1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

skkn một vài giải pháp giúp phát triển kỹ năng nói tiếng anh cho học sinh lớp 5

36 447 5

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 36
Dung lượng 29,23 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Một lý do quan trọng mà học sinh trường Nguyễn Thị Minh Khai cũng như các trường tiểuhọc trong huyện gặp phải là học sinh không có môi trường học tập như: sinh hoạtngoại khóa, sinh hoạt

Trang 1

PHÒNG GD-ĐT KRÔNG ANA

TRƯỜNG TH NGUYỄN THỊ MINH KHAI

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

ĐỀ TÀI:

MỘT VÀI GIẢI PHÁP GIÚP PHÁT TRIỂN KỸ NĂNG NÓI

TIẾNG ANH CHO HỌC SINH LỚP 5

Họ và tên tác giả: Nguyễn Thị Thanh Thúy Đơn vị công tác: Trường TH Nguyễn Thị Minh Khai Trình độ đào tạo: Đại học sư phạm

Môn đào tạo: Sư phạm Tiếng Anh

Krông Ana, tháng 4 năm 2019

Trang 2

III Các giải pháp đã tiến hành để giải quyết vấn đề 8

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT

Trang 3

STT Chữ viết tắt Chữ viết thường

Trang 4

I Đặt vấn đề

1 Lý do lý luận:

Ngày nay, chúng ta đã thấy rõ rằng ngoại ngữ là yếu tố đặc biệt góp phần phát

triển khả năng của mọi dân tộc Cùng với sự phát triển vũ bão của cuộc “Cách mạng khoa học-công nghệ 4.0”, chiến lược phát triển ngoại ngữ đã trở thành bộ

phận tất yếu của chiến lược con người cho tương lai ở mọi quốc gia Ngoại ngữ tạođiều kiện để cho các dân tộc trên thế giới ngày càng hiểu và xích lại gần nhau hơn.Việc sử dụng công nghệ 4.0 vào dạy học ngoại ngữ ngày nay chở nên phổ biến hơn

ở Việt Nam Nước ta đang đứng trước thách thức to lớn có tính chất sống còn tronglịch sử: phải tìm ra con đường sáng tạo để có thể hội nhập vào khu vực và thế giới,thực hiện thành công sự nghiệp công nghiệp hóa-hiện đại hóa, xây dựng, phát triểnđất nước trong thời đại bùng nổ công nghệ thông tin Vì vậy, mục tiêu chiến lượccủa ngoại ngữ gắn chặt với những mục tiêu lớn của giáo dục và đào tạo, được xácđịnh trên 3 bình diện: nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài Ngoạingữ nói chung và tiếng Anh nói riêng có vai trò và vị trí quan trọng trong sự nghiệpgiáo dục đào tạo và trong sự phát triển của đất nước. 

Tiếng Anh là ngôn ngữ chính thức của hơn 53 quốc gia và vùng lãnh thổ, là

ngôn ngữ chính thức của EU (European Union) Các sự kiện quốc tế, các tổ chức

toàn cầu,… cũng đều coi tiếng Anh là ngôn ngữ giao tiếp thông dụng.  Ngoài ra,tiếng Anh được hơn 400 triệu người trên toàn thế giới dùng làm tiếng mẹ đẻ, hơn 1

tỷ người dùng tiếng Anh là ngôn ngữ thứ hai Để tìm được một công việc chấtlượng cao, giao tiếp với thế giới bên ngoài, tiếp cận những nguồn khoa học mớithế hệ trẻ Việt Nam đã chú trọng học tập và trau dồi vốn tiếng Anh qua nhiều hìnhthức Vì vậy, nhu cầu sử dụng nguồn nhân lực bắt buộc ngoài điều kiện có trình độchuyên môn cao thì khả năng sử dụng tiếng Anh trong công việc và giao tiếp phảichuyên nghiệp, đây chính là vần đề nghiêm trọng của người lao động và người sửdụng lao động Do vậy việc giao tiếp tốt bằng tiếng Anh sẽ giúp cho mọi người cónhiều cơ hội làm việc tại các công ty nước ngoài với mức lương cao và có thểthăng tiến nhanh hơn trong công việc Vì thế giao tiếp bằng tiếng Anh ngày nay vôcùng quan trọng đối với tất cả các nghành nghề, người Việt ngày nay chú trọngvào việc học tiếng Anh hơn, nhất là kỹ năng nghe-nói Cùng với xu thế đó, cácphương pháp dạy học luôn được thay đổi sao cho phù hợp với mọi đối tượng từcấp tiểu học đến đại học

2 Lý do thực tiễn:

Đối với các huyện miền núi nói chung, huyện Krông Ana - tỉnh Đaklak nói

Trang 5

riêng việc dạy và học môn Tiếng Anh ở cấp tiểu học còn gặp nhiều khó khăn về cơ

sở vật chất, nguồn nhân lực và tư liệu dạy học Với trường tiểu học Nguyễn ThịMinh Khai nơi tôi đang công tác cũng nằm trong tình hình chung của huyện Đa sốhọc sinh có hoàn cảnh khó khăn, các em không có đủ đồ dùng học tập và sách giáokhoa để phục vụ cho việc học Thực tế là các em chưa thực sự yêu thích môn tiếngAnh, còn ham chơi và không quan tâm việc học Đặc biệt là trong việc thực hànhnói tiếng Anh, thụ động trong việc học nói, các em chỉ học ở trên lớp, không học ởnhà vì vậy kỹ năng nói đối với học sinh hiện nay còn rất yếu Các em thường ngạingùng khi nói trước đám đông, không có thói quen tranh luận trong lớp hoặc nêu ýkiến của mình dù đúng hay sai, nhất là khi có mặt thầy cô giáo Tâm lý của họcsinh là một bạn trong lớp nói sai, các bạn trong lớp cười ồ lên, điều này làm hạnchế sự tham gia bài học của học sinh và làm học sinh thụ động khi nói tiếng Anh.Đây là lý do tại sao học sinh các cấp học nói chung, học sinh tiểu học nói riêng hạnchế trong phát âm và nói tiếng Anh Ngoài ra, trong lớp học sinh tiểu học rất hiếuđộng, thiếu tập trung, hay nói chuyện… Ảnh hưởng rất nhiều trong việc học tiếng,thực hành nói tiếng Anh Hơn nữa, trong một giờ học không đảm bảo đủ thời giancho học sinh thực hành nói tiếng Anh vì các em phải học các kỹ năng khác Một lý

do quan trọng mà học sinh trường Nguyễn Thị Minh Khai cũng như các trường tiểuhọc trong huyện gặp phải là học sinh không có môi trường học tập như: sinh hoạtngoại khóa, sinh hoạt nói tiếng Anh ngoài giờ lên lớp, được giao tiếp và học tập vớingười nước ngoài…

Là một giáo viên dạy tiếng Anh tiểu học 10 năm tôi đã nhận thức được tầmquan trọng của việc học ngoại ngữ ở bậc tiểu học như thế nào, tôi luôn mang trongmình trách nhiệm và vai trò của một người thầy mong muốn cho học sinh có lòngđam mê học ngoại ngữ, có nền tảng cơ bản trong giao tiếp tiếng Anh tạo tiền đềcho các em học tốt ngoại ngữ cho các bậc học tiếp theo Qua quá trình giảng dạy

và học hỏi các đồng nghiệp đi trước tôi đã chắt lọc, rút ra một vài biện pháp có thể

áp dụng trong việc rèn luyện kỹ năng nói tiếng Anh cho học sinh Vì vậy, tôi đã

chọn đề tài “Một vài giải pháp giúp phát triển kỹ năng nói tiếng Anh cho học sinh lớp 5” để nghiên cứu và đóng góp một phần nhỏ bé vào việc nâng cao chất

lượng môn tiếng Anh trường Tiểu học Nguyễn Thị Minh Khai nói riêng, và tất cảcác trường tiểu học trên địa bàn huyện Krông Ana nói chung ngày một tốt hơn

3 Đối tượng nghiên cứu:

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là một vài giải pháp giúp phát triển kỹnăng nói tiếng Anh cho học sinh lớp 5”

4 Phạm vi nghiên cứu:

Trang 6

Phạm vi nghiên cứu tập chung nghiên cứu chủ yếu vào kỹ năng giao tiếp (kỹnăng nói) đối với học sinh lớp 5 trường tiểu học Nguyễn Thị Minh Khai năm học2018-2019.

II Mục đích (mục tiêu) nghiên cứu.

Đối với giáo viên: giúp giáo viên chủ động và sáng tạo trong thay đổi phương

pháp dạy học; luôn có trách nhiệm trong nhiệm vụ được giao

Đối với học sinh: giúp học sinh học tốt môn tiếng Anh trong trường tiểu học

đặc biệt là học tốt kỹ năng nói, tạo cho học sinh sự năng động và sáng tạo tronghọc tập, phát huy khả năng học tập của mỗi cá nhân học sinh để các em biết điểmmạnh của mình Giúp học sinh rèn thói quen học nói tiếng Anh qua các tiết họcmột cách chủ động; tự tin và mạnh dạn giao tiếp tiếng Anh trong và ngoài lớp học;giảm áp lực tự ti khi nói sai, tạo thói quen nói tiếng anh và thái độ học tích cựctrong mỗi học sinh; tạo niềm vui và hứng thú học tiếng Anh trong trường tiểu học;tạo môi trường học tập nói tiếng Anh đa dạng và phong phú; tạo điều kiện cho các

em học sinh được trải nghiệm thực tế; nâng cao chất lượng mũi nhọn trong nhàtrường và địa phương

Phần thứ hai: GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ

I Cơ sở lý luận của vấn đề

Kỹ năng giao tiếp bằng Tiếng Anh (kỹ năng nói tiếng Anh) là khả năng cá

nhân truyền đạt, biểu thị một cách hiệu quả những tri thức và kinh nghiệm, quanđiểm của bản thân thông qua việc sử dụng tiếng Ang nhằm đạt được mục đích giaotiếp Kỹ năng này không phải là yếu tố thuộc về bẩm sinh mà được hình thành bằngcon đường trải nghiệm chứ không phải là sự thu nhận kiến thức đơn thuần Để đạtđược kỹ năng này, cần quan tâm đến các yếu tố tác động là: ngôn ngữ giao tiếp,tâm lý-cảm xúc, kỹ năng, kinh ngiệm, xã hội, giáo dục, cá nhân Như vậy để hìnhthành thói quen giao tiếp tiếng Anh cho học sinh ngay từ bậc tiểu học là vô cùngquan trọng, để các em có những thói quen nói tiếng Anh trong và ngoài lớp họcngười giáo viên luôn phải đưa ra các phương pháp mới để kích thích được tính hamhiểu biết, ham khám phá và ham tìm tòi cái mới Đặc biệt người giáo viên phải ýthức được vai trò và trách nhiệm của bản thân trong giáo dục và dạy ngoại ngữ chohọc sinh tiểu học Đánh giá được tầm quan trọng của tiếng Anh trong xã hội ngàynay, Bộ Giáo dục và Đào tạo (GD&ĐT) đã có nhiều sự đổi mới về cách dạy và họcmôn tiếng Anh trong những năm gần đây như thay đổi sách giáo khoa (SGK); thayđổi phương pháp giảng dạy, nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên tiếngAnh Ngày 30 tháng 9 năm 2008 thủ tướng Chính phủ đã ban hành quyết định

1400/QĐ-TTg về việc phê duyệt Đề án "Dạy và học ngoại ngữ trong hệ thống giáo

Trang 7

dục quốc dân giai đoạn 2008 – 2020" Hơn 10 năm thực hiện đề án đã có những

thay đổi tích cực trong đội ngũ giáo viên cũng như học sinh Đã có những mặt đạtđược cũng như các hạn chế Theo tổng kết của Bộ GD&ĐT, trong quá trình triểnkhai Đề án ngoại ngữ 2020 đã bộc lộ những hạn chế, không đạt được mục tiêu khiđặt ra vì nhiều nguyên nhân Nhìn được tầm quan trọng và tính cấp thiết của mục

tiêu giáo dục Bộ GD&ĐT đã ra quyết định số: “2080/QĐ-TTg ngày 22 tháng 12 năm 2017 về phê duyệt điều chỉnh, bổ sung đề án dạy và học ngoại ngữ trong hệ thống giáo dục quốc dân giai đoạn 2017 – 2025” với mục tiêu đổi mới việc dạy và

học ngoại ngữ trong hệ thống giáo dục quốc dân, tiếp tục triển khai chương trìnhdạy và học ngoại ngữ mới ở các cấp học, trình độ đào tạo, nâng cao năng lực sửdụng ngoại ngữ đáp ứng nhu cầu học tập và làm việc; tăng cường năng lực cạnhtranh của nguồn nhân lực trong thời kỳ hội nhập, góp phần vào công cuộc xây dựng

và phát triển đất nước; tạo nền tảng phổ cập ngoại ngữ cho giáo dục phổ thông vàonăm 2025

Ngày 10/8/2018, Bộ trưởng Bộ GD&ĐT Phùng Xuân Nhạ đã ký ban hành Chỉthị số 2919/CT-BGDĐT về nhiệm vụ chủ yếu năm học 2018 – 2019 về nâng caochất lượng dạy học ngoại ngữ, đặc biệt là tiếng Anh ở các cấp học và trình độ đàotạo; xây dựng, phát triển môi trường học và sử dụng ngoại ngữ, phát động phongtrào giáo viên, giảng viên cùng học tiếng Anh với học sinh, sinh viên Tăng cườngdạy và học ngoại ngữ trên các phương tiện truyền thông đại chúng

Như vậy, việc học ngoại ngữ trong các trường học là rất quan trọng và mangtính cấp thiết cao Mục đích chung của học ngoại ngữ là giao tiếp tốt mang lại lợiích trong học tập và công việc Trong việc học ngoại ngữ, kỹ năng nói là một trongcác kỹ năng quan trọng, đòi hỏi người học phải giỏi các kỹ năng nghe, đọc, viết, cóvốn từ vựng tốt Kỹ năng nói tốt giúp người học dễ dàng trở nên tự tin trước đámđông hơn, thể hiện được bản lĩnh của cá nhân trong mọi lĩnh vực…như giao tiếpvới người nước ngoài, giao tiếp trong công việc, thậm chí là dễ dàng tìm được mộtcông việc tốt…Do đó, tiếng Anh đã trở thành môn học thiết yếu trong chương trìnhgiáo dục tiểu học Vì học sinh tiểu học có một số khả năng học ngoại ngữ khá đặcbiệt như: khả năng nắm bắt nghĩa, khả năng sử dụng một cách sáng tạo nguồn ngônngữ hạn chế, khả năng học gián tiếp, khả năng tích hợp với hoạt động vui chơi, khảnăng ghi nhớ, khả năng chú ý, tư duy của học sinh, khả năng đối đáp và nóichuyện, vai trò của trí tưởng tượng Yếu tố bên ngoài (khách quan) cũng tác độngtrực tiếp đến học sinh là chương trình, sách giáo khoa, giáo viên và điều kiện, môitrường học tập, gián tiếp tác động là gia đình và môi trường xã hội Như mục tiêugiáo dục đã đưa ra học sinh cấp tiểu học cần đạt được sau khi học xong chương

Trang 8

trình tiếng Anh tiểu học hiện nay là hiểu và giao tiếp được tiếng Anh một cách cơbản, chính vì vậy giáo viên dạy tiếng Anh cần trau dồi về kiến thức, thường xuyênđổi mới phương pháp dạy học giúp học sinh chủ động Lấy học sinh làm trung tâmcủa hoạt động học nhằm giúp các em phát huy tính tư duy, độc lập, phát triển khảnăng học tập, tạo niềm say mê và hứng thú đối với thầy và trò trong từng giờ học.Tạo cho các em niềm đam mê với môn học tiếng Anh nhằm giúp các em đủ khảnăng và đạt được trình độ sau khi hoàn thành chương trình tiểu học.

II Thực trạng vấn đề

1 Thuận lợi:

Được sự quan tâm, chỉ đạo sát sao của Phòng Giáo dục và Đào tạo huyệnKrông Ana, của Ban giám hiệu nhà trường trong việc bồi dưỡng chuyên môn vàđầu tư cơ sở vật chất Giáo viên được tham gia vào các lớp học bồi dưỡng nghiệp

vụ sư phạm và tập huấn về phương pháp dạy học Giáo viên trẻ, nhiệt tình, tâmhuyết với nghề, yêu thương học sinh, có trình độ trên chuẩn

Đa số học sinh có khả năng tiếp thu tốt kiến thức, một số em có năng khiếumôn tiếng Anh Hầu hết các em học sinh thích môn học tiếng Anh, thích khámphá, ham tìm hiểu và tích cực học môn tiếng Anh Các em tích cực tham gia cáccuộc thi của trường và nghành tổ chức

Cha mẹ học sinh rất khuyến khích con em mình học tiếng Anh vì họ biết đượctầm quan trọng của tiếng Anh trong việc học ở các cấp phổ thông

2 Khó khăn:

Tuy nhiên, cơ sở vật chất chưa đáp ứng được nhu cầu đổi mới giáo dục hiệnnay Nhà trường chưa có phòng học riêng phù hợp với học sinh để học sinh có thểphát hy khả năng giao tiếp Sách giáo khoa thường xuyên thay đổi, học sinh phảilàm quen với các phương pháp mới và cách thức học mới Tranh ảnh dùng cho bộsách không đủ để đáp ứng nhu cầu học tập và giảng dạy của học sinh và giáo viên.Trường có phòng học Tiếng Anh chuyên dụng nhưng đã xuống cấp không thể sửdụng được

Nhà trường chưa có môi trường học tập sáng tạo cho học sinh như: được họctập với thầy, cô giáo nước ngoài; trải nghiệm thực tế để giao tiếp tiếng Anh; thựchành giao tiếp tiếng Anh ngoài giờ lên lớp…

Đa số học sinh phát âm và nhấn trọng âm sai do các em bị ảnh hưởng giọngnói vùng miền, học sinh ngại nói tiếng Anh trong giờ học do nhiều nguyên nhânkhác nhau như: tâm lý ngượng ngùng, dè dặt, ngại các bạn cười khi mình nói sai,thiếu tự tin, chưa tự giác trong học tập

Trang 9

Thời gian thực hành nói tiếng Anh trên lớp chưa đủ đảm bảo cho tất cả các emhọc sinh, cho nên đa số các em học sinh còn chưa tự giác thực hành tại lớp và tham gia vào tiết học một cách nghiêm túc

Do lớp học quá đông nên giáo viên ít có thời gian rèn luyện kỹ năng cho mỗihọc sinh Ngoài ra, hệ thống bài tập luyện kỹ năng nói chưa phong phú để cuốn húthọc sinh Giáo viên dành nhiều thời gian cho việc dạy chưa chú trọng hướng dẫnhọc sinh tự thực hành nói tại nhà

Đa số cha mẹ học sinh trong địa bàn xã Ea Bông còn khó khăn về kinh tế nên

họ chưa quan tâm đúng mức đến việc học của con em mình, đa số cha mẹ học sinhkhông biết và hiểu nhiều về tiếng Anh Vì vậy, họ không thể chủ động trong việchướng dẫn con học tiếng Anh và hướng dẫn con em mình sử dụng một số phầnmềm tiện ích trong việc học và giao tiếp tiếng Anh

Để đánh giá chính xác về khả năng học tập cũng như nhu cầu học tập của họcsinh tôi đã tiến hành cuộc khảo sát về kỹ năng nói tiếng Anh đối với lớp 5A và 5Bnăm học 2018-2019 kết quả khảo sát như sau:

Trước khi thực hiện đề tài

Sử dụng mẫu câu tốt Sử dụng mẫu câu chưa tốt Tổng số HS % Tổng số HS %

c) Kỹ năng giao tiếp:

Trang 10

Lớp Tổng

số học sinh

Trước khi thực hiện đề tài

Tự tin giao tiếp

Giao tiếp chưa lưu

loát

E ngại không giao

tiếp Tổng số

Nhà không có máy tính kết nối internet

Thường xuyên học tiếng Anh trực tuyến

Không học Tiếng Anh trực tuyến Tổng

Trước khi thực hiện đề tài

Môn Giáo dục kỹ năng sống Môn Tiếng Anh Thích Không

thích

Trung tính

Thích Không

thích

Trung tính

+ Đầu tiên là luyện kỹ năng phát âm, nhấn trọng âm và nói theo ngữ điệu cho họcsinh (đây là bước quan trọng để các em học nói được tiếng Anh) (áp dụng với 2lớp)

+ Thứ hai là hướng dẫn học sinh học cách giao tiếp theo nhóm qua mỗi bài học.(áp dụng với 2 lớp)

+ Thứ ba là hướng dẫn cách tự học nói bằng các phần mềm và trang web học tiếng

Trang 11

III Các giải pháp đã tiến hành đề giải quyết vấn đề

1 Giải pháp 1: Rèn luyện kỹ năng phát âm, nhấn trọng âm và ngữ điệu trong từ và câu cho học sinh.

- Mục đích: Giúp học sinh phát âm đúng, nhấn đúng trọng âm và nói đúng ngữđiệu của từ, câu, tạo thói quen phản xạ nhanh cho học sinh khi trả lời các câu hỏi

- Cách thức thực hiện: hướng dẫn học sinh cách học phát âm, nhấn trọng âm

và ngữ điệu trong từ, câu qua các bài học cụ thể

- Cách dạy (tùy vào từng giáo viên và đối tượng học sinh nên bài giảng cũngkhác nhau)

+ Bước 1: Giới thiệu từ hoặc câu, hướng dẫn học sinh đánh trọng âm và ngữđiệu của từ và câu;

+ Bước 2: Bật băng, đĩa (giáo viên đọc); học sinh lặp lại nhiều lần (3-4 lần).+ Bước 3: Học sinh thực hành đọc theo cặp đôi, nhóm;

+ Bước 4: Kiểm tra cách phát âm, trọng âm, ngữ điệu của học sinh sau đósửa lỗi và hướng dẫn học sinh luyện đọc ở nhà

- Ví dụ: áp dụng cách rèn luyện kỹ năng phát âm, nhấn trọng âm, ngữ điệutrong phần Lesson 3 (Phần 1: Listen and repeat) của các bài học (sách Tiếng Anh 5,tập 1, 2)

Unit 1: What’s your address? – Lesson 3 / Part 1: Listen and repeat/ trang 10 SGK Tiếng Anh 5 tập 1.

Unit 17: What would you like to eat? Lesson 3/ part 1: Listen and repeat/ trang

50 SGK Tiếng Anh 5 tập 2.

Trang 12

Để cải thiện và phát triển kỹ năng nói tiếng Anh cho học sinh giáo viên cần phảikiên trì luyện phát âm cho học sinh để tạo cho các em có thói quen nhấn trọng âm

và phải phát âm đúng Bởi lẽ, nếu các em bước đầu học tiếng Anh mà phát âmkhông đúng thì sẽ thành thói quen ảnh hưởng không tốt trong quá trình học và giaotiếp sau này

Sau đây tôi xin đưa ra một số kiến thức hiểu biết mà giáo viên cần có để rèncho học sinh khi dạy kỹ năng nói cho học sinh

Cách phát âm của một số nguyên âm trong tiếng Anh:

+ / i:/ âm / i:/dài thực hành đọc âm /i/ ngắn sau đó kéo dài ra một chút ví dụ :

sheep, meal, read, tea …

+ / i/ âm / i/ ngắn ship, it, sit, bin…

+ / e/ âm e ngắn pen, ten, leg, check, men…

+ / æ/ âm e dài (mở miệng to hơn âm e) man, hat, cat, bag, apple, maths….

+ /Λ/ thực tập âm /æ/ trước, sau đó đưa lưỡi ra sau một chút /Λ/ là âm rất ngắn

cup, suck, burn, luck, fun, sun…

Trang 13

+ /a:/ Đưa lưỡi xuống và ra sau, /a:/ là âm dài: heart, carp, march….

+ /o/ Thực tập âm /æ/ trước, sau đó đưa lưỡi ra sau và đưa môi ra trước một

chút /o/ la âm ngắn: hot, sock, top…

+ / ɔ: / Thực tập âm /o/ trước, sau đó đua phần cuối lưỡi lên trên một chút /o:/ là

âm dài: ball, call, sport, four, door, floor…

+ / u/ Thực tập âm /o/ trước, sau đó đưa phần cuối lưỡi ra trước và lên một chút.

/u/ là âm ngắn: book, look, good, cook, …

+ / u:/ Thực tập âm /u/ trước, sau đó đưa lưỡi lên trên và ra sau /u:/ là âm dài:

afternoon, spoon, moon, pool…

+ / ɜ: / Thực tập âm / ɔ: / trước, sau đó đưa lưỡi ra trước và lên trên một chút / ɜ: /

là âm dài : skirt, shirt, nurse …

+/ ә / Phát âm / ɜ: / trước, rồi phát âm / ә / thật ngắn: son, a camera…

+ / ei/ âm này gồm 2 âm: e và i Trước hết phát âm e, rồi phát âm dài hơn : eee rồi

âm i: wait, game, name, paper…

+ /au/ Thực tập âm æ trước, bây giờ thêm âm u vào: cow, house, brown, town… + / әu/ âm này gồm 2 âm: ә và u phát âm ә trước, bây giờ phát âm dài hơn: әәә rồi

them âm u vào Âm này thật ngắn: phone, woke, some, home …

+ /iә/ âm này gồm 2 âm i và ә, phát âm i trước, rồi thêm ә vào iә : ear, tear, hear,

beer…

+ /eә/ Thực tập âm e trước, phát âm dài hơn, rồi thêm âm ә eә :air, bear, pear,

hair, tear…

+ /ө/ Đặt lưỡi ở hai hàm răng Thổi không khí giữa lưỡi và răng lên trên: thin,

thick, think, three, thirst…

+ /ð/ Thực tập âm /ө/ dùng giọng của bạn phát âm /ð/.: Than, they, there, either… Các quy tắc nhấn trọng âm cơ bản:

Quy tắc 1: Động từ có 2 âm tiết -> trọng âm rơi vào âm tiết thứ 2

Ví dụ: be'gin, be'come, for'get, en'joy, dis'cover, re'lax, de'ny, re'veal,…

Ngoại lệ: 'answer, 'enter, 'happen, 'offer, 'open…

Quy tắc 2: Danh từ có 2 âm tiết -> trọng âm rơi vào âm tiết thứ 1

Ví dụ: 'children, 'hobby, 'habit, 'labour, 'trouble, 'standard…

Ngoại lệ: ad'vice, ma'chine, mis'take…

Quy tắc 3: Tính từ có 2 âm tiết -> trọng âm rơi vào âm tiết thứ 1

Ví dụ: 'basic, 'busy, 'handsome, 'lucky, 'pretty, 'silly

Ngoại lệ: a'lone, a'mazed, …

Quy tắc 4: Động từ ghép -> trọng âm rơi vào âm tiết thứ 2

Ví dụ: be'come, under'stand

Trang 14

Quy tắc 5: Trọng âm rơi vào chính các vần sau: sist, cur, vert, test, tain, tract,vent, self.

Ví dụ: e'vent, sub'tract, pro'test, in'sist, main'tain, my'self, him'self …

Quy tắc 6: Với những hậu tố sau thì trọng âm rơi vào chính âm tiết chứa

nó: -ee, - eer, -ese, -ique, -esque, -ain.

Ví dụ: ag'ree, volun'teer, Vietna'mese, re'tain, main'tain, u'nique, pictu'resque,engi'neer…

Ngoại lệ: com'mittee, 'coffee, em'ployee…

Quy tắc 7: Các từ có hậu tố là –ic, -ish, -ical, -sion, -tion, -ance, -ence, -idle, -ious, -iar, ience, -id, -eous, -acy, -ian, -ity -> trọng âm rơi vào âm tiết liền trước.

Ví dụ: eco'nomic, 'foolish, 'entrance, e'normous …

Quy tắc 8: Hầu như các tiền tố không nhận trọng âm

Ví dụ: dis'cover, re'ly, re'ply, re'move, des'troy, re'write, im'possible, ex'pert,re'cord, …

Ngoại lệ: 'underpass, 'underlay…

Quy tắc 9: Danh từ ghép -> trọng âm rơi vào âm tiết thứ 1

Ví dụ: 'birthday, 'airport, 'bookshop, 'gateway, 'guidebook, 'filmmaker,…

Quy tắc 10: Tính từ ghép -> trọng âm rơi vào âm tiết thứ 1

Ví dụ: 'airsick, 'homesick, 'carsick, 'airtight, 'praiseworthy, 'trustworth,'waterproof…

Ngoại lệ: duty-'free, snow-'white …

Quy tắc 11: Các tính từ ghép có thành phần đầu tiên là tính từ hoặc trạng từ,

thành phần thứ hai tận cùng là –ed -> trọng âm chính rơi vào thành phần thứ 2.

Ví dụ: ,bad-'tempered, ,short-'sighted, ,ill-'treated, ,well-'done, well-'known…

Quy tắc 12: Khi thêm các hậu tố sau thì trọng âm chính của từ không thay

đổi -ment, -ship, -ness, -er/or, -hood, -ing, -en, -ful, -able, -ous, -less

Ví dụ: ag'ree – ag'reement;  'meaning – 'meaningless;  re'ly – re'liable;   'poison –'poisonous;  'happy – 'happiness;   re'lation – re'lationship;   'neighbour –'neighbourhood;  ex'cite - ex'citing

Quy tắc 13: Những từ có tận cùng là: –graphy, -ate, –gy, -cy, -ity, -phy,

-al -> trọng âm rơi vào âm tiết thứ 3 từ dưới lên

Ví dụ: eco'nomical, de'moracy, tech'nology, ge'ography, pho'tography, in'vestigate,im'mediate,…

Các quy tắc ngữ điệu thường gặp:

Quy tắc 1: Câu nói bình thường: chính là câu trần thuật, câu bình thường thì đều xuống giọng cuối câu

Trang 15

Vd: I’m from England; In my free time, I often go camping with my family. 

Quy tắc 2: Câu hỏi WH: what, where, when, why, whose, whom, who…vàHow: xuống giọng ở cuối câu

Vd: Where are you from?/ How are you?

Quy tắc 3: Câu hỏi Yes/ No: Lên giọng ở cuối câu

Vd: Do you like pets?/ Is your father a doctor?

Quy tắc 4: Câu liệt kê: Cuối câu xuống, sau mỗi dấu phẩy và trước từ “and”lên giọng

Vd: There are four seasons in my country: spring, summer, autumn and winter. 

Quy tắc 5: Câu hỏi lựa chọn: cuối câu xuống

Vd: Would you like some tea or coffee? 

Trên đây là những kinh nghiệm mà bản thân đã chắt lọc và áp dụng khi dạytrọng âm, ngữ điệu cho học sinh Qua giảng dạy tôi thấy chúng rất hiệu quả và cóích trong việc dạy phát âm và ngữ điệu cho học sinh

2 Giải pháp 2: Phát triển kỹ năng nói cho học sinh bằng hình thức thi nói theo nhóm đôi, nhóm lớn sử dụng tranh ảnh và tạo tình huống.

Mục đích: tăng cường cơ hội tham gia đóng góp xây dựng bài của học sinh;

tăng thêm tần số luyện tập, tiết kiệm được thời gian; tăng thêm cơ hộ cho nhiều họcsinh được làm việc trong cùng một lúc; tăng cường sự giao tiếp, trao đổi, hợp tác,giúp đỡ lẫn nhau của học sinh và tạo điều kiện cho giáo viên làm việc với tư cách làhướng dẫn, tư vấn cho học sinh

Hình thức luyện tập: luyện mẫu câu sau phần giới thiệu ngữ điệu mới, đoạn

hội thoại, tạo tình huống tương tự giống đoạn hội thoại mà học sinh đã học…Luyệntập giữa giáo viên-cả lớp; nửa lớp-nửa lớp; cặp mở (hai học sinh không ngồi gầnnhau); cặp đóng (hai học sinh ngồi cạnh nhau)

Tiến trình thực hiện: Các bước luyện nói cho học sinh:

+ Chuẩn bị nói (Pre-Speaking):

- Giới thiệu chủ đề của bài bằng cách đặt câu hỏi (Who, what, where, how,why)

- Giới thiệu kiến thức ngôn ngữ mới nếu có hoặc ôn lại những kiến thức đãhọc để giúp các em dễ dàng trong khi luyện nói

+ Luyện nói có kiểm soát (While-Speaking)

- Học sinh dựa vào tranh hoặc mẫu câu gợi ý để luyện nói

- Học sinh luyện nói theo cá nhân, cặp, nhóm dưới sự kiểm soát của giáo viên

Trang 16

+ Luyện nói tự do (Post-Speaking)

- Một vài cặp, nhóm học sinh thực hành nói

- Học sinh vận dụng kiến thức ngôn ngữ để áp dụng vào thực tế

Ghi chú: khích lệ động viên học sinh bằng phần thưởng để tạo sự sôi nổi, tạo

không khí cạnh tranh và sự tích cực của từng cá nhân học sinh trong khi thực hành nói Ví dụ như: tặng stickers, sao học tập…

2.1Học sinh thực hành nói theo nhóm đôi:

Trường tiểu học Nguyễn Thị Minh Khai là trường áp dụng dạy theo mô hìnhtrường học mới VNEN nên giáo viên dễ dàng chia nhóm đôi, nhóm lớn khi thựchành nói tiếng Anh Học sinh tự giác hơn trong việc làm nhóm vì các em thườngxuyên được học và thực hành theo mô hình này

Ví dụ một tiết thực hành nói tại lớp 5B trường tiểu học Nguyễn Thị Minh Khai:

Unit 15: What would you like to be in the future? Lesson 1; part 2: point and say.

Ví dụ: A: What would you like to be in the future?

B: I’d like to be a nurse

A: Why would you like to be a nurse?

B: Because I’d like to look after patients

Mô hình chia nhóm

Học sinh thực hành nói theo tranh Giáo viên hướng dẫn

Trang 17

Trình bày trước lớp

2.2 Học sinh thực hành nói theo nhóm lớn:

Giáo viên giao nhiệm vụ cho nhóm, trong đó nhóm trưởng chỉ đạo và theodõi các thành viên trong nhóm khi thực hành nói, sau đó báo lại cho giáo viên đểgiáo viên khen thưởng kịp thời, nhận xét học sinh và sửa lỗi cho các em

Ví dụ: Unit 17: What would you like to eat? Lesson 1: Part 1, 2/ trang 45 SGK Tiếng Anh 5 tập 2.

Mô hình nhóm

Trang 18

Học sinh thực hành theo nhóm Giáo viên hướng dẫn và kiểm tra

Nhóm trình bày trước lớp

2.3 Học sinh thực hành nói theo tình huống:

Giáo viên tạo tình huống theo đoạn hội thoại đã học trong chương trình, sau

đó phân vai cho học sinh; học sinh diễn theo tình huống trước lớp Dạng bài thựchành nói này áp dụng trong tất cả các bài hội thoại trong sách giáo khoa (Lesson 1part 1/ Lesson 2 part 1)

Tùy theo bài học và ngữ liệu giáo viên tạo ra các tình huống sao cho phù hợpvới chủ đề để học sinh linh hoạt trong thực hành nói

Ví dụ: Unit 16: Where’s the post office? Lesson 1

Tình huống trong bài:

Ngày đăng: 10/05/2019, 18:48

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w