Việc giáo dục kỹ năng sống cho học sinh là rất cần thiết phù hợp với mục tiêu giáo dục, nhằm góp phần đào tạo con người mới với đầy đủ các mặt “đức, trí, thể, mỹ” để học sinh được phát t
Trang 1Phần thứ nhất: MỞ ĐẦU
I ĐẶT VẤN ĐỀ
Mục tiêu giáo dục hiện nay là đào tạo con người phát triển toàn diện về đạo đức, trí thức, sức khỏe, thẩm mỹ và hình thành, bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất năng lực của công dân đáp ứng yêu cầu đổi mới của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa Việc giáo dục kỹ năng sống cho học sinh là rất cần thiết phù hợp với mục tiêu giáo dục, nhằm góp phần đào tạo con người mới với đầy đủ các mặt “đức, trí, thể, mỹ” để học sinh được phát triển toàn diện Cũng như Bác Hồ từng nói: “Có tài mà không có đức là vô dụng - Có đức mà không có tài làm việc gì cũng khó” Chúng ta không chỉ phải dạy kiến thức cho học sinh mà quan trọng hơn hết là dạy người, dạy cách làm người, những con người đáp ứng đầy đủ những tố chất hiện đại, năng động, hoạt bát, thích nghi tốt, ứng phó nhanh trong mọi tình huống nhưng không đánh mất đi phẩm chất, đạo đức, giá trị nhân văn tốt đẹp, bản sắc văn hóa của con người Việt Nam
Giáo dục kỹ năng sống cho học sinh tiểu học nhằm đạt mục tiêu trang bị những kiến thức, giá trị, thái độ, kĩ năng phù hợp; tạo cơ hội thuận lợi cho trẻ sử dụng quyền, bổn phận của mình và phát triển toàn diện về thể chất, trí tuệ, tinh thần, đạo đức
Một trong những tiêu chí được nêu trong Chỉ thị số 40/2008/CT BGDĐT, ngày
22 tháng 7 năm 2008 về việc phát động phong trào thi đua “Xây dựng trường học thân thiện học sinh tích cực” là rèn luyện kỹ năng sống cho học sinh Đây là một chủ trương cần thiết và đúng đắn Tuy nhiên, để giáo dục kỹ năng sống cho học sinh đạt hiệu quả đòi hỏi nhiều yếu tố Đặc biệt đối với học sinh lớp Một là lớp học đầu tiên của bậc Tiểu học Các em vừa bước qua ngưỡng cửa của trường Mầm Non, vừa chuyển từ hoạt động vui chơi sang hoạt động học tập Môi trường thay đổi, hoạt động thay đổi và kéo theo nhiều sự thay đổi lớn trong các em Phần lớn các em chưa biết ứng xử với mọi người xung quanh, chưa biết tự tin trước đám đông, lúng túng khi gặp tình huống nguy hiểm Bởi vậy việc giáo dục cho trẻ các kĩ năng tự phục vụ, tự quản, giao tiếp, hợp tác, tự học là rất cần thiết Các kĩ năng đó ta gọi tắt là kỹ năng sống Thực tế cho thấy toàn khối lớp Một trường Tiểu học Võ Thị Sáu có trên 96% là học sinh dân tộc thiểu số Được Nhà nước, Đảng ủy, chính quyền địa phương, Phòng Giáo dục - Đào tạo và nhà trường quan tâm tạo điều kiện thuận lợi trong việc huy động các em đến trường để học tập Đa số các em đã được học qua Mầm non, song do phong tục tập quán, trình độ nhận thức của người dân chưa cao, ít quan tâm đến việc giáo dục kỹ năng sống cho con em dẫn đến học sinh thiếu hụt hiểu biết về môi trường xung quanh, ứng xử cần thiết trong cuộc sống Các em đến trường rụt rè, không biết giao tiếp, chưa biết tự bảo vệ mình Một số giáo viên chưa coi trọng việc giáo dục kỹ năng sống cho học sinh Việc giáo dục kỹ năng sống cho học sinh còn qua loa đại khái mang tính chung chung Với mong muốn làm rõ vị trí vai trò của giáo viên trong công tác giáo dục kỹ năng sống cho học sinh, thực trạng kỹ năng sống của học sinh lớp Một Trên cơ sở đó đề ra một vài giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục kỹ năng sống cho học sinh lớp Một dân tộc thiểu số ở Trường Tiểu học Võ Thị Sáu từ năm học 2016 –
2017, năm học 2017 – 2018 Đó là lí do tôi chọn đề tài “ Một vài giải pháp giáo dục
kỹ năng sống cho học sinh lớp Một dân tộc thiểu số ở trường Tiểu học Võ Thị Sáu”
Trang 2II MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu đánh giá đúng thực trạng chất lượng kỹ năng sống của học sinh lớp Một dân tộc thiểu số trường Tiểu học Võ Thị Sáu thời gian qua; rút ra ưu điểm, hạn chế, nguyên nhân và nêu lên giải pháp chủ yếu nâng cao chất lượng giáo dục kỹ năng sống cho học sinh trong thời gian tới Giúp giáo viên nhận thức được vai trò và tầm quan trọng của việc giáo dục kỹ năng sống, đưa ra giải pháp thực hiện nâng cao chất lượng kỹ năng sống cho học sinh
Giúp học sinh có khả năng ứng xử trước các tình huống xảy ra trong cuộc sống như tự tin, tự phục vụ, mạnh giao tiếp và hợp tác, trung thực, có khả năng tự giải quyết vấn đề, hiểu biết và chấp hành pháp luật,
Phần thứ hai: GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
I CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ
1 Các định nghĩa, khái niệm về kỹ năng sống
Kỹ năng là năng lực hay khả năng chuyên biệt của một cá nhân về một hoặc nhiều khía cạnh nào đó được sử dụng để giải quyết tình huống hay công việc nào đó phát sinh trong cuộc sống
Kỹ năng sống là những trải nghiệm có hiệu quả nhất, giúp giải quyết hoặc đáp ứng các nhu cầu cụ thể trong suốt quá trình tồn tại và phát triển của con người như khả năng ứng xử phù hợp với người khác, xã hội, khả năng úng phó tích cực trước các tình huống của cuộc sống Kỹ năng sống bao gồm cả hành vi vận động của cơ thể và tư duy trong não bộ của con người như biến kiến thức thành thái độ, hành vi, thói quen tích cực Kỹ năng sống có thể hình thành một cách tự nhiên, thông qua giáo dục hoặc rèn luyện của con người
2 Quan niệm về kỹ năng sống
Cho đến nay có rất nhiều quan niệm khác nhau về kỹ năng sống Mỗi quan niệm được diễn tả theo cách khác nhau:
Theo Tổ chức Văn hóa, Khoa học và giáo dục của Liên hợp quốc(UNESCO),
kỹ năng sống là năng lực cá nhân để thực hiện đầy đủ các chức năng và tham gia vào cuộc sống hằng ngày
Theo tổ chức Y tế thế giới (WHO), kỹ năng sống là những kĩ năng thiết thực
mà con người cần để có cuộc sống an toàn, khỏe mạnh Đó là những kĩ năng mang tính tâm lí xã hội và kĩ năng về giao tiếp được vận dụng trong những tình huống hằng ngày
để tương tác một cách hiệu quả với người khác và giải quyết có hiệu quả những vấn
đề, những tình huống của cuộc sống hằng ngày
Tuy diễn đạt về kỹ năng sống khác nhau nhưng giống nhau ở nội dung cơ bản
đó là những cách thức ứng xử, xử lý các vấn đề nảy sinh trong cuộc sống một cách linh hoạt, mềm dẻo, có hiệu quả Từ đó giúp con người xác lập được mối quan hệ tốt đẹp với mọi người xung quanh, hoàn thiện nhân cách của mình
Một cách khác, có thể tiếp cận khái niệm kỹ năng sống qua 4 trụ cột của giáo dục: Học để biết, học để khẳng định bản thân; Học để chung sống, học để làm việc
Kỹ năng sống có thể hiểu là kĩ năng làm việc, kĩ năng làm chủ bản thân, kĩ năng thích ứng và hòa nhập với cuộc sống
Như chúng ta đã biết: "Tiểu học là nền thì lớp Một là móng" Móng và nền có
Trang 3vững chắc thì công trình xây dựng (giáo dục) mới bền vững Việc giáo dục kỹ năng sống cho học sinh được chú trọng hơn từ khi Chỉ thị số 40/2008/CT BGDĐT, ngày 22 tháng 7 năm 2008 về việc phát động phong trào thi đua “Xây dựng trường học thân thiện học sinh tích cực” ra đời Kế hoạch số 801/KH-BGDĐT ngày 04 tháng 11 năm
2016 về việc triển khai thực hiện phòng, chống tai nạn, thương tích trẻ em giai đoạn
2016 – 2020 của ngành giáo dục Hơn nữa ngay từ đầu các năm học Phòng giáo dục-Đào tạo có hướng dẫn kế hoạch cụ thể về nội dung giáo dục kỹ năng sống cho học sinh Kỹ năng sống là một bài học quan trọng, giúp học sinh tự tin bước vào cuộc sống tương lai Đặc biệt đối với trẻ tiểu học, khi bắt đầu đi học cũng là lúc trẻ bắt đầu tiếp xúc với xã hội, rất cần hoàn thiện và phát triển các kỹ năng sống cho riêng mình Chính những kỹ năng sống các em tiếp nhận được những năm đầu tiên đi học sẽ theo các em suốt cả cuộc sống sau này vì khi tham gia vào bất kỳ hoạt động nghề nghiệp nào phục vụ cho cuộc sống đều đòi hỏi ta phải thỏa mãn những kĩ năng tương ứng Nếu ngay từ lớp Một, các em có được những kĩ năng tốt, cuộc sống sau này sẽ rộng
mở với các em hơn Giáo dục kỹ năng sống là giúp trẻ biết làm chủ bản thân, có ý thức
kỷ luật, ứng xử thân thiện, hợp tác, tự phục vụ, tự bảo vệ bản thân, kĩ năng hoạt động
xã hội, phòng ngừa tai nạn giao thông, tai nạn thương tích, đuối nước, các tệ nạn xã hội và biết cách ứng phó trước những tình huống khó khăn trong cuộc sống hàng ngày Rèn cách sống có trách nhiệm với bản thân, gia đình, đảm bảo mục tiêu giáo dục kỹ năng sống cho học sinh trong cộng đồng, mở ra cơ hội, hướng suy nghĩ tích cực, tự tin,
tự quyết định và lựa chọn những hành vi đúng đắn Đây là việc làm hết sức quan trọng ảnh hưởng đến quá trình hình thành và phát triển nhân cách của trẻ
Việc giáo dục kỹ năng sống cho học sinh lớp Một dân tộc thiểu số lại càng cần thiết bởi hầu hết các em chưa có khả năng: Tự phục vụ, tự quản; Giao tiếp, hợp tác; Tự học và giải quyết vấn đề; Chăm học, chăm làm, tích cực tham gia hoạt động xã hội; Tự tin, tự chịu trách nhiệm; Trung thực, kỷ luật, đoàn kết; Yêu gia đình, bạn bè và những người khác Bên cạnh đó cần trang bị cho học sịnh các kĩ năng cần thiết cho cuộc sống hiện nay như đề phòng hỏa hoạn, đuối nước, tự bảo vệ bản thân, phòng tránh bị xâm hại, tai nạn giao thông, tai nạn thương tích,
II THỰC TRẠNG VẤN ĐỀ
1 Thuận lợi
Đảng ủy, chính quyền địa phương thuộc xã Ea Bông và Phòng Giáo dục- Đào tạo là đơn vị thường xuyên thể hiện sự quan tâm đặc biệt đến công tác giáo dục trong nhà trường Các cơ quan ban ngành đoàn thể tại địa phương cũng đã thể hiện sự quan tâm đến chất lượng giáo dục và đặc biệt là việc huy động học sinh đúng 6 tuổi ra lớp Các em học sinh có cùng một độ tuổi, ham hiểu biết, ham học hỏi, tò mò và thích sáng tạo, thích tự khẳng định mình Đa số phụ huynh học sinh đều sử dụng điện thoại di động nên giáo viên chủ nhiệm có thể liên lạc trao đổi bất cứ lúc nào
2 Khó khăn
Trường tiểu học Võ Thị Sáu là một trường thuộc vùng khó khăn có ba phân hiệu cách xa nhau từ 2 km đến 5 km Số học sinh dân tộc thiểu số chiếm trên 97% Trình độ dân trí còn thấp, cuộc sống của người dân còn gặp nhiều khó khăn Đội ngũ giáo viên trong tổ chưa đồng đều, số giáo viên người dân tộc thiểu số chiếm 33,3%, kinh nghiệm giảng dạy còn hạn chế Chất lượng giáo dục hàng năm còn thấp, tỉ lệ học sinh có kỹ năng sống chưa cao
Trang 4Năm học 2016 – 2017, khối lớp 1 có 137 em chia thành 5 lớp, trong đó học sinh dân tộc thiểu số chiếm 95,6%, năm học 2017 – 2018 cũng có 5 lớp với tổng số 110
em, số học sinh dân tộc thiểu số chiếm 96,4% Toàn khối có 02 em mẹ là công chức, còn lại là con nhà nông Bố mẹ không có nghề ổn định, mải lo việc mưu sinh ít quan tâm đến việc giáo dục con em Phần lớn trẻ chưa được gia đình bồi dưỡng vốn kinh nghiệm giao tiếp nên các em rất nhút nhát Mặc dù đã được học qua lớp Mầm non 5 tuổi song trong thực tế các em còn gặp rất nhiều khó khăn trong giao tiếp, thiếu tự tin, chưa có kĩ năng tự quản, tự bảo vệ bản thân, vẫn còn xảy ra tình trạng đuối nước vì lí
do một số em hay nghỉ học đến ngày nghiệm thu bàn giao lớp mới đến trường Các em lại không có cơ hội giao tiếp bằng tiếng phổ thông, không được thực hành trong suốt thời gian nghỉ hè Số học sinh không chịu vào lớp khi mẹ đưa đến lớp còn nhiều Cô hỏi chỉ gật và lắc đầu hoặc “ơ”, “hở” Nhiều em còn chưa biết nói lời thưa gửi thể hiện
lễ phép Gọi lên bảng không chịu lên, không dám giơ tay phát biểu xây dựng bài Cuộc sống của làng xóm và gia đình còn ảnh hưởng nhiều đến việc hình thành kĩ năng của trẻ Khả năng ghi nhớ còn hạn chế, các em chưa biết cách ứng xử đơn giản nhất với cô giáo và bạn Nhiều em chưa nói được cụ thể họ tên mình, họ tên bố mẹ, chưa phân biệt được anh em trong nhà với anh em họ Do không được quan tâm chu đáo và giáo dục tận tình nên trong con mắt ngây thơ của các em đâu đâu cũng yên bình, trong khi cuộc sống hiện đại xô bồ với vô vàn nguy hiểm luôn rình rập các em ở mọi lúc, mọi nơi
Trong chương trình, lượng kiến thức mà các em phải học tập và hoàn thành trên lớp khá nhiều nên không còn nhiều thời gian cho giáo dục kỹ năng sống Các em chưa
có nhiều điều kiện để giao tiếp với mọi người nên chưa thật sự tự tin, mạnh dạn bộc lộ bản thân trước đám đông, trước bạn bè và thầy cô giáo cũng như ngoài xã hội Cũng chính từ đó, các em chưa đủ khả năng vượt qua các tình huống rủi ro trong cuộc sống Thực tế trong giảng dạy và làm công tác chủ nhiệm lớp, tôi thấy việc giáo dục kỹ năng sống cho học sinh còn khá nhiều bỡ ngỡ về nội dung giáo dục, phạm vi giáo dục mà chỉ hiểu đến đâu làm đến đấy, kế hoạch chưa cụ thể, rõ ràng nên chưa có được sự phối hợp nhiệt tình của cha mẹ học sinh Công tác kiểm tra đánh giá việc thực hiện kế hoạch còn mang tính chất chung chung, biện pháp động viên, khen thưởng chưa kịp thời 95% học sinh khi vào lớp Một rất rụt rè, chưa biết giao tiếp, ứng xử, chưa có các
kĩ năng thích nghi, hợp tác, chưa biết ứng phó, tự bảo vệ mình khi có tình huống xảy
ra Nguyên nhân trực tiếp khiến học sinh gặp khó khăn trong xử lí với tình huống thực của cuộc sống là do sự giáo dục của gia đình và nhà trường, sự phức tạp của xã hội hiện nay Giáo viên và người lớn chưa thật coi trọng việc giáo dục kỹ năng sống cho trẻ Việc rèn kỹ năng sống qua các môn học, tiết sinh hoạt lớp, hoạt động giáo dục, vui chơi còn chưa được chú trọng Công tác tuyên truyền cho các bậc cha mẹ thực hiện giáo dục kỹ năng sống cho các em chưa nhiều Trước những khó khăn và tính cấp thiết
đó tôi luôn trăn trở làm thế nào giúp các em có được các kĩ năng cơ bản để vận dụng trong cuộc sống Kết quả khảo sát đầu các năm học như sau:
Năm học TS HS Kĩ năng Kĩ năng giao tiếp, tự nhận thức, bảo vệ bản thân
Biết nói năng lễ phép
Bạo dạn trong giao tiếp
Ngại giao tiếp, trầm lặng, nhút nhát
Tự nhận thức, bảo vệ bản thân
2016 - 2017 137 79 59,8 52 37,9 85 62,0 62 42,3
2017 - 2018 110 70 63,6 40 36,4 70 63,6 65 59,1
Trang 5Năm học TSHS Kĩ năng hợp tác, tự quản, tự học
kĩ năng tốt có kĩ năng chưa có kĩ năng
2016 - 2017 137 5 3,6 53 38,7 79 57,7
2017 - 2018 110 4 3,6 38 34,6 68 61,8
Kĩ năng tham gia giao thông, phòng chống tai nạn thương tích
2016 - 2017 137 6 4,3 76 55,5 55 40,2
2017 - 2018 110 5 4,5 59 53,7 46 41,8
Từ tình hình thực tế trên cho thấy tỉ lệ học sinh phát triển toàn diện là rất ít Đa
số các em còn thiếu các kĩ năng cơ bản trong cuộc sống hằng ngày như kĩ năng tự nhận thức, rụt rè khi giao tiếp, ứng xử chưa có văn hóa Tôi thiết nghĩ nếu trẻ có khả năng giao tiếp tốt sẽ tạo điều kiện cho các em học tốt môn học cũng như tham gia các
hoạt động do trường, đội tổ chức Chính vì thế tôi đã đưa ra các giải pháp cụ thể như
xác định nội dung và phạm vi giáo dục kĩ năng sống Tìm hiểu tình hình thực tế Qua
đó xây dựng kế hoạch giáo dục kỹ năng sống thông qua các môn học Rèn kĩ năng Phối hợp giữa nhà trường- gia đinh và xã hội Tăng cường công tác kiểm tra đánh giá thi đua khen thưởng
III CÁC GIẢI PHÁP ĐÃ TIẾN HÀNH ĐỂ GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
Thứ nhất: Xác định nội dung và phạm vi giáo dục kĩ năng sống
Để nâng dần kỹ năng sống cho học sinh, ngoài việc phải cần sự hết sức nỗ lực của thầy và trò, còn rất cần có sự lãnh đạo của Ban giám hiệu nhà trường và chính quyền địa phương, chủ trương xã hội hoá giáo dục trong việc xây dựng và phát triển là yếu tố vô cùng quan trọng Nó vừa đáp ứng yêu cầu trước mắt vừa mang tính chiến lược lâu dài trong sự phát triển bền vững Điều 12 luật Giáo dục năm 2005 đã qui định
rõ về xã hội hoá sự nghiệp giáo dục: “ Mọi tổ chức, gia đình và công dân có trách nhiệm chăm lo sự nghiệp giáo dục, phối hợp với nhà trường thực hiện mục tiêu giáo
dục, xây dựng môi trường giáo dục lành mạnh và an toàn” Xuất phát từ các nguyên
nhân trên, hàng năm, trong quá trình giảng dạy, việc đầu tiên mà tôi làm đó là xác định
rõ những nội dung kỹ năng sống (những bài học) cần giáo dục cho học sinh và phạm
vi giáo dục, cụ thể như sau: Rèn thói quen tốt trong học tập chú ý nghe giảng, sắp xếp sách vở gọn gàng, giáo dục ở tất cả các môn học Biết chuẩn bị đồ dùng học tập, kiểm tra, nhắc nhở khi bắt đầu mỗi tiết học, mỗi môn học Biết cách sắp xếp, có thói quen giữ gìn sách vở, dụng cụ học tập và bàn ghế ngăn nắp, gọn gàng hướng dẫn ngay từ những buổi học đầu tiên vào lớp 1 và thường xuyên nhắc nhở Có tư thế ngồi học đúng cho học sinh đọc đồng thanh tư thế ngồi viết trước khi viết bài và uốn nắn thường xuyên Rèn thói quen vệ sinh hằng ngày, biết được các thói quen tốt, không tốt để giữ
vệ sinh hằng ngày giáo dục vào các tiết lao động vệ sinh đầu buổi học, kiểm tra, nhắc nhở vào các tiết sinh hoạt tập thể cuối tuần Rèn thói quen tự tin, mạnh dạn, hợp tác khi giao tiếp rèn luyện trong các tiết học như Đạo đức, Tự nhiên xã hội Tự tin khi nói chuyện với thầy cô giáo, bạn bè và người thân rèn luyện khi đến trường, trong các tiết học Tiếng Việt và khi gặp gỡ mọi người Biết cách tự bày tỏ mong muốn của của mình
Trang 6cho người khác hiểu rèn ngay từ những ngày đầu vào lớp 1 Có ý thức tập trung để học tốt như biết tự rèn và thực hành kĩ năng tập trung học tập tốt rèn trong tất cả các tiết học Hiểu được sự cần thiết và biết cách đặt câu hỏi rèn trong tất cả các tiết học.Hiểu được sự cần thiết và có thói quen đi học chuyên cần giáo dục ngay từ những ngày đầu vào lớp 1 và thường xuyên nhắc nhở vào tiết sinh hoạt tập thể Tự tin, hòa nhập với môi trường mới, với bạn bè, thầy cô hướng dẫn động viên ngay từ những buổi tựu trường đầu tiên Hiểu được hiệu quả và rèn luyện thói quen phát biểu xây dựng bài động viên, khuyến khích trong tất cả các tiết học Hiểu được ý nghĩa và tự giác trả lại của rơi cho người đánh rơi rèn luyện thường xuyên, hằng ngày trong lớp học và đặc biệt là trong giờ chơi Hiểu được ích lợi và có thói quen đi học đúng giờ thông báo giờ vào học, tan trường ngay từ những buổi tựu trường đầu tiên, thường xuyên nhắc nhở, giúp đỡ trong suốt năm học Hiểu được ích lợi của người bạn tốt và biết ứng xử tốt với bạn bè, chia nhóm học tập trong tất cả các môn học Giáo dục lòng yêu trường lớp, kể được những điều em thích ở trường lớp như trang trí lớp học đẹp mắt, thân thiện, có tên trường và những nội dung liên quan đến trường, thể hiện hành động yêu quý trường lớp hướng dẫn và nhắc nhở trong suốt năm học
Ngoài các nội dung đã nêu ở trên, hằng năm, tùy vào tình hình thực tế ở địa phương, tôi còn lồng ghép một số kĩ năng phòng đuối nước, hỏa hoạn, biết tự bảo vệ mình và thực hiện an toàn giao thông cho học sinh ở mọi lúc, mọi nơi Bởi vì theo tôi, học sinh lớp Một còn quá nhỏ dại và phụ thuộc nhiều vào bố mẹ, thầy cô như đến trường hay tan học các em cần có người đưa đón Nhưng bên cạnh đó đa số phụ huynh đều làm nông nghiệp, điều kiện kinh tế còn khó khăn, thiếu thốn nên có những hôm không thể đưa đón con Ngoài ra còn phải kể đến một số ít phụ huynh có điều kiện đã trang bị cho con những vật dụng, trang sức đắt tiền thu hút sự chú ý của kẻ xấu Chưa
kể đến an toàn giao thông hay các tệ nạn xã hội khác luôn rình rập, đe dọa các em mỗi ngày Những nội dung này có thể nói là tôi luôn nhắc nhở hằng ngày, hằng giờ
Thứ hai: Tìm hiểu tình hình thực tế
Sau khi nhận lớp, việc đầu tiên cần làm của giáo viên là ổn định lớp, tìm hiểu tâm lí học sinh ở lứa tuổi vào lớp Một Đây là bước ngoặt lớn của trẻ thơ Môi trường học tập thay đổi một cách cơ bản: trẻ phải tập trung chú ý trong thời gian liên tục từ 30 – 35 phút Nhu cầu nhận thức chuyển từ hiếu kì, tò mò sang tính hiểu biết, hứng thú khám phá Trẻ bắt đầu kiềm chế dần tính hiếu động, bột phát để chuyển thành tính kỷ luật, nề nếp, chấp hành nội quy học tập Tính nhạy và sức bền vững, tính khéo léo các thao tác của đôi bàn tay để tập viết được phát triển nhanh Tất cả những điều đó đều là thử thách đối với trẻ, muốn trẻ vượt qua được tốt những thử thách đó thì giáo viên phải tạo sự gần gũi với học sinh ngay từ buổi đầu nhận lớp Giáo viên động viên khuyến khích các em chia sẻ, hòa đồng với nhau thì ngay chính giáo viên phải coi các em như những người bạn, thường xuyên tiếp xúc, chủ động trò chuyện để các em có thể cởi
mở, bớt nhút nhát, dễ nói chuyện với cô Khi thấy các em xưng hô “mày – tao”, giáo viên phải nhắc nhở chỉnh sửa cách xưng hô cho phù hợp bằng “mình – bạn”, giải quyết công bằng những mâu thuẫn xảy ra giữa các em học sinh trong lớp Thường xuyên nhắc nhở các em giơ tay khi phát biểu, không chen ngang khi giáo viên nói, khi nói phải “thưa cô”, không đùa giỡn trong lớp, không tự ý ra khỏi chỗ, không quay ngang quay dọc Giáo viên đưa ra những kí hiệu chung cho cả lớp thực hiện thay vì lời nói để tạo thói quen cho các em:
+ Học sinh lấy bảng con “Gõ vào góc bảng 1 cái”
Trang 7+ Ngồi khoanh tay“ gõ vào chữ o”
+ Lớp ồn ghi dấu “ –” ở góc bảng
+ Lớp học tốt ghi dấu “+” ở góc bảng
Gia đình là nơi các em sinh sống hằng ngày Vì vậy, thông qua cha mẹ học sinh giáo viên tìm hiểu để nắm bắt xem ở nhà các em thường có thói quen gì, cách ứng xử như thế nào, đã biết tự bảo vệ bản thân hay chưa, đã khi nào các em có hành vi chưa tốt không Qua đó, giáo viên nắm bắt và phân loại từng nhóm đối tượng học sinh
Thứ ba Giáo dục kỹ năng sống thông qua các môn học
Việc hình thành kỹ năng sống cho học sinh không phải ngày một ngày hai, cũng không phải tự nhiên sinh ra là có mà phải trải qua thời gian rèn dũa Khi vào lớp Một, chúng ta không chỉ dạy cho các em học chữ mà còn dạy các kĩ năng cơ bản trong cuộc sống như tự tin, tự chịu trách nhiệm, tự ra quyết định, phòng chống tai nạn thương tích, Thực hiện Công văn số 159/ PGDĐT – GDTH V/v Hướng dẫn thực hiện kế hoạch giáo dục kỹ năng sống cho HS tiểu học Ngay từ đầu năm học, chúng tôi họp tổ xây dựng kế hoạch dạy lồng ghép giáo dục kỹ năng sống trong mỗi môn học Làm sao giáo viên phải giúp các em hiểu thế nào là kỹ năng, kỹ năng sống và tại sao phải giáo dục kỹ năng sống, tác hại của việc chưa có kỹ năng sống Từ đó các em nhận biết vai trò của việc học tập kỹ năng sống
Chúng ta đều biết, ngôn ngữ là công cụ của tư duy và giao tiếp Việc giáo dục; lời nói giao tiếp từ xưa đã được ông cha ta rất coi trọng:
“ Học ăn, học nói, học gói, học mở ” “ Lời nói không mất tiền mua,
Lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau”
Để đánh giá một con người chúng ta cần phải có sự thử thách qua giao tiếp hàng ngày với họ: “Chim khôn thử tiếng, người ngoan thử lời” Mặt khác việc giao tiếp, ứng xử khéo léo cũng giúp chúng ta thành công về nhiều lĩnh vực; “Khéo bán, khéo mua cũng thua người khéo nói” Với trẻ em, lứa tuổi đang hình thành nhân cách, ngay từ khi các em còn rất nhỏ, chúng ta đã rất chú trọng: “Trẻ lên ba, cả nhà học nói” Bởi vậy ngành giáo dục đào tạo nói chung và ngành giáo dục tiểu học nói riêng đã được xã hội trao cho trọng trách đáng tự hào là giáo dục trẻ em ngay từ những ngày đầu bước chân tới trường Từ bao đời nay, việc giáo dục ở nhà trường đã áp dụng phương châm “Tiên học lễ, hậu học văn” Dạy tiếng Việt không có nghĩa là chỉ dạy các em kỹ năng đọc, viết, nghe, nói mà dạy các em biết sử dụng những lời nói biểu cảm trong giao tiếp là một mảng vô cùng quan trọng Một người đọc thông, viết thạo tất cả các loại văn bản, song khi giao tiếp lại để lại ấn tượng xấu, không gây được mối thiện cảm đối với mỗi người thì con người đó có khả năng sống và làm việc có hiệu quả không Ở môn Tiếng Việt, tất cả các bài tập đọc đều có phần luyện nói theo chủ đề như: Bé và bạn bè; Mai sau khôn lớn; Vâng lời cha mẹ; Giúp đỡ cha mẹ; Nghề nghiệp của cha mẹ; Những người bạn tốt; Sức khỏe là vốn quý nhất Các tình huống giao tiếp
cụ thể được lồng ghép trong quá trình dạy học, tôi chỉ gợi mở sau đó cho các em tự nói một cách tự nhiên hoàn toàn không gò bó áp đặt Tôi thường xuyên tổ chức cho trẻ luyện nói theo nhóm nhằm mục đích giúp tất cả các em có thể giao tiếp trực tiếp với nhau Khuyến khích các em còn nhút nhát nói nhiều hơn, bước đầu là nói một, hai câu
Trang 8ngắn sau đó dần dần các em nói nhiều câu hơn Sau thời gian quen dần, tôi định hướng cho các em cách hỏi lẫn nhau để kiểm tra thông tin cũng như khích lệ bạn
Ví dụ: Khi dạy luyện nói chủ đề: Bé tự giới thiệu bài 41: iêu, yêu, sách giáo khoa Tiếng Việt lớp 1, tập 1 trang 85, tôi đưa ra nội dung: Em hãy làm quen với bạn bằng cách tự giới thiệu Mở đầu cô giáo tự giới thiệu mình với lớp, sau đó tổ chức cho các em đứng thành vòng tròn tự giới thiệu về tên và sở thích của mình Lúc đầu các em rất ái ngại không tự tin khi nói về mình nhưng tôi nhắc nhở những điều cần chú ý trong khi giao tiếp, cộng thêm một môi trường hòa đồng, thân thiện các em đã thực hiện rất tốt, không còn những cái nhìn ái ngại Thay vào đó là những cánh tay tự tin cùng câu nói ngắn gọn “Mình tên là , mình học ở…, mình thích và không thích điều
gì, mình rất vui khi được làm quen với bạn” Trong bài 48: in, un trang 99, các em biết
đi học muộn làm ảnh hưởng đến các bạn, cô giáo và chính bản thân mình, từ đó nhận lỗi và nói lời xin lỗi Với chủ đề luyện nói Giúp đỡ cha mẹ bài 88: ip, up trang 13 Các
em thực hành hỏi đáp về những việc mình đã giúp đỡ cha mẹ Qua chủ đề luyện nói không những tạo cơ hội cho các em mạnh dạn giao tiếp trước tập thể mà còn yêu lao động, tự giác, chăm làm với những câu nói rõ ràng như: Tôi giúp mẹ quét nhà Tôi thấy vui vì đã làm cho mẹ đỡ vất vả Từ đó có thói quen tham gia lao động không lười nhác Hay chủ đề luyện nói Nghề nghiệp của cha mẹ bài 89: iêp, ươp Các em hiểu được giá trị của nghề nghiệp, trân trọng nghề mà cha mẹ mình đang làm, nói lên việc cần làm để ước mơ của mình trở thành sự thật
Trong khi dạy Tập đọc hoạt động nói câu có tiếng chứa vần đã học cũng có tác dụng rất lớn Dù đó không phải là giao tiếp trong tình huống cụ thể và mỗi em chỉ nói một câu nhưng nó giữ vai trò rèn luyện cho học sinh nói đủ câu, diễn đạt tường minh
và dẫn đến nói câu hay Khi đó, chúng ta có thể kịp thời điều chỉnh ngay những lỗi đặt câu của các em Rõ ràng qua các hình thức tổ chức như trên các em thường tỏ ra rất hào hứng được nói cho bạn mình nghe và nói to, rõ ràng, mạch lạc
Dạy đạo đức là dạy học sinh những hành vi ứng xử phù hợp với các chuẩn mực đạo đức xã hội và quyền trẻ em trong các tình huống đơn giản cụ thể của cuộc sống hằng ngày Nội dung của môn học đạo đức kết hợp giữa giáo dục quyền với giáo dục trách nhiệm bổn phận của học sinh Hơn nữa môn đạo đức không chỉ giáo dục bổn phận, trách nhiệm của học sinh đối với gia đình, nhà trường, xã hội và môi trường tự nhiên, mà còn giáo dục trách nhiệm của các em đối với chính bản thân mình Việc bồi dưỡng hình thành cho các em những phẩm chất đạo đức không phải là một bài mẫu có sẵn, áp đặt, khuôn mẫu để học sinh thực hiện theo Mà nhiệm vụ của môn học đạo đức lớp Một là giúp các em nắm được những điều sơ đẳng của phép ứng xử, chuẩn mực hành vi đạo đức trong cuộc sống hằng ngày Qua mỗi bài dạy các em nắm được nội dung và ý nghĩa của chuẩn mực hành vi đạo đức trong các hoạt động Dạy học đạo đức phải là quá trình giáo viên tổ chức, hướng dẫn học sinh hoạt động, phát huy vốn kinh nghiệm, thói quen đạo đức, tự khám phá và xác định các kỹ năng sống cần rèn luyện
Ví dụ bài 1 Em là học sinh lớp Một, vở bài tập đạo đức lớp 1 trang 2, học sinh biết quyền được đi học của mình, rèn kĩ năng tự giới thiệu họ tên, kĩ năng giao tiếp trong cuộc sống Cụ thể khi tổ chức trò chơi: Vòng tròn giới thiệu, giáo viên chia mỗi nhóm 5 em, phổ biến cách chơi, cho học sinh thực hiện Với trò chơi này các em đã tự tin mạnh dạn trước tập thể, biết lắng nghe, có ý thức kỉ luật và nói mạch lạc như: Mình tên là Y Ra Him Niê, nhà mình ở buôn Dham, năm nay mình 6 tuổi Còn mình tên là H’ Trăm Niê, mình cùng tuổi với các bạn, nhà mình ở buôn Dham, mình rất vui khi được làm quen với các bạn Bài 2 Gọn gàng sạch sẽ, rèn kĩ năng biết ăn mặc gọn
Trang 9gàng sạch sẽ, biết giữ vệ sinh cá nhân đầu tóc quần áo gọn gàng trong mọi lúc mọi nơi Giáo viên quy định cách xếp đồ dùng sách vở trong ngăn bàn, chỗ treo cặp rõ ràng, cụ thể, vị trí treo mũ Giáo viên phân công các tổ trưởng theo dõi kiểm tra, cuối mỗi giờ học nhận xét tuyên dương những em đã thực hiện tốt Giáo viên giúp đỡ động viên những em còn lúng túng chưa thật gọn gàng Dần dần hành vi trở thành thói quen gọn gàng đối với các em Khi dạy bài Gia đình em, thông qua tiểu phẩm Chuyện của bạn Long, học sinh biết nhận xét về việc làm của bạn Long, dự đoán việc sẽ xảy ra với bạn Long để từ đó liên hệ với bản thân và ra quyết định cho việc làm của mình Đến hoạt động 2, các em nói lên được sự quan tâm của bố mẹ với mình, từ đó phải làm gì để đáp lại tình cảm của cha mẹ, qua đây rèn kĩ năng ứng xử Bài 11 Đi bộ đúng quy định, sau khi quan sát tranh, trao đổi thảo luận các em nêu được quy định đối với người đi bộ ở đường nông thôn, đường phố và hậu quả của việc đi bộ không đúng quy định Từ đó phân biệt được những hành vi đi bộ đúng quy định và sai quy định Liên hệ bản thân
và nhắc nhở bạn mình đi bộ đúng quy định phù hợp với điều kiện giao thông địa phương Ở bài này rèn kĩ năng an toàn khi đi bộ, kĩ năng phê phán đánh giá hành vi đi
bộ không đúng quy định Khi dạy bài Chào hỏi và tạm biệt tuần 28, 29, rèn kĩ năng giao tiếp, ứng xử với mọi người, biết chào hỏi khi gặp gỡ và tạm biệt khi chia tay Cụ thể biết chào cô khi đến lớp, khi ra về biết chào tạm biệt Qua các giờ học giáo viên chú ý nhắc nhở các em thực hành hành vi đã học Ví dụ trong các giờ học, học sinh chưa có cử chỉ thể hiện đúng hành vi đạo đức như: Đưa sách vở cho cô đưa bằng một tay không biết nói lời ''thưa'', ''gửi'' Giáo viên sửa lại hành vi đúng cho các em thể hiện
lễ phép với thầy cô giáo và người lớn: Em đưa lại bằng hai tay và nói thưa cô em nộp bài ạ
Bên cạnh các môn học Toán, Tiếng Việt, Đạo đức, môn Tự nhiên và Xã hội cung cấp cho trẻ những kiến thức cơ bản ban đầu về các sự vật, hiện tượng trong tự nhiên, xã hội và các mối quan hệ của con người xảy ra xung quanh, trang bị cho các
em những kiến thức cơ bản của bậc học góp phần bồi dưỡng nhân cách toàn diện cho trẻ Vậy làm thế nào để trẻ có các kĩ năng cơ bản vận dụng trong cuộc sống hằng ngày Đây chính là kết quả của quá trình giáo dục Chính vì thế trong các bài học, giáo viên lựa chọn tổ chức cho các em thực hành ngay, thông qua việc thực hành giúp các em bước đầu có kĩ năng Ví dụ với bài 5: Vệ sinh thân thể, sách giáo khoa Tự nhiên và Xã hội lớp 1 trang 14, giáo viên cho các em quan sát tranh trao đổi với nhau về nội dung trong tranh để nắm được các việc nên và không nên làm để giữ vệ sinh thân thể Biết
vì sao phải tắm rửa, thay quần áo sạch sẽ và không nên tắm chung với trâu bò, những việc cần làm để giữ chân, tay sạch sẽ như cắt móng tay, rửa chân, rửa tay bằng nước sạch Sau đó cho các em liên hệ việc đã làm để giữ vệ sinh thân thể rồi thực hành Qua bài học rèn kĩ năng tự phục vụ bản thân Hay khi dạy bài 8: Ăn uống hằng ngày, trang
18, giáo viên cho học sinh quan sát tranh thảo luận nêu lên các loại thức ăn cần thiết cho các bữa ăn trong ngày, vì sao phải ăn đủ các loại thức ăn đó, sau đó kể về bữa ăn của gia đình mình Cuối cùng tổ chức trò chơi “đi chợ” Mỗi đội cử một bạn đi chợ, nhiệm vụ của bạn là mua đầy đủ các loại thức ăn đảm bảo các chất đạm, chất béo, vi ta min, khoáng,… theo quy định Sau khi đi chợ, các em phải nói được vì sao trong một bữa ăn cần đảm bảo các chất dinh dưỡng Từ đó các em biết được vì sao cần ăn uống đầy đủ hằng ngày để mau lớn, khỏe mạnh, biết ăn nhiều loại thức ăn và uống đủ nước
Ở bài này rèn kĩ năng làm chủ bản thân, phát triển kĩ năng tư duy Đối với bài 9: Hoạt động và nghỉ ngơi, các em nắm được tác dụng của một số hoạt động nghỉ ngơi đúng cách có lợi cho sức khỏe từ đó biết sắp xếp thời gian biểu để học tập và vui chơi cho phù hợp Ở hoạt động 1, giáo viên cho học sinh kể về hoạt động mà mình đã làm hoặc
Trang 10chơi cùng với bạn, thông qua đó giáo dục kĩ năng tìm kiếm và xử lí Sang hoạt động 3, các em được đóng vai về các hoạt động làm việc, nghỉ ngơi, đứng ngồi đúng tư thế Thông qua trò chơi đóng vai giáo dục kĩ năng quan sát phân tích, kĩ năng tự nhận thức, phát triển kĩ năng giao tiếp cho các em Ở bài 10: Ôn tập con người và sức khỏe, để khắc sâu kiến thức cơ bản về các bộ phận bên ngoài và các giác quan của cơ thể, giáo viên chia lớp thành ba đội, phổ biến luật chơi, quy đinh thời gian, tiến hành cho các em chơi trò chơi “Ai gọi tên các bộ phận bên ngoài cơ thể nhanh nhất?”, hết thời gian, đội nào nói được đầy đủ tên các bộ phận bên ngoài của cơ thể trước thì đội đó thắng cuộc Thông qua trò chơi rèn cho các em kĩ năng hợp tác, mạnh dạn trước tập thể Từ đó có
ý thức tự giác thực hiện nếp sống hợp vệ sinh, khắc phục những hành vi có hại cho sức khỏe và nêu được việc thường làm vào các buổi trong ngày để giữ vệ sinh thân thể hằng ngày Việc giúp các em có kĩ năng xử lí những tình huống khi có tai nạn thương tích cũng rất quan trọng Bởi khi ở nhà có những lúc các em sử dụng dao để gọt quả hoặc đến gần bếp lửa không may bị đứt tay, bị bỏng Qua bài 14: An toàn khi ở nhà, trong hoạt động 1, tôi cho các em thảo luận nhóm giúp các em có kĩ năng ra quyết định nên hay không nên làm gì để phòng tránh đứt tay chân, bỏng, điện giật, kĩ năng tự bảo
vệ, ứng phó với các tình huống khi ở nhà, phát triển kĩ năng giao tiếp thông qua tham gia các hoạt động học tập Hoạt động 2, các em được đóng vai xử lí tình huống khi có tai nạn như: Cầm dao nhọn cắt quả bị chảy máu, trông em giúp mẹ nhưng em đến gần bếp lửa Các nhóm sẽ thảo luận sau đó lên thể hiện, những em còn lại quan sát và có nhận xét đối với những tình huống mà các bạn mình vừa xử lí để rút ra kĩ năng cấp cứu khi có những trường hợp xấu xảy ra
Nói tóm lại ngoài việc rèn luyện đạo đức, học tập tốt thì rèn luyện sức khỏe tốt cho học sinh là điều phải được chú ý, giáo dục kĩ năng sống chỉ thành công khicác em
có ý thức, thái độ với mọi người trong gia đình; hòa đồng với bạn bè; tự tin khi nói chuyện, nhạy bén khi xử lí tình huống, dám đương đầu với thử thách vượt qua khó khăn để đạt được mục tiêu và chịu trách nhiệm về việc làm của bản thân Hiệu quả của việc giáo dục kỹ năng sống không thể nhìn thấy ngay lập tức và quá trình giáo dục rèn
kỹ năng sống là một quá trình suốt đời Mức độ nhận thức của học sinh lớp 1 vốn rất đơn giản, chưa bền vững và rất dễ thay đổi Bởi vậy nên ta hãy bắt đầu từ cái nhìn thấy, nghe thấy, từ ví dụ cụ thể, gần gũi với cuộc sống, sau đó nâng lên tầm “lý thuyết chung” để “khái quát” và “kết luận”
Thứ tư: Rèn kĩ năng
Trong giờ học, cần rèn cho các em những kĩ năng như có tư thế ngồi học đúng,
chú ý nghe giảng, vệ sinh hằng ngày ngay từ những việc làm nhỏ nhất, trong phạm vi
nhỏ nhất như gia đình, lớp học Sau mỗi bài học, môn học, giáo viên cho các em liên
hệ thực tế bằng những câu hỏi Em đã làm gì? Sẽ làm gì? và đưa ra các tình huống cụ thể để học sinh mình trải nghiệm Các em thích tham gia vào một số hoạt động xã hội mang tính tập thể (đôi khi tham gia tích cực hơn cả trong gia đình) Đặc biệt là các em muốn thừa nhận mình là người lớn, muốn được nhiều người biết đến mình Hãy cho các em cơ hội làm người lớn, được đóng vai “thầy giáo”, “cha mẹ” Hãy cho các em những trọng trách lớn: làm lớp trưởng, tổ trưởng, nhóm trưởng, đội trưởng để các em được khẳng định bản thân Kỹ năng sống sẽ hình thành một cách tự nhiên và hiệu quả trong những môi trường hoạt động cụ thể chứ không từ những bài giảng trên lớp Chỉ
từ những bài giảng, các em không thể tự hình thành kỹ năng sống cho mình mà chỉ có thể hình dung chung về nó Vì vậy, khi cho các em được sắm vai để trải nghiệm đó là