI là một khâu quan

trọng trong hoạt động quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp FDI Thông qua thẩm định, Nhà nước đánh giá được mức độ phù hợp với quy hoạch phát triển chung của ngành, địa phương, đồng thời thực hiện tốt vai trò điều tiết vĩ mô đối với doanh nghiệp FDI trong toàn bộ nền kinh tế quốc dân Kết quả thẩm định

dự án FDI là căn cứ để quyết định cho doanh nghiệp FDI hoạt động trong nền kinh tế tại địa bàn tiếp nhận đầu tư Vì vậy, chất lượng của công tác thẩm định

dự án FDI sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp FDI Nếu thẩm định dự án FDI không tốt thì trong tương lai sẽ có những doanh nghiệp FDI hoạt động kém hiệu quả, nguy cơ các doanh nghiệp giải thể trước thời hạn rất cao

Thẩm định cấp giấy phép đầu tư cho doanh nghiệp FDI là việc nghiên cứu, phản biện một cách có tổ chức, khách quan và khoa học những nội dung

Trang 31

cơ bản của một dự án FDI nhằm đánh giá tính hợp lý, mức độ hiệu quả và tính khả thi của dự án trước khi quyết định cấp giấy phép đầu tư Qua đó góp phần làm sáng tỏ các vấn đề về thị trường, công nghệ, kỹ thuật, tài chính, xem doanh nghiệp có khả năng hoạt động đóng góp vào tăng trưởng kinh tế cũng như giúp cho địa bàn tiếp nhận đầu tư đạt hiệu quả kinh tế - xã hội hay không và tránh

để tình trạng các doanh nghiệp FDI thực hiện hành vi trốn thuế, chuyển giá

Công tác thẩm định cấp giấy phép đầu tư đối với doanh nghiệp FDI cần phải xuất phát từ lợi ích chung của toàn xã hội, chú trọng đến phương châm hai bên cùng có lợi và bảo đảm tính độc lập tự chủ của nhau trong quá trình hợp tác đầu tư Trong quá trình thực hiện chức năng quản lý của mình, Nhà nước cần tôn trọng, đảm bảo lợi ích chính đáng của các doanh nghiệp FDI trong mối quan hệ hài hòa với lợi ích chung của xã hội

Thứ tư, kiểm tra, thanh tra và giám sát

Nhà nước thực hiện kiểm tra, thanh tra và giám sát đối với doanh nghiệp FDI trên nhiều phương diện, với nhiều hình thức và phương pháp khác nhau Mục đích của công tác này là hướng dẫn doanh nghiệp FDI chấp hành đúng pháp luật, phát hiện những sai sót trong quá trình thực hiện pháp luật để Nhà nước kịp thời có biện pháp uốn nắn, sửa chữa và ngăn chặn sai phạm của doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài Đồng thời, việc thanh tra, kiểm tra, giám sát tạo ra nguồn thông tin phản hồi từ doanh nghiệp FDI để các cơ quan quản lý nhà nước có căn cứ đánh giá hiệu quả và mức độ hợp lý của hệ thống luật pháp, cơ chế chính sách đã ban hành Thanh tra, kiểm tra doanh nghiệp FDI là hoạt động thường xuyên, liên tục của các cơ quan quản lý nhà nước, nhưng không được can thiệp quá sâu vào hoạt động của các doanh nghiệp làm mất quyền tự chủ kinh doanh của doanh nghiệp

Như vậy, Nhà nước thực hiện chức năng thanh tra, kiểm tra và giám sát đối

với doanh nghiệp FDI không chỉ đảm bảo thực hiện pháp luật mà còn nhằm tạo điều kiện giúp đỡ và hỗ trợ doanh nghiệp FDI kịp thời tháo gỡ khó khăn

Trang 32

Thứ năm, thực trạng quản lý về thực hiện nghĩa vụ thuế và các nghĩa vụ

khác của doanh nghiệp FDI

Thuế là nguồn thu nhập chủ yếu của ngân sách nhà nước để đáp ứng các nhu cầu chi tiêu cho mục đích phát triển kinh tế, xã hội Nền kinh tế hội nhập tạo ra mảnh đất màu mỡ cho các doanh nghiệp thuộc mọi loại hình khác nhau phát triển Việc hoàn thiện hệ thống quản lý thu thuế, tăng hiệu quả của thu thuế, đảm bảo công bằng giữa các đối tượng nộp thuế luôn là biện pháp tăng thu thuế hiệu quả ở bất cứ quốc gia nào trong đó có Việt Nam

Từ nhiều năm nay, Việt Nam đã có nhiều chính sách ưu đãi, trong đó có các ưu đãi về thuế dành cho khối DN có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) Không thể phủ nhận, các ưu đãi này đã khiến Việt Nam trở thành một điểm đến hấp dẫn vốn đầu tư nước ngoài, tạo động lực quan trọng cho phát triển và đóng góp tích cực vào tăng trưởng kinh tế

Bên cạnh những mặt tích cực, việc các DN FDI nhận được nhiều ưu đãi, doanh thu “khủng” nhưng đóng góp khiêm tốn trong nghĩa vụ thuế với ngân sách Nhà nước là câu chuyện đang được bàn đến khá nhiều Thực tế, thời gian qua, chính sách thuế của Việt Nam đã có những ưu đãi lớn với các DN FDI Đó là mức thuế suất 10% trong thời gian 15 năm liên tục kể từ năm đầu tiên DN có doanh thu, miễn thuế TNDN trong 4 năm kể từ khi kinh doanh có thu nhập chịu thuế và giảm 50% trong 9 năm tiếp theo Vì thế, có tình trạng một số DN FDI khi hết thời gian ưu đãi thuế đã “khăn gói” về nước

Thuế suất ở Việt Nam không phải quá cao nếu so với mức trung bình thế giới, nhưng Việt Nam miễn thuế quá nhiều, đặc biệt là cho các DN FDI Thuế đối với DN là chi phí Chi phí giảm thì lợi ích DN nhận được nhiều hơn DN FDI được ưu đãi, miễn giảm thuế là không công bằng với các DN nội địa.Vì thế, bài toán làm sao giúp DN trong nước, đặc biệt là DN tư nhân đủ sức cạnh tranh trong bối cảnh dành quá nhiều ưu đãi cho khối DN FDI như hơn chục năm qua là câu chuyện cần được các cơ quan quản lý Nhà nước quan tâm để có

Trang 33

phương án tốt nhất Đã đến lúc phải rà soát lại chính sách ưu đãi và lựa chọn DN FDI, không chạy theo những thành tích xuất khẩu chỉ mang lại giá trị gia tăng cho nước ngoài, còn Việt Nam chỉ nhận được phần lợi ích từ gia công giá rẻ Chúng ta cần mạnh dạn hơn trong chính sách với DN FDI, làm sao để một mặt cải thiện nguồn thu trực tiếp cho ngân sách từ việc nâng mức đóng góp của DN FDI, mặt khác tạo môi trường cạnh tranh công bằng, bình đẳng, nuôi dưỡng nguồn thu từ sự phát triển của DN trong nước Chính sách thuế cần có ưu đãi chọn lọc cho những DN hoạt động trong ngành, lĩnh vực khuyến khích phát triển Đồng thời thực thi những biện pháp cứng rắn hơn nữa đối với hành vi trốn tránh thuế qua các thủ đoạn tinh vi, chống thất thu ngân sách và tạo lập môi trường kinh doanh lành mạnh, bình đẳng

Quản lý việc thực hiện nghĩa vụ thuế của doanh nghiệp là hoạt động tổ chức, điều hành và giám sát của cơ quan QLNN nhằm đảm bảo người nộp thuế chấp hành nghĩa vụ nộp thuế vào ngân sách nhà nước theo quy định của pháp luật về thuế

Thứ sáu, quản lý nhà nước về thực hiện chính sách lao động - tiền lương

của doanh nghiệp

Quản lý nhà nước về lao động là một trong những lĩnh vực quản lý của Nhà nước thông qua các cơ quan nhà nước có thẩm quyền, căn cứ vào nội dung quản lý, sử dụng các biện pháp quản lý nhằm tác động vào đối tượng quản lý, bảo đảm và thúc đẩy quan hệ lao động, thị trường lao động phát triển theo những định hướng mà Nhà nước đã đặt ra Điều 235 - Bộ luật Lao động quy định về các nội dung quản lý nhà nước về lao động, bao gồm:

- Ban hành và tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật về lao động Đây là nội dung quản lý nhằm bảo đảm về xây dựng thể chế phục vụ quản lý, nói cách khác là tạo công cụ quản lý, trong đó công cụ pháp luật là quan trọng nhất của quản lý nhà nước về lao động

Trang 34

- Các nội dung phục vụ nhu cầu phát triển nguồn nhân lực, như: Theo dõi, thống kê, cung cấp thông tin về cung cầu và sự biến động cung cầu lao động; quyết định chính sách, quy hoạch, kế hoạch về nguồn nhân lực, dạy nghề, phát triển kỹ năng nghề, xây dựng khung trình độ nghề quốc gia, phân

bố và sử dụng lao động toàn xã hội Quy định danh mục những nghề chỉ được

sử dụng lao động đã qua đào tạo nghề hoặc có chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia

- Các nội dung nhằm đảm bảo duy trì, ổn định và làm lành mạnh môi trường lao động và quan hệ lao động, như: Tổ chức và tiến hành nghiên cứu khoa học về lao động, thống kê, thông tin về lao động và thị trường lao động,

về mức sống, thu nhập của người lao động; Xây dựng các cơ chế, thiết chế hỗ trợ phát triển quan hệ lao động hài hòa, ổn định và tiến bộ; Thanh tra, kiểm tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm pháp luật về lao động; giải quyết tranh chấp lao động theo quy định của pháp luật

- Hoạt động hợp tác quốc tế về lao động Quan hệ lao động đang đứng trước bối cảnh toàn cầu hóa, hợp tác nói chung và hợp tác về lao động là lĩnh vực quan trọng hiện nay nhiều quốc gia phải quan tâm Do đó, Nhà nước phải thực hiện chính sách hợp tác quốc tế nhằm mở rộng quan hệ quốc tế, mở rộng thị trường lao động để bảo đảm công ăn, việc làm, nâng cao kỹ năng, tay nghề, cung cách làm ăn để người lao động có nhiều cơ hội việc làm, thu nhập cho người lao động

Bên cạnh đó, chính sách tiền lương là một bộ phận quan trọng trong hệ thống chính sách phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Chính sách này liên quan trực tiếp đến lợi ích của người lao động trong xã hội và được Nhà nước quản lý Nhà nước quản lý thống nhất về tiền lương trên cơ sở pháp luật và tiền lương

Thứ bảy, quản lý Nhà nước đối với người lao động nước ngoài

Trang 35

Hội nhập kinh tế quốc tế sâu rộng đang tạo ra dòng di chuyển lao động quốc tế rất đáng quan tâm Sự di chuyển lao động này có tác động mạnh mẽ đến sự phát triển kinh tế - xã hội của các nước trên thế giới Ở Việt Nam, mở cửa thị trường lao động đã và đang tạo điều kiện cho việc di chuyển lao động Việt Nam ra nước ngoài làm việc, đồng thời cũng tạo điều kiện cho lao động nước ngoài vào làm việc tại Việt Nam ngày một gia tăng Vấn đề được đặt ra

là hiện rất cần xây dựng một khung pháp luật thích hợp nhằm quản lý và sử dụng lao động nước ngoài tại nước ta có hiệu quả phục vụ cho phát triển kinh

tế và đảm bảo an sinh xã hội

1.1.2.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài

* Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của tỉnh

Một địa phương muốn phát triển kinh tế cần có nhiều yếu tố và điều kiện khác nhau, ngoài các yếu tố về cơ sở hạ tầng được xây dựng cần có thêm các điều kiện khác như: vị trí địa lý thuận lợi, địa chất nơi đó ổn định, quy mô thị trường rộng lớn, nguồn nhân lực dồi dào, giá nhân công rẻ, nguồn tài nguyên phong phú…

Với vị trí địa lý thuận lợi sẽ tạo ra khả năng phát triển du lịch, xuất khẩu, vận chuyển hàng hóa qua các vùng, các khu vực trên thế giới Những địa phương biết phát huy lợi thế vị trí địa lý của từng vùng kinh tế của đất nước sẽ tạo ra sức hấp dẫn tối đa và có cơ hội thu hút được nhiều vốn FDI

Với tài nguyên thiên nhiên phong phú và đa dạng cho phép phát triển kinh tế tại địa phương đó theo hướng đa ngành và tham gia tích cực vào phân công lao động quốc gia và quốc tế Địa phương có tài nguyên thiên nhiên phong phú, gần nguồn nguyên liệu sẽ làm cho chi phí sản xuất trở nên rẻ hơn, thu hút được nhiều nhà đầu tư nước ngoài hơn

Trang 36

Như vậy, có thể nói điều kiện tự nhiên của một địa phương ảnh hưởng rất lớn đến việc quản lý của Nhà nước đối với các doanh nghiệp nói chung và doanh nghiệp FDI nói riêng Nếu địa phương có điều kiện tự nhiên thuận lợi sẽ giúp doanh nghiệp giảm bớt được chi phí và ngược lại Vì lý do này, nhiều doanh nghiệp vì muốn giảm chi phí, có thể sẵn sàng vi phạm pháp luật Do đó, rất cần sự giám sát và quản lý chặt chẽ của cơ quan Nhà nước

Bên cạnh đó, có thể thấy, doanh nghiệp FDI nằm trên lãnh thổ Việt Nam, chịu ảnh hưởng rất lớn của môi trường chính trị, tình hình chính trị, kinh tế - xã hội… cũng như sự quản lý vĩ mô của Nhà nước Đồng thời, hoạt động của doanh nghiệp FDI cũng có tác động trở lại đối với đất nước Việt Nam, có thể tích cực hoặc tiêu cực, tuỳ thuộc vào tình hình hoạt động đúng hay chệch hướng, hiệu quả, hay thua lỗ của doanh nghiệp

Do đó, sự ổn định vĩ mô của nền kinh tế, cơ chế quản lý công tâm, khách quan, thông thoáng, một môi trường cạnh tranh lành mạnh sẽ tạo tâm lý an tâm cho các doanh nghiệp FDI tiếp tục kinh doanh trên đất nước sở tại Thực tế cho thấy, những quốc gia hay những địa phương có chiến lược thu hút FDI hợp lý,

độ mở cửa của cơ chế quản lý, hệ thống pháp luật đồng bộ, chặt chẽ, không chồng chéo chính là hành lang pháp lý đảm bảo sự an tâm cho các nhà đầu tư nước ngoài

* Năng lực và đạo đức của cán bộ quản lý Nhà nước

Xu hướng tự nhiên của doanh nghiệp FDI bao giờ cũng coi lợi nhuận là mục tiêu duy nhất hàng đầu; trong khi đó, nước chủ nhà lại quan tâm nhiều đến hiệu quả kinh tế - xã hội, đến sự phát triển tổng thể nền kinh tế Do vậy, quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài phải dung hòa được hai lợi ích này, phải cho doanh nghiệp FDI trong khi phục vụ lợi ích của họ cũng đồng thời phải mang lại lợi ích cho bên Việt Nam nói riêng và Nhà nước Việt Nam nói chung Điều này thực hiện được hay không và hiệu quả đến đâu còn phụ thuộc rất nhiều vào năng lực quản lý và đạo đức của Cán bộ quản lý Nhà nước đối với các

Trang 37

doanh nghiệp FDI Thực tế cho thấy, nhiều vi phạm từ phía các doanh nghiệp FDI vừa gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến lợi ích quốc gia như vi phạm về ô nhiễm môi trường, buôn lậu, chuyển giá, trốn thuế, nợ xấu vừa ảnh hưởng đến tâm lý kinh doanh đối với các doanh nghiệp trong nước

Do vậy, tư tưởng nhận thức, thái độ của lãnh đạo các địa phương cũng là yếu tố tác động mạnh đến thu hút vốn FDI vào địa phương đó Nếu lãnh đạo của địa phương thấy được vai trò của vốn FDI thì sẽ có những ưu tiên, tạo môi trường điều kiện thuận lợi, chủ động trong việc tìm đối tác đầu tư nước ngoài phù hợp để thu hút được các nguồn vốn FDI về với địa phương của mình Hoạt động có hiệu quả của các cơ quan xúc tiến đầu tư tại các địa phương cũng có vai trò hết sức quan trọng và là một trong những nhân tố quan trọng để thu hút được vốn FDI

* Hệ thống văn bản pháp luật của địa phương

Hệ thống pháp luật của nước sở tại bao gồm các luật liên quan đến hoạt động đầu tư như Luật Đầu tư, Luật Doanh nghiệp, Luật Bảo vệ môi trường…

và các văn bản hướng dẫn luật, các quy định về hoạt động đầu tư đối với người nước ngoài, các văn bản về quản lý Nhà nước trong hoạt động đầu tư… đây chính là hành lang pháp lý đảm bảo sự an tâm cho các nhà đầu tư nước ngoài

Hệ thống pháp luật được xây dựng theo hướng thông thoáng, đầy đủ chặt chẽ

là cơ sở tạo môi trường đầu tư thuận lợi Hoạt động FDI liên quan đến nhiều chủ thể tham gia và có yếu tố nước ngoài vì vậy các văn bản ngoài yếu tố đồng

bộ, chặt chẽ, tránh chồng chéo gây khó hiểu, còn phải phù hợp với thông lệ quốc tế Hệ thống pháp luật không chỉ tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu

tư nước ngoài mà còn có chức năng ngăn cản những tác động tiêu cực mà các nhà đầu tư cố tình vi phạm ảnh hưởng đến lợi ích cộng đồng, an ninh quốc gia

và tạo ra sự cạnh tranh bình đẳng giữa các nhà đầu tư Đồng thời với việc xây dựng hệ thống pháp luật, phải xây dựng hệ thống chính sách kinh tế liên quan đến đầu tư nước ngoài thực sự mềm dẻo, hấp dẫn cũng là điều kiện quan trọng

để thu hút vốn FDI

Trang 38

* Việc áp dụng công nghệ thông tin trong công tác quản lý

Từ những năm 2000, Ðảng và Nhà nước ta luôn quan tâm, coi trọng phát triển ứng dụng công nghệ thông tin (CNTT) trong hoạt động của cơ quan nhà nước, xác định đây là động lực góp phần thúc đẩy công cuộc đổi mới tạo khả năng đi tắt, đón đầu để thực hiện thắng lợi CNH, HÐH

Hiện nay, thế giới đang bước vào cuộc cách mạng lần thứ tư với sự phát triển vượt trội của công nghệ thông tin, nên việc quản lý, triển khai các văn bản

và thủ tục hành chính trở nên nhanh gọn, dễ dàng và khoa học hơn Công nghệ thông tin giúp các doanh nghiệp kê khai các thông tin dễ dàng, tốn ít thời gian, công sức Ngược lại, việc ứng dụng CNTT trong công tác quản lý đối với các doanh nghiệp đặc biệt là các doanh nghiệp FDI là hết sức quan trọng và cần thiết Việc xây dựng Chính phủ điện tử (CPĐT) là một xu thế tất yếu của sự phát triển hiện nay Để xây dựng Chính phủ điện tử hiệu quả cần đẩy nhanh việc xây dựng, hoàn thiện thể chế tạo cơ sở pháp lý đầy đủ, toàn diện cho việc triển khai, xây dựng phát triển CPÐT, Hoàn thành các cơ sở dữ liệu quốc gia mang tính chất nền tảng, Thiết lập các hệ thống ứng dụng phục vụ người dân,

DN và phục vụ quản lý điều hành của Chính phủ, phát huy vai trò người đứng đầu, nâng cao hiệu quả thực thi và trách nhiệm giải trình

* Sự phối hợp giữa các cơ quan chức năng trong công tác quản lý

Có thể nói doanh nghiệp FDI được coi là loại doanh nghiệp không có cơ quan chủ quản, cơ quan lãnh đạo cao nhất và có quyền quyết định mọi vấn đề của doanh nghiệp là Hội đồng quản trị Giám đốc chịu trách nhiệm trực tiếp trước Hội đồng quản trị Hoạt động của doanh nghiệp FDI là hoạt động theo luật, trong khuôn khổ pháp luật và các cơ quan quản lý nhà nước của Việt Nam chỉ thực hiện chức năng quản lý về mặt Nhà nước đối với các hoạt động của loại hình doanh nghiệp này Những đặc điểm trên cho thấy, để các doanh nghiệp FDI hoạt động đúng định hướng, có hiệu quả cao, phát huy được tác dụng tích cực đến đời sống chính trị, kinh tế - xã hội ở trong nước, ngăn ngừa

Trang 39

và hạn chế đến mức thấp nhất những ảnh hưởng tiêu cực, những rủi ro có thể xảy ra trong quá trình hợp tác đầu tư Việt Nam phải chuẩn bị đủ các điều kiện cần thiết như hệ thống pháp luật, cơ chế chính sách, phương thức và biện pháp quản lý thích hợp, trong đó đặc biệt cần đến sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan chức năng trong quá trình thực hiện công tác quản lý của mình để tránh chồng chéo, vừa kém hiệu quả vửa gây phiền hà, ảnh hưởng đến tâm lý kinh doanh của các nhà đầu tư FDI

1.2 Kinh nghiệm quản lý nhà nước đối với các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài của một số địa phương ở Việt Nam

1.2.1 Kinh nghiệm quản lý nhà nước đối với các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài của thành phố Hà Nội

Với vai trò là Thủ đô - đầu não chính trị, hành chính quốc gia, trung tâm lớn về văn hóa, khoa học, giáo dục, kinh tế và giao dịch quốc tế của cả nước, suốt 10 năm qua sau mở rộng địa giới hành chính, thành phố Hà Nội luôn quán triệt nghiêm túc và chủ động, sáng tạo triển khai thực hiện các văn bản chỉ đạo của Trung ương về đối ngoại và phát triển kinh tế đối ngoại nói chung, thu hút FDI nói riêng phục vụ các chương trình, kế hoạch phát triển của thành phố; góp phần đắc lực thực hiện nhất quán và thành công chính sách đối ngoại chủ động, tích cực hội nhập kinh tế và mở rộng hợp tác quốc tế của cả nước

Kết quả thu hút FDI của Thủ đô đã có những cải thiện tích cực sau mở rộng: Nếu cả giai đoạn kéo dài 19 năm (1989-2007) từ khi bắt đầu mở cửa đến trước khi mở rộng địa giới, Hà Nội (cũ) lũy kế thu hút được 1.253 dự án FDI, với tổng vốn đăng ký đạt 14.589 triệu USD; bình quân thu hút 66 dự án/năm, thì sau khi mở rộng, thu hút FDI vào Hà Nội (mới) có sự tăng trưởng vượt trội

cả về lượng và chất, trở thành động lực mạnh mẽ cho phát triển kinh tế trên địa bàn Thủ đô Chỉ trong 4 năm (2008 -2011), Hà Nội thu hút được 1.146 dự án FDI mới, trung bình 287 dự án/năm

Tính chung giai đoạn 2008-2017, Hà Nội thu hút được 3.237 dự án FDI,

Trang 40

vốn đăng ký 19,1 tỷ USD, vốn thực hiện đạt 10,6 tỷ USD (tỷ lệ đạt 55,2%) Lũy

kế đến hết năm 2017, tổng số dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài còn hiệu lực là 4.250, với vốn đăng ký 27,64 tỷ USD Tính đến tháng 11 năm 2018, thu hút đầu tư nước ngoài (FDI) trên địa bàn đạt 6,5 tỷ USD

Như vậy, có thể nói đẩy mạnh hoạt động xúc tiến, cải thiện môi trường kinh doanh để tạo sự đột phá trong thu hút vốn đầu tư, đặc biệt là nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), là ưu tiên hàng đầu nhằm tạo sức bật cho kinh tế Thủ đô trong thời gian qua Thực tế, để được những kết quả trên là do thành phố Hà Nội đã thực hiện khá thành công công tác quản lý đối với doanh nghiệp FDI, cụ thể:

Song song với việc đẩy mạnh công tác xúc tiến đầu tư, Hà Nội đã và đang tiếp tục đẩy mạnh cải cách hành chính nhằm tháo gỡ khó khăn cho các doanh nghiệp nhà đầu tư, nhất là các thủ tục hành chính về thuế, bảo hiểm xã hội, đất đai, giải phóng mặt bằng Những cam kết mạnh mẽ về cải thiện môi trường đầu tư của Hà Nội thời gian qua đã tạo bước đột phá để doanh nghiệp nói chung và đặc biệt là doanh nghiệp FDI phát triển đạt được sự phát triển mạnh mẽ thời gian qua

Công tác cải cách hành chính của TP Hà Nội thời gian qua tiếp tục có chuyển biến rõ nét Hà Nội cũng đi đầu cả nước về triển khai xây dựng chính quyền điện tử, công nghệ cao, thông qua việc đơn giản và minh bạch hóa thủ tục các chính sách… là yếu tố rất quan trọng để giữ chân các nhà đầu tư Cụ thể, Hà Nội đã và đang tiên phong cả nước về cải cách thủ tục đầu tư và kinh doanh theo hướng minh bạch, thông thoáng hiện đại, thân thiện và chuyên nghiệp Xây dựng chính quyền thân thiện để phục vụ người dân và doanh nghiệp, tạo thuận lợi cho doanh nghiệp khởi nghiệp, tận dụng các nguồn lực đầu tư trong

và ngoài nước phục vụ hiệu quả cho phát triển kinh tế - xã hội của Thủ đô

Thời gian qua, Hà Nội đã tiến hành cải cách thủ tục hành chính một cách mạnh mẽ, toàn diện trong mọi lĩnh vực, trong đó có lĩnh vực liên quan đến cấp

Ngày đăng: 11/05/2019, 07:30

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w