1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

skkn một số biện pháp giúp học sinh lớp 5 khắc phục lỗi sử dụng quan hệ từ theo mô hình VNEN

27 416 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 27
Dung lượng 1,03 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Với mục tiêu: “Giáo dục Tiểu học nhằm giúp học sinh hình thành những cơ sở ban đầu cho sự phát triển đúng đắn và lâu dài về đạo đức, trí tuệ, thể chất,thẩm mỹ và các kĩ năng cơ bản để họ

Trang 1

Nhận xét của hội đồng chấm sáng kiến cấp trường – cấp huyện 27

Trang 2

A MỞ ĐẦU

I Đặt vấn đề

Trong đời sống xã hội, nói đến những lĩnh vực có vai trò quan trọng đốivới sự phát triển của quốc gia, dân tộc thì không thể không kể đến Giáo dục –Đào tạo Bởi Giáo dục góp phần nâng cao dân trí, góp phần bảo vệ chế độ chínhtrị quốc gia, cung cấp nguồn nhân lực có trình độ góp phần phát triển kinh tế vàđào tạo bồi dưỡng nhân tài, xây dựng đội ngũ lao động có trình độ chuyên môn,tay nghề cao Chính vì những lí do đó mà Giáo dục được xác định là quốc sáchhàng đầu đối với sự phát tiển đất nước

Trong hệ thống Giáo dục quốc dân, Giáo dục Tiểu học được xác định làbậc học hết sức quan trọng - bậc học “nền móng” để xây dựng một nền tảngvững chắc cho sự phát triển về đạo đức, nhân cách, tư duy cũng như kĩ năng củatrẻ Với mục tiêu: “Giáo dục Tiểu học nhằm giúp học sinh hình thành những cơ

sở ban đầu cho sự phát triển đúng đắn và lâu dài về đạo đức, trí tuệ, thể chất,thẩm mỹ và các kĩ năng cơ bản để học sinh tiếp tục học trung học cơ sở” (khoản

2 Điều 27 Luật Giáo dục năm 2005), Giáo dục Tiểu học đóng vai trò hết sứcquan trọng trong việc hình thành và phát triển những phẩm chất tốt đẹp cũngnhư những kĩ năng cần thiết cho cuộc sống của trẻ

Trong chương trình Giáo dục Tiểu học được thống nhất trên toàn quốc thìTiếng Việt và Toán là nền tảng cho các môn học khác Bên cạnh môn Toán giúphọc sinh phát triển các năng lực trí tuệ : phân tích, tổng hợp, trừu tượng hóa,khái quát hóa, … rèn luyện cho các em tư duy logic, tính cẩn thận, chính xác, kỉluật, tính sáng tạo, óc thẩm mĩ thì môn Tiếng Việt cũng không kém phần quantrọng Bởi môn Tiếng Việt giúp học sinh hình thành và phát triển tư duy ngônngữ Thông qua môn Tiếng Việt, học sinh sẽ học được cách giao tiếp, truyền đạt

tư tưởng, cảm xúc của mình một cách chính xác và biểu cảm Cụ thể, môn TiếngViệt ở Tiểu học:

Hình thành và phát triển ở học sinh các kĩ năng sử dụng Tiếng Việt (nghe,nói, đọc, viết) để hoạt động và giao tiếp trong các môi trường hoạt động của lứatuổi

Trang 3

Thông qua việc dạy và học Tiếng Việt góp phần rèn luyện các thao táccủa tư duy.

Cung cấp cho học sinh những kiến thức sơ giản về Tiếng Việt và nhữnghiểu biết sơ giản về xã hội, tự nhiên và con người, về văn hóa, văn học của ViệtNam và nước ngoài

Bồi dưỡng tình yêu Tiếng Việt và hình thành thói quen giữ gìn sự trongsáng, giàu đẹp của Tiếng Việt, góp phần hình thành nhân cách con người ViệtNam xã hội chủ nghĩa

Đối với học sinh lớp 5, chương trình các môn học nói chung và mônTiếng Việt nói riêng được thực hiện với mục tiêu cao hơn, hoàn thiện hơn Ởgiai đoạn này, các em được cung cấp những khái niệm cơ bản về một số đơn vịngôn ngữ và quy tắc sử dụng Tiếng Việt làm nền móng cho việc phát triển kĩnăng Cụ thể: ngoài việc rèn luyện các kĩ năng về nghe, nói, đọc, viết các emcòn được học các bài về kiến thức Tiếng Việt (từ vựng, ngữ pháp, văn bản,phong cách, …)

Một mạch kiến thức mà bản thân tôi nghĩ rằng không thể không nhắc đếnkhi muốn học sinh của mình dùng từ, đặt câu một cách chính xác đó là kiến thức

về Luyện từ và câu Bởi Luyện từ và câu có nhiệm vụ cung cấp kiến thức sơgiản về từ và câu, giúp học sinh hoàn thiện kĩ năng sử dụng Tiếng Việt hướngtới phát triển ngôn ngữ văn hóa và trí tuệ Một bộ phận kiến thức không thểthiếu nhằm giúp đạt được mục tiêu Luyện từ và câu đó chính là quan hệ từ.Quan hệ từ được biết đến như là chất keo dính nối kết các từ ngữ, các câu văn,đoạn văn lại với nhau một cách chặt chẽ và có ý nghĩa hơn

Sử dụng tốt các quan hệ từ học sinh sẽ hoàn thiện hơn cho mình kĩ năngdùng từ đặt câu, giúp các em học tốt hơn ở các môn học khác và làm nền tảnggiao tiếp trong cuộc sống

Hiểu được tầm quan trọng của môn Tiếng Việt cũng như tầm quan trọngcủa quan hệ từ, do đó tôi quyết định chọn đề tài “Một số biện pháp giúp học sinhlớp 5 khắc phục lỗi sử dụng quan hệ từ”

II Mục đích (mục tiêu) nghiên cứu

Trang 4

- Giúp học sinh khắc phục một số lỗi thường gặp, hướng tới việc học tốt

và sử dụng thành thạo các quan hệ từ cũng như cặp quan hệ từ

- Giúp học sinh vận dụng tốt kiến thức về quan hệ từ để dùng từ, đặt câuchính xác phù hợp với từng tình huống, hoàn cảnh

- Trang bị cho các em công cụ vững chắc để học tốt các môn học khác,học tốt ở các cấp học cao hơn và kiến thức cơ bản để bước vào cuộc sống

- Hình thành ở các em niềm say mê, hứng thú đối với kiến thức Luyện từ

và câu, thói quen học tập tự giác, tích cực

B GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ

I Cơ sở lí luận của vấn đề

Theo từ điển Tiếng Việt, từ là đơn vị sẵn có trong ngôn ngữ, là đơn vị nhỏnhất có cấu tạo ổn định, mang nghĩa hoàn chỉnh Câu là một đơn vị ngữ phápgồm một hay nhiều từ có liên kết ngữ pháp với nhau Từ đó có thể thấy, từ vàcâu là hai yếu tố vô cùng quan trọng trong hệ thống ngôn ngữ Việc nắm vữngkiến thức về từ và câu góp phần quyết định việc đạt được mục tiêu trong dạykiến thức Luyện từ và câu

Để dạy tốt mạch kiến thức về quan hệ từ cũng như muốn giúp các emkhắc phục khó khăn trong vấn đề lựa chọn chính xác quan hệ từ cần hiểu rõ cácyếu tố sau:

Quan hệ từ là những từ biểu thị quan hệ ngữ pháp giữa các từ, các cụm từ,giữa các bộ phận câu hoặc giữa các vế câu với nhau Chúng không thể đảmnhiệm được vai trò thành tố chính lẫn vai trò thành tố phụ trong cụm từ, chúngcũng không thể đảm nhiệm được chức năng của các thành phần câu Chúng chỉthực hiện được chức năng liên kết các từ, các cụm từ hay các câu với nhau Vìthế chúng còn được gọi là các từ nối, kết từ hoặc từ quan hệ

Cặp quan hệ từ là những quan hệ từ dùng để nối các vế câu trong một câu

Có bốn loại cặp quan hệ từ thường gặp là:

+ Cặp quan hệ từ biểu thị quan hệ nguyên nhân – kết quả

+ Cặp quan hệ từ biểu thị quan hệ giả thiết – kết quả, điều kiện – kết quả.+ Cặp quan hệ từ biểu thị quan hệ tương phản

Trang 5

+ Cặp quan hệ từ biểu thị quan hệ tăng tiến.

Trong chương trình lớp 5, quan hệ từ được liên kết chặt chẽ với phần liênkết câu bằng cách sử dụng từ ngữ nối Nếu không sử dụng thành thạo quan hệ từthì học sinh rất khó để tiếp cận với kiến thức về liên kết câu như đã nêu trên

Có thể thấy quan hệ từ là yếu tố giữ vai trò rất quan trọng trong chươngtrình Tiếng Việt ở Tiểu học, bởi các yếu tố này sẽ hỗ trợ các em trong việc thựchiện nối các từ, các cụm từ, các vế câu trong một câu hay nối các đoạn văn vớinhau Qua đó giúp các em học tốt môn Tiếng Việt cũng như các môn học khác.Không những vậy, việc học tốt quan hệ từ còn giúp các em biết cách giao tiếp,

cư xử với mọi người trong cuộc sống hằng ngày một cách lịch sự, nhã nhặn hơn

Chính vì vậy, việc rèn luyện cho học sinh kĩ năng sử dụng thành thạo cácquan hệ từ, cặp quan hệ từ là một nhiệm vụ cần thiết, cấp bách và mang tính lâudài

II Thực trạng vấn đề nghiên cứu

Chúng ta không thể đưa ra hướng giải quyết bất cứ một vấn đề nào nếunhư chúng ta không nắm rõ được thực trạng của vấn đề và nguyên nhân dẫn đếnthực trạng đó Khi chưa áp dụng biện pháp của sáng kiến kinh nghiệm, tôi đã tổchức khảo sát chất lượng học sinh lớp 5D sau khi dạy xong kiến thức về quan hệ

từ (giữa học kì II năm học 2016 -2017) nhìn chung kết quả còn rất thấp Kết quảkhảo sát như sau:

Tổng số học sinh là 24 em Số lượng Tỉ lệ

Tổng số bài chưa hoàn thành 7 29,17%

Với kết quả như vậy, bản thân tôi rất trăn trở, suy nghĩ, tự tìm hiểu nhữngthuận lợi, khó khăn và nguyên nhân dẫn đến thực trạng trên

1 Thuận lợi

* Từ mô hình VNEN

Với mô hình VNEN, cấu trúc một bài học được chia thành ba phần: hoạtđộng cơ bản (giúp học sinh trải nghiệm, tìm tòi, khám phá, phát hiện kiến thứcmới thông qua các hoạt động), hoạt động thực hành (giúp học sinh áp dụng kiến

Trang 6

thức đã học rèn luyện kĩ năng) và hoạt động ứng dụng (giúp học sinh vận dụngkiến thức đã học vào thực tế cùng với sự giúp đỡ của cha mẹ và người lớn)

Trong quá trình giảng dạy, tôi nhận thấy việc áp dụng mô hình VNENđem lại một số thuận lợi nhất định trong việc giúp học sinh rèn kĩ năng sử dụngquan hệ từ, như sau:

- Mỗi bài học trong sách hướng dẫn học Tiếng Việt đều có phần mục tiêu

rõ ràng để học sinh xác định được mình nắm được bao nhiêu phần kiến thức; cókênh hình, kênh chữ rõ ràng Mỗi hoạt động đều có logo để học sinh tự giác biếtmình phải làm gì

- Học tập theo mô hình VNEN, học sinh phát huy được tính tự học, tựgiác, tự quản, sáng tạo, sự tự tin và hứng thú trong học tập

- Với phương pháp dạy học mới này các em phát triển được kĩ năng hợptác, kĩ năng giao tiếp, kĩ năng tự đánh giá lẫn nhau trong giờ học

* Từ Nhà trường

- Được sự quan tâm của chính quyền địa phương, được sự giúp đỡ củalãnh đạo nhà trường lớp học đầy đủ đồ dùng dạy học, phòng học khang trangrộng rãi, số lượng học sinh trên mỗi lớp đảm bảo phù hợp với điều kiện dạy môhình mới

- Nhà trường thường xuyên tổ chức chuyên đề, tập huấn rút kinh nghiệmtheo mô hình mới

* Từ giáo viên

- Giáo viên giảng dạy một cách nhiệt tình, tận tâm, luôn cố gắng tìm tòi,sáng tạo những phương pháp giảng dạy sao cho học sinh có thể tiếp thu bài mộtcách hiệu quả nhất

- Luôn học hỏi kinh nghiệm từ đồng nghiệp

Trang 7

- Tạo điều kiện cho giáo viên hiểu học sinh hơn và đồng thời tạo ra mốiliên hệ giữa phụ huynh với giáo viên và Nhà trường.

2 Khó khăn

* Từ mô hình VNEN

- Mô hình VNEN đòi hỏi học sinh phải có khả năng giao tiếp tốt, tuynhiên học sinh của chúng tôi là học sinh nông thôn, các em ít có cơ hội tiếp xúcbên ngoài nên kĩ năng giao tiếp của các em còn hạn chế

- Mô hình này đòi hỏi các em phải tự tìm tòi, khám phá kiến thức nhưngkhả năng phân tích của các em còn hạn chế nên một số em có dấu hiệu “theokhông kịp” dẫn đến chán nản hoặc lười làm việc

- Việc học ngồi theo nhóm cả buổi học tạo điều kiện cho một bộ phận họcsinh nói chuyện riêng

- Làm việc dưới sự điều khiển của nhóm trưởng khiến một số em ỷ lại vàonhóm trưởng không tập trung học

* Từ phụ huynh

- Một số phụ huynh có hoàn cảnh gia đình khó khăn, phải đi làm ăn xanên ít có thời gian quan tâm đến việc học của con em dẫn đến tình trạng giaohẳn việc học của con mình cho giáo viên

- Sự tiếp cận của phụ huynh đối với mô hình mới còn nhiều hạn chế nênviệc giúp đỡ con em khi ở nhà còn gặp khó khăn

3 Nguyên nhân

Trang 8

Qua quá trình tìm hiểu cũng như trong thực tế giảng dạy, tôi nhận thấyviệc học sinh gặp khó khăn trong việc sử dụng quan hệ từ là do những nguyênnhân sau:

* Nguyên nhân khách quan

- Trong chương trình Tiểu học thì đến lớp 5 học sinh mới được làm quenvới quan hệ từ Phân phối chương trình cho phần này rất ít mà yêu cầu học sinhnắm được nhiều quan hệ từ và cặp quan hệ từ cũng như sử dụng chúng một cáchlinh hoạt thì tương đối khó khăn đối với các em

- Học sinh Tiểu học thì có đặc điểm nhanh nhớ nhưng cũng rất mau quên.Các bài tập được phân bố không tập trung, xen lẫn nhiều nội dung trong một tiếthọc dễ khiến học sinh nhầm lẫn nội dung này với nội dung kia

- Một số học sinh có khả năng tiếp thu chưa tốt lại rơi những gia đình cóhoàn cảnh khó khăn, phụ huynh ít có thời gian quan tâm đến việc học của connên giao hết việc học của con cho giáo viên

- Trong thực tế giảng dạy cho thấy tình trạng học sinh tiếp thu kiến thức còn thụ động, ít chịu khó suy nghĩ, tìm tòi cách học để nhớ lâu kiến thức

- Học sinh chưa thuộc kỹ các quan hệ từ

- Học sinh chưa thành thạo khi xác định mối quan hệ mà mỗi quan hệ từbiểu thị

- Học sinh nhầm lẫn mối quan hệ giữa quan hệ từ này với quan hệ từkhác

* Nguyên nhân chủ quan

- Một số học sinh có khả năng tiếp thu chậm, kĩ năng phân tích chưa tốtnên không theo kịp các bạn dẫn đến chán và lười học

- Tư duy của lứa tuổi Tiểu học chịu ảnh hưởng nhiều bởi trực quan sinhđộng nhưng yếu tố quan hệ từ đòi hỏi các em phải nắm được thuộc tính bêntrong nó dẫn đến các em hay nhầm lẫn khi sử dụng

- Khả năng tập trung ghi nhớ của học sinh chưa vững nên dễ nhớ nhưngrất nhanh quên

Trang 9

Với những thuận lợi và khó khăn nêu trên, bản thân tôi nhận thấy việcgiúp học sinh học thuộc các quan hệ từ và sử dụng chúng một cách linh hoạt,phù hợp với hoàn cảnh nhất định là vô cùng quan trọng Qua thời gian tìm tòi,học hỏi và đúc rút kinh nghiệm, tôi đã tìm được một số giải pháp giúp giải quyếtvấn đề nêu trên.

III Các giải pháp đã tiến hành

Qua nghiên cứu, tìm hiểu về nội dung chương trình Tiếng Việt lớp 5 cùngvới những khó khăn mà học sinh mắc phải Qua kết quả khảo sát đầu năm cũngnhư tìm hiểu nguyên nhân dẫn đến việc học sinh sử dụng sai quan hệ từ và xácđịnh sai mối quan hệ mà quan hệ từ đó biểu thị, tôi đưa ra một số giải phápnhằm giải quyết khó khăn, giúp học sinh lớp 5 hạn chế việc nhầm lẫn trong xácđịnh quan hệ từ như sau:

- Giải pháp 1: Giúp học sinh rèn kĩ năng sử dụng quan hệ từ

- Giải pháp 2: Giúp học sinh học tốt quan hệ từ thông qua trò chơi

1 Giải pháp 1: Giúp học sinh rèn kĩ năng sử dụng quan hệ từ.

2.1 Hình thành khái niệm quan hệ từ

Muốn học sinh sử dụng quan hệ từ đúng thì việc giúp các em nắm chắckhái niệm “quan hệ từ” là nhiệm vụ vô cùng quan trọng

Để thực hiện nhiệm vụ trên, khi hình thành kiến thức cho học sinh vềquan hệ từ ở hoạt động 2 bài 11C: Môi trường quanh ta, tôi cho học sinh phântích thật kĩ và cho biết từ in đậm dùng để làm gì trong các ví dụ sau:

Ví dụ:

Rừng say ngay và ấm nóng.

Ma Văn Kháng

Tiếng hót dìu dặt của Họa Mi giục các loài chim dạo lên những khúc

nhạc tưng bừng, ca ngợi núi sông đang đổi mới.

Võ Quảng

Hoa mai trổ từng chùm thưa thớt, không đơm đặc như hoa đào Nhưng

cành mai uyển chuyển hơn cành đào.

Theo Mùa xuân và phong tục Việt Nam

Trang 10

Bước 1: Tôi giao việc cho tất cả các cá nhân đọc, phân tích ví dụ và tìmcâu trả lời.

Bước 2: Cá nhân trao đổi với bạn bên cạnh về câu trả lời của mình

Bước 3: Nhóm trưởng tổ chức cho các bạn thống nhất ý kiến trong nhómrồi báo cáo với giáo viên

Bước 4: Giáo viên tổ chức cho học sinh chia sẻ câu trả lời của mình trước

lớp: Các từ in đậm dùng để nối các từ ngữ và biểu thị quan hệ giữa các từ ngữ được nối.

Tôi yêu cầu học sinh thảo luận và cho biết các từ in đậm đó dùng để nốicác từ ngữ nào với nhau?

Sau khi thảo luận, tôi cho học sinh chia sẻ câu trả lời và chốt lại câu trả lờiđúng:

Từ và nối từ say ngay với từ ấm nóng

Từ của nối từ tiếng hót với từ Họa Mi

Từ như nối từ hoa mai với hoa đào

Từ nhưng: trường hợp này khác những trường hợp trước, tôi giúp họcsinh phân tích: từ nhưng đứng ở đầu một câu nên nó không nối các từ ngữ vớinhau mà nó nối nội dung của hai câu văn với nhau

Từ những ví dụ trên, học sinh dễ dàng rút ra được khái niệm về quan hệtừ

2.2 Một số lỗi học sinh thường mắc phải

Muốn giải quyết được một vấn đề nào đó thì bắt buộc chúng ta phải tìmhiểu được vấn đề phát sinh từ đâu, như vậy chúng ta mới có hướng giải quyếtđúng đắn và hiệu quả Đối với vấn đề học sinh học tập chưa tốt phần quan hệ từ,căn cứ vào các bài làm của học sinh, tôi thống kê được những lỗi thông thường

mà học sinh mắc phải như sau:

Thứ nhất: Lỗi dùng sai quan hệ từ hoặc cặp quan hệ từ

Thứ hai: Lỗi dùng quan hệ từ không thích hợp về nghĩa

Thứ ba: Lỗi dùng thừa quan hệ từ

Thứ tư: Lỗi dùng thiếu quan hệ từ

Trang 11

Thứ năm: Lỗi dùng sai quan hệ từ trong viết văn.

2.3 Cách khắc phục lỗi khi sử dụng quan hệ từ

a) Lỗi dùng sai quan hệ từ hoặc cặp quan hệ từ.

Hình 1 & 2: Bài làm của học sinh - mắc lỗi sử dụng sai quan hệ từ, cặp quan

Trang 12

kiểm tra bài nhau vào đầu giờ mỗi buổi học Đây cũng là một biện pháp giúphọc sinh rèn luyện thêm trí nhớ của mình.

Đối với những học sinh khó khăn trong học tập, khả năng ghi nhớ chậm,tôi áp dụng cách cho các em lập bảng các quan hệ từ vào những tờ giấy bìa cứngsau đó kẹp vào bìa cuốn vở Tiếng Việt, khi nào quên có thể lấy ra xem Trongtrường hợp các em thay vở thì chỉ cần lấy tờ giấy đó kẹp sang vở mới tránh mấtcông phải viết lại nhiều lần

Với cách làm như trên, tôi nhận thấy học sinh đã có thể ghi nhớ tên củacác quan hệ từ và cặp quan hệ từ một cách bền vững

b) Lỗi dùng quan hệ từ không thích hợp về nghĩa

Hình 3: Bài làm của học sinh - mắc lỗi dùng quan hệ từ không thích hợp về nghĩa

Ví dụ trên cho ta thấy học sinh dùng đúng quan hệ từ nhưng lại chọn vế câu chưa phù hợp với quan hệ từ Nguyên nhân là vì các em chưa chú ý đến nghĩa của câu văn và chưa nắm rõ mối quan hệ mà mỗi quan hệ từ biểu thị

Với ví dụ trên ta có thể thấy việc học sinh hiểu được mối quan hệ mà mỗiquan hệ từ biểu thị và sử dụng chúng vào đúng trường hợp, đúng ngữ cảnh cũngkhông kém phần quan trọng Do đó, tôi dẫn dắt học sinh tìm hiểu mối quan hệ

mà một số quan hệ từ thường gặp như sau:

Trước khi kết thúc hoạt động cơ bản của bài 20C tiết 1 hướng dẫn họcTiếng Việt 5: Hoạt động tập thể Học sinh đọc xong phần ghi nhớ về các quan

Trang 13

hệ từ và cặp quan hệ từ dùng để nối các vế câu trong câu ghép Tôi giúp họcsinh diễn giải về nghĩa của một số từ ngữ hay một số mối quan hệ mà quan hệ từ

đó biểu thị để khi nối các vế trong câu ghép học sinh biết các phân tích và sửdụng quan hệ từ chính xác hơn Chẳng hạn:

Quan hệ từ “của” dùng để nối các từ ngữ chỉ đặc điểm, tính chất, hoạt động, … của bản thân sự vật đó hay nói cách khác quan hệ từ “của” dùng để biểu thị quan hệ “sở hữu”.

Quan hệ từ “nhưng” dùng để biểu thị quan hệ “tương phản” nghĩa là hai

sự vật, hiện tượng … có tính chất trái ngược, đối chọi nhau rõ rệt.

Quan hệ từ “rồi” dùng để nối các từ ngữ chỉ đặc điểm, tính chất, hoạt động, … theo một trình tự “trước – sau”.

Đối với các cặp quan hệ từ, sách hướng dẫn học Tiếng Việt đã cung cấpcho các em một số cặp quan hệ từ và mối quan hệ mà chúng biểu thị Tuy nhiên

để giúp học sinh sử dụng thành thạo và làm tốt một số bài tập chẳng hạn : Chọnquan hệ từ thích hợp điền vào chỗ chấm – dạng bài tập này rất hay dùng trongnối các vế câu ghép bằng quan hệ từ

Đối với dạng bài tập này, học sinh phải phân tích được nội dung, ý nghĩacủa các vế câu thì mới có thể lựa chọn được quan hệ từ thích hợp Do đó, tôihướng dẫn đồng thời cung cấp cho học sinh một số khái niệm như sau:

Cặp quan hệ từ : Vì … nên … ; Do … nên … ; Nhờ … mà … ( biểu thị quan hệ nguyên nhân – kết quả)

+ Nguyên nhân là nhân tố tạo ra kết quả hoặc làm phát sinh sự việc đangnói đến

+ Kết quả là cái do một hay nhiều hiện tượng khác gọi là nguyên nhângây ra, tạo ra trong quan hệ với các hiện tượng ấy

Cặp quan hệ từ : Nếu… thì … ; Hễ … thì … ( biểu thị quan hệ giả thiết – kết quả, điều kiện – kết quả)

+ Giả thiết: điều coi như là có thật, nêu ra để phân tích, suy luận

+ Điều kiện là cái cần phải có để cho một cái khác có thể có hoặc có thểxảy ra

Ngày đăng: 10/05/2019, 18:50

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w